Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Coi trọng liêm sỉ, biết giữ thể diện và uy tín trước dân là trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

Lịch sử nhân loại cho thấy, khi văn hóa đạo đức liêm, chính suy đồi có thể kìm hãm, thậm chí là nguyên nhân gây ra suy sụp cả một chế độ xã hội, một vương triều... Bởi vậy, việc trang bị tri thức về văn hóa đạo đức cùng với văn hóa chính trị, giáo dục văn hóa đạo đức liêm chính và văn hóa chính trị cho mọi cán bộ, công chức, viên chức, trước hết cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách để chúng ta có được một xã hội đề cao các giá trị đạo đức liêm, chính, dân chủ, pháp quyền, công bằng, nhân văn.

  Sự nguy hại của tính bất liêm, bất chính

Trong lịch sử xã hội loài người, người cầm quyền hay tất cả những người trong bộ máy công quyền của một chế độ xã hội đang ở thời kỳ thịnh vượng, đang phát triển đều cần có và đều đòi hỏi các đức tính quan trọng là liêm, chính. Hàn Phi (280-233 trước Công nguyên), thời Trung Hoa cổ đại khi bàn về nguy cơ thói hám lợi của người đời cũng nói rằng: “Ham lợi nhỏ tức là hại đến lợi lớn”. Còn xét trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, thì một đất nước, như Mạnh Tử (372-289 trước Công nguyên) cho rằng, nếu mà “ai cũng tham lợi, thì nước lâm nguy”. Đó đều là những bài học về sự liêm, chính mà người đời xưa nhắc nhở và chúng ta cần ghi nhớ.

Tháng 6-1949, nhằm giáo dục tinh thần và đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Cần, kiệm, liêm, chính” dưới bút danh Lê Quyết Thắng, trong đó Người giải thích rất rõ nội dung của các khái niệm này. Bài báo ra đời cách đây đã 75 năm, song những chỉ dẫn dễ hiểu mà hết sức sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các đức tính cần, kiệm, liêm, chính vẫn giữ nguyên giá trị giáo dục rất thiết thực đối với mỗi cán bộ, đảng viên ngày nay, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo các cấp đang giữ những trọng trách trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Liêm là trong sạch, không tham lam”; “Liêm là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc”; “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Đó là đạo đức cách mạng”. Rất nhiều lần Người nhấn mạnh rằng, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra mặt đối lập với liêm là “bất liêm”. Theo đó, những người cậy quyền, cậy thế để đục khoét dân, ăn của đút lót, tham ô, buôn gian bán lận, cờ bạc, cho vay lãi cắt cổ... cùng với những người “tham tiền của, tham địa vị... đều là bất liêm”. “Do bất liêm mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”.

Đối với cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải giữ cho được chữ liêm. Bởi vì, theo Người, họ là những người đều có những quyền hành khác nhau, cấp cao thì nắm quyền to, cấp thấp thì có quyền nhỏ. Người nắm quyền hành trong tay mà không liêm thì rất dễ tìm cách đục khoét của dân, moi tiền trong ngân sách nhà nước. Dù quyền to hay quyền nhỏ, nhưng nếu người nắm quyền mà thiếu lương tâm, không giữ được chữ liêm thì dễ trở nên hủ bại, không tránh khỏi một khi có dịp là sẽ ăn đút lót, nhận hối lộ, hễ có dịp là sẽ “dĩ công vi tư”, biến thành sâu mọt của dân. Chính vì thế nên cán bộ, đảng viên phải lấy chữ liêm làm đầu, phải thực hành chữ liêm trước để làm gương cho dân noi theo. Người cán bộ có đức liêm thì sẽ tạo được niềm tin của dân, bởi vì chữ liêm luôn mang lại sự quang minh, chính đại.

Muốn thực hiện tốt chữ liêm, muốn tránh bất liêm thì trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác tu dưỡng, không ngừng rèn luyện, phải “chính tâm tu thân”. Đặc biệt, tất cả họ đều phải có liêm sỉ để hiểu được rằng bất liêm là một điều rất xấu hổ, mọi hành động trái với chữ liêm là có tội với nước, với dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Để thực hiện được đức tính chính đòi hỏi con người phải chính trực, có dũng khí đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, dám đứng ra bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải. Chính phải thấm sâu vào mọi việc của con người, vào tất cả các mối quan hệ của con người. Cụ thể là mỗi người phải biết ứng xử đúng đắn trong 3 mối quan hệ: Đối với bản thân mình, đối với người và đối với việc.

Đối với mình thì không được tự cao, tự đại; đừng tự coi mình giỏi hơn mọi người vì trong xã hội còn rất nhiều người giỏi hơn mình. Để tránh tự cao tự đại, để “tiến bộ không giới hạn” thì bản thân mỗi người phải “luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình... đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. 

Đối với người, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ “chớ nịnh hót người trên, chớ xem khinh người dưới”; phải có “thái độ chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết”. Đây là bài học về cách xử thế mà mọi cán bộ, “những công bộc của dân” phải luôn ghi nhớ và làm theo.

Đối với việc, cần “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ... phải quyết làm cho thành công”. Một người tự ý thức rõ và thực hiện được cả 3 mặt này sẽ là cơ sở quan trọng để thực hiện được chính và tránh được tà.

Coi trọng liêm sỉ, giữ gìn lòng tự trọng là giải pháp căn cơ để phòng ngừa suy thoái

 Quá trình hoạt động cách mạng, trong hai cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa từ sau khi nước nhà thống nhất, tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã nhận thức được rất rõ tầm quan trọng của các đức tính liêm, chính; họ đã thực hiện tốt theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, triệt để giữ gìn đạo đức liêm, chính. Ngày nay, mọi người ngày càng cần thấm nhuần lời dạy của Bác: “Ai chẳng muốn no cơm ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất, hết đời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt, sẽ truyền đến ngàn đời về sau”.

Trên phương diện lịch sử, thời nào cũng vậy, văn hóa đạo đức liêm, chính cùng với văn hóa chính trị cao, tiến bộ và trong sáng thì luôn tạo nên sức mạnh, bảo đảm tính chính danh của một đảng chính trị đang lãnh đạo và cầm quyền. Đối với một chế độ chính trị mà tất cả đều thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì văn hóa đạo đức liêm, chính cùng với văn hóa chính trị cao, tiến bộ và trong sáng là một bảo đảm cho sự bền vững lâu dài của chế độ đó. Lịch sử xã hội loài người đã cho chúng ta thấy, văn hóa đạo đức liêm, chính cùng với văn hóa chính trị cao, tiến bộ và trong sáng, có thể góp phần củng cố sự bền vững của chế độ, thúc đẩy sự phát triển của một chế độ, một xã hội.

Tuy nhiên, lịch sử nhân loại cho thấy, khi văn hóa đạo đức liêm, chính suy đồi thì có thể kìm hãm, thậm chí dẫn đến suy sụp cả một chế độ xã hội, một vương triều... Bởi vậy, việc trang bị tri thức về văn hóa đạo đức cùng với văn hóa chính trị, giáo dục văn hóa đạo đức liêm, chính và văn hóa chính trị cho mọi cán bộ, công chức, viên chức, trước hết cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách để chúng ta có được một xã hội đề cao các giá trị đạo đức liêm, chính, dân chủ, pháp quyền, công bằng, nhân văn; góp phần xây dựng quốc gia hùng cường, văn minh, phát triển; nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Người cán bộ, người đảng viên có được đạo đức liêm, chính trong sáng, biết giữ thể diện, trọng danh dự, biết giữ liêm sỉ cho bản thân; có uy tín và giữ gìn được uy tín trước nhân dân là tiền đề cực kỳ quan trọng, góp phần thu phục nhân tâm, lôi cuốn quần chúng theo mình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhờ đó góp phần tạo nên được khối đoàn kết toàn dân vững chắc.

Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phẩm chất liêm, chính với tính cách là những giá trị cốt lõi phải được đặt lên hàng đầu. Sở dĩ phải như vậy vì trong những năm gần đây, cả trong Đảng và trong xã hội, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, sự thiếu liêm, chính trong một bộ phận cán bộ, đảng viên rất đáng báo động. Đề cập vấn đề nhức nhối này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”; mặt khác, chúng ta cũng “chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội”. Từ nhận định trên đây, Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu phải “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần điều được Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn là “phải có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng”; biết trọng danh dự; tuyệt đối không được “dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình”, đồng thời họ cũng phải hiểu rằng “tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”.

Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 144-QĐ/TW “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới” với 5 chuẩn mực đạo đức cơ bản. Trong đó, điều 3 quy định chuẩn mực “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải: Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu; trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm; nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực...

Có thể nói, coi trọng liêm sỉ, biết giữ thể diện và uy tín trước dân là trách nhiệm chính trị, bổn phận cao cả của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở các cấp, các ngành, các địa phương. Đây chính là một cách phòng ngừa hiệu quả đối với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay. 

Sưu tầm

Đấu tranh, loại bỏ kiểu người khôn lỏi, cơ hội chính trị

Trong bài viết “Tổ chức tốt Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ một trong những vấn đề mang tính “cốt tử”, hệ trọng, đó là công tác nhân sự. Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị bước vào cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy mạnh mẽ và toàn diện, việc lựa chọn nhân sự vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp càng đặt ra những yêu cầu bức thiết...

Từ hành vi khôn lỏi đến kiểu người cơ hội

Tôi đặt cuốc xe taxi công nghệ từ bến xe Nước Ngầm đến tòa soạn Báo Quân đội nhân dân ở phố Phan Đình Phùng (Hà Nội) với giá 180.000 đồng. Vừa bước lên xe đã nghe lời đề nghị của tài xế: “Bác hủy chuyến giúp em với”! Thấy tôi ngạc nhiên, anh ta tiếp: “Em chở bác đến nơi và thu đúng giá, chỉ là khi bác hủy chuyến thì em không bị hãng trừ phần trăm. Bác giúp em kiếm thêm mớ rau, con cá”. Thế là tôi hủy chuyến ngay lập tức. Về tòa soạn, kể chuyện này cho một anh bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, có ý khoe rằng, hôm nay mình đã làm được một việc tốt, giúp đỡ người lao động trong hoàn cảnh khó khăn. Tưởng nhận được lời tán thán, nào ngờ lại bị anh bạn trẻ phê bình: “Bác đã vô tình tiếp tay cho việc làm sai trái của một kiểu người khôn lỏi. Hãng xe tạo việc làm cho tài xế thì phúc lợi cùng hưởng, khó khăn cùng chia. Kiểu tư duy và lối làm ăn chụp giật, khôn lỏi, vi phạm đạo đức kinh doanh sớm muộn cũng bị phát giác, tẩy chay. Ở chiều ngược lại, nếu ai đó hủy chuyến liên tục, sẽ bị hệ thống chấm điểm khách hàng thấp, lần sau sẽ rất khó đặt qua app”.

Tôi ngớ người trước lập luận của anh bạn trẻ. Quả thật, nhiều khi trong cuộc sống, chỉ vì suy nghĩ đơn giản, bàng quan, mà ta đã vô tình tiếp tay cho cái xấu. Nhìn rộng ra, đời sống xã hội không thiếu những hành vi khôn lỏi. Đó là biểu hiện của tư duy, văn hóa tiểu nông đã có từ hàng trăm năm của một bộ phận người Việt. Dù sự việc có thể rất nhỏ, chẳng chết ai nhưng điều đáng nói đó là biểu hiện của một lối sống. Nó thể hiện tính nghiệp dư, ích kỷ, “bóc ngắn cắn dài”, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, vi phạm nguyên tắc làm việc. Nhiều chuyện nhỏ tích lại sẽ thành chuyện lớn. Người có hành vi khôn lỏi kiểu ấy, nếu không được giáo dục, uốn nắn, lâu ngày sẽ thành bản chất. Trong một tổ chức, cộng đồng, nếu có những cá nhân khôn lỏi sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần đoàn kết, môi trường văn hóa...

Trong môi trường sản xuất, kinh doanh, tư duy và lối làm ăn khôn lỏi chính là tác nhân gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu, sớm muộn cũng bị tẩy chay, doanh nghiệp khó mà phát triển bền vững. Có những doanh nghiệp vì doanh thu, lợi nhuận đã nghĩ ra đủ loại chiêu trò “móc túi” khách hàng. Họ đưa ra những chương trình khuyến mãi, ra sức mời mọc, dụ dỗ khách hàng tham gia. Khi đưa khách hàng “vào tròng” rồi thì tìm mọi cách ép khách hàng phải thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Quy luật nhận thức của con người đi từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Khôn lỏi, khôn vặt là biểu hiện của hành vi. Nó như một loại virus độc hại. Nếu không có cách triệt tiêu, để nó tự do phát triển thì hành vi khôn lỏi sẽ sản sinh ra kiểu người cơ hội, thực dụng, tráo trở, dối trá, lừa thầy phản bạn. Trong hệ thống chính trị, hành vi khôn lỏi nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phê bình, dần dần sẽ hình thành nên kiểu cán bộ “lươn chạch”, cơ hội chính trị, “thông minh có hạn, thủ đoạn có thừa”, cục bộ, bè phái, tha hóa đạo đức, tha hóa quyền lực, nguy hại khôn lường. Những biểu hiện suy thoái này là một bước ngắn dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Trong bài viết như đã dẫn ở trên, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta...”.

Đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Hệ thống chính trị cả nước ta đang bước vào đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy một cách toàn diện, mạnh mẽ chưa từng có. Mục tiêu phải đạt được đó là tạo ra một bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Sau khi sắp xếp, tinh gọn, hệ thống chính trị các cấp phải giữ được người có đức, có tài, có nhiệt huyết cống hiến trong bộ máy. Quá trình sắp xếp, sàng lọc, việc giải bài toán “ai đi, ai ở” sẽ gặp rất nhiều thách thức, khó khăn. Nếu không tỉnh táo nhận diện, thiếu kiên quyết đấu tranh, có biểu hiện dĩ hòa vi quý, cục bộ, bè phái... trong công tác nhân sự thì rất dễ nảy sinh những hành động khôn lỏi, tạo kẽ hở cho chủ nghĩa cá nhân xâm nhập, phát triển, chi phối, lũng đoạn. Người có đức, có tài thì bị ra rìa, kẻ “lươn chạch”, cơ hội chính trị thì bám trụ, phát triển.

Yêu cầu của Đảng về công tác nhân sự trong tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 là tuyệt đối không lựa chọn cán bộ không được quần chúng nhân dân tín nhiệm, cũng không giới thiệu những cán bộ lãnh đạo dĩ hòa vi quý, “tròn vo” để lấy phiếu bầu... kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cũng đã nhấn mạnh yêu cầu: Không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...

Dù người khôn lỏi, cơ hội chính trị có nhiều phương thức, mánh khóe để đạt được mục tiêu cá nhân nhưng trong một tập thể, không khó để nhận diện. Vấn đề đặt ra là thái độ của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nhất là cấp ủy, người đứng đầu đối với hành vi ấy như thế nào? Thực tế cho thấy, kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chỉ có “đất sống” khi có người “nâng đỡ không trong sáng”; cấp ủy, người đứng đầu thiếu công tâm, khách quan, có biểu hiện cục bộ, bè phái; cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng dĩ hòa vi quý, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Ngược lại, nếu tổ chức đảng đề cao tính chiến đấu, tinh thần phê bình, tự phê bình; nhất quán nguyên tắc tập trung dân chủ; cấp ủy, người đứng đầu biết lắng nghe, làm việc công tâm, khách quan thì kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chắc chắn sẽ bị tẩy chay, loại bỏ khỏi bộ máy. Theo tư duy biện chứng mà suy, nếu cấp ủy, người đứng đầu có những biểu hiện ấy thì đó cũng chính là cơ hội chính trị. Trong một tổ chức mà có nhiều người khôn lỏi, cơ hội chính trị thì đó là mầm mống đại họa.

Vũ khí để nhận diện, đấu tranh, loại bỏ những thành phần khôn lỏi, cơ hội chính trị ra khỏi bộ máy đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là: Đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể...

Như vậy, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đặc biệt là trong đại hội đảng bộ các cấp, công tác nhân sự phải được tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ, khách quan, toàn diện. Việc đánh giá cán bộ để giới thiệu nhân sự bầu vào cấp ủy phải là công việc của cả quá trình, xuyên suốt, liên tục, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cần tránh lối làm việc áp đặt chủ quan, định kiến, cảm tính cá nhân, tạo môi trường cho những thành phần cơ hội chính trị ẩn trú, thăng tiến...

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề “cốt tử” của Đảng. Để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là đạo đức, là văn minh; cầm lái đưa dân tộc thực hiện cuộc vươn mình tiến đến hùng cường, phồn vinh, nhất định phải thu hẹp, tiến tới triệt tiêu tư duy tiểu nông, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Công cuộc chuyển đổi số tạo ra “thế giới phẳng” về thông tin chính là lợi thế lớn để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy “xây” để “chống”. Dư luận xã hội, sức mạnh của tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đấu tranh phê bình, tự phê bình... trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp cần được khai thác, phát huy một cách tối đa theo hướng tích cực để góp phần đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi khôn lỏi, kiểu người cơ hội chính trị...

Sưu tầm

Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Thấy rõ giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng của Người.

Nhận diện luận điệu sai trái, xuyên tạc

Một trong những luận điệu nguy hiểm mà các thế lực thù địch xuyên tạc là cho rằng Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng, không có tư tưởng hoặc nếu có thì đó chỉ là những quan điểm rời rạc, thiếu hệ thống, không đủ tầm vóc để gọi là một hệ tư tưởng.

Các đối tượng thù địch thường nguỵ biện rằng, Hồ Chí Minh là người hoạt động thực tiễn, không viết lý luận theo nghĩa hàn lâm, không có hệ thống học thuyết riêng như C.Mác, Ph.Ăngghen hay Lênin. Họ lý sự rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nên quy kết “không có khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Bên cạnh đó, một số kẻ đội lốt “nhà phản biện”, “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học” còn cố tình ngụy biện rằng Hồ Chí Minh chỉ là người “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin, không có sự sáng tạo gì mới nên không thể gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ở đây không đơn thuần là sự hoài nghi học thuật mà là các thế lực thù địch, phản động âm mưu nhằm hạ bệ biểu tượng tư tưởng cách mạng, tạo ra khoảng trống lý luận để tung quan điểm lệch lạc, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong thế hệ trẻ. Họ muốn phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh để từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chế độ XHCN, thúc đẩy mô hình “đa nguyên, đa đảng”. Đây là chiêu bài chính trị quen thuộc nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học được lặp đi, lặp lại, nhất là trong dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đối tượng lại tìm cách “khuấy” lên dưới nhiều chiêu trò như toạ đàm, hội luận, phỏng vấn, phân tích...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và CNXH với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển nhiều luận điểm mới, phù hợp và sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin tập trung vào đấu tranh giai cấp ở phương Tây thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề dân tộc và giải phóng thuộc địa. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập nhiều về vai trò của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò to lớn của nông dân và các tầng lớp bị áp bức trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.

Tư tưởng không nhất thiết phải được thể hiện bằng những bộ sách đồ sộ hay khái niệm trừu tượng, hàn lâm mà có thể hiện diện qua các tác phẩm chính luận, bài viết, bài nói, hành động và trên hết là qua sự chỉ đạo đúng đắn và hiệu quả đối với thực tiễn cách mạng. Các nhà khoa học chỉ rõ rằng, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng theo đúng nghĩa của một nhà cách mạng hành động, nơi mà lý luận luôn được kiểm chứng và phát triển qua thực tiễn sôi động của Người. Do đó, không thể nguỵ biện rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, từ đó đưa ra quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng của Người.

Thế giới đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi

Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, bởi Người có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, có khả năng dự báo, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát. Có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng. Có khả năng tổ chức thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng để đấu tranh. Có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng.

Người đã có rất nhiều tác phẩm lý luận thể hiện tư duy sâu sắc, nhất quán và mang tính hệ thống về cách mạng Việt Nam. Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng gắn liền với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Năm 2021, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” (15 tập).

Bộ sách tập hợp khoảng 3.300 tác phẩm, bài nói, bài viết, điện, thư... của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969 đã được xác minh và thẩm định, cung cấp nhiều tư liệu làm sáng tỏ sự nghiệp, những giá trị lớn lao của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó phải kể đến năm tác phẩm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh - năm di sản đã được công nhận là bảo vật quốc gia: “Đường Kách mệnh” (1927), “Nhật ký trong tù” (1942-1943), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966) và “Di chúc” (10/5/1965-19/5/1969).

Năm tác phẩm tiêu biểu được xếp hạng bảo vật quốc gia cũng như toàn bộ di sản của Người có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn cụ thể, là kim chỉ nam, mang giá trị định hướng trường tồn. Đó không phải là những mảnh ghép rời rạc như luận điệu các thế lực xấu mà là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế. Đồng thời, minh chứng cho những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới, sự cống hiến của Người vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ và thống nhất đất nước, xây dựng XHCN, đưa đất nước tiến lên hiện đại. Không chỉ có giá trị trong lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính thời đại sâu sắc, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là minh chứng sinh động cho giá trị khoa học, giá trị cách mạng và giá trị nhân văn cao cả của một tư tưởng vĩ đại.

Đại hội XI (2011), Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Định nghĩa này không chỉ mang tính lý luận sâu sắc mà còn thể hiện sự đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này đủ sức bác bỏ quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn không có hệ thống lý luận độc lập.

Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Ghi nhận những đóng góp, cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh cho tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam, cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, UNESCO đã ban hành Nghị quyết khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư cách nhà tư tưởng của Người. Nghị quyết ghi nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Chính các học giả, nhà nghiên cứu quốc tế đã thừa nhận và ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên bình diện thế giới. Tại nhiều hội thảo quốc tế, các học giả đã nhấn mạnh tính nhân văn, tính thực tiễn và tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng tư tưởng cách mạng thế giới. Hiện nay, đã có 35 công trình tượng, tượng đài Hồ Chí Minh được xây dựng tại 22 quốc gia trên thế giới.

Đây chính là sự bác bỏ đầy thuyết phục của cộng đồng quốc tế đối với các luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, khi sự nghiệp cách mạng bước vào giai đoạn mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng, những luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh không những phi khoa học mà còn đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về sửa đổi Hiến pháp hiện nay

Đẩy mạnh tổng kết, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nhiều nghị quyết quan trọng khác của Đảng, vừa qua Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 ban hành kế hoạch, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp. Tuy nhiên lợi dụng vào việc này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc, cần cảnh giác, đấu tranh phản bác.

Mượn gió bẻ măng

Lợi dụng vào việc nhà nước lấy ý kiến Nhân dân sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2018 để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và nhiều chủ trương quan trọng của Đảng, trong những ngày qua, một số tổ chức phản động như Việt Tân, các trung tâm truyền thông VOA tiếng Việt, RFA và một số cá nhân có tư tưởng chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước ta về việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

Chúng lợi dụng lấy ý kiến về sửa đổi Hiến pháp để đưa ra đòi hỏi phi lý từ rất nhiều năm nay, đó là “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”. Chúng rêu rao tuyên truyền xuyên tạc theo kiểu dân túy là: “Để đảm bảo quyền làm chủ của người dân thì Hiến pháp mới cần bỏ Điều 4”, “Sửa Hiến pháp: Yêu cầu bỏ Điều 4 để Nhân dân được tự do chính trị”… Những luận điệu này đã thể hiện rõ âm mưu chống phá của chúng và thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng xuyên tạc rằng “Chuyện sửa đổi Hiến pháp chẳng qua là trò mị dân” và việc lấy ý kiến Nhân dân về sửa đổi Hiến pháp chỉ là “Trò làm màu tốn thời gian, tiền của”, “Hiến pháp không thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân”…

Trái với những điều này, theo Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định về việc sửa đổi Hiến pháp: “Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp”. Rõ ràng, việc sửa Hiến pháp sẽ phải tiến hành lấy ý kiến Nhân dân. Người dân ngoài việc được lấy ý kiến với quy trình tiến hành rất chặt chẽ, dân chủ, khách quan, còn được theo dõi phiên thảo luận tại Hội trường của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 qua truyền hình, phát thanh trực tiếp. Không có chuyện “mị dân” trong việc sửa Hiến pháp và lấy ý kiến Nhân dân như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch suy diễn trong những ngày qua. Chỉ tính trong 3 tuần qua, qua phần mềm VNeID do Bộ Công an quản lý đã có hơn 14 triệu lượt ý kiến Nhân dân góp ý trực tiếp, đóng góp vào sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân, dân chủ của công dân trong việc tham gia hoàn thiện Hiến pháp.

Đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là một sự kiện chính trị pháp lý trọng đại, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và toàn xã hội. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật pháp lý, mà còn thể hiện sự đổi mới tư duy của cả hệ thống chính trị, với một số nội dung rất quan trọng như: Vị thế, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị; đổi mới, tái cấu trúc mô hình tổ chức chính quyền địa phương... Các ý kiến góp ý của các tầng lớp Nhân dân đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ người dân tốt hơn, giải phóng mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Trước hết có thể thấy, việc lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Hiến pháp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Về mục đích, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Mặt khác, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp trên cơ sở căn cứ vào chủ trương, định hướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về cơ sở lý luận, đối với nước ta, Hiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền, bảo đảm các quyền của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, là đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Quốc hội ban hành và có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước…

Ở đây có thể thấy, khi điều kiện lịch sử cụ thể, đất nước bước sang giai đoạn, xã hội có bước pháp triển mới, có nội dung, điều luật quy định không phù hợp với thực tiễn thì việc sửa đổi để đảm bảo đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới là hết sức cần thiết, hệ trọng thể hiện ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Về thực tiễn, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là dựa trên kết quả rà soát, đánh giá thực tiễn việc thi hành quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật có liên quan, nhất là các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương. Trước yêu cầu đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững, Hiến pháp hiện hành cần được điều chỉnh để tạo động lực mạnh mẽ hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Trong đó, thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, sắp xếp các đơn vị hành chính, tinh giản biên chế đòi hỏi phải có sự điều chỉnh ở cấp độ hiến pháp để đảm bảo tính pháp lý cao nhất. Sau hơn 10 năm thi hành, Hiến pháp năm 2013 đã bộc lộ một số vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung, khắc phục những bất cập trong thực tiễn để phù hợp hơn. Đảm bảo đồng bộ, sửa đổi Hiến pháp là cơ sở chính trị, pháp lý để sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật. Sửa đổi một số điều của hiến pháp để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với nước ta trong quá trình hội nhập.

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 là một nhiệm vụ quan trọng cần thiết và chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hoàn thiện hệ thống chính trị và pháp luật, đồng thời thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Với quá trình triển khai khẩn trương, khoa học, dân chủ, minh bạch như hiện nay, việc hoàn thiện sửa đổi Hiến pháp năm 2013 đảm bảo về mặt tiến độ theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn bộ máy đang diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ.

Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng, được tiến hành thận trọng, khách quan, dân chủ, khoa học, hiệu quả; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và lấy ý kiến nhân dân, qua đó huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, trước luận điệu mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá như trên, cần cảnh giác, nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm

Mối nguy hại khôn lường từ tư tưởng xét lại lịch sử

Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm, tư tưởng xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội, từ đó gây ra nhiều hệ lụy.

1. “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Lời căn dặn năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lịch sử đối với sự tồn vong của đất nước. Lịch sử là tập hợp những sự kiện đã xảy ra, hàm chứa nhiều bài học sâu sắc trong tiến trình vận động và phát triển của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, lịch sử không bao giờ chỉ đơn thuần là câu chuyện trong quá khứ mà còn là mối dây liên kết bền chặt giữa các thế hệ, đúc kết kinh nghiệm của cha ông để kiến tạo con đường phát triển cho hôm nay và mai sau.

Đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào. Nhân dân Việt Nam có truyền thống trọng đạo nghĩa, luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp được tích lũy xuyên suốt chiều dài lịch sử. Nhận thức được điều đó, kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lịch sử truyền thống dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh, kết hợp với ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để lãnh đạo đất nước đi qua bao cuộc “thử lửa” của thời đại, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc.

Việc tìm hiểu, khai thác giá trị lịch sử có mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện. Có lẽ vì thế mà lịch sử cũng trở thành một nội dung chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.

2. Trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc nhằm cắt đứt con đường tìm về với ngọn nguồn lịch sử, tiếp sức cho những mưu đồ phá hoại thâm độc.

Thứ nhất, những quan điểm, tư tưởng xét lại về vai trò của lịch sử, gạt bỏ sức ảnh hưởng của lịch sử khỏi đời sống xã hội dần làm phai nhạt lòng yêu nước, ý chí cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc trong quần chúng nhân dân. Những người theo tư tưởng này cho rằng lịch sử không có nhiều ý nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cách mạng khoa học-công nghệ, do đó cần giảm bớt sự quan tâm đến lịch sử để tập trung cho các lĩnh vực khác, đồng thời giảm bớt hoặc bỏ môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục ở các cấp học.

Quan điểm sai trái này đánh vào tâm lý thực dụng của một bộ phận quần chúng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên vì họ tuy có sự năng động, nhiệt huyết nhưng chưa có bản lĩnh vững vàng, thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu giá trị sâu sắc của bài học lịch sử. Quan điểm phủ nhận vai trò của lịch sử rất phổ biến trên không gian mạng với hình thức chủ yếu là những bài viết mang tính định hướng dư luận, kích động tâm lý đám đông. Tư tưởng phủ nhận vai trò của lịch sử vẫn rất nguy hiểm, đánh trực diện vào tư duy của nhiều người trẻ-thế hệ tương lai của đất nước, khiến họ lãng quên lịch sử dân tộc, vô cảm với vận mệnh quốc gia, lâu dài sẽ dẫn tới nguy cơ đánh mất độc lập, tự chủ, phụ thuộc vào kẻ khác.

Thứ hai, các quan điểm xuyên tạc, xét lại lịch sử đến từ nhiều loại đối tượng khác nhau, chủ yếu từ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xuyên tạc lịch sử là viết sách, viết báo, đăng tải bài viết dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu” để đưa số liệu, thông tin sai trái, đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn những sự kiện lịch sử đã xảy ra; xoáy sâu vào một vài hạn chế của cách mạng Việt Nam trong những thời kỳ trước đây. Các đối tượng tập trung vào những sự kiện từ năm 1945 trở về sau vì đây là quãng thời gian Đảng ta nắm quyền lãnh đạo công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của thủ đoạn xuyên tạc lịch sử là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng.

Bên cạnh thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, các đối tượng chống phá còn sử dụng một chiêu bài tinh vi hơn, đó là xét lại lịch sử. Hoạt động xét lại lịch sử có phạm vi rộng hơn, không chỉ hướng đến các sự kiện trong lịch sử hiện đại mà còn nhắm vào các thời kỳ lịch sử trung đại, cận đại. Thay vì trực tiếp xuyên tạc, các đối tượng theo khuynh hướng xét lại lịch sử đi sâu vào phân tích, lật lại những vấn đề chưa rõ ràng, tính chính nghĩa của các nhân vật lịch sử và tính đúng đắn của sự kiện lịch sử; đặt ra giả thuyết để tạo sự nghi ngờ ở người đọc, người nghe đối với nguồn lịch sử chính thống; ca ngợi phồn vinh giả tạo của chế độ ngụy quyền để khơi gợi tư duy xét lại, phủ định sự nghiệp đấu tranh cách mạng; tạo ra sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử để cài cắm thông điệp với dụng ý xấu. Hoạt động xét lại lịch sử có mục đích chính là phủ nhận quan điểm lịch sử chính thống đã được Đảng, Nhà nước ta công nhận và cũng không nằm ngoài mục đích chống phá Đảng, cách mạng và chế độ ta.

3. Bảo vệ giá trị, tầm quan trọng của lịch sử, bảo vệ sự thật lịch sử là bộ phận không thể tách rời trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để ngăn chặn những hậu quả nguy hại đến từ xu hướng xét lại lịch sử, trước hết cần sớm thống nhất những nội dung về lịch sử trong tài liệu được sử dụng ở các cấp học. Phải nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục-đào tạo; không được phép hoài nghi về tầm quan trọng của lịch sử. Nội dung học tập cần có sự chọn lọc, bảo đảm cho người học nắm được sự kiện lịch sử và bài học lịch sử, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về văn hóa, chính trị, ngoại giao, công tác dân tộc, tôn giáo trên cơ sở lợi ích quốc gia và duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc biên soạn, phát hành tài liệu lịch sử, sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và thường xuyên được kiểm tra, giám sát. Cho phổ biến rộng rãi những nguồn sử liệu chính thống đã được công nhận để sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Với những vấn đề, sự kiện lịch sử chưa rõ ràng, cần tập trung đầu tư, huy động nguồn nhân lực, vật lực để nghiên cứu một cách căn cơ, thuyết phục, hiệu quả.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh với các quan điểm xét lại lịch sử. Trước hết, chú trọng vào học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vì đây là nguồn cung cấp thế giới quan, phương pháp luận chính xác khi nghiên cứu khoa học, là vũ khí để đấu tranh với những luận điệu đòi xét lại lịch sử. Bản thân cán bộ, đảng viên khi tiến hành đấu tranh cũng phải nắm được sự thật lịch sử, các bài học lịch sử để vô hiệu hóa những quan điểm thù địch, chống phá trên lĩnh vực này; phải lấy tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích giai cấp, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm định hướng khi tiến hành đấu tranh. Việc đấu tranh bảo vệ giá trị của lịch sử phải tuân thủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần sớm phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý phù hợp, thích đáng đối với những chủ thể có hành vi xuyên tạc, xét lại lịch sử. Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội. Do đó, thời gian tới, cần bảo đảm nghiêm túc, thực chất hơn nữa trong công tác đấu tranh, nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để bảo vệ lịch sử chân chính, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ cha anh đi trước đã phải hy sinh biết bao xương máu để có được nền độc lập, tự do cho Tổ quốc hiện nay.

Sưu tầm

Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực

Thực tế cho thấy, việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín của Đảng, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân. Do đó, vấn đề mấu chốt trong công tác nhân sự là kiên quyết không để lọt vào cấp ủy đảng các cấp những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực.

1. Công tác nhân sự đại hội đảng các cấp là công việc hệ trọng, được Đảng xác định là “then chốt” của “then chốt”, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định “có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.

Nhìn lại các kỳ đại hội, công tác nhân sự luôn được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng những chủ trương, giải pháp toàn diện, đồng bộ, kiên quyết với yêu cầu ngày càng cao, phương pháp tiến hành ngày càng chặt chẽ, khoa học. Nhờ đó, đại hội đảng bộ các cấp đã lựa chọn được đội ngũ cấp ủy viên, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự là lực lượng ưu tú, tinh hoa nhất của Đảng, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhận thức đầy đủ, sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm trong công tác nhân sự, dẫn đến việc để lọt những người không đủ đức, đủ tài, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng vào cấp ủy, vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương và Trung ương. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đã có những cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật ở những mức độ khác nhau, trong đó có cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, có cả cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý. Thực trạng đó đã gây ra những hậu quả tai hại, hệ lụy khôn lường, làm suy giảm uy tín, thanh danh của Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp và sự phát triển của đất nước, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây phương hại đến niềm tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc, chống phá.

2. Tình hình trên đòi hỏi các cấp bộ đảng từ Trung ương đến cơ sở phải chú trọng làm thật tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề của cả hệ thống chính trị, trước hết là trọng trách của các cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội.

Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14-4-2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ, không để "bỏ sót" những người thật sự có đức, có tài; đồng thời, kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

3. Để thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác nhân sự đại hội, trước hết cần đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội trong việc hiểu, đánh giá và giới thiệu đúng cán bộ.     

Để hiểu rõ và đánh giá, giới thiệu đúng nhân sự đại hội, đòi hỏi cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ và tiểu ban nhân sự đại hội phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cần tiếp tục tăng cường tự phê bình và phê bình một cách thực sự, chân thành, thẳng thắn vì mục đích chung. Cần khắc phục triệt để tình trạng: Tự phê bình phần lớn chỉ nhấn mạnh ưu điểm, công lao, thành tích, nói đến khuyết điểm thì bao biện, đổ lỗi cho khách quan, cho tập thể. Khi phê bình thì né tránh, ngại va chạm, không thành thật, “nhẹ cùng nhẹ”, xuê xoa giữ đoàn kết hình thức, dung hòa mâu thuẫn, nhân nhượng lẫn nhau. Tập thể cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ và người đứng đầu có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu, dũng cảm, thành thật tự phê bình và phê bình, không giấu giếm khuyết điểm của nhân sự đại hội, ghi thành nghị quyết, kết luận của tập thể cấp ủy, công khai, minh bạch. Thực tiễn cho thấy, chỉ có thông qua tự phê bình và phê bình thực sự, chân thành, thẳng thắn mới giúp cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan chức năng hiểu rõ cán bộ, đánh giá chính xác cán bộ và giới thiệu đúng nhân sự đại hội.

Giải pháp rất quan trọng là phải xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí cấp ủy viên cụ thể, rõ ràng để xem xét, kết luận mức độ đáp ứng của từng cán bộ làm cơ sở giới thiệu nhân sự đại hội đảng các cấp một cách công tâm, khách quan, công khai, minh bạch. Phải xác định rõ những tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể mang tính định lượng làm căn cứ để xem xét, so sánh, kết luận mức độ đáp ứng của nhân sự cán bộ được giới thiệu. Căn cứ vào tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần xem xét toàn diện, cả quá khứ, hiện tại và hướng phát triển, lịch sử gia đình, bản thân và quan hệ xã hội; thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các khâu, các bước, tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nhiều hướng để đối chiếu, so sánh, khẳng định mức độ đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực công tác cũng như các tiêu chí khác về tuổi đời, thời gian công tác, trình độ đào tạo... và những hạn chế, khuyết điểm của từng nhân sự cán bộ. Làm được như vậy sẽ phát hiện và loại bỏ được những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hạn chế về năng lực, nhất là những cán bộ tham nhũng, biến chất, tham vọng quyền lực khi giới thiệu bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Bên cạnh đó, cần dựa vào dân, có cơ chế động viên và phát huy vai trò của nhân dân tham gia tích cực vào công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội, do đó, công việc của Đảng cũng chính là công việc của dân. Việc nhân dân tham gia ý kiến vào công tác nhân sự của Đảng là đương nhiên, cần làm. Thực tiễn khẳng định, dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp, thông tin nhân dân cung cấp giúp cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ hiểu rõ cán bộ, tìm được cán bộ có đức, có tài để trọng dụng; đồng thời, phát hiện được cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ ra khỏi đội ngũ.

Các cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan tổ chức cán bộ cần bằng nhiều phương cách cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin nhân sự cán bộ và cách thức tham gia ý kiến của nhân dân. Cần có cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia công tác nhân sự, nhất là có quy chế cung cấp thông tin về cán bộ, người thân của cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất. Đồng thời, cần có cơ chế và những biện pháp đủ mạnh để bảo vệ quần chúng nhân dân dũng cảm cung cấp thông tin về cán bộ tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa biến chất đang cố tình che giấu, tránh sự phát hiện của tổ chức.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng đặc biệt của công tác nhân sự đại hội, của việc lựa chọn những người đủ đức, đủ tài và loại bỏ những cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, tiêu cực khỏi cơ quan lãnh đạo các cấp-một trong những điều kiện tiên quyết xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác nhân sự đại hội theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác nhân sự, tôn trọng ứng cử và đề cử của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên và ý kiến của nhân dân. Đó cũng là cách để đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp. Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy chế, quy định, quy trình, các khâu, các bước tiến hành, xác định rõ phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự đại hội, người đứng đầu, các tổ chức, lực lượng có liên quan trong công tác nhân sự và cơ chế, nguyên tắc hoạt động làm cơ sở pháp lý để kiểm soát thực thi quyền lực được giao. Kiên quyết đấu tranh và xử lý mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... để được cất nhắc, lựa chọn, bố trí, bổ nhiệm chức vụ cán bộ, hợp thức hóa diện được giới thiệu nguồn nhân sự đại hội theo đúng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Cấp ủy, người đứng đầu, cơ quan tổ chức cán bộ, tiểu ban nhân sự phải thực sự làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, phải đề cao trách nhiệm nêu gương, nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, lạm quyền, nể nang, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung lãnh đạo và làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực, thực hành dân chủ rộng rãi và phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng tham gia kiểm soát quyền lực trong công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, phải bảo đảm lựa chọn và giới thiệu được những cán bộ thật sự ưu tú để bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Sưu tầm

Rèn luyện bản lĩnh, chế ngự bản năng

Lòng tham là thuộc tính của chủ nghĩa cá nhân, có sẵn trong bản năng con người. Muốn chế ngự nó, phải có bản lĩnh. Bản lĩnh không tự nhiên có, mà được hình thành, phát triển, hoàn thiện thông qua môi trường giáo dục, rèn luyện. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc đẩy mạnh phê bình, tự phê bình, nâng cao tính chiến đấu trong cấp ủy, tổ chức đảng chính là các hình thức, giải pháp rèn luyện bản lĩnh cán bộ, đảng viên...

Nâng cao bản lĩnh, lấy "xây" để "chống"

Trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), không gian mạng xuất hiện một số đoạn video clip được người dùng mạng xã hội chia sẻ với tốc độ chóng mặt. Clip được quay bằng điện thoại di động, cho thấy hình ảnh một phụ nữ trẻ, gương mặt sáng, tác phong nhanh nhẹn, phong thái tự tin, mạnh mẽ, xuất hiện giữa một nhóm người Việt sinh sống ở nước ngoài đang tập trung trên đường, mang theo cờ “ba sọc” của ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975. Theo các thông tin được thể hiện trong các video clip này thì địa điểm diễn ra sự việc là tại Australia và người phụ nữ bản lĩnh này là người Việt, gốc ở Hải Phòng, đang sinh sống, làm việc tại Australia. Trong lúc nhóm người này đang thực hiện các hành vi phản cảm, tuyên truyền, kích động chống phá đất nước Việt Nam, xuyên tạc về Đại thắng 30-4-1975, thì người phụ nữ trẻ đã mở to công suất chiếc loa, phát bài hát “Như có Bác trong ngày đại thắng”. Mặc dù bị nhiều đối tượng với gương mặt đằng đằng sát khí lao đến đe dọa, chửi bới, đòi hành hung, nhưng người phụ nữ trẻ vẫn hiên ngang, bình tĩnh, đấu tranh phản đối hành động phản bội Tổ quốc của nhóm người kia. Phía dưới các video clip, rất nhiều người để lại bình luận, bày tỏ sự thích thú, nể phục bản lĩnh của người phụ nữ trẻ. Cộng đồng mạng gọi cô là “bông hoa thép”, “khiêu vũ giữa bầy sói”...

Người có bản lĩnh luôn có xu hướng, nhu cầu hành động vì lẽ phải để bảo vệ công lý và chân lý. Đó là những người “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha...”, không bàng quan, thờ ơ trước cái ác, cái xấu, cái tiêu cực. Sự thể hiện cao nhất của bản lĩnh công dân là tinh thần yêu nước, luôn đặt Tổ quốc trong tim, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Trong đời sống xã hội, sự xuất hiện của những hành động trượng nghĩa của người có bản lĩnh luôn tạo hiệu ứng mạnh mẽ, lan tỏa, truyền năng lượng tích cực đến cộng đồng. Với tinh thần lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại, sự xuất hiện, lan tỏa những hành động đẹp, giàu tính trượng nghĩa, nhân văn trong đời sống đã nêu gương tốt, kiềm chế, đẩy lùi cái xấu, tiêu cực.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm gần đây, chúng ta thấy rõ bức tranh tương phản giữa những cán bộ, đảng viên giàu bản lĩnh, ý chí chiến đấu và một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, hành động theo bản năng, bị lòng tham, tính đố kỵ, hẹp hòi, chủ nghĩa cá nhân thao túng. Kể từ khi chúng ta đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, độ đậm sắc của bức tranh tương phản ngày càng rõ nét. Bên cạnh một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái bị phát hiện, điều tra, xử lý, môi trường văn hóa trong Đảng càng trong sạch hơn, văn minh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của nhân dân “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Gam màu sáng được tạo nên bởi bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ đạo, tạo hiệu ứng giáo dục, cảm hóa mạnh mẽ. Rất nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên kiên trung, nhiệt huyết, giàu bản lĩnh, đã dũng cảm đấu tranh, nêu cao tính tiền phong gương mẫu, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Sự nêu gương của rất nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị đã tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với phương châm lấy “xây” để “chống”. Chính vì vậy, nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực đã được điều tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, tạo sức mạnh răn đe, thể hiện tính giáo dục, nhân văn sâu sắc trong Đảng.

Cuộc thanh lọc của bản lĩnh và ý chí chiến đấu

Một trong những dấu ấn sâu đậm từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là lòng dân. Hình ảnh hàng vạn người dân và du khách muôn phương đổ về trung tâm TP Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm, xem diễu binh, diễu hành, bày tỏ tình cảm, niềm tin yêu sâu sắc đối với Bộ đội Cụ Hồ cho thấy sức mạnh lòng dân là tài nguyên, tài sản vô giá của Đảng. Niềm tin Việt, bản lĩnh Việt, ý chí Việt, khát vọng Việt... được hình thành, hun đúc, phát triển từ "thế trận lòng dân", một phần rất quan trọng xuất phát từ những chuyển biến, đột phá mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; hoạch định hướng đi cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lòng dân là sức mạnh vô song. Quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân là bài học kinh nghiệm xương máu của Đảng, là hồng phúc của dân tộc.

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đẩy mạnh triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy; tổ chức đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu về bản lĩnh, ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên được đặt ra rất cao. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy được thực hiện với tinh thần như một cuộc cách mạng, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Đồng thời, việc giải quyết bài toán “ai về, ai ở”, “chọn ai, gạch ai” trong đại hội đảng và trong các cơ quan, đơn vị chắc chắn sẽ có tác động đến tâm tư, tình cảm, cuộc sống gia đình của nhiều người. Bản lĩnh và ý chí chiến đấu chính là vũ khí để mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng triển khai thực hiện chủ trương của Đảng một cách kịp thời, kiên quyết, hiệu quả, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, “chạy ghế”, “chạy phiếu bầu”. Trong bài viết “Học tập suốt đời” được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh, hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả...

Lựa chọn cán bộ cho các vị trí trong hệ thống chính trị các cấp chưa bao giờ là công việc dễ dàng. Làm không chặt chẽ, không bám sát nguyên tắc, cấp ủy, tổ chức đảng yếu kém bản lĩnh, để cho cá nhân lũng đoạn, chi phối, hậu quả sẽ khôn lường. Trong bài viết “Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta... Chính vì vậy, công tác nhân sự đại hội phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán theo hướng dẫn của Trung ương; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc, cài cắm “quân xanh, quân đỏ” hoặc máy móc, cứng nhắc, xa rời thực tiễn; phải bảo đảm lựa chọn được những người tốt nhất, xứng đáng nhất, không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đồng thời kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Có thể nói, công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng là hai nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng. Quá trình triển khai thực hiện, đòi hỏi người đứng đầu, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nêu cao bản lĩnh, ý chí đấu tranh; đặt yêu cầu nhiệm vụ và lợi ích chung lên hàng đầu; chế ngự bản năng, kiềm chế lòng tham, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để thanh lọc, lựa chọn nhân sự một cách trong sạch, đúng nguyên tắc, chọn được đội ngũ có đủ tâm, tầm và tài; thực sự đại diện cho ý chí, khát vọng của nhân dân. Để giải quyết tốt mối quan hệ “xây” và “chống”, lấy “xây” để “chống”, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, hướng dẫn, chỉ thị, kết luận của Trung ương. Đặc biệt, cần tiếp tục rà soát 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII và Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực và có nhiều khiếu kiện, khiếu kiện kéo dài. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn...

Rèn luyện bản lĩnh đòi hỏi tính liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa rèn luyện và tự rèn luyện, giáo dục và tự giáo dục. Khi bản lĩnh trở thành phẩm chất của cán bộ, đảng viên, lòng tham và những nhu cầu mang tính bản năng, tiêu cực sẽ được chế ngự, kiềm tỏa. Cá nhân cũng vậy và tập thể cũng vậy.

Sưu tầm