Thứ Năm, 15 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRAO CÔNG HÀM PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC ÁP ĐẶT LỆNH CẤM ĐÁNH BẮT CÁ TRÊN BIỂN ĐÔNG!

 Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam.

Chiều 15/5, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Trung Quốc mới đây đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, Người phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ:

Lập trường của Việt Nam về lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán và đã được khẳng định nhiều lần. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của Việt Nam được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tôn trọng quyền của các ngư dân Việt Nam hoạt động hợp pháp trong các vùng biển của Việt Nam và các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và đặc biệt là UNCLOS 1982; không có các hành động làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, trật tự trên biển dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Bộ Ngoại giao đã giao thiệp với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và cũng đã trao công hàm phản đối lệnh cấm đánh bắt cá nói trên.

Cũng tại họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Trung Quốc và Campuchia triển khai cuộc tập trận chung thường niên mang tên Rồng Vàng 2025, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: "Chúng tôi cho rằng hợp tác giữa các quốc gia cần đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như trên thế giới, phù hợp với thông lệ quốc tế và trên cơ sở luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc"./.
Khuyết danh ST.

Nhận thức đúng về diễu binh, diễu hành

 

Những giá trị vô hình và hữu hình mà diễu binh, diễu hành mang lại rất lớn. Nó khơi dậy niềm tự hào, tạo động lực to lớn cho toàn dân tộc tiếp tục phấn đấu, vươn lên; là biểu tượng, tăng cường tinh thần đại đoàn kết, yêu nước...

Chiều cuối tuần, Đĩnh và Tính ngồi quán trà đá chờ mọi người ra sân bóng đá. Chợt Đĩnh reo lên:

- Ôi, xem tập diễu binh, diễu hành đẹp quá cậu ạ! Ước gì mình được vào TP Hồ Chí Minh để xem trực tiếp.      

Đĩnh giơ điện thoại cho Tính xem, nhưng Tính bảo:

- Ừ, đẹp thì đẹp thật, nhưng tớ không thích mấy vì thấy cũng tốn kém và không cần thiết.

- Cậu nói gì vậy? Đây là dịp trọng đại của dân tộc, nhân dân rất tự hào, chờ đón... 

- Nhưng không phải tất cả đều thích thú như cậu. Trên mạng cũng có một số ý kiến bảo rằng: Diễu binh, diễu hành tốn hàng tỷ đồng, chi bằng giúp dân nghèo...

- Trời, cậu mà cũng nghĩ như thế à? Đúng là cậu chẳng hiểu gì, suy nghĩ nông cạn...

- Cậu bảo ai nông cạn? Tớ còn học và làm việc giỏi hơn cậu nhé!

Tính đỏ mặt tía tai, vừa nói vừa đập tay xuống mặt bàn làm đổ cả cốc nước. Đúng lúc này, ông chủ quán liền lên tiếng:

- Hai cháu bình tĩnh nào! Ông là cựu chiến binh trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghe hai cháu nói chuyện, ông xin có ý kiến nhé!

Sau khi cả Đĩnh và Tính đều trả lời "vâng ạ", ông chủ quán nhẹ nhàng nói:

- Như các cháu đã biết, không riêng dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mà nhiều sự kiện trọng đại khác như kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ hay kỷ niệm 60, 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, nước ta cũng tổ chức diễu binh, diễu hành. Song, vào những dịp này, các đối tượng thù địch, bất mãn đều rêu rao xuyên tạc, chống phá với luận điệu: Diễu binh, diễu hành là một kiểu phô trương, hình thức, tốn kém không cần thiết; sao không dành tiền đó để chăm lo cho nhân dân? v.v.. Nhưng đâu phải chỉ nước ta mới tổ chức diễu binh, diễu hành mà nhiều nước trên thế giới còn tổ chức duyệt binh với quy mô lớn hơn trong những ngày trọng đại của đất nước họ.

Ví dụ như nước Nga thường xuyên duyệt binh, diễu binh kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5; Trung Quốc tổ chức duyệt binh kỷ niệm những năm tròn thành lập nước; Pháp, Mỹ cũng phô diễn sức mạnh quân sự mừng quốc khánh... Mặt khác, bên cạnh hoạt động diễu binh, diễu hành, Đảng, Nhà nước ta và các bộ, ngành, cơ quan, địa phương tổ chức rất nhiều hoạt động tri ân, thiết thực chăm lo người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách, người nghèo. Các cháu xem ti vi, nghe đài, đọc báo sẽ thấy, hầu như ngày nào cũng có các hoạt động tri ân, chăm lo người có công, đối tượng chính sách... Nhà nước đã dành rất nhiều nguồn lực để thực hiện công tác này, phải không nào?

Thấy hai bạn trẻ gật đầu, nhất là gương mặt Tính đã có vẻ biết lỗi, ông chủ quán nước tiếp lời:   

- Chuyện diễu binh, diễu hành tốn kém thì cũng không phải như các đối tượng phản động xuyên tạc, thổi phồng. Ngân sách cho lễ kỷ niệm nói chung và diễu binh, diễu hành nói riêng đã được Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp với khả năng. Nhiều hoạt động thực ra là tận dụng nguồn lực sẵn có, như lực lượng Quân đội, Công an. Xe cộ, máy bay, trang thiết bị cũng nằm trong kế hoạch khai thác, huấn luyện nên chi phí tăng thêm không lớn. Đây cũng chính là dịp để huấn luyện, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ và thử nghiệm phương tiện, thiết bị. Đặc biệt, những giá trị vô hình và hữu hình mà diễu binh, diễu hành mang lại rất lớn. Nó khơi dậy niềm tự hào, tạo động lực to lớn cho toàn dân tộc tiếp tục phấn đấu, vươn lên; là biểu tượng, tăng cường tinh thần đại đoàn kết, yêu nước; rồi nâng tầm vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế; góp phần thúc đẩy du lịch, hợp tác kinh tế... Còn rất nhiều lợi ích khác nữa mà ông chưa kể hết, phải không hai cháu?

Nghe người cựu chiến binh phân tích, Tính hiểu ra và vỗ vai Đĩnh, bảo: "Tớ xin lỗi cậu".

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN!

     Coi trọng kinh tế tư nhân là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta và dần dần được hoàn thiện qua các kỳ đại hội. Quan điểm “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” được ra đời trên cơ sở kế thừa, phát triển sáng tạo tư duy, nhận thức của Đảng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân như là một trong những giải pháp đột phá, tạo cú huých cho kỷ nguyên vươn mình, phát triển thịnh vượng của dân tộc.

Ngay sau khi đăng tải, bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” của Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhanh chóng nhận được sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng và lan tỏa mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp cùng đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là một quan điểm sáng suốt của Đảng ta-nhất là trong giai đoạn cần những giải pháp đột phá tạo cú huých cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tuy nhiên, với dã tâm chống phá Việt Nam, các đối tượng chống phá thù địch, thiếu thiện chí đã lập tức đưa ra những luận điệu phủ nhận, bóp méo, xuyên tạc vấn đề này.

Trên nhiều diễn đàn mạng, các thế lực thù địch ra sức rêu rao Đảng ta đưa ra quan điểm này là “bất nhất”, mâu thuẫn với quan điểm của các thời kỳ trước; công kích Việt Nam có dấu hiệu “đổi mầu” trong chính sách phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa (TBCN); Việt Nam sắp “tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”…

Có thể thấy, đây vẫn chỉ là chiêu bài “bình mới, rượu cũ” của các đối tượng chống phá. Mỗi khi đất nước có sự kiện quan trọng, có những chính sách mới, hay tư tưởng đột phá thì chúng lại dùng luận điệu xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận giá trị của những tư tưởng, quan điểm hay chính sách đó, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Mục đích chúng hướng tới là nhằm phủ nhận vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Điều nực cười là khi kinh tế tư nhân ở Việt Nam chưa có nhiều khởi sắc, các thế lực thù địch đổ lỗi do sự “trói buộc”, “rào cản” về thể chế, chính sách… Nhưng khi Đảng ta đưa ra quan điểm coi “kinh tế tư nhân làm động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế” thì chúng cho rằng đó là nhận thức quá chậm chạp và Việt Nam phải mất tới “50 năm mới nhận ra điều đó”.

Còn hiện nay, khi đất nước ta tập trung ưu tiên mũi nhọn vào phát triển kinh tế tư nhân với tư cách là “đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” thì chúng lại rêu rao là Việt Nam “bất nhất”, có dấu hiệu “đổi mầu”, “chệch hướng” theo hướng TBCN!

Cần khẳng định rằng quan điểm coi “Phát triển kinh tế tư nhân-đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” ra đời dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững vàng. Trên phương diện lý luận, quan điểm này được dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí, vai trò của kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, của kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô, V.I.Lênin đã chỉ rõ, để xây dựng CNXH tất yếu phải kế thừa những thành quả của nhân loại trong đó có kinh tế thị trường; tất yếu phải thực hiện sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; phải có nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ. Cho nên, ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân với tư cách là một khu vực kinh tế có nhiều thế mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một chủ trương đúng đắn, hợp quy luật, vận dụng sâu sắc quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là “tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”, mà là “khơi thông mọi nguồn lực”, phát huy tối đa nguồn lực lớn nhất của đất nước, bởi nguồn lực của kinh tế tư nhân không phải chỉ ở các doanh nghiệp, mà còn nằm ở chính trong nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng, một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực kinh tế nhà nước hay kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, và nền kinh tế quốc gia chỉ thật sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động.

Quan điểm này thấm đượm tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp nội lực với ngoại lực, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng thành phần kinh tế, dựa vào sức mạnh của nhân dân để làm cuộc cách mạng đột phá đưa đất nước phát triển thịnh vượng.

Mặt khác, quan điểm “Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng” cũng chính là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư duy, nhận thức về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường của Đảng ta trong suốt chặng đường đổi mới. Đây không phải là luận điệu “bất nhất” như các thế lực thù địch, phản động đã xuyên tạc, cũng không hề mâu thuẫn với nhận thức của Đảng trong các giai đoạn trước, mà hoàn toàn thống nhất với đường lối phát triển đất nước theo con đường XHCN do dân tộc ta đã lựa chọn.

Phải thẳng thắn thừa nhận, đã có thời kỳ chúng ta chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế tư nhân. Nhưng trải qua các giai đoạn cách mạng với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta đã có sự phát triển và hoàn thiện nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường trong đó có kinh tế tư nhân. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có chủ trương nhất quán là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế tư nhân là bộ phận quan trọng của nền kinh tế.

Ngay từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong các thành phần kinh tế. Đến Đại hội VII (1991), Đảng ta có quan điểm rõ ràng hơn, coi kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước. Đại hội VIII (1996) của Đảng tiếp tục khẳng định việc kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước, cần đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.

Đại hội IX (2001) của Đảng có bước phát triển nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư bản tư nhân, khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Đại hội X (2006) Đảng ta khẳng định kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã thông qua quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân, thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng nhằm huy động, phát huy tiềm năng trong nhân dân, trong đó có đội ngũ đảng viên để phát triển kinh tế-xã hội.

Tiếp đến Đại hội XI, XII, XIII, nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân được phát triển lên một bước, từ chỗ coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế” đến chỗ coi kinh tế tư nhân “một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế” và tiến tới coi kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất” trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân được hiện thực hóa thông qua hàng loạt các nghị quyết (tiêu biểu là Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN); hay trong Hiến pháp 2013, trong các bộ luật như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… Những căn cứ pháp lý này đã làm cho nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn; đồng thời tạo ra khung khổ pháp lý cho kinh tế tư nhân được tự do cạnh tranh, được pháp luật bảo hộ và bình đẳng với kinh tế nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; nhiều rào cản, thủ tục pháp lý cũng dần được tháo gỡ.

Thực tiễn cho thấy, những kết quả mà kinh tế tư nhân đạt được đã chứng minh vai trò, vị trí “đòn bẩy” quan trọng của nền kinh tế. Chính trên cơ sở sự thay đổi, phát triển nhận thức đúng đắn, kịp thời về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân với những cơ chế, chính sách kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo những điều kiện, tiền đề để kinh tế tư nhân phát triển, không ngừng lớn mạnh và trở thành một trong những nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.

Trong hai thập kỷ trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân trỗi dậy mạnh mẽ, với gần một triệu doanh nghiệp, năm triệu hộ kinh doanh cá thể, đóng góp 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.

Khu vực kinh tế tư nhân trở thành một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường trong nước mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Với tiềm năng và thực lực đó, kinh tế tư nhân được đánh giá là khu vực kinh tế năng động nhất của nền kinh tế đất nước hiện nay. Tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân cũng là tạo động lực để thúc đẩy sự phát triển bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình./.
Môi trường ST.

Vững vàng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận

 

Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng (nay là Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị) là tổ chức nghiên cứu khoa học đa ngành của Quân đội, được thành lập ngày 29-4-1999. Trải qua 26 năm xây dựng, phát triển, Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự luôn vững vàng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với chức năng “Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng những kiến thức xã hội nhân văn vào lĩnh vực quân sự, góp phần phục vụ sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Học viện Chính trị”, ngay trong những năm đầu thành lập, hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận đã được Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự (KHXH-NVQS) đẩy mạnh.

Khi chưa có điều kiện thực hiện các đề tài, biên soạn sách chuyên sâu, Viện đã động viên cán bộ nghiên cứu tích cực viết bài đăng trên các báo và tạp chí, nhằm đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Năm 2005, Viện đã triển khai nghiên cứu biên soạn bộ sách phòng, chống “diễn biến hòa bình” gồm 5 cuốn, gồm: “Diễn biến hòa bình” và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; “Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam”; “Bình đẳng và đoàn kết dân tộc để ổn định và phát triển”; “Nhân quyền và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhân quyền” ; “Dân chủ ở Việt Nam - dân chủ của dân, do dân, vì dân”. Bộ sách đã gây được tiếng vang lớn trong đời sống chính trị của Quân đội và xã hội, được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đánh giá cao. Bộ sách này đã được tái bản với số lượng lớn, phát hành rộng rãi trong Quân đội và xã hội.

Từ năm 2016 đến nay, Viện đã triển khai thực hiện nhiều chương trình lớn về đấu tranh tư tưởng, lý luận, đồng thời chủ trì, tham gia nghiên cứu thành công nhiều đề tài các cấp, góp phần phát triển lý luận đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, được các Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao. Viện cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong tham mưu, tổ chức thực hiện đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng; sử dụng ứng dụng mạng xã hội (Youtube, Facebook...) đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch; định hướng, giúp đỡ nhân rộng ra nhiều cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

 

Hiện nay, bên cạnh những thời cơ lớn, Viện KHXH-NVQS phải đối diện với những thách thức không nhỏ trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống tạo ra những diễn biến phức tạp trong đời sống tư tưởng của xã hội và Quân đội. Sự giao thoa văn hóa, kinh tế và chính trị làm nảy sinh những quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập với hệ tư tưởng truyền thống. Thông tin xuyên biên giới lan tỏa nhanh chóng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khả năng nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái, thù địch một cách sắc bén và kịp thời.  

Sự chủ động nắm bắt tình hình, phân tích sâu sắc các vấn đề thời đại và trang bị vũ khí lý luận sắc bén là yếu tố then chốt để giành thắng lợi trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ nghiên cứu của Viện phải có khả năng nghiên cứu, phân tích sâu sắc, dự báo các xu hướng tư tưởng có thể nảy sinh và đề xuất các biện pháp phòng ngừa, ứng phó kịp thời.

 

Sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với nhiều thành tựu vượt bậc, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, đã tạo ra một không gian mạng rộng lớn, trở thành một mặt trận tư tưởng, lý luận mới, chứa đựng nhiều thách thức.

Các thế lực thù địch tận dụng triệt để không gian này để lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, gây suy giảm niềm tin của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng nhiều chiêu trò tinh vi, xảo quyệt, đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận lịch sử và thành tựu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ chủ yếu để lan truyền thông tin sai lệch, gây nhiễu loạn dư luận, tạo dựng các “điểm nóng” chính trị - xã hội. Bên cạnh đó, chúng lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Trong bối cảnh đầy thách thức đó, để hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh được giao, Viện KHXH-NVQS quyết tâm triển khai thực hiện tốt nhiều giải pháp mang tính chiến lược, đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, tập trung vào các vấn đề lý luận mới. Đặc biệt là đi sâu nghiên cứu các xu hướng tư tưởng mới, dự báo những tác động đến cán bộ, chiến sĩ, từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó hiệu quả. 

Trong kỷ nguyên mới đầy biến động và thách thức, công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Với vai trò là một trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu của Quân đội, bằng việc triển khai hiệu quả các giải pháp đồng bộ, Viện KHXH-NVQS tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, chủ động, sáng tạo trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần vào sự phát triển bền vững của Quân đội và đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Bài học cho những kẻ ảo tưởng

 

Sau 50 năm Bắc-Nam sum họp một nhà, Tổ quốc thống nhất và nền hòa bình cùng sự ổn định chính trị đã đưa Việt Nam đến vị thế mới rất vững chắc trong thế giới hiện đại đầy biến động.

Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh bản hùng ca chiến thắng ngân vang, bài học về tinh thần độc lập, tự chủ lại hiện về, nóng hổi và đầy ắp tính thời sự trong thế giới phẳng hôm nay. 

Lâu nay, nền độc lập, tự chủ và tự do vững chắc mà Việt Nam xây bằng máu xương bao thế hệ vốn là niềm mong ước, khát vọng của nhiều dân tộc trên thế giới đang luẩn quẩn ở vũng lầy xung đột và chiến tranh lại bị một số kẻ phê phán, “tạt a xít”. Chúng không chấp nhận sự thật: Việt Nam ổn định, phát triển cường thịnh.

 

Bất chấp con đường hợp đạo lý, hợp lòng người, hợp xu thế thời đại và tương lai tươi sáng đang rộng mở của dân tộc, chúng định hướng, lôi kéo những kẻ bất mãn, phản động đòi phá bỏ những thành tựu ấy để xây dựng một thể chế chính trị mới với cái gọi là “tự do” và “dân chủ” tuyệt đối mà chúng hằng tôn thờ. Hình như bài học lịch sử chưa đủ mạnh để chúng tỉnh ngộ, bớt ảo tưởng.

***

Đầu năm 1975, sau khi Phước Long thất thủ, cho dù “mũi dao bén ngọt” của Quân giải phóng đã chọc vào cạnh sườn nhưng Nguyễn Văn Thiệu vẫn luôn lạc quan với lời hứa chắc như đinh đóng cột từ năm 1973 của Tổng thống Nixon: “Nếu Bắc Việt vi phạm, Mỹ sẽ đáp trả”. Viễn cảnh mà Thiệu mơ tưởng là quan thầy Mỹ sẽ đưa quân và chi viện hỏa lực đường không, đường biển hoặc chí ít là viện trợ ngân sách hơn 2,1 tỷ USD để Thiệu có thể giữ vững cái gọi là nền cộng hòa vốn cho Thiệu và gia đình cùng đội ngũ tướng lĩnh những “hoa thơm trái ngọt” béo bở.

Theo những tài liệu đã được Nhà trắng giải mã những năm gần đây, sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Thiệu đã đưa ra một quyết định mà không tham vấn bất cứ nhân vật hoặc cơ quan nào của quan thầy Mỹ: Bỏ Cao nguyên Trung phần về giữ các tỉnh ven biển miền Trung từ Huế trở vào Nam. Bởi Thiệu luôn tin và nuôi ảo tưởng, dù viện trợ quân sự bị cắt giảm nghiêm trọng xuống còn hơn 700 triệu USD thì Thiệu vẫn đủ lực để giữ những phần đất "ngon" nhất. Thiệu tin, với đội quân trung thành, hùng mạnh trong tay vẫn có thể giữ được những vùng quan trọng để “chờ cơ hội”.

Nhưng trời không chiều lòng Thiệu, đội hình rút lui trên Đường 7B của ngụy đã bị Quân giải phóng truy kích. Từ đây, thời cơ có lợi cho quân ta xuất hiện rõ như ban ngày, còn lực lượng mang những cái tên mỹ miều như biệt động quân, thủy quân lục chiến, biệt động dù... vốn rất thiện chiến của Thiệu và từng được quan thầy Mỹ huấn luyện công phu, được trang bị đến tận răng đã trở thành những chú hề, thành thỏ đế trước sức mạnh vũ bão của Quân giải phóng. Hiệu ứng đô-mi-nô đã đẩy quân ngụy vào cảnh “cá nằm trên thớt”, khiến niềm tự hào với "thế giới tự do" lâu nay Mỹ từng huênh hoang bị sụp đổ nhanh chóng không hồi cứu vãn. Những bộ quân phục, những khẩu súng rồi xe tăng, trực thăng vũ trang... vốn là biểu trưng cho sự giàu có và sức mạnh của tự do bị bỏ lại phi trường, bến cảng và trên xa lộ đã chứng minh điều đó.

Nửa đầu tháng 4-1975, khi Quân giải phóng vượt qua phòng tuyến Phan Rang, áp sát phòng tuyến tử thủ thép Xuân Lộc, cho dù những “mũi dao thép” đã lởn vởn ngay sát nách đô thành Sài Gòn thì Thiệu vẫn ngoan cố kêu gào binh sĩ tử thủ và đọc diễn văn phủ dụ dân chúng tin vào chính phủ và đội quân mà Thiệu cố công xây dựng.

Cạnh đó, với niềm tin mãnh liệt vào đồng minh nước lớn thân cận và thói sĩ diện hão, Thiệu ra sức điện đàn với quan chức Nhà trắng để tìm sự hỗ trợ. Nhưng dù khản cổ kêu gào thì Thiệu vẫn chỉ nhận được ở quan thầy những cái lắc đầu và kế hoạch di tản trong bí mật. Thiệu ngoan cố bám dinh Độc Lập, bám chặt chiếc ghế tổng thống cho dù bị tướng nguyền, dân oán và đồng minh rời bỏ. Từ các vùng chiến sự, sĩ quan của Thiệu gọi về với những lời chua chát: “Tổng thống ra lệnh nhưng không ra mặt. Lính chết, bỏ chạy, còn ông thì... chờ viện trợ”.

Sau khi Quân giải phóng làm chủ nhiều đô thị, vùng giải phóng mở rộng, diện tích của ngụy ngày càng thu hẹp, sau năm lần bảy lượt bị quan thầy Mỹ khuyên nhủ, dụ ép, đe dọa và đánh tiếng cảnh báo sẽ có cuộc đảo chính như năm 1963 nếu không nhường ghế, cuối cùng, Thiệu chấp nhận buông bỏ quyền lực bằng một bài diễn văn hôm 21-4-1975 với lời chua chát, uất hận rằng: “Hoa Kỳ đã phản bội chúng ta...”. Và trong đêm tối ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiệu ra đi không kèn, không trống với nỗi lo mất mạng thường trực. Thiệu được Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho di tản bằng lý do sang Đài Loan viếng Tưởng Giới Thạch.

Cùng thời điểm đó, từ các thông tin tình báo và những bộ óc phân tích chiến lược toàn diện sắc bén, khi chắc chắn “Hoa Kỳ không có khả năng trở lại”, với tinh thần chủ động, Đảng ta đã nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên chiến trường, quân ta càng đánh càng mạnh và đã giành những thắng lợi liên tiếp. Chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra quá nhanh chóng khiến quan thầy Mỹ phải cay đắng chấp nhận thực hiện chiến dịch “gió lốc”, di tản khỏi miền Nam Việt Nam.

Trưa 30-4-1975, khi màu áo “sắc xanh núi rừng” tràn ngập dinh Độc Lập, khi cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay, đặc biệt sau lời đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh trên Đài phát thanh Sài Gòn, “thế giới tự do” giả hiệu sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, vai trò “con tốt” của ngụy quyền Sài Gòn trên bàn cờ địa chính trị do quan thầy Mỹ dựng lên chính thức ra đi.

Bài học từ sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn không chỉ là sự thất bại của một bộ máy sống nhờ, tồn tại bằng ngoại lực mà còn là minh chứng sống động cho chân lý: Chỉ có độc lập dân tộc, tự chủ về chính trị và tinh thần đoàn kết toàn dân mới tạo nên sức mạnh trường tồn. Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang bị giằng xé bởi mâu thuẫn địa chính trị, cạnh tranh chiến lược và những cuộc xung đột, Việt Nam-một quốc gia nhỏ vẫn giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển là nhờ bài học lịch sử ấy.

Thế nên, việc những kẻ ảo tưởng vào một "thiên đường tự do" viển vông do ngoại bang vẽ ra, tiếp tục cổ xúy, lôi kéo phá vỡ trật tự hiện tại cần nhìn lại số phận của những kẻ đi trước và hãy nhớ rằng: Những “tướng không quân, lính không trận” lưu vong và trái tim rách nát cùng vết thương quá khứ thì sao có thể mang gánh được ước vọng xa xôi. Hãy tỉnh táo mà nhận thức đầy đủ rằng, tự do và dân chủ không bao giờ đến từ những khẩu hiệu trống rỗng, càng không thể được ban phát từ ngoại bang. Nó phải là kết quả của một quá trình đấu tranh tự lực, từ nhân dân, vì nhân dân.

Ngày nay, khi thế giới tiếp tục chứng kiến những cuộc xung đột, chiến tranh ở nhiều khu vực, sự phụ thuộc chính trị, kinh tế khiến nhiều quốc gia nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy bất ổn, thì bài học về tự chủ của Việt Nam càng trở nên quý giá.

Giữa lúc thế giới vẫn còn những mô hình “dân chủ xuất khẩu” đầy rối ren, sự vững vàng của Việt Nam chính là minh chứng cho một con đường độc lập-vì dân, từ dân và do dân-không thể bị thay thế bởi bất kỳ ảo tưởng nào đến từ bên ngoài.

Từ chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chứng minh, lịch sử không dành chỗ cho những ảo tưởng chính trị lạc lõng. Nó chỉ ghi nhớ và tôn vinh những dân tộc dám tự mình viết nên vận mệnh của chính mình mà thôi. Hãy đừng quên bài học ấy!

Không thể xuyên tạc vai trò quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít

 

Trong bối cảnh Liên bang Nga cùng với một số quốc gia đang chuẩn bị kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, một số thế lực cơ hội chính trị lại đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến vô cùng khốc liệt và anh dũng để đánh bại chủ nghĩa phát xít, thậm chí, họ đưa ra cáo buộc vô căn cứ rằng “Liên Xô hợp tác với Đức quốc xã để gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai”. Các luận điệu xuyên tạc đó đi ngược lại với sự thật lịch sử...

Đáng chú ý, có một số trang truyền thông, mạng xã hội đưa ra những nhận định không phản ánh đúng lịch sử, cho rằng từ năm 1922, nước Nga Xô viết đóng vai trò giúp Đức quốc xã phát triển tiềm lực quân sự.

Họ lập luận rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Đức bị cấm phát triển vũ khí hạng nặng. Vì thế, Berlin đã khéo léo lách luật này thông qua sự hợp tác bất hợp pháp với nước Nga Xô viết trên cơ sở Hiệp ước Rapallo được ký vào ngày 16-4-1922 để nhanh chóng củng cố tiềm lực quân sự nhằm chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.

 

Thông tin trên những trang truyền thông và mạng xã hội này đã xuyên tạc nội dung của Hiệp ước Rapallo giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và Cộng hòa Weimar-tên gọi của nước Đức vào thời điểm đó. Hiệp ước này bao gồm 6 điều khoản với nội dung chỉ nhằm giải quyết hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất như xử lý vấn đề tù binh của hai nước sau chiến tranh, việc nước Đức phải bồi thường chiến tranh theo Hiệp ước hòa bình Versailles, thiết lập quan hệ ngoại giao trong bối cảnh nước Nga Xô viết bị Mỹ và phương Tây cô lập sau cuộc Cách mạng Tháng Mười (ngày 7-11-1917), thiết lập quan hệ thương mại, tạo điều kiện sống bình thường cho công dân hai nước trên lãnh thổ của mỗi bên.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất  (1914-1918), Nga và Đức đứng trên hai chiến tuyến khác nhau. Trong cuộc chiến này, nước Đức bại trận và phải ký kết Hiệp ước hòa bình Versailles vào năm 1919. Theo đó, nước Đức phải bồi thường chiến tranh cho các quốc gia thắng cuộc như Mỹ, Anh, Pháp... Vì thế, chính quyền Đức coi Hiệp ước hòa bình Versailles là “nỗi quốc nhục” và phải “rửa hận”. Để “rửa hận”, Đức quốc xã sau khi lên cầm quyền từ năm 1933 đã ráo riết chuẩn bị mọi điều kiện để phát động cuộc đại chiến mới ở châu Âu.

Sau Cách mạng Tháng Mười, giới lãnh đạo nước Nga Xô viết cũng nhận thấy rất rõ Hiệp ước hòa bình Versailles chỉ là “khoảng lặng” giữa hai cuộc đại chiến. Do đó, sau khi được thành lập vào năm 1922, Liên Xô quyết định thực hiện chương trình công nghiệp hóa để chuẩn bị đối phó với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tất yếu sẽ bùng nổ ở châu Âu. Chương trình công nghiệp hóa của Liên Xô hoàn tất vào năm 1937, tạo điều kiện để Liên Xô tiến hành thành công cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1941-1945). Vì vậy, tuyệt nhiên không thể có chuyện nước Nga Xô viết tạo điều kiện cho nước Đức nhanh chóng xây dựng lại tiềm lực quân sự để chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai.

Ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, lãnh đạo một số nước châu Âu còn căn cứ vào Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức Quốc xã ký ngày 23-8-1939 để lập luận rằng chính hiệp ước này đã châm ngòi cho Chiến tranh thế giới thứ hai!? Thậm chí, dựa vào hiệp ước này, có tổ chức còn coi Liên Xô và Đức quốc xã đều “có tội như nhau” là gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai!?...

Lập luận này đã xuyên tạc bản chất và nội dung của Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức quốc xã. Hiệp ước này xác định Liên Xô và Đức cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau, giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào, đồng thời cam kết không tham gia các lực lượng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Giới lãnh đạo Liên Xô biết rõ rằng, ký hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Đức quốc xã không thể ngăn chặn được Chiến tranh thế giới thứ hai mà chỉ để làm chậm lại thời điểm Đức quốc xã tập trung lực lượng của toàn châu Âu để tấn công Liên Xô nhằm chuẩn bị đối phó.

Nhận định của giới lãnh đạo Liên Xô căn cứ vào một sự thật lịch sử khác. Đó là rất lâu trước khi Liên Xô ký với Đức hiệp ước không tấn công lẫn nhau, nhiều nước châu Âu cũng từng ký hiệp ước tương tự với Đức quốc xã...

Đúng như dự báo của giới lãnh đạo Liên Xô, sau khi phát động Chiến tranh thế giới thứ hai vào ngày 1-9-1939, Đức quốc xã đã ký hiệp ước liên minh với nhiều nước châu Âu để chuẩn bị chiến dịch tấn công Liên Xô. Sau khi đã tập hợp được lực lượng của gần toàn bộ châu Âu, ngày 18-12-1940, Hitler phê chuẩn Kế hoạch Barbarossa để bất ngờ tấn công Liên Xô vào ngày 22-6-1941.

Chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai còn đi ngược lại sự thật lịch sử là Đức đã tập hợp lực lượng từ nhiều nước đầu hàng để tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô. Vì vậy, Liên Xô đóng vai trò chủ yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai là đánh bại lực lượng liên quân của Đức quốc xã.

Trong cuộc đại chiến này, Liên Xô đã đánh bại 507 sư đoàn Đức quốc xã và 100 sư đoàn đồng minh của chúng; tiêu diệt của Đức quốc xã hơn 70.000 máy bay (chiếm khoảng 70% tổng số máy bay bị phá hủy), khoảng 50.000 xe tăng và vũ khí tấn công (75%), 167.000 khẩu pháo (74%), hơn 2.500 tàu chiến và tàu bảo đảm.

Sau khi đánh bại phát xít Đức ở châu Âu, Liên Xô tiến hành chiến dịch đánh bại đạo quân Quan Đông mạnh nhất của Nhật Bản, đóng vai trò quyết định, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Liên Xô đã phải nỗ lực phi thường để giành được chiến thắng vĩ đại này nhưng cũng phải chịu thiệt hại vô cùng to lớn. Nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá, hơn 27 triệu công dân Xô viết đã thiệt mạng... 

Sau 80 năm, dù bị nhiều luận điệu xuyên tạc, với âm mưu hòng làm thay đổi bản chất cuộc chiến nhưng chiến thắng vĩ đại của nhân dân Xô viết vẫn được loài người tiến bộ ghi nhận, tôn vinh. Theo ghi nhận, nguyên thủ hoặc đại diện của hơn 20 quốc gia đã nhận lời mời tham dự lễ kỷ niệm và cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ ở Moscow vào Ngày Chiến thắng 9-5 năm nay. Ngoài ra, một số quốc gia còn cử lực lượng tham dự cuộc duyệt binh mừng chiến thắng này. Ở châu Âu, bất chấp nhiều áp lực, ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ và một số cá nhân vẫn tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5...

Chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại không chỉ góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít và quân phiệt mà còn tạo điều kiện cho nhiều nước giành được quyền độc lập, trong đó có Việt Nam. Hơn lúc nào hết, loài người tiến bộ cần tiếp tục ngăn chặn các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Đây là hành động thiết thực bảo vệ các giá trị chân chính của lịch sử, của lương tri, đồng thời nhằm ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa phát xít.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỰC CẢN VÔ HÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN!

     Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đang diễn ra với tốc độ mạnh mẽ, mở ra thời cơ và cũng đặt ra thách thức. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đáp ứng yêu cầu cấp bách. Triển khai nghị quyết vào thực tiễn rất cần sự vào cuộc khẩn trương, quyết liệt của toàn xã hội, không cho phép thái độ lừng chừng, thăm dò, đối phó bởi sẽ tạo ra lực cản vô hình đối với sự phát triển.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực và cá nhân trong xã hội. Trong cuộc cách mạng ấy, bất kỳ ai đều có thể tham gia, đóng vai trò nhất định vào công cuộc phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thực tế đã chứng minh nhiều cá nhân từ mọi thành phần đã có những phát minh, sáng kiến hiệu quả. Tuy nhiên, trong cuộc cách mạng về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, vai trò của đội ngũ trí thức là hết sức quan trọng, có tính chất quyết định.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức.

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng chỉ rõ: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.

Một trong những phẩm chất quý báu của đội ngũ trí thức, đó là nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ. Phẩm chất này đặc biệt quan trọng khi Đảng ta chú trọng phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trong những tình huống quan trọng, cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, vai trò của đội ngũ trí thức càng cần được đề cao, chú trọng hơn. Các trí thức, với trình độ, sự hiểu biết, lòng tự trọng, sự dấn thân của mình càng cần thể hiện tính tiên phong, sự quyết đoán, trách nhiệm rõ ràng, xứng đáng với vai trò mà xã hội kỳ vọng.

Trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đội ngũ trí thức luôn có những đóng góp quan trọng, quyết định vào những thời điểm, giai đoạn khác nhau.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức. Người cho rằng: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”; “Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức”. Tư tưởng của Bác được Đảng ta kế thừa, phát huy, vận dụng sáng tạo trong tình hình thực tiễn trong suốt hơn 95 năm qua kể từ khi thành lập (ngày 3/2/1930) cho đến nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức. Người cho rằng: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”; “Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức”. Tư tưởng của Bác được Đảng ta kế thừa, phát huy, vận dụng sáng tạo trong tình hình thực tiễn trong suốt hơn 95 năm qua kể từ khi thành lập (ngày 3/2/1930) cho đến nay.

Trong bối cảnh diễn ra cuộc cách mạng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, “vốn liếng quý báu của dân tộc” càng phải được phát huy kịp thời, hiệu quả. Tinh thần dấn thân vốn là phẩm chất cao quý của trí thức, bởi họ là những người tự trọng, không xu nịnh; “thấy chuyện bất bình chẳng tha”, tiên phong trong việc lên án cái xấu, cái ác; là người dám bảo vệ quan điểm, chân lý của mình.

Đáng chú ý trong Nghị quyết số 57-NQ/TW phần nhiệm vụ, giải pháp nêu rõ: “Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện”.
Trong cuộc gặp mặt 200 trí thức, nhà khoa học có nhiều thành tích, đóng góp, đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng, giáo dục và đào tạo trên toàn quốc diễn ra ngày 30/12/2024 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận, biểu dương và chúc mừng những thành tựu, kết quả mà đội ngũ trí thức, nhà khoa học nước ta đã đạt được trong giai đoạn đổi mới đất nước.

Đồng thời Tổng Bí thư đề nghị, đội ngũ trí thức, nhà khoa học nỗ lực thực hiện trách nhiệm, sứ mệnh trong giai đoạn cách mạng mới, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược. Trong đó cần nghiên cứu, tập trung sớm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” như một nguồn cảm hứng, một động năng mới, một miền đất mới, bầu trời mới cho sáng tạo của giới trí thức, nhà khoa học.

Tổng Bí thư mong muốn, các trí thức, nhà khoa học phải là lực lượng nòng cốt để đưa Việt Nam đứng vào nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; tối thiểu có năm doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các cường quốc công nghệ vào năm 2030.

Đến năm 2045, Việt Nam là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các “đế chế công nghệ số”.

Vai trò của trí thức trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xuất hiện những biểu hiện chưa chuẩn mực, thậm chí lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết từ chính đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên. Càng đáng báo động hơn khi một số cá nhân nhân danh trí thức bày tỏ quan điểm một cách lệch lạc, phiến diện, thiếu tính xây dựng.

Vai trò của trí thức trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xuất hiện những biểu hiện chưa chuẩn mực, thậm chí lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết từ chính đội ngũ trí thức, cán bộ, đảng viên. Càng đáng báo động hơn khi một số cá nhân nhân danh trí thức bày tỏ quan điểm một cách lệch lạc, phiến diện, thiếu tính xây dựng.

Trong những nội dung liên quan đến việc ban hành, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xuất hiện một số người nhân danh trí thức nhưng lại thể hiện thái độ lừng chừng trong suy nghĩ, hành động, thiếu sự ủng hộ cần thiết, chính đáng, không đúng với phẩm chất của người trí thức là dấn thân, làm cho xã hội thức tỉnh, đồng thuận, ủng hộ tích cực, trách nhiệm. Thậm chí, có trường hợp còn cố tình suy diễn sai lệch, kích động, tiếp tay cho những ý kiến trái chiều, cản trở việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhất là trên không gian mạng.

Điều đáng nguy hiểm là với “cái mác” trình độ học vấn, họ dễ khiến người dân cả tin vào những gì họ nói, họ viết, họ bình luận. Nhân danh trí thức, họ cài cắm mục đích cá nhân trong việc bày tỏ quan điểm, thậm chí đi ngược lại chủ trương, đường lối, chống đối, cản trở, ngáng đường, kìm hãm sự phát triển. Sự quan tâm đến nghị quyết quan trọng của Đảng ta theo kiểu ấy là giả tạo, mạo danh, mưu lợi cá nhân.

Những trường hợp nhân danh trí thức như vậy cần nhận diện kịp thời, lên án và kiên quyết ngăn chặn, tránh gây cản trở quá trình thực hiện nghị quyết và xu thế phát triển của toàn xã hội.

Đáng chú ý là còn có sự thiếu quyết liệt trong quá trình quán triệt, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Biểu hiện dễ thấy là việc kéo dài thời gian để thăm dò, là tâm thế ngại đổi mới, ngại đương đầu với những vấn đề mới, với những khó khăn, thử thách trong công việc. Cụ thể hơn, việc ngại học tập nâng cao trình độ liên quan đến chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, áp dụng những tiến bộ khoa học-công nghệ trong công việc, chưa nói đến việc nghiên cứu và ứng dụng.

Tất cả những biểu hiện, việc làm ấy gây khó khăn, cản trở quá trình thực hiện nghị quyết, như những “điểm nghẽn” kìm hãm sự phát triển của đất nước. Do đó quyết không thể có sự trông chờ, trì hoãn, thoái thác trong những bước đi tăng tốc vượt trội của đất nước, bởi chậm trễ là chúng ta sẽ đánh mất cơ hội bứt phá!

Tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW rất rõ: Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Vì vậy, đội ngũ trí thức nói riêng, mỗi người dân nói chung cần hành động quyết liệt, dấn thân, sáng tạo, đóng góp để thay đổi xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng chính là việc làm thay đổi cách nghĩ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người dân rằng, nghị quyết thì rất hay, rất đúng, rất trúng nhưng quá trình thực hiện lại rất dở, gặp nhiều khó khăn./.
Yêu nước ST.

Làm cán bộ, đừng “mắc nợ” người lao động

 

Nhân Ngày Quốc tế Lao động (1-5) và Tháng công nhân, cần suy ngẫm về hiện tượng cán bộ “mắc nợ” cấp dưới, người lao động. Bởi thực tế có khá nhiều cán bộ mắc khuyết điểm này, dẫn đến nhiều hệ lụy.

Cán bộ... khác quá!

Đó là nhận xét “rỉ tai” của người lao động, nhân viên dành cho những người thay đổi nhiều theo hướng tiêu cực từ khi họ trở thành cán bộ, làm sếp. Thực tế có không ít người khi là nhân viên thì rất tốt, sống hòa đồng và tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ đồng nghiệp; nhưng khi được làm sếp thì họ dần khác. Ban đầu là ít gặp gỡ, gần gũi, trò chuyện với cấp dưới, rồi ngày càng xa cách, lạnh nhạt, thờ ơ. Có cán bộ khi gặp đồng nghiệp cũ còn quay mặt đi, như không quen biết; trong tình huống buộc phải giao tiếp thì bắt tay hờ hững, trả lời qua loa, thậm chí lên giọng trịnh thượng, ra oai. Trong khi đó, đối với cấp trên thì họ lại khúm núm, xun xoe, nịnh bợ.

“Cán bộ... khác quá” còn ở chỗ, thời là nhân viên, họ thường chia sẻ với những khó khăn, vất vả của đồng nghiệp trong cuộc sống và công việc, chê trách cấp trên không kịp thời quan tâm giải quyết những vướng mắc, bất cập, không có những chế độ, chính sách thỏa đáng chăm lo cho người lao động; không ít người còn “hùng hồn” tuyên bố: "Tôi mà là sếp thì sẽ khác...". Thế nhưng, đến lúc họ làm sếp lại quên hết; cấp dưới kiến nghị thì... bỏ đấy. Có sếp mới còn không quan tâm giải quyết những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của người lao động bằng sếp cũ mà chỉ lo thu vén cá nhân, cốt được lợi mình. Chính sự “khác quá” này làm cho cấp dưới, người lao động cảm thấy chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu.

 Trách nhiệm phải làm, đâu phải “ban ơn”?

Một hiện tượng rất cần cảnh báo, chấn chỉnh là một số cán bộ không nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; đáng lẽ phải quan tâm chăm lo, giải quyết những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cấp dưới và người lao động, thì họ lại “mặc định”: Cấp dưới phải nhờ vả, xin xỏ, còn sếp có quyền “ban ơn”, nếu không thích, không ưa thì không cho. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng “chạy chọt”, khiến nhiều nhân viên, người lao động dù không muốn vẫn phải tìm cách tiếp cận, nịnh nọt, cung phụng sếp để lấy lòng, để được sếp quan tâm “giúp đỡ”.

Việc sếp tự cho mình có quyền “ban ơn” gây hệ lụy rất lớn, không chỉ tạo ra tình trạng “chạy”-một dạng tham nhũng, tiêu cực phổ biến mà còn khiến nội bộ mất đoàn kết, nhiều nhân viên, người lao động nảy sinh tư tưởng tiêu cực, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây còn là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bởi nó tạo ra sự cạnh tranh tiêu cực: Những người tài đức mà không biết “chạy” thì không được cấp trên trọng dụng; người phải “chạy”, khi được làm sếp sẽ tìm cách “thu hồi vốn”, chỉ “ban ơn” cho những cấp dưới cung phụng mình, và cái vòng “chạy chọt” cứ thế tái diễn... 

Có cán bộ từ khi lên sếp bỗng tỏ thái độ “lạnh như tiền” với cấp dưới và người lao động. Đồng nghiệp cũ thường xì xào về họ: Sếp lạnh như tiền thì cấp dưới mới sợ, phải cung phụng để được quan tâm giúp đỡ. Nếu cứ thân mật, gần gũi nhân viên, vô tư, khách quan làm đúng trách nhiệm thì... tiền ở đâu ra (!)

Xa dân dẫn đến nhiều sai lầm

Là cán bộ, đảng viên, hẳn ai cũng biết câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là bài học quý báu, lời căn dặn sâu sắc của Bác Hồ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc phải “lấy dân làm gốc”, dù công việc dễ dàng mà không có sự đồng lòng, ủng hộ và tham gia của nhân dân thì cũng không thể làm được. Ngược lại, được nhân dân đồng tình, góp sức thì việc khó đến mấy cũng thành công. Theo Người, “nhân dân có trăm tai nghìn mắt”, vì nhân dân có ở khắp mọi nơi, có thể phát hiện nhanh những điều đúng-sai, hay-dở nên không ai có thể che giấu hành vi sai trái trước nhân dân. Vì thế, người lãnh đạo phải biết tôn trọng, lắng nghe, tin tưởng và phát huy vai trò của nhân dân. Muốn chống quan liêu, tham ô, lãng phí thì phải thực hành dân chủ, phải cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, giám sát; thực hành dân chủ cũng chính là động lực để phát triển xã hội cũng như mỗi tổ chức.

Thế nhưng vẫn có không ít cán bộ xa dân, không thực sự lắng nghe cấp dưới, người lao động, dẫn đến không nắm chắc thực tế để ban hành các quyết sách phù hợp, hiệu quả, khả thi; thậm chí có trường hợp ban hành những quy định “trên trời”, bị dư luận phản đối bởi không thể đi vào cuộc sống, dẫn đến sai lầm, thất bại.

Thời gian qua, chúng ta đã có nhiều bài học về việc này, như: Một số trạm thu phí BOT giao thông (để hoàn vốn cho các dự án xây dựng, nâng cấp hạ tầng) đặt sai vị trí, không tiếp thu ý kiến nhân dân dẫn đến người dân phản ứng gay gắt, phải dừng thu phí hoặc di dời trạm, thậm chí có dự án BOT bị điều tra, xử lý vi phạm. Chủ trương hạn chế xe máy vào nội thành Hà Nội (giai đoạn 2017-2021) để giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường cũng không tham khảo kỹ ý kiến người dân, thiếu phương án giao thông công cộng thay thế hợp lý nên không khả thi.

Ở phạm vi nhỏ, có không ít cán bộ độc đoán, gia trưởng, coi thường ý kiến của cấp dưới và người lao động dẫn đến “tự quyết” nhiều việc sai lầm, không hiệu quả. Trong đó, đáng phê phán nhất là việc đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo cảm tính, không tham khảo và không tôn trọng ý kiến cấp dưới. Thực tế có khá nhiều người “nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh bợ, họ giả vờ tốt rất giỏi nên sếp siêu lòng, cất nhắc; song họ không thể hoàn thành tốt vai trò cán bộ, tư cách đạo đức cũng không xứng đáng, làm nhiều người bức xúc, phát sinh tư tưởng bất mãn, tiêu cực. Trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, nếu người có thẩm quyền coi trọng xem xét hiệu quả công việc và chân thành hỏi ý kiến của cấp dưới, người lao động, phân tích thông tin kỹ lưỡng thì sẽ biết thực chất, không mắc sai lầm.

Để cấp dưới, người lao động thực sự tâm phục, khẩu phục, từng cán bộ cần thường xuyên và nghiêm túc tự soi, tự sửa và cách tốt nhất để sửa mình chính là gần gũi, chân thành lắng nghe ý kiến của cấp dưới, người lao động. Vẫn biết, làm cán bộ có nhiều công việc và mối quan hệ phải giải quyết, ít có thời gian gặp gỡ, tiếp xúc với cấp dưới, người dân. Tuy nhiên, nếu cán bộ thật sự có tâm và tầm, thật sự vì việc chung thì cũng sẽ có cách phù hợp để cấp dưới nể phục, tin tưởng, không trở thành cán bộ “mắc nợ” người lao động, bị quần chúng chê trách.

Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực

 

Thực tế cho thấy, việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín của Đảng, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân. Do đó, vấn đề mấu chốt trong công tác nhân sự là kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực.

1. Công tác nhân sự đại hội đảng các cấp là công việc hệ trọng, được Đảng xác định là “then chốt” của “then chốt”, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định “có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.

Nhìn lại các kỳ đại hội, công tác nhân sự luôn được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng những chủ trương, giải pháp toàn diện, đồng bộ, kiên quyết với yêu cầu ngày càng cao, phương pháp tiến hành ngày càng chặt chẽ, khoa học. Nhờ đó, đại hội đảng bộ các cấp đã lựa chọn được đội ngũ cấp ủy viên, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự là lực lượng ưu tú, tinh hoa nhất của Đảng, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhận thức đầy đủ, sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm trong công tác nhân sự, dẫn đến việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đã có những cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật ở những mức độ khác nhau, trong đó có cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, có cả cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý. Thực trạng đó đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín, thanh danh của Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và sự phát triển của đất nước, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc, chống phá.

2. Tình hình trên đòi hỏi các cấp bộ đảng từ Trung ương đến cơ sở phải chú trọng làm thật tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề của cả hệ thống chính trị, trước hết là trọng trách của các cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội.

Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14-4-2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ, không để "bỏ sót" những người thật sự có đức, có tài; đồng thời, kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

3. Để thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác nhân sự đại hội, trước hết cần đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội trong việc hiểu, đánh giá và giới thiệu đúng cán bộ.     

Để hiểu rõ và đánh giá, giới thiệu đúng nhân sự đại hội, đòi hỏi cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cần tiếp tục tăng cường tự phê bình và phê bình một cách thực sự, chân thành, thẳng thắn vì mục đích chung. Cần khắc phục triệt để tình trạng: Tự phê bình phần lớn chỉ nhấn mạnh ưu điểm, công lao, thành tích, nói đến khuyết điểm thì bao biện, đổ lỗi cho khách quan, cho tập thể. Khi phê bình thì né tránh, ngại va chạm, không thành thật, “nhẹ cùng nhẹ”, xuê xoa giữ đoàn kết hình thức, dung hòa mâu thuẫn, nhân nhượng lẫn nhau. Tập thể cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ và người đứng đầu có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu, dũng cảm, thành thật tự phê bình và phê bình, không giấu giếm khuyết điểm của nhân sự đại hội, ghi thành nghị quyết, kết luận của tập thể cấp ủy, công khai, minh bạch. Thực tiễn cho thấy, chỉ có thông qua tự phê bình và phê bình thực sự, chân thành, thẳng thắn mới giúp cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan chức năng hiểu rõ cán bộ, đánh giá chính xác cán bộ và giới thiệu đúng nhân sự đại hội.

Giải pháp rất quan trọng là phải xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí cấp ủy viên cụ thể, rõ ràng để xem xét, kết luận mức độ đáp ứng của từng cán bộ làm cơ sở giới thiệu nhân sự đại hội đảng các cấp một cách công tâm, khách quan, công khai, minh bạch. Phải xác định rõ những tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể mang tính định lượng làm căn cứ để xem xét, so sánh, kết luận mức độ đáp ứng của nhân sự cán bộ được giới thiệu. Căn cứ vào tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần xem xét toàn diện, cả quá khứ, hiện tại và hướng phát triển, lịch sử gia đình, bản thân và quan hệ xã hội; thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các khâu, các bước, tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nhiều hướng để đối chiếu, so sánh, khẳng định mức độ đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực công tác cũng như các tiêu chí khác về tuổi đời, thời gian công tác, trình độ đào tạo... và những hạn chế, khuyết điểm của từng nhân sự cán bộ. Làm được như vậy sẽ phát hiện và loại bỏ được những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hạn chế về năng lực, nhất là những cán bộ tham nhũng, biến chất, tham vọng quyền lực khi giới thiệu bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Bên cạnh đó, cần dựa vào dân, có cơ chế động viên và phát huy vai trò của nhân dân tham gia tích cực vào công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội, do đó, công việc của Đảng cũng chính là công việc của dân. Việc nhân dân tham gia ý kiến vào công tác nhân sự của Đảng là đương nhiên, cần làm. Thực tiễn khẳng định, dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp, thông tin nhân dân cung cấp giúp cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ hiểu rõ cán bộ, tìm được cán bộ có đức, có tài để trọng dụng; đồng thời, phát hiện được cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ ra khỏi đội ngũ.

Các cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần bằng nhiều phương cách cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin nhân sự cán bộ và cách thức tham gia ý kiến của nhân dân. Cần có cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia công tác nhân sự, nhất là có quy chế cung cấp thông tin về cán bộ, người thân của cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất. Đồng thời, cần có cơ chế và những biện pháp đủ mạnh để bảo vệ quần chúng nhân dân dũng cảm cung cấp thông tin về cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất đang cố tình che giấu, tránh sự phát hiện của tổ chức.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng đặc biệt của công tác nhân sự đại hội, của việc lựa chọn những người đủ đức, đủ tài và loại bỏ những cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực khỏi cơ quan lãnh đạo các cấp-một trong những điều kiện tiên quyết xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác nhân sự đại hội theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác nhân sự, tôn trọng ứng cử và đề cử của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên và ý kiến của nhân dân. Đó cũng là cách để đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy chế, quy định, quy trình, các khâu, các bước tiến hành, xác định rõ phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự đại hội, người đứng đầu, các tổ chức, lực lượng có liên quan trong công tác nhân sự và cơ chế, nguyên tắc hoạt động làm cơ sở pháp lý để kiểm soát thực thi quyền lực được giao. Kiên quyết đấu tranh và xử lý mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... để được cất nhắc, lựa chọn, bố trí, bổ nhiệm chức vụ cán bộ, hợp thức hóa diện được giới thiệu nguồn nhân sự đại hội theo đúng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự phải thực sự làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, phải đề cao trách nhiệm nêu gương, nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, lạm quyền, nể nang, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung lãnh đạo và làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực, thực hành dân chủ rộng rãi và phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng tham gia kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, phải bảo đảm lựa chọn và giới thiệu được những cán bộ thật sự ưu tú để bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Cơ sở vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới

 

Gần đây, thuật ngữ “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trở nên phổ biến trong đời sống chính trị, xã hội của nước ta; thể hiện tầm nhìn và tư duy mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là lời hiệu triệu khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, để Việt Nam hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước.

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng, vô căn cứ

Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử xấu trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đả kích vấn đề này. Chúng lợi dụng mạng xã hội phát tán các thông tin sai trái, xuyên tạc mục đích, giá trị, ý nghĩa, phủ nhận bản chất khoa học của khái niệm, nội hàm các vấn đề liên quan đến “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Âm mưu thâm độc của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, tạo nhận thức lệch lạc, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào dân tộc để đưa đất nước vươn mình phát triển. Điều này rất nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương tiến hành đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 

Những thành tựu đất nước ta đạt được trong thời gian qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, hội tụ đủ các điều kiện để bước vào kỷ nguyên phát triển mới vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những kinh nghiệm đã tích lũy; sự chung sức đồng lòng của “ý Đảng, lòng dân” và sức mạnh của lực lượng vũ trang; là quyết tâm giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực con người và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển. Thực tế sau gần 40 năm đổi mới, nước ta từ khủng hoảng, lạm phát 774,7% trước Đại hội VI (1986) đã vươn lên nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và nằm trong tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Bằng tầm nhìn chiến lược về tư duy tìm đường đưa đất nước phát triển, Đảng ta đã khái quát nên khái niệm và các nội hàm về kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận điểm này hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý chí chủ quan, duy ý chí, cũng không phải là “sự viển vông, ảo tưởng”, “xa rời thực tế” như các thế lực thù địch bịa đặt, xuyên tạc.

Nâng cao nhận thức không mắc mưu kẻ xấu

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước, tuyệt đối không để mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và bản chất của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo quan điểm của Đảng. Quan điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của Đảng là khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, được tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm, bản lĩnh của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu đất nước đạt được trong gần 40 năm Đổi mới. 

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng ta đã phân tích thấu đáo xu hướng vận động, phát triển của thế giới, khu vực; đặc biệt là thế và lực của đất nước. Từ đó, Đảng chỉ rõ thời cơ, những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân tự tin, chung sức, đồng lòng bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Vượt qua giới hạn phát triển đất nước theo chiều rộng để chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu; không khắc phục được những “điểm nghẽn, nút thắt” bằng những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, nhất là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực thì chúng ta không thể tạo ra sự thông thoáng về không gian phát triển, phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực... đang là hướng đi đúng đắn đã được Đảng chỉ ra nhằm đưa đất nước phát triển.  "Ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, mà biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện này là quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với những thành tựu to lớn đã đạt được, truyền thống đoàn kết, thống nhất, toàn dân chung sức đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ không ngừng phát triển, đạt được các mục tiêu đề ra.

Luận điệu bóp méo quan điểm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, các quan điểm sai trái và thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo rằng việc khuyến khích kinh tế tư nhân là từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu sai trái này, Đảng và Nhà nước luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững, trong đó kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.

Các quan điểm sai trái, phản động về kinh tế tư nhân

Các thế lực thù địch và phản động gần đây đã lợi dụng sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cố tình tuyên truyền rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân là dấu hiệu từ bỏ nền tảng xã hội chủ nghĩa, hoặc chuyển hướng sang kinh tế tư bản, chúng xuyên tạc rằng, sự điều chỉnh từ kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân là một sự lật đổ chính sách.

Một số quan điểm sai trái, phản động khác còn cho rằng chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp với quy luật phát triển, đồng thời xuyên tạc Việt Nam đang “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, các thế lực này còn cho rằng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước và tập thể, dẫn đến bất bình đẳng xã hội và mất kiểm soát tài nguyên quốc gia, sử dụng các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và các buổi thảo luận giả danh chuyên gia để tuyên truyền rằng “một nền kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ độc đảng”. Những luận điệu này không chỉ bóp méo thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hoài nghi trong dư luận mà còn nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, kêu gọi thay đổi thể chế chính trị.

Cơ sở l‎ý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân thực chất là khu vực kinh tế thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoạt động vì lợi ích riêng nhưng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội và sự tha hóa con người. C.Mác chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân dẫn đến “sự cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tập trung tư bản, làm gia tăng bất công xã hội”. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định, trong một số giai đoạn lịch sử, kinh tế tư nhân có thể thúc đẩy sản xuất và phát triển lực lượng lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.

 

Kế thừa quan điểm này, V.I.Lênin nhận định, kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh: Chính sách ngăn cấm hoàn toàn trao đổi tư nhân là một sự dại dột và tự sát. Chính sách kinh tế mới-NEP (1921) đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ và thương mại tự do hoạt động để phục hồi nền kinh tế Nga sau chiến tranh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời định hướng khu vực này theo con đường xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin khẳng định: Chúng ta sẽ học cách vận hành nền kinh tế từ các nhà tư bản, kể cả các nhà tư bản nước ngoài.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực này chiếm hơn 60% GDP, hơn 70% đổi mới công nghệ và tạo ra hơn 80% việc làm ở đô thị, với hơn 90% số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau cải cách mở cửa năm 1978, kinh tế tư nhân đã phát triển vượt bậc, trở thành động lực chính trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn, như việc tăng số doanh nghiệp tư nhân trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ 1 doanh nghiệp năm 2010 lên 28 doanh nghiệp năm 2018. Những con số này cho thấy vai trò không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong việc thực hiện mục tiêu "Giấc mộng Trung Hoa" và xây dựng một nền kinh tế hiện đại, phát triển chất lượng cao.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1960, chính phủ đã thực hiện các chính sách chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai và LG thông qua vốn vay ưu đãi, bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và tập trung vào các ngành chủ chốt như sản xuất hóa chất và thép. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm hơn 80% GDP, tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi khu vực tư nhân là trụ cột quan trọng trong chiến lược tái định hình nền kinh tế. Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài trợ nghiên cứu và phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp khu vực tư nhân chiếm hơn 65% GDP quốc gia.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân bắt đầu được thừa nhận chính thức từ Đại hội VI (1986), khi Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...” và nhận ra sự cần thiết phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Từ đó, khu vực này từng bước được nhìn nhận là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, Đảng đặt mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60-65%. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự nhất quán trong đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng” thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dân số già hóa nhanh chóng và áp lực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng công nghệ cao; yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến đối với kinh tế tư nhân; xây dựng các chính sách hỗ trợ toàn diện như cải thiện môi trường pháp lý, phát triển hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ phù hợp với lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nhất quán với đường lối đổi mới của Đảng, khẳng định rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không hề đi ngược lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn.

Để phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao, cũng như giải phóng tối đa các nguồn lực phát triển. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực công bằng mà còn tạo điều kiện để khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa như các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà chính là sự vận dụng sáng tạo để đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Những quan điểm sai trái này cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ để bảo vệ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

CHIẾN THẮNG 30/4/1975 - SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC!

     Năm nay chúng ta tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, ghi dấu mốc lịch sử trọng đại tròn 50 năm  non sông thu về một mối (30/4/1975-30/4/2025). Trên khắp mọi nẻo đường đất nước, không khí kỷ niệm ngập tràn niềm tự hào, hứng khởi của triệu con dân nước Việt. Lợi dụng thời điểm này, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá, tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975 - sự kiện được cộng đồng quốc tế đánh giá là “một trong những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tiêu biểu và vĩ đại nhất thế kỷ 20”. Chính vì vậy, cương quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là hành động thiết thực kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước!

Từ nhiều năm nay, nhất là vào dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam 30/4, các thế lực thù địch lại ráo riết tung ra những luận điệu sai trái, được lan truyền qua các nền tảng như Facebook, YouTube, hoặc các trang web hải ngoại, trong đó nổi lên là fanpage của tổ chức khủng bố Việt Tân, hay các trang có nội dung phản động như “Đàn Chim Việt”, “Nhật ký yêu nước”,...

Những thông tin được đăng tải trên những trang này thường ngụy trang dưới vỏ bọc “phân tích lịch sử” nhưng thực chất là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật. Như việc gọi chiến thắng 30/4 là “ngày quốc hận” hoặc “tháng Tư đen”, cho rằng đây là kết quả của một cuộc “nội chiến huynh đệ tương tàn” hoặc “chiến tranh ý thức hệ”.

Các đối tượng vu khống miền bắc đã “xâm lược” miền nam, phủ nhận bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và chế độ tay sai. Một số khác rêu rao rằng, Sài Gòn trước năm 1975 là “Hòn ngọc Viễn Đông” với nền kinh tế phát triển vượt bậc, và nếu không có ngày 30/4, miền nam đã giàu mạnh như Hàn Quốc, Singapore.

Nhiều bài viết từ tổ chức khủng bố Việt Tân đã phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, cho rằng chiến thắng 30/4 là kết quả của sự “nhân nhượng” từ phía Mỹ, đồng thời đưa thông tin bịa đặt trắng trợn rằng, sau năm 1975, Việt Nam rơi vào cảnh “đói nghèo, thiếu dân chủ”. Dưới chiêu bài “hòa hợp dân tộc”, các thế lực phản động còn kêu gọi xóa bỏ lễ kỷ niệm 30/4, kêu gọi biểu tình, kích động tư tưởng hận thù, chia rẽ giữa người Việt Nam trong nước và nước ngoài.

Gần đây, tổ chức khủng bố Việt Tân còn công bố “Văn kiện 50: Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai”, trong đó tiếp tục gọi chiến thắng 30/4 là “vết nhơ đáng hổ thẹn” và phủ nhận những thành tựu phát triển của đất nước sau 50 năm thống nhất.

Tận dụng sự phát triển của công nghệ số, các đối tượng phản động tìm mọi cách thức tinh vi, xảo quyệt để lan truyền thông tin sai lệch, đánh vào tâm lý của một bộ phận người trẻ thiếu hiểu biết lịch sử hoặc người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng bất mãn. Mục tiêu của chúng là gieo rắc những nhận thức lệch lạc, sai sự thật về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự kiện ngày 30/4/1975. Từ đó hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bôi nhọ chính quyền cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm lung lay niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, cần dựa trên sự thật lịch sử đã được kiểm chứng, những đánh giá khách quan từ cộng đồng quốc tế và những thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong nửa thế kỷ qua. Trái với những luận điệu gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nội chiến” hay “xâm lược”, chiến thắng 30/4/1975 là kết quả của cuộc đấu tranh chính nghĩa chống lại đế quốc Mỹ và chế độ tay sai, nhằm giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Cuộc kháng chiến này là sự tiếp nối truyền thống nghìn năm chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, được dẫn dắt bởi ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau Hiệp định Geneve 1954, Mỹ can thiệp vào miền nam, dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa để chia cắt Việt Nam, biến miền nam thành thuộc địa kiểu mới. Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống dải đất hình chữ S, chính sách đàn áp dã man của ngụy quyền đã khiến nhân dân miền nam phải đứng lên đấu tranh.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với sự phối hợp đồng tâm hiệp lực của toàn dân, toàn quân, đã kết thúc cuộc kháng chiến kéo dài 21 năm, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập và thống nhất. Sự thật lịch sử này đã được cộng đồng quốc tế công nhận.

Hàng trăm bức điện, bài phát biểu từ hơn 100 quốc gia, tổ chức quốc tế và các nhà hoạt động chính trị đã ca ngợi chiến thắng 30/4/1975 như một “kỳ tích không thể tưởng tượng nổi” (nhà sử học Mỹ Larry Berman, trong cuốn sách No Peace, No Honor - Không Hòa bình, Không Danh dự) hay “biểu tượng của tinh thần quả cảm” (Nhân dân Nhật báo, Trung Quốc, số ra ngày 1/5/1975).

Ngay cả cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara, trong hồi ký In Retrospect (Nhìn lại, 1995), cũng thừa nhận chiến tranh Việt Nam là một “thảm kịch” do những sai lầm chính trị của Mỹ. Những tư liệu này vẫn đang được lưu trữ tại các trung tâm nghiên cứu quốc tế và Việt Nam như Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, là bằng chứng không thể chối cãi về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến.

Luận điệu cho rằng, miền nam trước 1975 là “Hòn ngọc Viễn Đông” và có thể phát triển như Hàn Quốc nếu không có ngày 30/4 là một sự ngụy tạo trắng trợn. Thực tế, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa phụ thuộc nặng nề vào viện trợ Mỹ, với hơn 80% ngân sách đến từ nguồn tài trợ nước ngoài, theo báo cáo của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) năm 1970. Khảo sát của Chính phủ Hoa Kỳ cùng năm cho thấy, khoảng 40% dân số Sài Gòn sống trong các khu ổ chuột, trong khi phần đông dân cư nông thôn đối mặt với nghèo đói và bất ổn do chiến tranh.

Sài Gòn có thể phồn hoa ở một số khu vực trung tâm, nhưng đó là sự phồn hoa giả tạo, phục vụ lợi ích của tầng lớp thượng lưu và quân đội Mỹ, không phản ánh đời sống của đại đa số nhân dân. Nếu không có ngày 30/4/1975, miền nam có thể vẫn bị kìm kẹp trong ách thống trị của ngoại bang.

Ngay sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã nhanh chóng ổn định tình hình, bảo đảm đời sống nhân dân, không có sự “trả thù” hay “thanh trừng” như các luận điệu thù địch cố tình rêu rao. Các chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc được triển khai mạnh mẽ, tạo điều kiện cho hàng chục nghìn trí thức, cán bộ cũ và người dân miền nam được học tập, lao động, tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Cũng cần thấy rằng, những năm sau chiến tranh, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn. Bom đạn chiến tranh đã tàn phá hạ tầng, nền kinh tế kiệt quệ, hàng triệu người dân lâm vào cảnh đói nghèo. Nhưng thay vì suy yếu hay sụp đổ như kẻ thù mong đợi, Việt Nam đã từng bước đứng dậy, vượt lên bằng nghị lực, quyết tâm và trí tuệ của cả dân tộc.

Chúng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986 - một quyết định mang tính cách mạng, mở đường cho sự hội nhập và phát triển. Từ một nước nghèo đói, bị cấm vận, đến nay Việt Nam đã trở thành nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư toàn cầu.

Nhìn lại 50 năm sau ngày thống nhất, đất nước Việt Nam đã từng bước “thay da đổi thịt”. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2024, GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước đạt hơn 4.300 USD. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chỉ còn dưới 2%. Hệ thống cơ sở hạ tầng từ nông thôn đến thành thị được cải thiện rõ rệt.

Các thành tựu trong giáo dục, y tế, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã ba lần đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, và là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025.

Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế như Hội nghị APEC 2017, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều Tiên 2019, và sắp tới là Đại lễ Vesak 2025. Những thành công đó có sự đóng góp quan trọng của chiến thắng 30/4/1975.

Việc bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là công việc của cơ quan chức năng, những nhà sử học, hay báo chí tuyên truyền. Đó cần phải trở thành nhiệm vụ chung của toàn xã hội, nhất là trong giáo dục và truyền thông.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước những thách thức của toàn cầu hóa và công nghệ số phát triển. Các thế lực thù địch tìm mọi cách để lan truyền, phát tán những thông tin độc hại trên mạng xã hội. Những nội dung xuyên tạc, giật gân, bóp méo sự thật lịch sử được sản xuất bài bản, tinh vi, ngụy trang dưới dạng “góc nhìn khác”, “tự sự cá nhân”, núp dưới chiêu bài “tự do ngôn luận”, “giải mật lịch sử” rất dễ khiến người trẻ - đặc biệt là thế hệ không trải qua chiến tranh - bị hoang mang, dao động, hoài nghi.

Do đó, việc bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là công việc của cơ quan chức năng, những nhà sử học, hay báo chí tuyên truyền. Đó cần phải trở thành nhiệm vụ chung của toàn xã hội, nhất là trong giáo dục và truyền thông. Chúng ta cần đổi mới cách kể chuyện lịch sử, kết hợp giữa chính sử và những câu chuyện đời thường, tạo cầu nối cảm xúc để thế hệ trẻ hiểu và yêu lịch sử nước nhà.

Những bộ phim tài liệu về các nhân chứng sống, những bài phóng sự về người lính Trường Sơn năm xưa, những chuyến về nguồn tại các địa danh lịch sử, những cuộc thi tìm hiểu về chiến thắng 30/4 dành cho học sinh, sinh viên,… là những cách thiết thực để lịch sử trở nên sống động, gần gũi hơn với thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, mỗi người dân cần trở thành những “người bảo vệ ký ức lịch sử”, sẵn sàng lên tiếng phản biện, vạch trần những thông tin sai lệch, tham gia xây dựng không gian mạng lành mạnh, nhân văn.

Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là kết thúc một cuộc chiến, từ đây là khởi đầu cho hành trình dựng xây và phát triển đất nước vươn lên “sánh vai với các cường quốc năm châu” như nguyện ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là chiến thắng của chính nghĩa trước bạo lực, của khát vọng độc lập trước áp bức ngoại bang, của lòng dân trước ý đồ chia rẽ và thôn tính của kẻ thù. Đó là một mốc son chói lọi, không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình.

Những luận điệu xuyên tạc, dù được lan truyền qua bất kỳ hình thức nào, cũng không thể làm phai mờ giá trị và ý nghĩa của sự kiện này. Những ai cố tình phủ nhận điều ấy là đang đi ngược lại sự thật lịch sử, phản bội lại lòng tin và khát vọng của hàng chục triệu người Việt Nam.

50 năm đã trôi qua, đất nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ để bước vào kỷ nguyên mới. Những giá trị và tinh thần của chiến thắng 30/4 vẫn còn nguyên vẹn, từ đó đánh thức trong mỗi chúng ta trách nhiệm đối với việc phát huy giá trị của lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đạt được những thành tựu vượt bậc trong kỷ nguyên vươn mình./.
Yêu nước ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TA


Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.

Phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái về chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam hiện nay

 

Biển, đảo Việt Nam không chỉ là không gian sinh tồn, phát triển của các thế hệ người Việt mà còn là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Một trong những hướng tấn công chủ yếu của chúng là nhằm vào lĩnh vực phát triển kinh tế biển và công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước ta, chúng lợi dụng không gian mạng, các phương tiện truyền thông để tung ra những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hòng gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.