Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

BẢO VỆ CÔNG LÝ, CỦNG CỐ NIỀM TIN


Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đang được tiến hành trên tinh thần không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm và không có ngoại lệ.

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ công lý và củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật là thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

1. Thực tế thời gian qua cho thấy, các đại án về kinh tế và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử luôn có tính chất phức tạp và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội. Vấn đề đáng quan tâm là ngoài việc xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội theo quy định, công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đối mặt không ít khó khăn, thách thức.

Dù là việc khó, phức tạp và nhạy cảm, nhưng Đảng, Nhà nước ta xác định nhất quán quan điểm phải làm triệt để việc thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó mới đủ sức phòng ngừa, răn đe trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình này, các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định, định giá tài sản và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đáng chú ý, từ ngày 1-1-2025, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm cơ chế xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền đã đề xuất được giải pháp xử lý tài sản, vật chứng của nhiều vụ án ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc này đã giúp cơ quan chức năng sớm giải tỏa tài sản, đưa vào lưu thông, tránh thất thoát, lãng phí, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Những biện pháp quyết liệt, triệt để đã giúp việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đối với các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau phiên họp 27 (ngày 31-12-2024) đến ngày 25-3-2025, các cơ quan chức năng đã hoàn thành 12 kết luận về giám định, định giá tài sản tham nhũng. Các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được hơn 6.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng, nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến ngày 25-3-2025 là 102.040 tỷ đồng.

Rõ ràng, việc thu hồi tài sản tham nhũng có vai trò quan trọng, ngoài thu hồi lại tài sản của Nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp..., còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Đây cũng là giải pháp góp phần khắc phục triệt để thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền.

2. Hiện nay, cơ quan chức năng đang tập trung xử lý nhiều đại án tham nhũng và kinh tế. Một trong những vấn đề liên quan được dư luận đặc biệt quan tâm là việc thu hồi một lượng lớn tài sản tham nhũng cho Nhà nước và nhân dân tại các vụ án, như: Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các đơn vị liên quan, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Dự án Sài Gòn - Đại Ninh (tỉnh Lâm Đồng), Công ty Xuyên Việt Oil, Công ty AIC...

Thu hồi triệt để tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong những công việc quan trọng trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” này, có một vấn đề cần quan tâm là các đối tượng khi phạm tội thường chuẩn bị kỹ lưỡng, kể cả trước, trong và sau giai đoạn phạm tội nhằm che giấu, chuyển đổi, tẩu tán tài sản một cách tinh vi và có hệ thống. Do đó, trong mọi trường hợp, dù có khó khăn đến mấy, việc thu hồi tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát luôn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cơ quan chức năng và toàn xã hội.

Cũng bởi những khó khăn và phức tạp đang đặt ra nên nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng nặng nề hơn, nhất là công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Kiên định tinh thần không ngừng, không nghỉ và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong tình hình mới, cùng với các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang thực hiện đồng bộ và hiệu quả, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 287-QĐ/TƯ (ngày 30-4-2025) về thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Quy định nêu rõ nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, xác minh và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Để bảo đảm tính nghiêm minh, quy định cũng nêu rõ, việc thu hồi tài sản phải đúng trình tự, thủ tục, cùng với quá trình xử lý kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm. Tài sản sau khi thu hồi phải được quản lý, bảo quản, sử dụng đúng quy định.

Đặc biệt, để ngăn chặn hành vi phạm pháp, ủy ban kiểm tra các cấp có thể yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, kê biên, phong tỏa tiền, tài khoản, tài sản nếu có căn cứ xác định đối tượng kiểm tra, giám sát có dấu hiệu hủy hoại, tẩu tán tài sản...

Một điểm đáng chú ý là quy định khuyến khích phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, quy định nêu rõ một trong những căn cứ để thu hồi là tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động báo cáo và tự giác nộp lại tài sản đã nhận do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trước khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, kết luận; chủ động nộp tài sản khắc phục hậu quả do vi phạm dẫn đến thiệt hại tài sản của Nhà nước...

Như vậy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền trong mọi trường hợp, kể cả khi tay đã “nhúng chàm”, vẫn phải thể hiện phẩm chất tiên phong, gương mẫu. Ở đây có thể hiểu, tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực trong giao nộp tài sản phi pháp họ sẽ được cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét khoan hồng, đồng thời góp phần bảo đảm uy tín, giữ vững thanh danh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

Tinh thần nhất quán và kiên định trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là tiến hành trên cơ sở bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Đặc biệt, các giải pháp triển khai đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa là chính; đồng thời phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Vấn đề được ưu tiên là thu hồi tài sản tối đa cho Nhà nước và nhân dân, trên cơ sở xem xét xử lý bằng kinh tế, dân sự, hành chính, cuối cùng mới là xử lý hình sự. Nhưng trên hết đó là thượng tôn pháp luật để góp phần xây dựng văn hóa liêm chính, chí công vô tư và không tham nhũng, không lãng phí, không tiêu cực trở thành việc làm tự giác, tự nguyện, “như cơm ăn, nước uống hằng ngày” trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

  

BI KỊCH THẢM HẠI CỦA BÙI TÍN - KẺ PHẢN BỘI ĐÁNG KHINH!

         “Thân ở xứ người, đạo vẫn thuộc về Nam. Kẻ phản bội, dù ở đâu cũng là nghịch”. Đây có lẽ là câu nói chuẩn xác nhất về những người con xa xứ, có người dù ở đâu cũng là con Lạc cháu Hồng, nhưng có những kẻ đã sẵn lòng phản nghịch thì dù đi tới chân trời góc biển cũng bị khinh rẻ như rác rưởi. Nếu Ukraine có Zelensky - ông là Anh hùng Liên Xô, cháu nội thì đi thờ phát xít thì ở Việt Nam, chúng ta có trường hợp của Bùi Tín - một điển hình cho sự phản bội, để rồi sống cuộc đời lưu vong, không tổ quốc, không niềm tin và chết trong tuyệt vọng.

Bùi Tín - Xuất thân từ một gia đình cách mạng tiêu biểu và những cống hiến ban đầu cho cách mạng

Bùi Tín sinh năm 1927 tại Nghệ An - vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Cha ông là cụ Bùi Bằng Đoàn - một chí sĩ yêu nước, từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn và sau này là Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I – một nhân cách lớn, tận tụy với cách mạng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng. Tuổi trẻ của Bùi Tín gắn liền với nhiệt huyết cách mạng, từng tham gia kháng chiến chống Pháp, công tác trong ngành báo chí quân đội, thậm chí Bùi Tín đã có mặt ở dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975 với tư cách phóng viên chiến trường. Sau chiến tranh, Bùi Tín tiếp tục viết báo, từng làm đến Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, kiêm Tổng Biên tập tuần báo Nhân dân Chủ Nhật, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Không thể phủ nhận, trong giai đoạn đầu, Bùi Tín là một cán bộ có năng lực, từng có nhiều bài viết sắc sảo phục vụ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Ông tham gia mặt trận Điện Biên Phủ, công tác trong quân đội với tư cách một nhà báo chiến trường. Trong thời kỳ chống Mỹ, Bùi Tín còn là phóng viên chiến trường có mặt ở nhiều nơi ác liệt, phản ánh tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân ta. Những đóng góp ấy, nếu được giữ vững, có thể giúp ông trở thành một cán bộ lão thành đáng kính. Nhưng thật tiếc, ông đã lựa chọn con đường ngược lại.

Pha “lật mặt” phản bội - tự chặt đứt cội nguồn dân tộc

Cuối thập niên 1980, Bùi Tín bắt đầu bộc lộ tư tưởng dao động, bất mãn, xa rời lý tưởng cách mạng. Năm 1990, Bùi Tín đào ngũ sang Pháp dưới danh nghĩa “chữa bệnh” rồi ở lại, chính thức phản bội Tổ quốc. Tại đây, kẻ phản bội không ngừng viết hồi ký, trả lời báo đài nước ngoài, công khai xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh - người từng gần gũi, nâng đỡ cha ông. Từ một sĩ quan cấp cao của quân đội, Bùi Tín trở thành công cụ tuyên truyền cho các thế lực thù địch, đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc.

Khi kẻ thù cũng không tin tưởng kẻ phản bội

Dù Bùi Tín từng được truyền thông phương Tây khai thác như một “con bài chiến lược”, nhưng thực tế, kẻ thù chưa bao giờ xem Bùi Tín là người bạn hay đối tác tin cậy. Với bản chất thực dụng, các thế lực phương Tây hiểu rõ: ai phản bội quê hương mình thì cũng có thể phản bội họ. Sau một thời gian được sử dụng như “loa tuyên truyền”, Bùi Tín bị chính những kẻ từng tung hô quay lưng, phải sống cuộc đời cô độc ở ngoại ô Paris, không quốc tịch, không tổ chức nào thật sự bảo trợ, bị đồng hương xa lánh, người phương Tây nghi kỵ.

Kết cục thảm hại - không quê hương, không niềm tin

Bùi Tín qua đời năm 2018 tại Pháp, kết thúc cuộc đời lưu vong trong sự quên lãng. Không tổ chức quốc tế nào tiếc thương, không đồng bào nào tưởng niệm, không quê hương nào đón nhận. Cái chết của Bùi Tín là minh chứng rõ ràng cho kết cục của những kẻ quay lưng với dân tộc và với chính gia đình mình: sống cô độc, chết không ai thương tiếc. Không chỉ thất bại về chính trị, Bùi Tín còn thất bại về nhân cách, trở thành bài học lịch sử, một dấu gạch đen trong hàng ngũ những người từng cống hiến trong kháng chiến.

Bài học cho hôm nay - Đừng bao giờ đánh mất lý tưởng cách mạng

Câu chuyện bi kịch của Bùi Tín không đơn thuần là một cá nhân lạc bước, mà là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Trong thời đại bùng nổ thông tin, mặt trận tư tưởng - văn hóa đang trở thành trận tuyến nóng bỏng. Ở đó, từng câu nói, từng dòng trạng thái, từng tư tưởng dao động cũng có thể là mầm mống làm xói mòn lý tưởng cách mạng nếu không có bản lĩnh vững vàng.

Bài học đầu tiên và sâu sắc nhất, đó là: trung thành với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân phải là nguyên tắc sống còn của mỗi người cán bộ, đảng viên. Bùi Tín từng là người đứng trong hàng ngũ ưu tú, từng có công lao, nhưng chỉ vì đánh mất niềm tin vào con đường cách mạng, mà rơi vào vòng xoáy của thù địch, trở thành công cụ cho những thế lực chống phá đất nước. Trung thành không chỉ là lời thề, mà là bản lĩnh giữ mình trước mọi cám dỗ của vật chất, danh vọng và cả những ngụy biện có vẻ “văn minh”, “tiến bộ” nhưng thực chất là ngọn giáo đâm vào lưng dân tộc.

Thứ hai, cần nhận thức rõ: mọi âm mưu “dân chủ hóa”, “đa nguyên đa đảng”, hay “tự do ngôn luận vô giới hạn” mà các thế lực thù địch rao giảng không phải vì hạnh phúc của Nhân dân Việt Nam, mà để làm tan rã khối đoàn kết dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bùi Tín là nạn nhân của sự ảo tưởng đó, tưởng rằng phương Tây sẽ bảo vệ và tôn trọng, nhưng rồi lại sống những năm cuối đời trong sự nghi kỵ, lạnh lùng và xa lánh ngay cả từ chính “đồng minh” của mình.

Thứ ba, giới trẻ hôm nay phải rèn luyện khả năng “đề kháng tư tưởng” - tức là biết sàng lọc thông tin, phân biệt đúng sai, thật giả. Không ít người trẻ, vì thiếu kiến thức nền tảng về lịch sử, chính trị, đã bị những bài viết, video, luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội dẫn dắt. Từ ngưỡng mộ sai lệch đến chia sẻ, ủng hộ, rồi nghi ngờ chính chế độ - đó chính là con đường trượt dài mà Bùi Tín từng đi.
Lịch sử luôn công bằng. Nó không bao giờ dung thứ cho những kẻ phản bội. Và nó cũng chưa từng phụ bạc những con người trung kiên, tận tụy vì lý tưởng của dân tộc. Giữ được lý tưởng, giữ được niềm tin - ấy mới là giữ được chính mình./.
Khuyết danh ST!

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA THÍCH NHẬT TỪ CẦN VĂN HÓA TRANH LUẬN!

         Thời gian gần đây, các phát ngôn chính trị của Thượng tọa Thích Nhật Từ, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con đường giành độc lập của dân tộc Việt Nam, đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội. Ông từng tuyên bố rằng Việt Nam có thể giành độc lập, thống nhất đất nước mà không cần đổ máu và so sánh cuộc chiến tranh Việt Nam với việc hòa bình thống nhất của Đông Đức và Tây Đức. Những luận điểm này không chỉ phiến diện, thiếu cơ sở mà còn phủ nhận sự hy sinh to lớn của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.

Mọi công dân, dù là tu sĩ hay không, đều có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không là quyền được nói sai sự thật, xuyên tạc lịch sử hoặc tuyên truyền chống phá chế độ. Khi ông Thích Nhật Từ phát ngôn những quan điểm sai trái, phủ nhận sự cần thiết của cuộc chiến tranh chính nghĩa, ông phải chịu sự phản bác và đấu tranh của cộng đồng và pháp luật.

Việc có người đấu tranh chống lại quan điểm sai trái đó là điều tất yếu và cần thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không ai có quyền yêu cầu người khác phải im lặng khi những luận điểm sai trái được phát biểu.

Yêu chế độ không phải thần tượng mù quáng

Một nghịch lý rõ ràng hiện nay là nhiều người tự nhận yêu chế độ nhưng lại bênh vực một cách mù quáng những luận điệu sai trái của ông Thích Nhật Từ. Yêu chế độ là bảo vệ sự thật, bảo vệ sự trong sáng của lịch sử và tư tưởng. Việc bảo vệ những luận điệu xuyên tạc, phá hoại chính là làm suy yếu chế độ đó.

Thần tượng cá nhân một cách tuyệt đối, dù người đó nói sai, chính là biểu hiện của độc tài tư tưởng, cản trở sự phát triển của xã hội dân chủ, đa chiều. Không ai có quyền đứng trên sự thật để ép buộc người khác phải chấp nhận những quan điểm sai lệch.

So sánh giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam với việc hòa bình thống nhất Đông Đức – Tây Đức hay các quốc gia thuộc địa được trả độc lập không đổ máu như Ấn Độ là phiến diện và thiếu trách nhiệm. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, chính trị khác nhau.

Việt Nam đã trải qua chiến tranh quy mô lớn với sự hy sinh hàng triệu người để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Mỹ đến Việt Nam là kẻ xâm lược trực tiếp, khác hoàn toàn với các tình huống quốc tế khác. Việc phủ nhận hay so sánh tùy tiện làm mất giá trị lịch sử chân chính, xúc phạm những người đã hy sinh.

Văn hóa tranh luận: Nền tảng để bảo vệ sự thật

Trong các bài viết bảo vệ ông Thích Nhật Từ có không ít biểu hiện thiếu văn hóa tranh luận: mỉa mai, xúc phạm, đánh đồng người đấu tranh với “hồng vệ binh tâm thần chính trị”, “đấu tố”, hay dùng lời lẽ kích động chia rẽ.

Chẳng hạn, việc gọi người phản biện là “tâm thần”, so sánh đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với “các thánh hồng vệ binh tâm thần” là cách nói thiếu tôn trọng và phản khoa học, làm mất đi không gian đối thoại xây dựng.

Văn hóa tranh luận đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau, tranh luận trên cơ sở lý luận, chứng cứ, và không xúc phạm cá nhân. Đó là cách duy nhất giúp xã hội tiến bộ, giúp sự thật được tôn vinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng bền vững.

Đấu tranh với những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử của ông Thích Nhật Từ không phải là chống phá tôn giáo, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đất nước. Bảo vệ ông một cách mù quáng và cấm người khác phản biện là biểu hiện của độc tài tư tưởng, làm suy yếu xã hội.

Mỗi công dân yêu nước phải tỉnh táo, phân biệt rõ giữa yêu nước chân chính và thần tượng mù quáng. Phải đấu tranh trên tinh thần văn minh, có trách nhiệm để giữ gìn sự thật lịch sử, bảo vệ công lý và góp phần xây dựng đất nước phát triển vững mạnh./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẤT CẢ TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢNG VIÊN ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG!

     Đây là nội dung trong Quy định số 296-QĐ/TƯ ngày 30-5-2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Quy định do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành.

Quy định mới gồm 7 chương, 35 điều; trong đó, ngoài các chương về quy định chung, tổ chức thực hiện, có các chương về công tác kiểm tra, giám sát; thi hành kỷ luật của Đảng; giải quyết tố cáo đối với tổ chức Đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại kỷ luật của Đảng; đình chỉ sinh hoạt Đảng...

Đáng chú ý, Quy định xác định 12 nguyên tắc thi hành kỷ luật trong Đảng. Trong đó, Trung ương nêu rõ, tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời; tất cả tổ chức Đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh.

Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi hoàn.

Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định cho phù hợp và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.

“Kỷ luật của Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Tổ chức Đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, chậm nhất 5 ngày phải chỉ đạo hoặc đề nghị với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời”, Quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ.

Cũng theo Quy định 296, khi các tổ chức Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật về hành chính của các cấp chính quyền hoặc bản án, quyết định của tòa án) thì chậm nhất 5 ngày phải chủ động thông báo cho tổ chức Đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý kỷ luật đảng. Sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật về Đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật thì tổ chức Đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, đoàn thể.

Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, bị bệnh nặng thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức Đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khi kỷ luật một tổ chức Đảng phải xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.

Quy định cũng nêu cụ thể các hình thức kỷ luật tổ chức, cá nhân; các bước xem xét kỷ luật; thẩm quyền thi hành kỷ luật trong Đảng. Theo đó, Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Ban Bí thư, Bộ Chính trị quản lý; khiển trách, cảnh cáo ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (kể cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao. Trường hợp cách chức, khai trừ thì báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cấp quyết định kỷ luật cuối cùng; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quyết định các hình thức kỷ luật đối với các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ Đảng.

Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày 30-5-2025, thay thế một loạt các quy định trước đây do Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị ban hành liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, giải quyết khiếu nại kỷ luật của Đảng, kê khai tài sản..../.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC!

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương …
Yêu nước ST.

VIỆT NAM -THẾ GIỚI: VỊ THẾ QUỐC GIA TRONG DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI!

🇻🇳Từ đầu năm đến nay, Việt Nam trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế bởi các hoạt động ngoại giao rất sôi động khi nhiều nguyên thủ quốc gia đến thăm chính thức nước ta. Các chuyến thăm này đã thể hiện thành công trong chính sách đối ngoại, đồng thời khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

❤️Chỉ trong thời gian ngắn, Việt Nam đã đón tiếp nhiều nguyên thủ, lãnh đạo các nước: Cộng hòa Séc, New Zealand, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thái Lan, Cuba, Campuchia, Lào… Mới đây là Tổng thống Pháp và Tổng thống Hungary. Đặc biệt, chuyến thăm lần thứ hai của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cho thấy sự coi trọng đặc biệt của các nước đối với Việt Nam. 
❤️Nước ta cũng tổ chức thành công nhiều sự kiện ngoại giao quan trọng, nổi bật như Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ 2 đã minh chứng cho uy tín và năng lực tổ chức, điều phối của Việt Nam trong các cơ chế khu vực. 
❤️Những hoạt động giao lưu nhân dân, hợp tác giáo dục, văn hóa, du lịch diễn ra song song với ngoại giao chính trị, kinh tế, góp phần giới thiệu hình ảnh một Việt Nam hội nhập sâu rộng, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

🇻🇳Việt Nam đang được nhìn nhận như một “điểm tựa” chiến lược trong khu vực, là đối tác không thể thiếu trong chính sách hướng Đông của nhiều quốc gia và là cầu nối giữa các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.  
🇻🇳Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng cùng môi trường chính trị ổn định và nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn, không chỉ về hợp tác đầu tư mà còn là nơi gặp gỡ của các giá trị phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng về văn hóa và du lịch. Vị thế ngoại giao ngày càng nổi bật của Việt Nam không chỉ bắt nguồn từ điều kiện địa lý, kinh tế thuận lợi mà còn là chiến lược đối ngoại bài bản, linh hoạt và nhất quán. 
❤️Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước ngày càng gay gắt, Việt Nam đã thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng, đối thoại và dung hòa lợi ích, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Bằng việc giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không chọn phe, không liên minh quân sự, đồng thời chủ động, tích cực tham gia các vấn đề toàn cầu với vai trò kiến tạo, trung gian hòa giải, Việt Nam đã khẳng định bản lĩnh và vị thế của một quốc gia có trách nhiệm, đáng tin cậy và có tầm ảnh hưởng lớn.

❤️Những dấu ấn ngoại giao nổi bật thời gian qua còn thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động của Việt Nam về việc chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Không chỉ dừng lại ở mục tiêu tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, Việt Nam còn tham gia tích cực vào quá trình định hình trật tự khu vực và thế giới, góp phần thúc đẩy hợp tác, phát triển bền vững, củng cố vai trò của luật pháp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc. 
❤️Từ một “điểm sáng ổn định” ở Đông Nam Á, Việt Nam đang chuyển mình thành đối tác chủ động, trung tâm kết nối kinh tế, công nghệ của khu vực, là nhân tố kiến tạo hòa bình, hợp tác và phát triển.

🇻🇳Để nâng cao hơn nữa vị thế quốc gia trong dòng chảy thời đại, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược trên mọi lĩnh vực, tiếp tục xây dựng nền kinh tế tự cường, hiện đại. 
🇻🇳Đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tiếp tục kết hợp hài hòa giữa bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập, giữa khát vọng phát triển cùng tinh thần trách nhiệm quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THANH NIÊN QUÂN ĐỘI VỚI PHONG TRÀO "BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ" HIỆN NAY!

     Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, Phong trào “Bình dân học vụ số” là sự kế thừa và phát triển hiện đại của phong trào xóa mù chữ trong lịch sử, hướng tới nâng cao dân trí số và kỹ năng số cho cộng đồng. Thanh niên quân đội với bản chất cách mạng, kỷ luật cao, tinh thần xung kích, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Phong trào “Bình dân học vụ” được phát động từ năm 1945, nhằm xóa mù chữ, nâng cao dân trí cho toàn dân, trở thành dấu ấn lịch sử trong sự nghiệp giáo dục cách mạng Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố đang diễn ra mạnh mẽ, khái niệm “Bình dân học vụ số” không chỉ mang ý nghĩa truyền thống mà còn thể hiện sứ mệnh mới: Phổ cập kiến thức và kỹ năng số cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, góp phần xây dựng, hình thành thế hệ công dân số. Thanh niên quân đội là lực lượng trẻ, có tinh thần nhiệt huyết, có tri thức và được đào tạo bài bản, là một trong những chủ thể có vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ này. Việc phát huy hiệu quả vai trò của họ không chỉ góp phần đẩy nhanh tiến trình c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố toàn dân mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quân đội, góp phần hình thành thế hệ “quân nhân số” đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ chu.yển đ.ổi s.ố.

Để thực hiện được mục tiêu của Phong trào “Bình dân học vụ số”, đòi hỏi phải có sự tham gia của tất cả các tổ chức, lực lượng, trong đó, thanh niên quân đội có vai trò hết sức quan trọng. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phải có những giải pháp hiệu quả nhằm phát huy vai trò của thanh niên quân đội. Trước hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về Phong trào “Bình dân học vụ số” cho cán bộ, đoàn viên thanh niên ở các cấp bộ đoàn trong toàn quân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của thanh niên quân đội, từ đó xây dựng ý chí quyết tâm tham gia thực hiện thắng lợi phong trào này.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và quân đội cần được thực hiện một cách sâu rộng, liên tục, đồng bộ và sáng tạo với nhiều hình thức phong phú như: Tổ chức cuộc thi tìm hiểu, hội thảo, tọa đàm, diễn đàn thanh niên, tuyên truyền qua các nền tảng số, hệ thống truyền thông nội bộ trong quân đội; lồng ghép nội dung về “Bình dân học vụ số” trong các chương trình giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật, tập huấn chuyên môn. Qua đó, giúp thanh niên quân đội không chỉ nắm bắt được các nội dung cốt lõi, định hướng lớn về phong trào mà còn hiểu rõ vai trò của mình trong việc lan tỏa tri thức, hỗ trợ cộng đồng tiếp cận tri thức số, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Đồng thời, cần chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả tuyên truyền, gắn kết chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với việc triển khai hành động cụ thể, coi đây là tiêu chí quan trọng trong đánh giá, bình xét phân loại chất lượng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên thanh niên.

Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất và các thiết chế hạ tầng, điều kiện bảo đảm cho quá trình phát huy vai trò của thanh niên quân đội tham gia thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”. Phong trào này không chỉ đơn thuần là việc phổ cập kiến thức, kỹ năng số cho quân nhân, mà còn là một phần trong chiến lược xây dựng “quân nhân số”. Trong tiến trình đó, thanh niên quân đội với vai trò là lực lượng nòng cốt, xung kích cần được trang bị đầy đủ về điều kiện vật chất, công nghệ và hạ tầng để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động. Đầu tư cơ sở vật chất cần được triển khai theo hướng hiện đại, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Các đơn vị cần quan tâm bảo đảm trang bị đầy đủ máy tính, thiết bị truy cập internet, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, văn bản tài liệu, thiết bị trình chiếu và lưu trữ nội dung số. Song song với đó, cần chú trọng đầu tư hệ thống mạng, kết nối liên thông giữa các đơn vị, tạo điều kiện để chia sẻ tài nguyên học liệu và kinh nghiệm tổ chức các mô hình “Bình dân học vụ số” hiệu quả.

Bên cạnh cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa, giáo dục cũng cần được phát triển đồng bộ như thư viện điện tử, phòng học số, các tổ tuyên truyền lưu động kết hợp kỹ thuật số. Đặc biệt, cần có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các sáng kiến của thanh niên trong phát triển nội dung học tập số, thiết kế các khóa học phù hợp với trình độ của từng đối tượng. Việc đầu tư này không chỉ là sự bảo đảm vật chất mà còn thể hiện sự quan tâm, định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước và quân đội trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển xã hội số và hình thành “quân nhân số”. Nhờ đó, vai trò của thanh niên quân đội trong Phong trào “Bình dân học vụ số” sẽ ngày càng được phát huy mạnh mẽ, thực chất và bền vững hơn.

Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả phong trào, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị trong việc phát huy vai trò của thanh niên quân đội tham gia thực hiện phong trào bình dân học vụ số. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt, quyết định hiệu quả và sức lan tỏa của phong trào trong thực tiễn. Nhất thiết phải có sự định hướng chiến lược, quản lý chặt chẽ và hỗ trợ thiết thực từ cấp ủy, chỉ huy các cấp, những người giữ vai trò dẫn dắt tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn đơn vị.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về ch.uyển đ.ổi s.ố, đặc biệt là Nghị quyết số 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chu.yển đ.ổi s.ố quốc gia; Nghị quyết số 3488 ngày 29/01/2025 ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chu.yển đ.ổi s.ố trong quân đội. Từ đó, xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của thanh niên cơ quan, đơn vị mình trong thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”. Việc này cần được cụ thể hóa thành nghị quyết, kế hoạch công tác với các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, phù hợp với tình hình, đặc điểm, điều kiện của từng cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Đồng thời, cần chú trọng phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên trong đơn vị, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng tổ chức, cá nhân; tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, phương tiện để Đoàn Thanh niên triển khai các hoạt động. Cấp ủy, chỉ huy cũng cần tổ chức kiểm tra, đánh giá, biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân có sáng kiến, mô hình hiệu quả; đồng thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh các hạn chế trong chỉ đạo, điều hành.

Có thể nói, trong thời đại ch.uyển đ.ổi s.ố, việc phổ cập kiến thức, kỹ năng số không còn là trách nhiệm riêng của tập thể, mà là nhiệm vụ chung của mọi cá nhân, trong đó lực lượng thanh niên quân đội đóng vai trò xung kích, tiên phong. Tuy nhiên, để họ thực sự phát huy vai trò này, không chỉ cần sự lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp trên, mà còn đòi hỏi cao ở tinh thần tự giác, chủ động, sáng tạo và trách nhiệm từ mỗi đoàn viên, thanh niên. Tính tự giác, tích cực thể hiện trước hết ở nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của phong trào bình dân học vụ số đối với sự phát triển của đất nước và quân đội. Cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội cần hiểu rõ rằng, việc phổ cập kỹ năng số không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, mà còn đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và sẵn sàng đối phó với các hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra. Bên cạnh đó, tinh thần tự giác còn thể hiện ở việc chủ động học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ công nghệ thông tin, kỹ năng sư phạm, kỹ năng truyền đạt để có thể trở thành những tuyên truyền viên, người hướng dẫn hiệu quả cho đồng chí, đồng đội và quần chúng nhân dân.

Thanh niên quân đội là lực lượng quân nhân trẻ, có ý chí, khát vọng và hoài bão lớn, có năng lực tiếp cận và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, chu.yển đ.ổi s.ố và đổi mới sáng tạo nhanh chóng, hiệu quả. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp để phát huy vai trò của thanh niên quân đội, góp phần triển khai thực hiện thành công Phong trào Bình dân học vụ số./.
Theo Báo QPTĐ
Môi trường ST.

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

Cơ sở vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới

 

Gần đây, thuật ngữ “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trở nên phổ biến trong đời sống chính trị, xã hội của nước ta; thể hiện tầm nhìn và tư duy mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là lời hiệu triệu khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, để Việt Nam hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước.

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng, vô căn cứ

Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử xấu trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đả kích vấn đề này. Chúng lợi dụng mạng xã hội phát tán các thông tin sai trái, xuyên tạc mục đích, giá trị, ý nghĩa, phủ nhận bản chất khoa học của khái niệm, nội hàm các vấn đề liên quan đến “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Âm mưu thâm độc của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, tạo nhận thức lệch lạc, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào dân tộc để đưa đất nước vươn mình phát triển. Điều này rất nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương tiến hành đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 

Những thành tựu đất nước ta đạt được trong thời gian qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, hội tụ đủ các điều kiện để bước vào kỷ nguyên phát triển mới vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những kinh nghiệm đã tích lũy; sự chung sức đồng lòng của “ý Đảng, lòng dân” và sức mạnh của lực lượng vũ trang; là quyết tâm giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực con người và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển. Thực tế sau gần 40 năm đổi mới, nước ta từ khủng hoảng, lạm phát 774,7% trước Đại hội VI (1986) đã vươn lên nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và nằm trong tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Bằng tầm nhìn chiến lược về tư duy tìm đường đưa đất nước phát triển, Đảng ta đã khái quát nên khái niệm và các nội hàm về kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận điểm này hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý chí chủ quan, duy ý chí, cũng không phải là “sự viển vông, ảo tưởng”, “xa rời thực tế” như các thế lực thù địch bịa đặt, xuyên tạc.

Nâng cao nhận thức không mắc mưu kẻ xấu

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước, tuyệt đối không để mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và bản chất của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo quan điểm của Đảng. Quan điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của Đảng là khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, được tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm, bản lĩnh của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu đất nước đạt được trong gần 40 năm Đổi mới. 

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng ta đã phân tích thấu đáo xu hướng vận động, phát triển của thế giới, khu vực; đặc biệt là thế và lực của đất nước. Từ đó, Đảng chỉ rõ thời cơ, những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân tự tin, chung sức, đồng lòng bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Vượt qua giới hạn phát triển đất nước theo chiều rộng để chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu; không khắc phục được những “điểm nghẽn, nút thắt” bằng những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, nhất là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực thì chúng ta không thể tạo ra sự thông thoáng về không gian phát triển, phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực... đang là hướng đi đúng đắn đã được Đảng chỉ ra nhằm đưa đất nước phát triển.  "Ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, mà biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện này là quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với những thành tựu to lớn đã đạt được, truyền thống đoàn kết, thống nhất, toàn dân chung sức đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ không ngừng phát triển, đạt được các mục tiêu đề ra.

Luận điệu bóp méo quan điểm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, các quan điểm sai trái và thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo rằng việc khuyến khích kinh tế tư nhân là từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu sai trái này, Đảng và Nhà nước luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững, trong đó kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.

Các quan điểm sai trái, phản động về kinh tế tư nhân

Các thế lực thù địch và phản động gần đây đã lợi dụng sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cố tình tuyên truyền rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân là dấu hiệu từ bỏ nền tảng xã hội chủ nghĩa, hoặc chuyển hướng sang kinh tế tư bản, chúng xuyên tạc rằng, sự điều chỉnh từ kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân là một sự lật đổ chính sách.

Một số quan điểm sai trái, phản động khác còn cho rằng chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp với quy luật phát triển, đồng thời xuyên tạc Việt Nam đang “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, các thế lực này còn cho rằng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước và tập thể, dẫn đến bất bình đẳng xã hội và mất kiểm soát tài nguyên quốc gia, sử dụng các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và các buổi thảo luận giả danh chuyên gia để tuyên truyền rằng “một nền kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ độc đảng”. Những luận điệu này không chỉ bóp méo thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hoài nghi trong dư luận mà còn nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, kêu gọi thay đổi thể chế chính trị.

Cơ sở l‎ý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân thực chất là khu vực kinh tế thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoạt động vì lợi ích riêng nhưng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội và sự tha hóa con người. C.Mác chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân dẫn đến “sự cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tập trung tư bản, làm gia tăng bất công xã hội”. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định, trong một số giai đoạn lịch sử, kinh tế tư nhân có thể thúc đẩy sản xuất và phát triển lực lượng lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.

 

Kế thừa quan điểm này, V.I.Lênin nhận định, kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh: Chính sách ngăn cấm hoàn toàn trao đổi tư nhân là một sự dại dột và tự sát. Chính sách kinh tế mới-NEP (1921) đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ và thương mại tự do hoạt động để phục hồi nền kinh tế Nga sau chiến tranh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời định hướng khu vực này theo con đường xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin khẳng định: Chúng ta sẽ học cách vận hành nền kinh tế từ các nhà tư bản, kể cả các nhà tư bản nước ngoài.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực này chiếm hơn 60% GDP, hơn 70% đổi mới công nghệ và tạo ra hơn 80% việc làm ở đô thị, với hơn 90% số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau cải cách mở cửa năm 1978, kinh tế tư nhân đã phát triển vượt bậc, trở thành động lực chính trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn, như việc tăng số doanh nghiệp tư nhân trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ 1 doanh nghiệp năm 2010 lên 28 doanh nghiệp năm 2018. Những con số này cho thấy vai trò không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong việc thực hiện mục tiêu "Giấc mộng Trung Hoa" và xây dựng một nền kinh tế hiện đại, phát triển chất lượng cao.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1960, chính phủ đã thực hiện các chính sách chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai và LG thông qua vốn vay ưu đãi, bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và tập trung vào các ngành chủ chốt như sản xuất hóa chất và thép. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm hơn 80% GDP, tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi khu vực tư nhân là trụ cột quan trọng trong chiến lược tái định hình nền kinh tế. Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài trợ nghiên cứu và phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp khu vực tư nhân chiếm hơn 65% GDP quốc gia.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân bắt đầu được thừa nhận chính thức từ Đại hội VI (1986), khi Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...” và nhận ra sự cần thiết phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Từ đó, khu vực này từng bước được nhìn nhận là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, Đảng đặt mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60-65%. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự nhất quán trong đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng” thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dân số già hóa nhanh chóng và áp lực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng công nghệ cao; yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến đối với kinh tế tư nhân; xây dựng các chính sách hỗ trợ toàn diện như cải thiện môi trường pháp lý, phát triển hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ phù hợp với lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nhất quán với đường lối đổi mới của Đảng, khẳng định rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không hề đi ngược lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn.

Để phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao, cũng như giải phóng tối đa các nguồn lực phát triển. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực công bằng mà còn tạo điều kiện để khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa như các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà chính là sự vận dụng sáng tạo để đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Những quan điểm sai trái này cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ để bảo vệ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mối nguy hại khôn lường từ tư tưởng xét lại lịch sử

 

Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm, tư tưởng xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội, từ đó gây ra nhiều hệ lụy.

1. “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Lời căn dặn năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lịch sử đối với sự tồn vong của đất nước. Lịch sử là tập hợp những sự kiện đã xảy ra, hàm chứa nhiều bài học sâu sắc trong tiến trình vận động và phát triển của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, lịch sử không bao giờ chỉ đơn thuần là câu chuyện trong quá khứ mà còn là mối dây liên kết bền chặt giữa các thế hệ, đúc kết kinh nghiệm của cha ông để kiến tạo con đường phát triển cho hôm nay và mai sau.

Đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào. Nhân dân Việt Nam có truyền thống trọng đạo nghĩa, luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp được tích lũy xuyên suốt chiều dài lịch sử. Nhận thức được điều đó, kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lịch sử truyền thống dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh, kết hợp với ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để lãnh đạo đất nước đi qua bao cuộc “thử lửa” của thời đại, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc.

 

Việc tìm hiểu, khai thác giá trị lịch sử có mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện. Có lẽ vì thế mà lịch sử cũng trở thành một nội dung chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.

2. Trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc nhằm cắt đứt con đường tìm về với ngọn nguồn lịch sử, tiếp sức cho những mưu đồ phá hoại thâm độc.

Thứ nhất, những quan điểm, tư tưởng xét lại về vai trò của lịch sử, gạt bỏ sức ảnh hưởng của lịch sử khỏi đời sống xã hội dần làm phai nhạt lòng yêu nước, ý chí cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc trong quần chúng nhân dân. Những người theo tư tưởng này cho rằng lịch sử không có nhiều ý nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cách mạng khoa học-công nghệ, do đó cần giảm bớt sự quan tâm đến lịch sử để tập trung cho các lĩnh vực khác, đồng thời giảm bớt hoặc bỏ môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục ở các cấp học.

Quan điểm sai trái này đánh vào tâm lý thực dụng của một bộ phận quần chúng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên vì họ tuy có sự năng động, nhiệt huyết nhưng chưa có bản lĩnh vững vàng, thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu giá trị sâu sắc của bài học lịch sử. Quan điểm phủ nhận vai trò của lịch sử rất phổ biến trên không gian mạng với hình thức chủ yếu là những bài viết mang tính định hướng dư luận, kích động tâm lý đám đông. Tư tưởng phủ nhận vai trò của lịch sử vẫn rất nguy hiểm, đánh trực diện vào tư duy của nhiều người trẻ-thế hệ tương lai của đất nước, khiến họ lãng quên lịch sử dân tộc, vô cảm với vận mệnh quốc gia, lâu dài sẽ dẫn tới nguy cơ đánh mất độc lập, tự chủ, phụ thuộc vào kẻ khác.

Thứ hai, các quan điểm xuyên tạc, xét lại lịch sử đến từ nhiều loại đối tượng khác nhau, chủ yếu từ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xuyên tạc lịch sử là viết sách, viết báo, đăng tải bài viết dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu” để đưa số liệu, thông tin sai trái, đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn những sự kiện lịch sử đã xảy ra; xoáy sâu vào một vài hạn chế của cách mạng Việt Nam trong những thời kỳ trước đây. Các đối tượng tập trung vào những sự kiện từ năm 1945 trở về sau vì đây là quãng thời gian Đảng ta nắm quyền lãnh đạo công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của thủ đoạn xuyên tạc lịch sử là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng.

Bên cạnh thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, các đối tượng chống phá còn sử dụng một chiêu bài tinh vi hơn, đó là xét lại lịch sử. Hoạt động xét lại lịch sử có phạm vi rộng hơn, không chỉ hướng đến các sự kiện trong lịch sử hiện đại mà còn nhắm vào các thời kỳ lịch sử trung đại, cận đại. Thay vì trực tiếp xuyên tạc, các đối tượng theo khuynh hướng xét lại lịch sử đi sâu vào phân tích, lật lại những vấn đề chưa rõ ràng, tính chính nghĩa của các nhân vật lịch sử và tính đúng đắn của sự kiện lịch sử; đặt ra giả thuyết để tạo sự nghi ngờ ở người đọc, người nghe đối với nguồn lịch sử chính thống; ca ngợi phồn vinh giả tạo của chế độ ngụy quyền để khơi gợi tư duy xét lại, phủ định sự nghiệp đấu tranh cách mạng; tạo ra sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử để cài cắm thông điệp với dụng ý xấu. Hoạt động xét lại lịch sử có mục đích chính là phủ nhận quan điểm lịch sử chính thống đã được Đảng, Nhà nước ta công nhận và cũng không nằm ngoài mục đích chống phá Đảng, cách mạng và chế độ ta.

3. Bảo vệ giá trị, tầm quan trọng của lịch sử, bảo vệ sự thật lịch sử là bộ phận không thể tách rời trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để ngăn chặn những hậu quả nguy hại đến từ xu hướng xét lại lịch sử, trước hết cần sớm thống nhất những nội dung về lịch sử trong tài liệu được sử dụng ở các cấp học. Phải nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục-đào tạo; không được phép hoài nghi về tầm quan trọng của lịch sử. Nội dung học tập cần có sự chọn lọc, bảo đảm cho người học nắm được sự kiện lịch sử và bài học lịch sử, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về văn hóa, chính trị, ngoại giao, công tác dân tộc, tôn giáo trên cơ sở lợi ích quốc gia và duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc biên soạn, phát hành tài liệu lịch sử, sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và thường xuyên được kiểm tra, giám sát. Cho phổ biến rộng rãi những nguồn sử liệu chính thống đã được công nhận để sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Với những vấn đề, sự kiện lịch sử chưa rõ ràng, cần tập trung đầu tư, huy động nguồn nhân lực, vật lực để nghiên cứu một cách căn cơ, thuyết phục, hiệu quả.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh với các quan điểm xét lại lịch sử. Trước hết, chú trọng vào học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vì đây là nguồn cung cấp thế giới quan, phương pháp luận chính xác khi nghiên cứu khoa học, là vũ khí để đấu tranh với những luận điệu đòi xét lại lịch sử. Bản thân cán bộ, đảng viên khi tiến hành đấu tranh cũng phải nắm được sự thật lịch sử, các bài học lịch sử để vô hiệu hóa những quan điểm thù địch, chống phá trên lĩnh vực này; phải lấy tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích giai cấp, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm định hướng khi tiến hành đấu tranh. Việc đấu tranh bảo vệ giá trị của lịch sử phải tuân thủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần sớm phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý phù hợp, thích đáng đối với những chủ thể có hành vi xuyên tạc, xét lại lịch sử. Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội. Do đó, thời gian tới, cần bảo đảm nghiêm túc, thực chất hơn nữa trong công tác đấu tranh, nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để bảo vệ lịch sử chân chính, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ cha anh đi trước đã phải hy sinh biết bao xương máu để có được nền độc lập, tự do cho Tổ quốc hiện nay.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch

 

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là những trang vàng chói lọi, là niềm tin, niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, thời gian qua, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử Đảng bằng nhiều thủ đoạn, hình thức. Trong đó, các đối tượng lợi dụng không gian mạng để từng bước hủy hoại niềm tin của nhân dân ta vào những trang sử vàng truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đủ chiêu trò bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử Đảng

95 năm qua, thực tiễn đã minh chứng cho sự phát triển, tiến bộ, trưởng thành về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong dịp kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ba mươi năm lịch sử Đảng là một pho lịch sử bằng vàng”.

Năm 2024, nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam”.

Những khẳng định ấy là sự đúc kết từ thực tiễn sinh động và chỉ rõ một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 

Tuy nhiên, bất chấp sự thật lịch sử, với những thủ đoạn hết sức thâm độc, các thế lực thù địch vẫn cố tình bịa đặt, bóp méo sự thật về lịch sử Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau. Các đối tượng ngụy tạo hoặc cắt dán thông tin, đổi trắng thay đen, cố tình bịa đặt những chi tiết lịch sử không đúng sự thật, hòng bôi nhọ danh dự, uy tín và lịch sử hào hùng, vẻ vang của Đảng. Âm mưu lâu dài của các thế lực thù địch, phản động là làm thay đổi nhận thức, tâm lý, tình cảm của cán bộ, đảng viên và quần chúng, từ đó hoài nghi, mất niềm tin vào lịch sử của Đảng và cuối cùng là phủ nhận công lao vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, viện dẫn chi tiết, sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử có thật nhưng đánh giá, bình luận, lý giải sai lệch nguyên nhân, bản chất và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng.

Sử dụng chiêu trò này, các thế lực thù địch hướng độc giả tới một nhận thức hỗn tạp giữa cái chân thật, khách quan với cái chủ quan giả dối, ẩn sau đó là những mưu đồ đen tối. Các thông tin phản ánh về các sự kiện lịch sử của Đảng mà họ tung ra có thể chứa đựng một số nội dung khá chính xác về thời gian, địa điểm, chủ thể thực hiện, khiến cho độc giả có cảm tưởng đây là sự thật. Nhưng tính chất phản động lại được thể hiện ở việc bình luận sai lệch bản chất, nguyên nhân của sự kiện và phán đoán thiên lệch về cách xem xét, giải quyết của Đảng, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Điển hình cho âm mưu này, khi dẫn luận về sự kiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là do ăn may”. Trên thực tế, lịch sử cách mạng trên thế giới chưa có cuộc cách mạng nào nổ ra và giành thắng lợi là do “ăn may”. Việc cho rằng “ăn may” cũng đồng nghĩa với việc phủ nhận sự hy sinh của hàng triệu cán bộ, đảng viên và quần chúng đã vững chí bền gan đấu tranh suốt 15 năm (1930-1945) vì sự nghiệp lớn lao của dân tộc.

Cho nên, cần phải khẳng định lại rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trước hết bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Đảng đã chớp thời cơ vào thời điểm nghìn năm có một để lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thứ hai, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận công lao các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đưa ra những thông tin mập mờ và không có kiểm chứng để xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng nhiều vị lãnh đạo tiền bối của Đảng như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Trường Chinh, Lê Duẩn... Họ đưa ra những cái gọi là “nguồn tin riêng”, “chuyện bây giờ mới kể”, hay “bí mật nội bộ” để nhận định, đánh giá về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của các lãnh tụ và lãnh đạo tiền bối của Đảng một cách vô căn cứ, thậm chí bịa đặt, xuyên tạc ác ý về đời tư, làm cho nhiều người dân, nhất là người trẻ dễ hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin đối với những người con ưu tú của Đảng đã được lịch sử ghi nhận, có nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Trong mỗi thời kỳ lịch sử, Đảng đều giáo dục, rèn luyện và xây dựng được đội ngũ lãnh đạo cấp cao, đặc biệt là các lãnh tụ của Đảng tiêu biểu về bản lĩnh, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, xứng đáng là người cộng sản mẫu mực, ưu tú, được toàn Đảng, toàn dân tín nhiệm, trân quý, học tập, noi theo. 

Thứ ba, “bới móc”, thổi phồng những sai lầm, hạn chế trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động cũng tìm mọi cách “bới móc”, xuyên tạc, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng, cho dù một số sai lầm, khuyết điểm đó đã được Đảng nghiêm khắc tự kiểm điểm, kết luận công khai, rõ ràng. Khi lý giải, đánh giá, bình luận kết quả quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, các đối tượng chống phá luôn tìm cách phủ nhận thành tựu; trong khi đó có những khó khăn do tác động bất lợi của tình hình thế giới, khu vực ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ cách mạng nước ta thì không được nhận diện trung thực, đánh giá thấu đáo, mà ngược lại cố tình phủ nhận những nỗ lực, cố gắng của Đảng trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành nhiều thắng lợi to lớn, góp phần làm thay đổi số phận dân tộc, đất nước và nhân dân Việt Nam.

Thứ tư, thực hiện so sánh sai lệch lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với lịch sử một số đảng cộng sản trên thế giới để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Lợi dụng mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản trên thế giới, các thế lực thù địch đưa ra ý kiến bình luận, so sánh sai lệch về lịch sử Đảng ta với lịch sử các đảng cộng sản anh em trên thế giới. Theo đó, khi có điểm tương đồng giữa lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản trên thế giới, nhất là Đảng Cộng sản Liên Xô (trước đây) và Đảng Cộng sản Trung Quốc, thì các thế lực thù địch vu khống Đảng ta là “rập khuôn”, “bắt chước”.

Nhưng họ đâu hiểu (hoặc cố tình không hiểu) rằng, điểm tương đồng đó thể hiện sự trung thành trong quán triệt Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong tuân thủ những nguyên tắc lý luận chung nhất mà bất cứ đảng cộng sản nào cũng thực hiện. Mặt khác, điểm tương đồng không có nghĩa là không có sự khác biệt, nguyên lý chung không có nghĩa là thủ tiêu tính đặc thù. Kinh nghiệm của các đảng cộng sản anh em trên thế giới được Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Khẳng định giá trị lịch sử Đảng bằng những lý lẽ khoa học, thuyết phục

Từ những thủ đoạn chống phá nêu trên, việc đấu tranh với các hoạt động xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trên internet hiện nay là yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần bảo vệ vị thế, uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng-nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trước hết, cần nâng cao chất lượng công tác biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng. Đây là giải pháp cơ bản, là sự cụ thể hóa phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây là cơ bản, thường xuyên, chống là quan trọng, cấp bách. Quán triệt tư tưởng “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; chú trọng thực hiện tốt Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18-1-2018 của Ban Bí thư “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”. Kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học và tính Đảng trong mọi hoạt động biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng.

Chú trọng phát huy vai trò tiên phong, nòng cốt của đội ngũ chuyên gia trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng. Việc thông tin xuyên tạc lịch sử Đảng trên không gian mạng được các thế lực thù địch tiến hành với nhiều thủ đoạn tinh vi. Vì vậy, để đánh bại âm mưu đó, chúng ta phải huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, cơ quan khoa học, các cơ quan báo chí, truyền thông. Trong đó, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, giảng viên chính trị là lực lượng tiên phong, nòng cốt, có đủ trình độ, đủ khả năng sử dụng những luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn để vạch trần, bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng của các thế lực thù địch.

Trong thời đại thông tin, cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng bằng hình thức trực tuyến nhằm hạn chế, thu hẹp phạm vi xuyên tạc lịch sử Đảng trên không gian mạng. Đây là biện pháp phòng ngừa, có giá trị lâu dài, góp phần nâng cao hiệu quả các biện pháp đấu tranh làm thất bại thủ đoạn xuyên tạc lịch sử Đảng. Tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục, diễn đàn như: “Tìm hiểu lịch sử cách mạng”, “Phổ biến kiến thức lịch sử Đảng”, “Câu chuyện lịch sử cách mạng”, “Tìm hiểu nhân vật lịch sử Đảng”... trên không gian mạng để thu hút các tầng lớp nhân dân, nhất là lực lượng thanh, thiếu niên tham gia tìm hiểu, nghiên cứu, học tập.

Hiện nay, ở nước ta, số lượng độc giả truy cập mạng ngày một tăng, nhất là thanh, thiếu niên hay khai thác thông tin nhiều chiều nhưng lại thiếu bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm sống và sự tỉnh táo trước sự hỗn tạp thông tin được tiếp cận. Do đó, cần xây dựng, tăng cường các buổi nói chuyện, tọa đàm của các chuyên gia trên mạng trực tuyến và trên sóng phát thanh, truyền hình, qua đó giúp nhân dân và thế hệ trẻ nâng cao năng lực nhận thức, phân tích, đánh giá thông tin đã tiếp nhận, nhằm làm sáng tỏ và khẳng định tính chân thực, khoa học của lịch sử Đảng.

Tiếp tục đầu tư, phát huy hiệu quả phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại để xây dựng các mô hình học tập lịch sử Đảng trực tuyến đủ sức lấn át, chi phối, đẩy lùi các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, qua đó nhằm khẳng định giá trị và tính chân thực của “pho lịch sử bằng vàng”-lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh!

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Bố sẽ cẩn thận hơn!

 

- Bố lại mệt hay đang bận việc gì vậy ạ?

- Bố khỏe, cũng không bận gì! Bố đang mải xem trên mạng, thấy hoàn cảnh bà cụ ngoài 90 tuổi rồi mà phải ở nhà dột nát, xiêu vẹo, nghĩ thương quá. Nhà cụ ấy ở ngay mặt đường, thế mà không hiểu sao chính quyền địa phương chẳng quan tâm, hỗ trợ gì cả.

Nghe bố nói vậy, Hậu liền nhắc:

 

- Bố phải tìm hiểu xem cụ thể sự việc như thế nào đã. Mới chỉ xem mấy cái hình ảnh trên mạng, đã biết thông tin chính xác thế nào đâu mà vội vàng đổ lỗi cho chính quyền ạ. Bây giờ lên mạng mà không cẩn thận là bị mắc lừa ngay bố ạ.

- Anh không phải “dạy” bố! Họ đăng hình ảnh sờ sờ thế này, có địa chỉ, tên tuổi bà cụ rõ ràng mà anh lại bảo bố bị lừa sao?

Thấy bố nói với giọng dằn dỗi, Hậu vội vàng thanh minh:

- Thực tế hiện nay, những thông tin trên mạng xã hội rất phức tạp bố ạ! Có những hình ảnh mặc dù nhìn như vậy nhưng có khi không phản ánh đúng bản chất câu chuyện. Chưa kể, có nhiều kẻ xấu còn cố tình cắt ghép, chế ra những hình ảnh, đoạn video clip giả để xuyên tạc, xúc phạm cá nhân, tổ chức nữa. Bố cho con mượn điện thoại để con xem cụ thể như thế nào.

Cầm điện thoại ông Hải đưa, Hậu mở xem những hình ảnh chụp bà cụ đang ngồi cạnh ngôi nhà xiêu vẹo và nhận ra ngay đây đều là các bức ảnh cũ. Hương, bạn gái của Hậu cũng xem cùng và thốt lên:

- Bà cụ này nhìn quen quá! Anh đọc thông tin xem có phải cụ Tĩnh, ở xã X không?

- Đúng rồi em. Họ viết là cụ Tĩnh ở xã X đây. Sao em biết bà cụ này?

- Hai năm trước, khi chính quyền địa phương hỗ trợ cụ xây dựng nhà “đại đoàn kết”, em cùng nhóm thiện nguyện biết tin nên đã đến tặng quà cụ. Em vẫn còn lưu ảnh chụp trong điện thoại này.

Vừa nói, Hương vừa mở điện thoại, tìm bức ảnh mình trao quà tặng cụ Tĩnh cách đây hai năm. So với bức ảnh trên mạng, hai cụ đúng là một người. Ông Hải lúc này mới biết mình bị lừa, cứ lẩm bẩm:

- Lạ thật! Nhà bà cụ đã được chính quyền hỗ trợ xây kiên cố từ hai năm trước, vậy mà chúng nó còn đăng lên làm gì nhỉ? Đúng là...

Hậu nghe bố nói vậy, mỉm cười rồi mở điện thoại đưa cho bố xem các bài viết về việc nhiều đối tượng đã bị xử phạt hành chính vì đăng tin sai trên mạng xã hội và nhẹ nhàng nói:

- Hiện nay có những người vì thiếu hiểu biết, muốn tăng tương tác cho trang cá nhân nên cố tình cắt ghép, đăng tin sai sự thật lên mạng xã hội. Nhưng cũng có không ít kẻ xấu cố tình tung tin bịa đặt để nói xấu chế độ, hạ thấp uy tín của cán bộ, gây giảm sút niềm tin của người dân vào các cấp chính quyền. Vì vậy khi xem thông tin trên mạng, bố cần tỉnh táo, kẻo lại thành tiếp tay cho kẻ xấu đó ạ!

- Ừ, bố biết rồi! Từ nay bố sẽ cẩn thận hơn!

Thời của nói thì phải làm

 

Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ lý luận cho đến thực tiễn và ở bất cứ quốc gia, chế độ, xã hội nào thì chữ “tín” cũng luôn được đề cao, coi trọng và được xét đến đầu tiên khi đánh giá một con người. Từ nhân dân mà ra, được nhân dân tín nhiệm nên cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ chức vụ cao càng cần coi trọng chữ “tín”. Bởi, chỉ những người trọng chữ “tín”, “nói đi đôi với làm”, "nói thì phải làm" thì mới cảm hóa, lôi cuốn được quần chúng và được quần chúng quý mến, tin theo.

1. Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ở người lãnh đạo giữ vai trò quan trọng bởi nhất cử nhất động của họ vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, mang ý nghĩa tiêu biểu, được dư luận nhìn vào. Cán bộ, đảng viên giữ các cương vị cao càng phải thực sự là những tấm gương, tiêu biểu trong lời nói, việc làm và thực hành đạo đức thì mới có thể tạo niềm tin, cuốn hút quần chúng, khơi dậy sức mạnh to lớn trong nhân dân.

Chính vì vậy, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, Đảng ta đã ban hành Quy định về những điều đảng viên không được làm và nêu rõ: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; cùng với việc gương mẫu chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên, phải chấp hành nghiêm những quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm.

 

Xét ở góc độ, khía cạnh nào thì sự gương mẫu trong lời nói, hành động, việc làm của cán bộ, đảng viên, nhất là người giữ chức vụ cao, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương; là “mệnh lệnh không lời” tạo động lực, niềm tin để cấp dưới và quần chúng nhân dân tự giác tu dưỡng, rèn luyện, noi theo. Đây cũng là đòi hỏi bức thiết của đời sống đạo đức xã hội. Vì chỉ có thông qua những tấm gương cụ thể mới củng cố và nâng cao được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Ngược lại, “nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm, nói nhiều làm ít” là những biểu hiện của sự tha hóa về đạo đức, tư tưởng và lối sống, không phải là phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Có thể kể đến, đó là tình trạng “trên trải thảm, dưới trải đinh” trong thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội; tăng tốc thực hiện những “chuyến tàu vét trước khi hạ cánh” vào cuối nhiệm kỳ; biến những nguyên tắc sống còn của Đảng trở thành hình thức, làm méo mó mọi quy định, thậm chí là bất chấp pháp luật để mưu lợi... Tình trạng nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật về Đảng, pháp luật Nhà nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến nay không chỉ gây ra nỗi buồn, thất vọng mà còn khiến nhân dân không khỏi bức xúc vì lời nói và việc làm của họ trái ngược nhau. Họ không chỉ làm méo mó hình ảnh, phẩm chất người cán bộ, đảng viên mà còn tạo điều kiện cho các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách tốt đẹp của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Nhưng cái họa và mất lớn nhất mà họ gây ra là làm sứt mẻ, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; đe dọa sự tồn vong của đất nước. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ ra trong bài viết “Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 12-2-2025: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta”.

2. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nguyên nhân sâu xa và trước hết của tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo” vẫn từ sự thoái hóa, biến chất, thiếu tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên, nhất là khi đất nước, xã hội bước vào thời kỳ hội nhập, phát triển. Nhiều ý kiến phân tích cho rằng, thời kỳ chiến tranh giải phóng đất nước thì cái tôi phục tùng cái chúng ta, lòng yêu nước nổi trội làm cho con người coi vật chất không phải là mục tiêu tối cao dù đời sống rất khó khăn. Nhưng khi đất nước hòa bình, đổi mới, phát triển thì cuộc đấu tranh giữa cái tôi với cái chúng ta trong mỗi người diễn ra rất gay gắt do thu nhập khác nhau nên sinh hoạt, cuộc sống, suy nghĩ khác nhau. Chỉ cần buông thả, thiếu tu dưỡng bản thân thì sự thực dụng, tính ích kỷ, vụ lợi sẽ lên ngôi, cái riêng sẽ lấn át cái chung, khiến con người dễ bất chấp cả nhân, lễ, liêm, sỉ, coi lợi ích riêng là điểm xuất phát và cái đích cuối cùng trong mọi hành động.

“Nói không đi đôi với làm” còn xuất phát từ thói “nói như rồng leo”, “ba hoa một tấc đến trời”; quen ra mệnh lệnh, chỉ thị, đề xuất mà không thích nghe người khác nói và khuyên răn, góp ý nên nói rồi quên, nói mà không tính đến các điều kiện thực tế, khả năng thực hiện của chính mình. Người xưa răn dạy: “Lời nói đọi máu”; “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”; “Nói người phải ngẫm đến ta/ Thử sờ lên gáy xem xa hay gần/ Nói người phải nghĩ đến thân/ Thử sờ lên gáy xem gần hay xa”, “Chân mình còn lấm bê bê/ Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”... với ý nghĩa khuyên răn con người phải coi trọng lời nói; trước khi phê bình, góp ý, dạy bảo người khác thì phải nhìn kỹ lại mình xem đã gương mẫu, chuẩn mực chưa; muốn tạo dựng uy tín, nói cho người khác tin, nghe thì lời nói phải đi đôi với việc làm. Muốn thế thì trước khi nói phải nghĩ đến làm, phải tính đến mọi khả năng, điều kiện thực tế, thực thi, hoàn thành chứ đừng nên cao giọng, nói cho vui miệng, nói rồi quên... 

Một vấn đề nữa là mặc dù Bộ Chính trị đã có Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhưng việc này còn nhiều hạn chế, chưa được coi trọng, phát huy tốt. Chính vì thế mới có tình trạng nhiều trường hợp cán bộ được bổ nhiệm giữ chức vụ cao trong thời gian dài thì cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra mới phát hiện những vi phạm trong quá khứ nên hậu quả càng lớn. 

Ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đặt câu hỏi và kiến nghị: “Tại sao nhiệm kỳ nào chúng ta cũng đặt vấn đề không được để lọt vào bộ máy những cán bộ thiếu năng lực, phẩm chất, nhưng cuối cùng vẫn xảy ra? Đó là do chúng ta chưa coi trọng vai trò giám sát của quần chúng nhân dân. Từ những vụ việc xảy ra thời gian qua cũng cho thấy tinh thần đấu tranh, phê bình của đảng viên, tổ chức đảng; kiểm soát của cấp trên, giám sát của cấp dưới đối với những cán bộ “nói không đi đôi với làm” còn hạn chế vì ngại va chạm. Do đó, cần đề cao sức mạnh của dư luận trong việc kiểm soát đạo đức cán bộ, đảng viên; không để bất kỳ cán bộ, đảng viên nào nằm ngoài sự kiểm soát của nhân dân, của cấp dưới, đặc biệt những người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý. Đấy là hình thức phát triển đạo đức thiết thực nhất, không bàn suông, không hô khẩu hiệu đạo đức”.

Mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, khi đã nói ra thì phải làm cho bằng được, đã làm thì phải làm đến nơi đến chốn. Tốt nhất là nên nói ít làm nhiều, thậm chí là lặng lẽ, tập trung vào làm. Hơn nữa, dù khéo léo, tài ăn nói đến mấy cũng không thể che giấu, lấp liếm cho hành động và bản chất con người, bởi “cái kim trong bọc lâu ngày cũng sẽ lòi ra” và sự giả dối cuối cùng sẽ bị phát giác, phải trả giá.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo trước thềm Đại hội XIV

 

Trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong đó, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc chủ trương, chính sách quốc phòng, an ninh (QPAN), nhất là công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo và chính sách phòng thủ biển, đảo.

Vì sao các thế lực thù địch nhắm vào chính sách phòng thủ biển, đảo?

Biển, đảo gắn với chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng, là “huyết mạch” kinh tế-QPAN của đất nước. Các vấn đề liên quan đến biển, đảo luôn thu hút sự quan tâm sâu sắc của nhân dân, gắn liền với lòng yêu nước, tự hào dân tộc và tâm lý bảo vệ chủ quyền. Vì thế, chỉ cần tung ra vài tin giả, xuyên tạc, hoặc bình luận sai lệch, các thế lực thù địch dễ dàng đánh vào cảm xúc của quần chúng, khơi gợi tâm lý hoài nghi, phẫn nộ, thậm chí kích động hành động cực đoan.

Chính sách QPAN là lĩnh vực khó tiếp cận, dễ xuyên tạc. Đây là lĩnh vực liên quan đến chiến lược, kỹ thuật, quan hệ quốc tế phức tạp, không phải ai cũng có đầy đủ thông tin để hiểu sâu. Một số người dân dễ bị dẫn dắt bởi các “chuyên gia mạng”, kênh YouTube trá hình, đưa ra phân tích sai lệch nhưng lại tỏ ra có “chuyên môn”, tạo ra hiệu ứng tin giả lan truyền.

Luận điệu xuyên tạc, âm mưu thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt

Các thế lực phản động sử dụng thông tin sai lệch, tài liệu giả mạo, hoặc trích dẫn một cách có chọn lọc các sự kiện lịch sử để phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vu cáo Việt Nam “gây căng thẳng khu vực”: Mỗi khi Việt Nam tổ chức diễn tập phòng thủ, tăng cường lực lượng hoặc thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển, các đối tượng phản động thường vu khống ta là “khiêu khích”, “hiếu chiến”, trong khi thực tế đó là quyền chính đáng của một quốc gia có chủ quyền.

Để tấn công vào lòng dân, vào niềm tin chính trị, các thế lực phản động thường tập trung bóp méo bản chất chính sách quốc phòng tự vệ. Việt Nam theo đuổi đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ, không tham gia liên minh quân sự, không chạy đua vũ trang. Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng Việt Nam “không đủ sức bảo vệ chủ quyền”, từ đó kích động tâm lý bất mãn, yêu cầu thay đổi chính sách, thậm chí cổ xúy tư tưởng bài ngoại, đối đầu cực đoan. Một số cá nhân tự xưng “yêu nước” nhưng thực chất lợi dụng lòng yêu nước để kích động chống đối, cổ xúy việc giải quyết tranh chấp bằng đối đầu quân sự, đi ngược đường lối đối ngoại hòa bình của Việt Nam.

Việt Nam duy trì hợp tác quốc phòng với nhiều nước trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi. Tuy nhiên, những thông tin xuyên tạc thường bóp méo các chuyến thăm, hợp tác quốc phòng thành “liên minh quân sự ngầm”, vu cáo Việt Nam “phụ thuộc nước ngoài”, “đánh đổi chủ quyền lấy viện trợ”. Một số trang mạng giả danh “chuyên gia quân sự” đưa ra các “kịch bản chiến tranh”, gieo rắc tâm lý lo ngại, mất phương hướng về chính sách quốc phòng. Lợi dụng các sự kiện quốc tế để vu cáo Việt Nam “đi đêm” hoặc “im lặng” trước các hành vi xâm phạm chủ quyền của nước khác, gieo rắc mâu thuẫn nội bộ và làm suy yếu lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

 Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch

Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, thế trận biển, đảo vững chắc trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Hòa bình, tự vệ, không liên minh quân sự. Từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu nhưng không tách rời khỏi nghĩa vụ quốc tế và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách QPAN "4 không" này không chỉ thể hiện lập trường độc lập, tự chủ của Việt Nam mà còn phản ánh tư duy chiến lược tỉnh táo, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm vừa giữ vững chủ quyền, vừa đóng góp vào hòa bình, ổn định chung.

Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo dựa trên đầy đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý vững chắc và phù hợp với UNCLOS 1982. Tất cả hoạt động bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và duy trì trật tự, an ninh trên biển của Việt Nam đều tuân thủ nghiêm các quy định quốc tế, không gây hấn, không xâm phạm chủ quyền các nước khác. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế biển, khai thác tài nguyên, cũng như huấn luyện, diễn tập quân sự trong phạm vi chủ quyền đều nằm trong khuôn khổ hợp pháp và minh bạch, được thông tin công khai. Điều này cho thấy Việt Nam không hề “mập mờ” hay “thiếu minh bạch” như các thế lực phản động xuyên tạc. Thực tế, Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, đàm phán song phương và đa phương, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Việt Nam hiểu rõ rằng, hòa bình chỉ bền vững khi có sức mạnh bảo vệ, do đó, việc củng cố tiềm lực quốc phòng là tất yếu, nhưng không phải để gây chiến, mà để phòng ngừa xâm lược và bảo vệ lợi ích quốc gia. LLVT nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng... làm nhiệm vụ trên biển luôn duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, làm chủ tình hình, xử lý linh hoạt, đúng mực trong mọi tình huống. Việc xây dựng các lực lượng này không nhằm chạy đua vũ trang mà để mỗi tấc đất, tấc biển của Tổ quốc đều được gìn giữ bởi chính con em nhân dân. Chủ trương kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với đối ngoại cũng là điểm sáng trong chính sách của Việt Nam. Đây là chiến lược bền vững, giúp đất nước phát triển mạnh mẽ từ bên trong, đồng thời nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ mang tính chất nội bộ mà còn đóng vai trò tích cực trong khu vực và thế giới. Việt Nam là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, hòa bình, thịnh vượng. Việt Nam nhiều lần lên tiếng phản đối hành vi vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, nhưng luôn theo hướng kiềm chế, thiện chí và cầu thị, vì hòa bình và thượng tôn pháp luật, được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế ghi nhận. Việt Nam cũng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, gửi lực lượng đến nhiều điểm nóng như Nam Sudan, Trung Phi... cho thấy hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao đối với dân tộc và cộng đồng quốc tế. Đó là chính sách đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch, thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình nhưng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, độc lập dân tộc. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo chính sách này không làm thay đổi được bản chất đúng đắn, mà ngược lại càng cho thấy sự bất lực của chúng trước một Việt Nam ngày càng ổn định, vững mạnh và có uy tín trong khu vực cũng như trên thế giới.

Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái

Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức chính trị và khả năng “đề kháng tư tưởng” của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Theo đó, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, dễ hiểu và thường xuyên về các chủ trương, chính sách quốc phòng, đặc biệt là chiến lược quốc phòng “4 không” của Việt Nam. Giúp người dân hiểu rõ bản chất hòa bình, chính nghĩa, tự vệ của quốc phòng Việt Nam, từ đó tự tin, vững vàng trước các thông tin bịa đặt. Trang bị kiến thức pháp lý quốc tế về chủ quyền biển, đảo để làm cơ sở phản bác các quan điểm sai lệch về quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế.

Chủ động phản bác, ngăn chặn thông tin sai trái ngay từ khi mới xuất hiện trên không gian mạng. Thiết lập và vận hành hiệu quả các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Sử dụng tiếng nói của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cựu chiến binh, người từng công tác trong LLVT để phản bác bằng lý lẽ khoa học, dẫn chứng thực tế, góp phần tạo niềm tin vững chắc trong dư luận. Khuyến khích người dân tham gia “làm sạch” không gian mạng, thông qua việc báo cáo tin giả, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng và chủ động chia sẻ những nội dung tích cực, truyền cảm hứng về tình yêu biển, đảo và trách nhiệm công dân.

Tăng cường giáo dục lý luận chính trị-pháp luật trong toàn xã hội; đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo, nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá vào chương trình học phổ thông, đại học và các lớp bồi dưỡng chính trị, giúp hình thành tư duy độc lập, phản biện lành mạnh. Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị chuyên đề trong hệ thống chính trị, đoàn thể, nhất là trong lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, qua đó nâng cao ý thức giữ vững trận địa tư tưởng. Tăng cường các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, giao lưu giữa LLVT và nhân dân để trực tiếp giải đáp các vấn đề nóng, nhạy cảm về biển, đảo, quốc phòng, xây dựng lòng tin vững chắc và sự gắn bó máu thịt quân dân.

Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và người có ảnh hưởng lớn. Các cơ quan báo chí chủ động, nhanh nhạy, chính xác, kịp thời phản ánh sự thật, định hướng dư luận một cách có trách nhiệm và nhân văn. Tăng cường sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo, gần gũi giới trẻ như video ngắn, infographic, podcast... để truyền tải thông điệp yêu nước, niềm tin chính trị, trách nhiệm công dân với biển, đảo Tổ quốc. Khuyến khích các nhà báo, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tích cực lan tỏa thông tin chính thống, phản bác thông tin sai trái một cách có lý, có tình, góp phần tạo ra “vùng thông tin xanh” trên môi trường mạng.

Cùng với tuyên truyền, đấu tranh, cần thực thi pháp luật một cách mạnh mẽ, nghiêm minh để phòng ngừa hiệu quả. Xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi tán phát thông tin sai lệch, kích động chia rẽ, bôi nhọ LLVT, xuyên tạc chính sách quốc phòng, đặc biệt trong thời gian cao điểm chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp. Tăng cường năng lực giám sát, phát hiện và xử lý tin giả của các cơ quan chức năng, kết hợp giữa công nghệ và nhân lực để tạo “lá chắn kỹ thuật số” hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp lý về an ninh mạng, thông tin, truyền thông, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị-xã hội trong quản lý và đấu tranh trên không gian mạng. Tăng cường công khai, minh bạch các chính sách quốc phòng, đối ngoại, giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, giúp người dân không bị mơ hồ mà tỉnh táo nhận thức đúng trước sự nhiễu loạn thông tin...