Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

THÁI GIÁM LÊ VĂN DUYỆT - SỬ SÁCH CÒN LƯU!

     Lê Văn Duyệt, vị đại thần triều Nguyễn, người có công lớn (cùng với Nguyễn Văn Thành) giúp Nguyễn Ánh thắng quân Tây Sơn, thành lập vương triều nhà Nguyễn.
 
Cái gì thuộc về lịch sử thì không thể đánh bùn sang ao, sự thật mãi mãi là sự thật ! 

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Nếu như Gia Long được xem là chúa tể “cõng rắn cắn gà nhà/rước voi giày mả tổ”, thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức… là những trợ thủ đắc lực cho tay cầm đầu ấy. Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt là trợ thủ đắc lực đàn áp nhân dân, vì nhân dân chống lại lao dịch, thuế khoá nặng nề do chính sách của Gia Long mà điển hình chính là vùng đất phía Tây Quảng Ngãi ngày nay. Chính Lê Văn Duyệt đã cầm quân nhà Nguyễn tàn sát những người nông dân khởi nghĩa, chống lại sưu cao, thuế nặng của Gia Long. 

Ngay từ khi lên ngôi, Gia Long hoàng đế đã ký ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng này, làm cho "dân Man quanh năm nộp thuế không lúc nào rỗi. Hậu quả là: "Man phải nhặt củ rau và quả ở núi để ăn cho no bụng"...
Gia Long hoàng đế đã áp đặt chế độ trấn quan, cho lập đồn binh ở các nguồn, để dễ bề dập tắt các cuộc nổi dậy. Chính Lê Văn Duyệt đã tắm cuộc khởi nghĩa của nông dân người dân tộc thiểu số phía Tây Quảng Ngãi trong biển máu. 

Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng, đi ngược chính sách triều đình. Minh Mạng lấy nho học làm nền tảng, trong khi đó Lê Văn Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, Anh, cổ súy cho việc truyền bá đạo Công giáo. Tội to nhất của Lê Văn Duyệt là kích động Người Chăm ly khai khỏi Đại Nam. Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mạng tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long. 

Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mạng.

Nếu Lê Văn Duyệt thành công trong việc chia cắt đất nước thì có lẽ là thế cục "Trịnh Nguyễn phân tranh" lần hai sẽ xẩy ra. Hồng phúc cho đất nước là Lê Văn Duyệt khi đó đã già và sớm ra đi với Gia Long. Kết quả là sau khi Lê Văn Duyệt mất, con nuôi là Lê Văn Khôi tạo phản và bị Minh Mạng tru diệt. Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng cho đào mồ cuốc mả. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Minh Mạng tận diệt người Chăm Pa năm 1832.

Chính Lê Văn Duyệt chứ không phải ai khác, là kẻ kích động chia rẽ, thù địch dân tộc, dẫn đến các cuộc nội chiến sau này. Khi vua Minh Mạng đánh bại Lê Văn Khôi thì quốc lực theo đó suy giảm. Minh chứng là sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị nối ngôi đã không đủ lực để duy trì và buộc phải rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Nếu cha con Lê Văn Duyệt không tạo phản, ly khai thì bản đồ nước ta không nhỏ hẹp như hôm nay.

Đừng có lý luận kiểu, " trước năm 1975, VNCH có nhiều đường, trường mang tên Gia Long, Lê Văn Duyệt." Xin thưa rằng, Gia Long, Lê Văn Duyệt cầu ngoại bang và ngụy Sài Gòn cũng là sản phẩm của người Pháp, Mỹ đẻ ra. Nghĩa là giữa họ có nét tương đồng là đều bán nước, làm tay sai cho ngoại bang, cõng rắn cắn gà nhà. Vậy nên đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu. Bán nước ca ngợi bán nước là lẽ thường, ngụy Sài Gòn tôn vinh Gia Long, Lê Văn Duyệt là tự mình rửa mặt cho mình. 

Thế nên, Sài Gòn và Gia Định trước năm 1975 có tới hai đại lộ mang tên Lê Văn Duyệt. Đại lộ Lê Văn Duyệt của Đô Thành Sài Gòn hiện nay là đường Cách Mạng Tháng Tám, còn đại lộ Lê Văn Duyệt của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Đinh Tiên Hoàng. 

Sau ngày 30 Tháng 4 năm 1975 cả hai con đường mang tên Lê Văn Duyệt đều bị đổi tên vào cùng ngày 14 Tháng Tám, 1975. Không phải những người cộng sản cực đoan, không tôn vinh Lê Văn Duyệt mà chính lòng tự tôn dân tộc, dòng máu chính thống của con Lạc cháu Hồng không cho phép những người cộng sản vinh danh kẻ bán nước cầu vinh.

Ngày nay, Lê Văn Duyệt bỗng dưng thành đại anh hùng dân tộc. Đây là sản phẩm của việc xét lại lịch sử mà Phan Huy Lê lật sử và 72 cộng sự của ông ta dày công xuyên tạc theo hướng rửa mặt cho giặc. 

Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... chỉ là những viên đá ném ra để dò đường. Cái đích xa hơn của các thế lực thù địch chính là rửa mặt cho ngụy Sài Gòn, rửa mặt cho những Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay chính anh trai của Phan Huy Lê là Phan Huy Quát.  

Lê Văn Duyệt được hoành tráng hoá, thần thánh hóa và hàng năm được tổ chức giỗ linh đình là điều không thể chấp nhận. Không lẽ một người gây tranh cãi giữa công và tội như ông ta lại hơn cả những anh hùng dân tộc, các bậc khai quốc công thần như, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp...? 

Lê Văn Duyệt không xứng được nhận lễ nghi tôn kính bậc nhất Việt Nam như thế. Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn người công cao hơn Lê Văn Duyệt. Đừng làm quá lố, kệch cỡm như vậy./.
Khuyết danh ST.

LỜI CỦA BÁC - LỜI CỦA NƯỚC NON: “KHÔNG QUÂN ĐỘI NÀO, KHÔNG KHÍ GIỚI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH NGÃ ĐƯỢC TINH THẦN HY SINH CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN TỘC”!

LỜI CỦA BÁC - LỜI CỦA NƯỚC NON: “KHÔNG QUÂN ĐỘI NÀO, KHÔNG KHÍ GIỚI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH NGÃ ĐƯỢC TINH THẦN HY SINH CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN TỘC”!

     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29 tháng 10 năm 1945.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Cam-pu-chia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sỹ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
SƯU TẦM!

MỘT TÊN SIÊU VIỆT GIAN ĐƯỢC CHẾ ĐỘ NGỤY QUYỀN SÀI GÒN VINH DANH!

     5 Huy chương được Trương Vĩnh Ký đeo (từ trái sang):

Hàng trên:
1. Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp
2. Palmes d’Académie của Hàn Lâm viện Pháp

Hàng dưới:
3. Tứ đẳng Long tinh của triều đình vua Đồng Khánh
4. Hiệp Sỹ Cứu Thế của Tòa Thánh La Mã
5. Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha

Học giả Mẫn Quốc: 

"Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì cái tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu. Trương đã tác động tinh thần đám quan lại và đám sĩ phu Việt Nam hãy đừng cưỡng lại người Pháp! Trương tận tụy trung thành, đem hết tâm tư, bầy mưu lập kế, hiến sách lược nọ, dâng đề nghị kia… không khác chi làm tay sai đặc vụ, tình báo cho địch như vậy!

Không khó nhận ra Trương Vĩnh Ký rất nóng lòng muốn Pháp đồng hóa dân tộc Việt Nam nhanh hơn, toàn diện hơn. Ngoài lương bổng hậu hĩnh, bên cạnh đó ông cũng sẽ kiếm được lợi nhuận do việc chính phủ thực dân Pháp bỏ tiền tài trợ và mua sách, ông sẽ phấn khởi, hăng hái hơn trong việc viết thêm các tác phẩm khác trong tương lai cho mục đích "đồng hóa" nói trên.”

Nhà sử học Trần Văn Giàu nhận xét:

"Khi mà kẻ xâm lược và kháng chiến đang chọi nhau dữ dội, trên chiến trường Thắng - Bại chưa ngã ngũ hẳn, khi ấy mà ai đứng hẳn về phe kẻ địch (của dân tộc Việt Nam) thì nhà chép sử nào, dù có rộng xét mấy cũng không thể lấy bất kỳ số sách vở sáng tác hay phiên dịch nào để biện bạch và giảm nhẹ trách nhiệm tinh thần của một người dân nước, nhất là của một "Kẻ Sĩ" (chỉ Trương Vĩnh Ký).

Nhà sử học Trần Huy Liệu nhận xét:

“Về phẩm cách cá nhân của một sỹ phu lúc ấy, không phải chỉ nhìn ở sinh hoạt thông thường mà chủ yếu là phải lấy thái độ đối với dân tộc, đối với giặc cướp nước làm tiêu chuẩn.

Là người học rộng, Trương không làm tay sai như kiểu Trần Tử Ca, Trần Bá Lộc… mà đóng vai trò mưu sỹ bày cho giặc (Pháp) những thủ đoạn thâm trầm dùng người bản xứ trị người bản xứ, dùng danh nghĩa Nam triều (nhà Nguyễn) để đánh nghĩa quân. Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu…

Ông Nguyễn Sinh Duy, trong cuốn "Trương Vĩnh Ký – cuốn sổ bình sanh" viết:

“Chỗ đứng của Trương Vĩnh Ký vẻ vang và đồ sộ không phải trên văn đàn dân tộc Việt Nam mà chính ở trong nền văn chương thuộc địa (une littérature coloniale) của người chính quốc Pháp và những ngòi bút phục vụ quyền lợi thuộc địa.”

Tiến sỹ Bùi Kha nhận xét:

“Các nước kém mở mang là nạn nhân thường trực của các cường quốc qua chiêu bài chống ý thức hệ, nhưng thực chất của nó là những phong trào thực dân đi xâm chiếm thuộc địa để tiêu thụ hàng hóa, vơ vét tài nguyên và xâm thực văn hóa mà tấm biểu ngữ được trương lên "tự do tôn giáo" là vũ khí hữu hiệu nhất.

Cái gọng kềm chằng chịt đầy hoa mỹ ấy đã biến không ít người học thức mà tiêu biểu là Trương Vĩnh Ký thay vì được "lưu danh thiên cổ" trở thành kẻ bị "lưu xú vạn niên". 

Dù thông cảm tới mức nào đi nữa thì con người luôn luôn phải có lý trí suy luận để chịu trách nhiệm về những việc làm đúng, sai, xấu, tốt của mình.

Đáng tội nghiệp cho Trương Vĩnh Ký, quá ngây thơ để không biết được rằng mục đích của các đế quốc Tây phương là lợi dụng tôn giáo và dùng cuốn Thánh Kinh như một lợi khí; để đi chiếm thuộc địa và xâm thực văn hóa bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào mà họ thấy có thể.

Bởi vậy, một người Phi Châu, giám mục Anh giáo Desmond Tutu, được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1984, đã cay đắng phát biểu: "Khi người da trắng đến, họ có cuốn Kinh Thánh, chúng tôi có đất đai. Chúng tôi tin tưởng họ, nhắm mắt cầu nguyện với cuốn Kinh Thánh trong tay. Lúc mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Kinh Thánh còn họ có tất cả đất đai lãnh thổ của chúng tôi".

Ông Nguyễn Đắc Xuân, trong cuốn "Pétrus Trương Vĩnh Ký nhìn từ những khía cạnh và nhận thức khác nhau" viết:

“Nếu lấy tiêu chí Việt gian dành để xếp những tên phản quốc Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan… vận dụng vào Trương Vĩnh Ký thì ta thấy Trương Vĩnh Ký vượt xa những nhà nho nêu trên. Lịch sử Việt Nam cận đại luôn luôn phải nhắc đến Trương Vĩnh Ký như một nhân vật phản diện điển hình.

Đây là trường hợp có một không hai trong lịch sử Việt Nam. Chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ để có một sự đánh giá đúng đắn về tội làm tay sai cho giặc của nhà bác học siêu hình, siêu Việt gian Trương Vĩnh Ký”./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỪNG, LO, MAY!

     Mấy ngày nay hơi mệt, hai ngày tham gia cứu trợ cho bà con vùng ngập lũ mắc mưa về sốt ly bì nằm bẹp nên không trả lời tin nhắn hay cmt của bạn bè được. Chiều nay, lướt mạng thấy mừng, lo và may.

1. Mừng: Trước sự đấu tranh quyết liệt của công luận đặc biệt là các Cựu Chiến binh dẫn đầu là Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn cùng hàng loạt các facebooker trẻ tuổi phản đối việc xét lại một số nhân vật lịch sử trước nay Đảng, Nhà nước, Nhân dân đã coi là kẻ tay sai, bán nước; nay một vài địa phương tôn vinh, đặt tên đường buộc một số tạp chí, tờ báo gỡ bài, thay tựa đề. Mừng vì báo Quân đội Nhân dân, “Lá chắn thép” của Đảng đã vào cuộc, có bài phê phán, đăng tải ý nguyện của các tướng lĩnh cùng bộ phận lớn nhân dân yêu cầu Nhà nước phải ban hành Luật bảo vệ sự thật của lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ.

2. Lo: là vì trong xã hội hiện nay đã hình thành “một lực lượng đối lập” dù chưa đủ lực nhưng là nguy cơ hiện hữu của sự phân hoá tư tưởng, bạo động “cách mạng đường phố”. Họ là những trí thức có tư tưởng khai phóng của phương tây với quan điểm tự do nghiên cứu, tự do phản biện, học thuật không chịu sự chi phối, quản lý của chính quyền. Họ cho rắng nghiên cứu lịch sử, viết lịch sử là phải trung lập, không được mang tính Đảng, tính giai cấp. Những bài viết của họ mang tính “dẫn dắt, định hướng” lôi kéo một bộ phận nhỏ trong xã hội. Đáng ngại đã có một số người len lỏi vô trong các cơ quan truyền thông của Đảng. Bên cạnh tầng lớp tri thức cấp tiến là những người sống trong chế độ cũ có hệ tư tưởng đối lập; là những kẻ bất mãn chống phá chế độ và một bộ phận nhỏ thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, hùa theo đám đông. 

Trên mạng xã hội, bên cạnh một số facebooker “ôn hoà” trong tranh luận, còn lại là các fb ảo, “khoá trang” dùng lời lẽ thô tục, thiếu văn hoá xúc phạm những người “không theo” họ. Thiết nghĩ Nhà nước, Công An cần siết chặt Luật an ninh mạng đối với các fb ảo xúc phạm nhân phẩm, đe doạ tính mạng của người khác.

3. May: là vì trước sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc đã có rất nhiều tầng lớp trong xã hội đứng lên bảo vệ sự thật của lịch sử đã ghi bằng máu xương của cả một dân tộc. Họ không im lặng, họ không vô cảm; họ chấp nhận đối đầu bất chấp các lời đe doạ tính mạng thân thể, xúc phạm, nhục mạ danh dự cá nhân. Đối với họ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ chế độ; không thể chấp nhận “bản sắc văn hoá địa phương” đặt lên trên lợi ích dân tộc bởi Cha ông họ đã hy sinh xương máu để họ có được cuộc sống yên bình hôm nay. Họ thấy được cái giá của hoà bình, nỗi đau của chiến tranh nên họ không cho phép bất cứ kẻ nào đảo ngược dòng chảy lịch sử ngàn đời của dân tộc./.


Khuyết danh ST.

SAU VOA TIẾNG VIỆT THÌ NGÀY 31/10/2025 ĐẾN PHIÊN RFA TIẾNG VIỆT BỊ CẮT GIẢM KINH PHÍ BUỘC PHẢI NGƯNG HOẠT ĐỘNG!

     Như vậy, hiện tại còn mỗi BBC Tiếng Việt là hoạt động cầm chừng.

Việc RFA và VOA Tiếng Việt đóng cửa là một dấu hiệu cho thấy sự thay đổi chiến lược truyền thông đối ngoại của Mỹ và phương Tây trong thời đại vị thế của Việt Nam ngày càng tăng mạnh kể cả từ ngoại giao đến địa chính trị.

Đối với Việt Nam, đây là cơ hội để củng cố hệ thống thông tin chính thống và nâng cao khả năng đấu tranh phản bác trên không gian mạng, đặc biệt là phải cảnh giác với các kênh truyền thông xã hội ẩn danh và cá nhân đang trỗi dậy theo kiểu "giả đỏ đánh đỏ" hoặc phông bạt mác "nhà báo tự do" đang "cư trú nước ngoài" đưa tin thật giả lẫn lộn nhằm thay thế vai trò của các đài truyền thống này... những kẻ này có thể tạm thời không sao, có điều những người trong nước bị chúng xúi giục, lôi kéo chống phá thì rất dễ bị pháp luật xử lý./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH “SẼ XEM XÉT, XIN Ý KIẾN TĂNG LƯƠNG CƠ SỞ SỚM HƠN”!

     Thảo luận về tình hình thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước; phương án phân bổ ngân sách Trung ương và kết quả thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội, ngày 30-10, đại biểu Quốc hội đề xuất tăng lương cơ sở ngay từ đầu năm 2026, không chờ đến giữa năm như giai đoạn trước.

Liên quan đến đề xuất điều chỉnh tăng lương cơ sở từ ngày 1-1-2026, theo đại biểu Quốc hội, việc này sẽ góp phần đảm bảo cuộc sống cho đối tượng hưởng lương và thu hút, trọng dụng người tài làm việc trong cơ quan Nhà nước.

Phát biểu thảo luận ngày 29-10, đại biểu Trần Quốc Tuấn (đoàn Vĩnh Long) cho biết, sau gần 4 tháng kể từ khi chính thức triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính của chúng ta đã “nhẹ hơn” về đầu mối, nhưng “nặng hơn” về công việc. Cán bộ, công chức ở nhiều địa phương, nhất là cấp cơ sở phải đi làm xa hơn, làm nhiều việc hơn, mà thu nhập thì không khá hơn.

Nhấn mạnh nâng cao đời sống cán bộ là nâng cao chất lượng bộ máy, đại biểu kiến nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét điều chỉnh tăng lương cơ sở ngay từ ngày 1-1-2026, không chờ đến giữa năm như các giai đoạn trước.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân (đoàn Hưng Yên) cho rằng, cần có cơ chế, chính sách giữ chân đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giỏi, lao động tích cực trong bộ máy Nhà nước. Trong đó, chính sách về lương cần được quan tâm đầu tiên, vì chỉ khi có đủ kinh tế lo cho cuộc sống gia đình ổn định, họ mới có thể tập trung cho công việc.

Theo đại biểu, lương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay đã tăng nhưng chưa đảm bảo. Cần đưa ra mức thu nhập trung bình mỗi tháng của công chức, viên chức từ 15 triệu đồng trở lên.

Cũng về chính sách tiền lương, có đại biểu kiến nghị Chính phủ sớm xây dựng khung vị trí việc làm, chính sách tiền lương, bảng lương cho toàn thể những người được hưởng lương Nhà nước, trong đó có các khoản phụ cấp chức vụ, lĩnh vực, địa phương, đặc thù, tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi cấp có bảng lương riêng và cứ mỗi luật chuyên ngành thì lại có chính sách riêng như hiện nay. Đồng thời, phải công khai, minh bạch để người dân được biết.

Giải đáp vấn đề này, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết sẽ xem xét, cân đối, xin ý kiến các cấp có thẩm quyền, trong đó có Quốc hội, để tăng lương sớm hơn./.
Môi trường ST.

VÌ SAO PHẢI KIÊN QUYẾT NÓI KHÔNG VỚI BỆNH KIÊU NGẠO?

     Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng đến việc đấu tranh phòng, chống bệnh kiêu ngạo trong Đảng. Người nêu rõ một trong những đức tính đầu tiên mà cán bộ cần phải có, là: “Không tự kiêu, không có cái bệnh làm “quan cách mạng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện cụ thể cùng hậu quả nghiêm trọng của bệnh kiêu ngạo. Những nội dung này được thể hiện sinh động trong các tác phẩm, bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), bài “Bệnh tự kiêu, tự ái” đăng báo Sự thật (15-11-1948), bài “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” đăng báo Nhân dân (6-1954)… Qua những tác phẩm, bài báo trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: bệnh kiêu ngạo biểu hiện trong công tác khi có được ít nhiều thắng lợi hay thành tích thì lên mặt công thần, anh chị; chỉ trông thấy những việc mình làm được, những điều mình tưởng mình biết hết mà không trông thấy những điều bản thân không biết, những việc bản thân chưa làm được. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích cụ thể: ở trong Đảng, kiêu ngạo thì vi phạm các nguyên tắc của Đảng: không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, coi thường, phớt lờ kỷ luật và chính sách của Đảng, Chính phủ; không chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Trong quan hệ cấp trên, cấp dưới thì kiêu ngạo xem thường chỉ thị cấp trên, coi khinh ý kiến cấp dưới, xa lánh những người tính trực nói thẳng, thân với những kẻ xu nịnh tâng bốc mình. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu những hậu quả nhiều mặt của bệnh kiêu ngạo đối với Đảng và cán bộ, đảng viên. Người đánh giá: “Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại”, “tự kiêu là mù quáng”. Người phân tích: “Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”, vì kiêu ngạo mà lười biếng không chịu học tập để nâng cao trình độ của mình; cũng vì kiêu ngạo mà trong công tác thì xa rời nhân dân, xa rời quần chúng…

Để khắc phục bệnh kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhiều giải pháp, cách làm, trong đó yêu cầu Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đấu tranh quyết liệt với chủ nghĩa cá nhân, phải khiêm tốn, theo tinh thần: “Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan”. Người thường xuyên căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên không ngừng coi trọng việc xây dựng, phát huy đức tính khiêm tốn, khắc phục, loại bỏ những biểu hiện kiêu ngạo, nhấn mạnh càng có công lao, thành tích càng phải khiêm tốn. Điển hình như vào năm 1967, khi gặp các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc nhở: “… Các anh hùng và các đơn vị anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn, không được kiêu ngạo. Phải luôn luôn đoàn kết giúp đỡ nhau, cố gắng học hỏi, không ngừng sản xuất, công tác và chiến đấu để tiến bộ mãi, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa, làm trọn mọi nhiệm vụ”.

Thực hiện tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc đấu tranh với bệnh kiêu ngạo, góp phần thiết thực để Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ. Trong thời kỳ lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước 40 năm qua, nhiều chủ trương, giải pháp đã được Đảng ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả nhằm ngăn chặn, khắc phục bệnh kiêu ngạo. Đảng xác định những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà cán bộ, đảng viên phải phòng, tránh, trong đó có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống với biểu hiện kiêu ngạo: “Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng, “chạy danh hiệu”. Tại Điều 5, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới đã chỉ rõ: “Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm”. 

Các chủ trương, quy định, biện pháp phòng, chống bệnh kiêu ngạo được các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên kịp thời quán triệt, tổ chức thực hiện và chấp hành nghiêm túc. Nhờ vậy, đã góp phần thiết thực để chúng ta thực hiện được những yêu cầu của Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Với cơ chế, tiêu chí sàng lọc thật sự hiệu quả, chúng ta đã không bỏ “sót” những cán bộ thật sự có đức, có tài; đồng thời, không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những cán bộ bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém, mất đoàn kết; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; những cán bộ có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cục bộ, “lợi ích nhóm”, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Chúng ta cũng ngăn chặn, không để vào cấp ủy mới những cán bộ vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vi phạm tiêu chuẩn chính trị, những điều đảng viên không được làm và quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ… Qua đó, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục giữ vững và tăng cường sự tiên phong, gương mẫu, được nhân dân tin tưởng và đồng hành bước vào kỷ nguyên mới của đất nước.

Thành công này cũng đã bác bỏ những thông tin sai trái, xấu, độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khi chúng cố tình bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam mắc bệnh kiêu ngạo, cán bộ, đảng viên chỉ thích khoe khoang công lao, thành tích, xa rời nhân dân, như trên cái gọi là “Nguyễn Văn Đài và Fans” cố tình vu cáo những người cộng sản Việt Nam: “là một bọn người kiêu ngạo, cuồng tín”… Chúng còn trắng trợn quy kết bệnh kiêu ngạo là căn bệnh nan y mà Đảng Cộng sản không muốn chữa và cũng chẳng bao giờ chữa được… 

Tự hào, vững tin vào Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, từng cán bộ, đảng viên chúng ta cần chủ động, tự giác rèn luyện phấn đấu, khiêm tốn, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân… để thiết thực nói không với bệnh kiêu ngạo, thiết thực xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc./.
Yêu nước ST.

BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ – NGỌN LỬA TRI THỨC TRONG THANH NIÊN QUÂN ĐỘI!

     Nếu như phong trào Bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã góp phần “diệt giặc dốt”, đem ánh sáng tri thức đến với toàn dân, thì trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, phong trào “Bình dân học vụ số” đang trở thành nhiệm vụ mới - diệt “giặc mù công nghệ”, nâng cao năng lực số cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên quân đội.

Với tinh thần học tập suốt đời, thanh niên quân đội đang tích cực tiếp cận và làm chủ tri thức khoa học - công nghệ, sử dụng thành thạo các nền tảng số, phần mềm quản lý, mô phỏng huấn luyện, cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ huy, huấn luyện và công tác. Phong trào “Bình dân học vụ số” giúp thích ứng nhanh với chuyển đổi số trong quân đội, góp phần xây dựng cho người cán bộ có trí tuệ, bản lĩnh, sáng tạo.

Ngày nay, trong thời đại mới, phong trào Bình dân học vụ số vẫn được kế thừa và phát huy hàng ngày, hàng giờ trong quân đội thông qua các phong trào học tập, tự rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, khoa học, kỹ thuật. Ánh sáng tri thức vẫn đang soi đường cho thế hệ trẻ quân đội tiếp bước cha anh, xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẢO ĐẢM CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG TƯƠNG XỨNG!

     Thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội trong khuôn khổ Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, một số đại biểu cho biết, trước kỳ họp Quốc hội, nhiều cán bộ, công chức đã gửi gắm đề nghị sớm cải cách tiền lương để thu nhập xứng đáng với công sức lao động và đủ sức giữ chân cán bộ trong bộ máy.

Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, các cán bộ, công chức thuộc diện nghỉ việc, nghỉ hưu trước tuổi được hưởng chế độ vượt trội. Tuy nhiên, đội ngũ tiếp tục ở lại công tác phải đảm nhận khối lượng công việc lớn hơn, vất vả hơn, trách nhiệm nặng nề hơn, trong khi lương không thay đổi, thậm chí thu nhập thực tế giảm đi do phải công tác xa nhà. Đây là điều khiến nhiều người băn khoăn.

Vì vậy, các đại biểu kiến nghị Chính phủ sớm đề xuất với Quốc hội về lộ trình cải cách chính sách tiền lương sau sắp xếp tổ chức bộ máy.

Kiến nghị của đại biểu Quốc hội rất xác đáng. Đây cũng là tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, công chức-những người đang ngày đêm khắc phục mọi khó khăn, tích cực làm việc, góp phần quan trọng vận hành ổn định, thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Qua 4 tháng hoạt động, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã và đang phát huy hiệu quả, mang lại lợi ích rất lớn không chỉ về mặt chính trị, xã hội mà còn cả về mặt kinh tế. Đơn cử, chỉ tính riêng khoản chi thường xuyên tiết kiệm được do giảm biên chế đã lên tới 39.000 tỷ đồng mỗi năm. Một phần khoản tiền này có thể nghiên cứu tính toán để sử dụng làm nguồn cải cách chính sách tiền lương.

Cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình phù hợp, bảo đảm thu nhập tương xứng với công sức lao động là việc làm cấp thiết nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức làm việc, thu hút, giữ chân người tài, đồng thời cũng là khâu quan trọng trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại bộ máy./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

CHIA SẺ TIN GIẢ - NGỘ NHẬN HAY VÔ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN?

     Tin giả và tin sai sự thật đang trở thành một trong những “dịch bệnh” nguy hiểm của kỷ nguyên số. Chỉ với một cú nhấp chuột, thông tin độc hại có thể lan đi với tốc độ khủng khiếp, phá hoại niềm tin của nhân dân, bôi nhọ uy tín của tổ chức, làm tổn hại hình ảnh đất nước... Vậy đâu là trách nhiệm của công dân khi đứng trước dòng chảy hỗn tạp của thông tin?

Tin giả - hiểm họa thật

Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không gian sống với tính chất hai mặt rõ ràng, cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Hòa mình vào không gian mạng là nhu cầu tất yếu của mỗi con người, song làm chủ hành vi của bản thân trên không gian mạng lại là một thách thức không hề nhỏ đối với mỗi cá nhân. Trong đó, tin giả chính là một hiểm họa khôn lường, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho người dùng tin và xa hơn là nguy cơ đối với sự ổn định, an ninh, hòa bình của quốc gia, dân tộc. Do đó, chủ động, tích cực phòng, chống tác hại của “fakenews” không chỉ là biện pháp tự bảo vệ, mà còn là trách nhiệm của mọi công dân.

Năm 2023, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) - Mỹ công bố kết quả nghiên cứu cho thấy: “So với tin thật, tin giả lan truyền nhanh hơn đến 6 lần”. Cùng năm, UNESCO cũng đưa ra cảnh báo: “Tin giả lan nhanh gấp 6 lần tin thật và để lại hậu quả lâu dài về chính trị, kinh tế, xã hội”. Một nghiên cứu khác của Viện Báo chí Quốc tế (IPI) cho thấy: “75% tin giả trên mạng xã hội được chia sẻ lại mà người dùng không kiểm chứng, tạo thành vòng xoáy độc hại trong môi trường truyền thông toàn cầu”.

Nhận thức rõ mức độ nguy hại của tin giả, nhiều nước trên thế giới đã chủ động đưa ra các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn. Cụ thể như ở Đức, nước này đã xem xét dự luật xử phạt hành chính, có điều khoản xử phạt lên đến 50 triệu euro đối với các công ty công nghệ, mạng xã hội chậm chạp trong việc xử lý tin giả, kích động và tin bôi nhọ, phỉ báng. Hay ở khu vực Đông Nam Á, một số nước như Singapore, Indonesia, Malaysia... đã ban hành các đạo luật về chống tin giả.

Tại Việt Nam, tác động nghiêm trọng của tin giả đã được ghi nhận rõ rệt, điển hình như thời kỳ dịch bệnh Covid-19 bùng phát, hàng loạt thông tin bịa đặt, sai sự thật về “thuốc đặc trị”, “ổ dịch chưa được công bố”, “sự thật về Covid-19”... đã lan truyền với tốc độ chóng mặt, gây hoang mang dư luận và cản trở công tác phòng, chống dịch của các lực lượng chức năng. Tiếp nữa, trong các vấn đề về chủ quyền biển đảo cũng có rất nhiều luận điệu xuyên tạc, méo mó, gây ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta.

Đặc biệt, gần đây, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tự hào, phấn khởi tổ chức đại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945/19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945/2-9-2025), trên không gian mạng, các tài khoản phản động đã rêu rao đó là sự “phô trương”, “hình thức”, “lãng phí”... Cùng với đó là vô số tin, bài bôi nhọ lãnh đạo, hạ thấp uy tín của cơ quan, đơn vị, làm giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị...

Trên thực tế, mặc dù nước ta chưa có Luật Chống tin giả, nhưng những nội dung liên quan tới tin giả đã được nhắc tới trong một số bộ luật, văn bản quy phạm pháp luật, điển hình là Luật An ninh mạng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, vấn đề “then chốt của then chốt”, đóng vai trò quyết định trong hạn chế, ngăn chặn sự lan truyền của tin giả, đó là ý thức cảnh giác và trách nhiệm của người dùng tin.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, cho rằng: “Tin giả là con dao hai lưỡi, nó vừa đe dọa an ninh tư tưởng, vừa phá hoại môi trường truyền thông lành mạnh. Nếu công dân không nâng cao sức đề kháng trước thông tin giả, bất kỳ ai cũng có thể trở thành công cụ tiếp tay.”

Ngộ nhận hay vô trách nhiệm?

Tin giả trên không gian mạng thường có tiêu đề giật gân; nội dung đề cập đến những vấn đề nóng mà dư luận quan tâm; thông tin mập mờ, không có nguồn gốc rõ ràng... nên dễ kích động, gây sự tò mò, thậm chí là có thể thỏa mãn những cảm xúc nhất thời của người dùng tin, làm cho một bộ phận công chúng vội vàng bày tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ, thậm chí là chia sẻ, phát tán mà không xác minh.

Cần nhớ rằng, trong kỷ nguyên số, mỗi công dân là một “tòa soạn thu nhỏ”, chỉ một cú click chuột cũng có thể đưa thông tin sai lệch đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người, làm ảnh hưởng ở nhiều cấp độ khác nhau đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và gây thiệt hại về kinh tế...

Khi bị chất vấn vì chia sẻ tin giả, nhiều người biện minh: “Tôi chỉ thấy hay nên chia sẻ, đâu ngờ nó sai”. Đây là ngộ nhận phổ biến, phản ánh lỗ hổng về nhận thức thông tin. Không ít trường hợp cố ý chia sẻ tin giả để trục lợi cá nhân hoặc phục vụ mục đích chống phá. Đây không còn là ngộ nhận mà là hành vi vô trách nhiệm, cố tình vi phạm pháp luật. Điển hình như vụ việc được Cổng Thông tin Công an tỉnh Quảng Trị đưa tin ngày 23-1-2025. Sự việc diễn ra tại Cảng hàng không Đồng Hới khi một thanh niên có tên N.T.T.N (sinh năm 2002, trú tại phường 10, quận 11, TP Hồ Chí Minh) thực hiện hành vi chia sẻ video với nội dung sai sự thật: “Xuyên không vào thế giới khác không có ai”, “Tôi không chắc ở đây có an toàn cho mình không”, “Tôi đang cố gắng tìm kiếm thức ăn và nước uống sau nhiều ngày bị mắc kẹt”... đã có nhiều bình luận mang tính chất suy đoán, tiêu cực, gây hoang mang dư luận. Tại cơ quan Công an, N.T.T.N thừa nhận toàn bộ hành vi quay video có lời thoại, tiêu đề sai sự thật về các hoạt động tại Cảng hàng không Đồng Hới để đăng tải lên các nền tảng Tiktok, Facebook, Youtube nhằm mục đích tăng tương tác “câu like, câu view”.

Bàn về vấn đề nêu trên, PGS, TS Trần Quang Diệu, Vụ trưởng, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích: Sự phát triển của văn hóa ứng xử trên không gian mạng tại Việt Nam đang thiếu đi tính đồng bộ, dẫn đến những thách thức trong việc định hình bản sắc văn hóa số quốc gia. Khi một bộ phận người dùng chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng số cơ bản và ý thức trách nhiệm công dân số, họ dễ dàng bị cuốn theo hiệu ứng đám đông, dẫn đến hành vi lan truyền tin giả hoặc làn truyền thông tin sai lệch mà không xác minh. Sự thiếu hụt năng lực số toàn diện này tạo ra một "khoảng cách số" nguy hiểm, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa và người lớn tuổi. Hành vi này không chỉ mâu thuẫn với các giá trị văn hóa Việt truyền thống, mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt pháp lý và làm xói mòn niềm tin số trong xã hội.

Tất nhiên, chia sẻ tin giả dù là do thiếu hiểu biết hay có chủ đích đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, đúng với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Cụ thể, theo Khoản 1, Điều 8, Luật An ninh mạng đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng, trong đó có: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

Công dân số - “hàng rào thép” bảo vệ xã hội

Trong bối cảnh tin giả đã và đang trở thành vấn nạn của toàn cầu, tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội với tính chất, mức độ khác nhau, để nâng cao hiệu quả phòng, chống, ngăn chặn, hạn chế ảnh hưởng của “làn sóng” thông tin độc hại, không chỉ đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các tổ chức, mà điều quan trọng nhất là phải khơi dậy, phát huy cao độ trách nhiệm của từng cá nhân, thực hiện mỗi người dân là một công dân số - một “mắt xích” tạo nên “hàng rào thép” bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội. Đây là điều đã được ông Michael Anti, chuyên gia truyền thông độc lập (Trung Quốc), nhấn mạnh: “Trong xã hội hiện đại, công dân có nghĩa vụ như một người gác cổng thông tin. Nếu mỗi người không tự lọc tin giả, thì không một bộ luật nào đủ sức cứu không gian mạng”. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều giải pháp, từ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; cơ chế chính sách và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý..., trọng tâm là:

Tuyên truyền, giáo dục, trang bị kỹ năng số và tư duy phản biện thông tin cho nhân dân. Theo đó, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng sinh tồn cơ bản trên không gian mạng; biết cách nhận diện và đấu tranh với những thông tin xấu, độc; chỉ tiếp nhận và chia sẻ thông tin từ nguồn chính thống, như: Báo chí cách mạng, truyền hình trung ương và địa phương, cổng thông tin của các cơ quan Nhà nước...; chủ động kiểm tra chéo giữa nhiều nguồn khác nhau để xác thực tính minh bạch, chính xác của thông tin, nhất là đối với những nội dung nhạy cảm, liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh...; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin giật gân chưa rõ nguồn gốc.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, ban ngành, đoàn thể... cần chủ động xây dựng văn hóa số, đạo đức số cho cán bộ, đảng viên và quần chúng thuộc quyền dựa trên nguyên tắc: “Nghe, nhìn có chọn lọc - bình luận có văn hóa - đăng tải có trách nhiệm - chia sẻ có cân nhắc”; thay vì tương tác với những thông tin xấu, độc, mỗi người, mỗi ngày hãy chia sẻ cho nhau một tin tốt để góp phần xây dựng không gian mạng trong sạch, an toàn hơn.

Phát huy tốt vai trò của báo chí và cơ quan ngôn luận trong cung cấp thông tin, định hướng dư luận, kịp thời “dập tắt” hiệu ứng lan truyền của thông tin xấu độc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, phải quy rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp phát tán thông tin sai sự thật để tạo tính răn đe. Cần quan tâm xây dựng đội ngũ chuyên trách; tăng cường ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến; đồng thời, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống pháp luật về phòng, chống tin giả.

Ngày nay, cuộc chiến chống tin giả không chỉ là nhiệm vụ của riêng một tổ chức, cá nhân nào mà đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đồng thời, là thước đo văn hóa công dân số. Mỗi cá nhân cần nhận thức sâu sắc rằng: Chia sẻ tin giả là hành vi nguy hại không kém gì tạo ra tin giả và đấu tranh với tin giả phải là hành động tự giác của mỗi công dân - những “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng trong kỷ nguyên số. Khi từng người biết tự kiểm chứng, tự “miễn dịch” trước thông tin độc hại, xã hội mới xây dựng được môi trường truyền thông minh bạch, đáng tin cậy và vững vàng trước mọi thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.
Ảnh minh họa: Tin giả và tin sai sự thật đang trở thành một trong những “dịch bệnh” nguy hiểm của kỷ nguyên số.
Khuyết danh ST.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ LUẬT BẢO VỆ SỰ THẬT LỊCH SỬ!

1. Lịch sử - nền tảng của niềm tin và bản sắc dân tộc, một bộ phận của nền tảng tinh thần xã hội.

Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua hơn bốn ngàn năm là bản anh hùng ca bất khuất, tài sản tinh thần vô giá mà biết bao thế hệ đã dày công vun đắp bằng máu xương và mồ hôi, nước mắt. Sự thật lịch sử là cội nguồn của niềm tin, nền tảng tư tưởng, văn hóa tạo nên sức mạnh tinh thần giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đứng vững trước mọi phong ba bão táp, để giành và giữ gìn nền độc lập của dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, lực lượng cơ hội trong nước đã triệt để lợi dụng sự phát triển của mạng lưới truyền thông, nhất là trên không gian mạng để xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta trong thế kỷ XIX, XX, nhất là những vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Rất nhiều video, bài viết, ấn phẩm cố tình “lật sử", “đổi trắng thay đen", biến tội thành công, ca ngợi ngụy quyền Sài Gòn, bỏ cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn", xuyên tạc, phủ nhận tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, chống xâm lược, gieo rắc hoài nghi vào thế hệ trẻ. Những biểu hiện này đã và đang diễn biến giống như đã xảy ra ở Liên Xô, Đông Âu trước đây.

Thực tiễn đó đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý đủ mạnh, một đạo luật chuyên biệt về bảo vệ sự thật lịch sử, nhằm khẳng định chân lý bảo vệ danh dự dân tộc, củng cố niềm tin xã hội, xây đắp lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Cơ sở lý luận: Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và quần chúng là người làm nên lịch sử; lịch sử là quá trình phát triển khách quan do con người sáng tạo trong những điều kiện cụ thể. Mác đã khẳng định: “Chính con người, chứ không phải lịch sử, làm nên sự kiện; nhưng họ không làm theo ý muốn chủ quan của mình, mà trong những điều kiện khách quan đã được lịch sử để lại". Quan điểm đó khẳng định tính khách quan, trung thực, là nguyên tắc cơ bản khi nhận thức, nghiên cứu và viết về lịch sử (điều này bác bỏ hoàn toàn tư duy của chế độ phong kiến, tư bản: Viết sử là viết theo quan điểm của bên thắng, do vậy mọi sự xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận sự thật lịch sử điều là hành vi phản khoa học, phi lịch sử, cần phải kiên quyết đấu tranh).

Với Bác Hồ, Người luôn coi trọng sự thật lịch sử. Ngay từ khi mới trở về nước, Người đã viết bài diễn ca "Lịch sử nước ta" mở đầu bằng hai câu: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Bác khẳng định: “Viết sử phải viết đúng sự thật, không được thêm bớt, thiên lệch". Như vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết và nói đúng sự thật lịch sử không chỉ là trách nhiệm, mà còn là tư cách đạo đức của người viết sử cách mạng.

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn khẳng định: Lịch sử là sự thật khách quan, không ai được phép xuyên tạc, bóp méo. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (năm 2011) đã nêu: “Phát huy giá trị truyền thống và lịch sử dân tộc; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Kết luận số 21-KL/TƯ khóa XIII nhấn mạnh: "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bôi nhọ lãnh tụ, phủ nhận lịch sử cách mạng". Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã xác định rõ: “Bảo vệ sự thật lịch sử là một bộ phận quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Sinh thời, trong bài phát biểu của mình tại hội nghị tuyên giáo toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định rõ: “Không có gì quý hơn sự thật. Phải tôn trọng sự thật lịch sử, nói đúng, viết đúng sự thật - đó là đạo đức của người làm cách mạng".

Tất cả những vấn đề nêu trên khẳng định, về lý luận, Đảng ta luôn khẳng định lịch sử là sự tồn tại khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc do nhân dân Việt Nam làm nên. Do đó, người cách mạng phải nói đúng và viết đúng sự thật lịch sử, không ai được phép núp dưới mọi danh nghĩa để bóp méo, xuyên tạc và phủ nhận sự thật lịch sử đó.

3. Thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế. Ở nước ta, đã có những biểu hiện khá rõ nét trong việc bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử như: Phủ nhận sự thật về Anh hùng Lê Văn Tám, Anh hùng Tô Vĩnh Diện, xuyên tạc tấm gương anh hùng của chị Võ Thị Sáu, bóp méo sự hy sinh anh dũng của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều nhân vật đã được lịch sử khẳng định là phản quốc, nay họ lại xới lên tranh cãi và ngang nhiên yêu cầu đặt tên đường, tên công trình theo tên những nhân vật đó, bất chấp quy định trong Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng: "Những nhân vật lịch sử còn có sự đánh giá khác nhau, chưa đưa vào đặt tên đường, tên công trình"; đòi bỏ không dùng cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền" với cách lý giải hết sức phản khoa học. Cùng với những vấn đề đó, họ ngang nhiên xúc phạm, xuyên tạc tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Gần đây nhất, khi Điện ảnh Quân đội nhân dân công chiếu bộ phim "Mưa đỏ", một số người tìm cách hạ thấp, đi đến phủ nhận tội ác dã man của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, ngang nhiên hát những bài hát ca ngợi lính ngụy.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có luật về bảo vệ lịch sử như: Pháp ban hành Luật Gayssot xử lý hình sự tội phủ nhận tội ác chiến tranh, Đức ghi rõ xử tù đến 5 năm việc phủ nhận tội ác diệt chủng của phát xít, Nga ban hành Luật trừng phạt hành vi xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại... Những đạo luật không nhằm áp đặt tư tưởng, mà để bảo vệ chân lý, ngăn chặn chiến tranh thông tin, tư tưởng để duy trì niềm tin, củng cố lòng yêu nước, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ những vấn đề nêu trên, trước yêu cầu về lý luận và thực tiễn đặt ra, cần phải có cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ sự thật lịch sử. Song, cho đến hiện nay, vẫn chưa có một đạo luật riêng, mà chỉ có những quy định nằm rải rác trong các luật về báo chí, xuất bản, an ninh mạng... chưa tạo thành khung pháp lý thống nhất đủ sức giáo dục, thực hiện và răn đe những ai cố tình vi phạm.

Bài học rút ra từ thế giới, ngay từ bây giờ, muốn bảo vệ sự thật lịch sử, phải bằng công cụ đủ mạnh, có cơ chế xử lý thống nhất, đồng bộ, kết hợp giữa luật pháp với tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu khoa học và thông tin truyền thông. Chỉ có như vậy, chúng ta mới ngăn chặn hiệu quả âm mưu, thủ đoạn "rút gạch dưới chân tường" trong khoa học lịch sử, mới bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mới không đi theo vết xe đổ ở Liên Xô và Đông Âu, mới bảo vệ được thành quả cách mạng, mới tạo nên sức mạnh vững bước vào thời kỳ mới, thời kỳ vươn mình giàu mạnh và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
Ảnh: Một cảnh phim "Mưa đỏ".
Bài viết của Trung tướng NGUYỄN THANH TUẤN, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn TCCT.
Yêu nước ST.

ĐẢNG TRONG CUỘC SỐNG HÔM NAY: VỊ THẾ, UY TÍN CỦA ĐẢNG NGÀY CÀNG NÂNG CAO!

     Trong tiến trình lịch sử Việt Nam gần một thế kỷ qua, chưa có lực lượng chính trị nào giữ vai trò, vị thế và uy tín lớn lao như Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là niềm tin vững bền của nhân dân.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đảng tiếp tục khẳng định tầm vóc, bản lĩnh và trí tuệ, đưa đất nước vững vàng tiến lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Lịch sử hơn 95 năm qua đã chứng minh chân lý: Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Ngay từ khi ra đời (ngày 3-2-1930), Đảng đã mang sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam: Lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc. Dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã quy tụ, tập hợp, hun đúc và phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biến khát vọng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội thành hiện thực sinh động.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò lãnh đạo của Đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đảng không chỉ là danh dự, lương tâm, trách nhiệm, là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối mà còn là linh hồn, nhân tố bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Tương lai và tiền đồ của dân tộc Việt Nam nhất định được Đảng phát huy cao độ, đưa đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới: Hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Niềm tin và sức mạnh của Đảng qua những mốc son lịch sử

Trong suốt 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã chứng minh bản lĩnh, trí tuệ và năng lực cầm quyền bằng những thắng lợi vĩ đại, làm rạng rỡ dân tộc, củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vang dội, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta từ thân phận nô lệ lầm than trở thành chủ nhân đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt ách thống trị gần một thế kỷ, khẳng định sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng. Tiếp đó, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa dân tộc ta bước vào thời kỳ phát triển mới-xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta cũng đã lãnh đạo toàn dân và toàn quân đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, kiên cường chống lại bọn phản động FULRO. Đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, đem lại hòa bình và hồi sinh cho đất nước Chùa tháp; giúp nhân dân Lào xây dựng cuộc sống mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong gần 40 năm đổi mới (từ năm 1986 đến nay), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân ta đổi mới toàn diện, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Kinh tế tăng trưởng bền vững, đời sống nhân dân và bộ đội không ngừng cải thiện, quốc phòng, an ninh được tăng cường, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được khẳng định. Những thành tựu vĩ đại ấy là kết tinh của đường lối đúng đắn, của niềm tin son sắt của nhân dân vào Đảng-một Đảng hết lòng vì nước, vì dân, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, giữ vững bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và uy tín cầm quyền.

Đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, đất nước ta đứng trước thời cơ lớn, song cũng không ít khó khăn, thách thức gay gắt. Trong bối cảnh ấy, việc phát huy thành tựu và những bài học kinh nghiệm hơn 95 năm lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững tin xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng.

Hành trang chúng ta đem theo vào kỷ nguyên phát triển mới là lịch sử truyền thống tốt đẹp và những bài học kinh nghiệm quý báu.

Bài học lớn đầu tiên là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội-nền tảng tư tưởng và con đường tươi sáng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Kiên định không phải bảo thủ, mà là kiên định trong mục tiêu, linh hoạt trong phương pháp; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy nhân dân làm trung tâm, làm mục tiêu, động lực của mọi chính sách phát triển.

Bài học thứ hai là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đảng ta luôn khẳng định “dân là gốc”, “lòng dân là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng”. Vì thế, phải thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm thước đo giá trị của năng lực lãnh đạo và uy tín cầm quyền của Đảng.

Bài học thứ ba là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, đặc biệt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng phải luôn tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước và nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Cùng với đó, Đảng cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, chủ động nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Những thành tựu, bài học kinh nghiệm quý báu là nền tảng vững chắc để Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế, uy tín trong lòng dân tộc và trên trường quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của dân tộc Việt Nam-mãi mãi là ngọn cờ đoàn kết, là niềm tin, là trí tuệ, là lương tâm của thời đại, lãnh đạo đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, Quân đội ta đặt trọn niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; vững vàng trên trận tuyến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đó cũng là lời hứa sắt son, là quyết tâm chính trị của Quân đội ta, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên mới./.
Ảnh: Tiết mục nghệ thuật trong Chương trình “80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”.
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN DÂN SÁT CÁNH giữ KÈ AN LƯƠNG!

     Những ngày qua, tuyến kè biển An Lương thuộc xã Duy Nghĩa (TP Đà Nẵng) bị xâm hại nặng, nhiều điểm sạt lở, khoét sâu vào đất liền, kéo dài cả trăm mét, gần 200 nhà dân cùng tuyến đường ven biển và các công trình công cộng đứng trước nguy cơ bị nước cuốn trôi.

Bà Đoàn Thị Quý, một người dân định cư lâu năm tại đây vừa lau nước mắt vừa ngậm ngùi: “Bờ kè là chỗ chúng tôi làm kế sinh nhai, trao đổi buôn bán sau những chuyến bám biển dài ngày, giờ trôi hết biết lấy gì làm ăn”.
 
Trước tình huống khẩn nguy, trong ngày 29 và 30-10, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 315, Quân khu 5 có mặt cùng nhân dân dốc sức "chiến đấu" với nước to, sóng lớn, khắc phục sự cố sạt lở.

Giữa trời mưa lớn, nước lũ bủa vây, hành trình giữ tuyến kè chẳng hề dễ dàng, các chiến sĩ và bà con phải xúc đất, đá cách đó hơn 3km cho vào các bao tải; huy động nhiều xe tải chở xuống địa điểm tập kết, sau đó dùng xe đẩy, xe kéo nhỏ đưa xuống các điểm sạt lở.

Do nền kè yếu, sát nhà dân, các phương tiện, máy móc hiện đại hầu như không thể tiếp cận, việc “ngăn sóng, giữ bờ” hầu hết phụ thuộc vào sức người. Ngoài ra, dòng hạ lưu khu vực này chảy mạnh nên các bao tải cát, đá liên tục bị sóng cuốn trôi. Để kịp giữ tuyến kè, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã oằn mình, “trắng đêm, xuyên ngày” vận chuyển hàng trăm khối cát, sỏi gia cố từng điểm sạt lở, đảm bảo an toàn cho nhân dân.

Trao đổi với chúng tôi trong lúc chỉ huy bộ đội, Đại úy Trần Đình An, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 143, Sư đoàn 315 chia sẻ: "Dù vất vả nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị vẫn hết lòng với nhiệm vụ, nhiều chiến sĩ dù đã thấm mệt nhưng vẫn nỗ lực giúp nhân dân giữ vững tuyến kè".

Với những nỗ lực cố gắng của cán bộ, chiến sĩ và người dân, hầu hết các điểm sạt lở được khắc phục kịp thời, tuyến kè biển An Lương vẫn vững vàng trước những cơn sóng dữ.

Nhìn các bao tải ngày càng được gia cố, điểm sạt lở gần nhà từng bước được khắc phục, bà Lê Thị Chín, Trưởng ban công tác mặt trận thôn An Lương vui mừng: “Chúng tôi cảm ơn bộ đội đã có mặt đúng lúc dân cần để giữ nhà, giữ đường, giữ của cho bà con An Lương”./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG TRƯƠNG Thiên TÔ THĂM, TRAO QUÀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO VÙNG LŨ ĐÀ NẴNG!

     Chiều 30-10, đoàn công tác Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn, đã thăm, động viên và trao quà hỗ trợ các hộ dân ở thành phố Đà Nẵng bị thiệt hại nặng bởi thiên tai, mưa lũ.

Với tình cảm, sự sẻ chia đặc biệt, Thượng tướng Trương Thiên Tô thăm hỏi, động viên và trao 100 suất quà của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (mỗi suất trị giá 2,5 triệu đồng, gồm tiền mặt và một số nhu yếu phẩm) tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo, người yếu thế nằm trong tâm lũ của phường Điện Bàn và xã Đại Lộc.

Thay mặt thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thượng tướng Trương Thiên Tô bày tỏ sự sẻ chia trước những mất mát, đau thương của đồng bào các tỉnh miền Trung trong suốt những ngày qua.

Tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, vượt khó vươn lên, cùng sự quan tâm, hỗ trợ, động viên của cả hệ thống chính trị, trong đó có các cán bộ, chiến sĩ LLVT, Quân đội, Công an, dân quân tự vệ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân miền Trung sẽ từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn, thử thách để ổn định lại cuộc sống.

Thượng tướng Trương Thiên Tô yêu cầu Bộ tư lệnh Quân khu 5 và các cơ quan, đơn vị Quân đội đứng chân trên địa bàn chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng các địa phương huy động tối đa vật tư, nhân lực đẩy nhanh tiến độ giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ. Trước mắt, cần ưu tiên giúp các bệnh viện, trường học, công sở, gia đình chính sách, neo người, yếu thế.

Nhân dịp này, Thượng tướng Trương Thiên Tô trao tặng Ban chỉ huy Phòng thủ dân sự phường Điện Bàn và xã Đại Lộc mỗi đơn vị một phần quà của Tổng cục Chính trị trị giá 6 triệu đồng./.


Yêu nước ST.

CÁN BỘ THẾ HỆ GEN Z - GIỮ MÌNH GIỮA THÁCH THỨC VÀ CÁM DỖ!

     Cán bộ thế hệ Gen Z sinh ra và trưởng thành giữa những chuyển động chưa từng có của công nghệ, truyền thông và mạng xã hội, đang bước vào môi trường công vụ với nhiều kỳ vọng. Họ mang trong mình tri thức hiện đại, tinh thần đổi mới và khát vọng phục vụ đất nước. Nhưng đi cùng cơ hội là những thử thách, cám dỗ và những “nút gãy” tinh vi có thể làm lung lay bản lĩnh, bào mòn lý tưởng. Giữa vòng xoáy lợi ích, quyền lực và danh tiếng, vấn đề không chỉ là cán bộ thế hệ Gen Z có giỏi hay không, mà là họ có đủ kiên định, giữ mình để cống hiến?

Khi tuổi trẻ mang theo lý tưởng lớn

“Điều gì khiến bạn chọn làm cán bộ Đoàn, trong khi cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn không hề ít?”-tôi hỏi Nguyễn Văn Khánh, 27 tuổi, Bí thư Đoàn ở một xã miền núi thuộc tỉnh Thanh Hóa. Khánh cười hiền, đáp: “Có lẽ là niềm tin. Tôi nghĩ nếu lớp trẻ không dấn thân, ai sẽ là người thay đổi quê hương?”.

Câu trả lời ấy tưởng chừng giản dị nhưng chứa đựng chiều sâu của một thế hệ mới, những người bước vào môi trường công vụ trong bối cảnh khác hẳn các thế hệ trước. Họ không chỉ mang hoài bão phụng sự mà còn chịu tác động mạnh mẽ của thế giới phẳng: Tư duy toàn cầu, tốc độ công nghệ, sức ảnh hưởng của mạng xã hội và xu hướng đề cao giá trị cá nhân. Những yếu tố này vừa là nguồn sức mạnh, vừa đặt ra thách thức lớn về cách thức giữ gìn lý tưởng trong thực tế công tác.

PGS, TS Nguyễn Viết Thảo, nguyên Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác cán bộ (tháng 3-2023): “Lý tưởng cách mạng của tuổi trẻ ngày nay không hề vơi đi, nhưng thử thách nhiều hơn, phức tạp hơn. Thế hệ trẻ bước vào môi trường công vụ cần vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh chính trị để không bị cuốn trôi trong xoáy lốc hội nhập, thị trường và mạng xã hội”.

Đúng như vậy, thế hệ Gen Z được giáo dục trong môi trường mở, thấm đẫm công nghệ và tính cạnh tranh. Họ bước vào đời với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Họ thành thạo ngoại ngữ, giỏi kỹ năng số, có tư duy hệ thống và mong muốn khẳng định bản thân. Tuy nhiên, song hành với khát vọng là áp lực phải cân bằng: Làm sao vừa năng động, nhiệt huyết, sáng tạo và hội nhập, vừa trung thành, kiên định và trong sáng về phẩm chất chính trị, đây chính là bài toán đặt ra với thế hệ Gen Z.

Trong thực tế, nhiều cán bộ trẻ khởi đầu với lý tưởng đẹp, mong muốn đóng góp, đổi mới, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Nhưng giữa ước mơ và hiện thực luôn tồn tại khoảng cách. Chính khoảng cách này là nơi bản lĩnh và lòng kiên định bị thử thách nhiều nhất.

Thử thách, cám dỗ và những “nút gãy” dễ sa ngã

Thử thách đầu tiên với cán bộ thế hệ Gen Z là quyền lực. Quyền lực nếu không được kiểm soát và minh bạch hóa rất dễ trở thành cám dỗ. Người trẻ thường giàu năng lượng và nhiều khát vọng, nhưng cũng dễ nóng vội, bị hấp dẫn bởi hào quang và quyền thế, từ đó, trách nhiệm có thể bị lu mờ bởi toan tính vụ lợi. Khi “năng lực” chưa kịp song hành với “đạo đức”, sự hấp dẫn của quyền lực sẽ dễ làm lung lay nền tảng lý tưởng. Một cái “like”, một lời tán dương, một lời hứa hẹn đều có thể trở thành “nút gãy” khiến cán bộ trẻ trượt dài nếu thiếu cơ chế kiểm soát.

Thử thách thứ hai là cám dỗ vật chất và tâm lý so sánh. Sống trong thời đại giá trị vật chất được phô diễn mạnh mẽ, Gen Z không thể không chịu tác động. Nhiều người chứng kiến bạn bè, đồng nghiệp khởi nghiệp, thu nhập cao, được tung hô, trong khi công việc ở cơ quan Nhà nước đòi hỏi kỷ luật, ít cơ hội thể hiện cá nhân ngay lập tức. Nếu thiếu niềm tin và lý tưởng, họ dễ dao động, nảy sinh tâm lý “ra ngoài mới sướng” hoặc tìm đến “đường tắt” để thăng tiến. 

Thử thách thứ ba đến từ mạng xã hội và ảo tưởng danh tiếng. Thế hệ Gen Z lớn lên cùng Facebook, TikTok, Instagram. Với họ, mạng xã hội vừa là công cụ truyền thông, vừa là “sân khấu” thể hiện bản thân. Mạng xã hội có thể lan tỏa giá trị tốt đẹp nhưng cũng dễ khiến cán bộ trẻ sa vào cám dỗ “hình ảnh hóa” công việc: Chạy theo lượt like, đánh đổi sự nghiệp vì sự tung hô tức thời... Khi “ảo” lấn át “thật” và “hình thức” che khuất “bản chất”, chất lượng công việc và trách nhiệm cộng đồng có nguy cơ bị tổn hại. 

Một thử thách khác là môi trường công vụ vốn nặng hình thức. Không ít cơ quan, đơn vị còn tồn tại thói quen hành chính quan liêu, thiếu khuyến khích sáng tạo, nặng về hình thức và nhẹ về hiệu quả. Với cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, môi trường như vậy có thể gây nản lòng và bào mòn động lực. Nếu không có định hướng, hỗ trợ và bảo vệ thích hợp, họ có thể chọn “an phận”, “làm cho xong” hoặc tệ hơn là hòa nhập với lối làm hình thức để tồn tại.

Điều đó cho thấy, mỗi cú sa ngã của cán bộ trẻ không chỉ là sự mất mát cá nhân mà còn tổn thương niềm tin của nhân dân. Một “nút gãy” nhỏ trong đạo đức có thể dẫn đến đổ vỡ lớn trong hệ thống giá trị và niềm tin của quần chúng...

Giữ vững bản lĩnh, nuôi dưỡng khát vọng

Để cán bộ thế hệ Gen Z giữ vững bản lĩnh và khát vọng, điều cốt lõi là tạo dựng môi trường rèn luyện toàn diện, nơi cán bộ trẻ không chỉ được nói, được học mà còn được thực hành, thử nghiệm và tự chịu trách nhiệm.

Trước hết, cần thường xuyên bồi dưỡng, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ thế hệ Gen Z. Không có lý tưởng, không thể có bản lĩnh. Bản lĩnh không sinh ra từ những lời tuyên thệ, mà từ quá trình rèn luyện lâu dài: Giáo dục lý luận cho Gen Z phải gắn với thực tiễn, chương trình đào tạo có tính ứng dụng cao, và các đợt kiểm nghiệm qua công việc thực tế. Việc làm mới công tác giáo dục chính trị cho cán bộ thế hệ Gen Z là cần thiết, để họ không chỉ học nghị quyết mà “sống với nghị quyết”, đưa lý tưởng vào hành động, biến tư tưởng thành năng lượng chỉ đạo hành vi và quyết định.

Thứ hai, rèn luyện qua thực tiễn, qua cơ sở là bài thi lớn nhất cho cán bộ thế hệ Gen Z. Chỉ khi xuống cơ sở, đối diện với đời sống dân sinh, va chạm với khó khăn và áp lực thực tế, cán bộ trẻ mới thấm giá trị của từng quyết định, mới hiểu rõ cái giá của sự phục vụ và trách nhiệm. Thực tiễn sẽ tôi luyện sự kiên nhẫn, thực tế hóa lý tưởng và giúp cán bộ nhận diện giới hạn bản thân để hoàn thiện.

Thứ ba, kiểm soát quyền lực và minh bạch hóa cơ chế là điều kiện bảo vệ sự trong sáng của cán bộ trẻ. Cần thiết kế cơ chế công khai, từ phân công, đánh giá, khen thưởng đến xử lý vi phạm... để quyền lực không biến thành cám dỗ. Kiểm soát quyền lực không nhằm bóp nghẹt sáng tạo mà để tạo khuôn khổ an toàn cho sáng tạo. Khi mọi nỗ lực được đánh giá công bằng, cán bộ trẻ sẽ vững vàng hơn và ít tìm đến “đường tắt”.

Thứ tư, khuyến khích sáng tạo, cho không gian thử nghiệm. Gen Z là thế hệ của công nghệ và ý tưởng, hãy trao cho họ không gian được thử nghiệm, được phép sai và được học từ thất bại có trách nhiệm. Hỗ trợ dự án sáng tạo nhỏ, cơ chế thẩm định linh hoạt và hệ thống cố vấn-những điều này giúp phát huy trí tuệ, năng lực phân tích và tinh thần dấn thân của cán bộ Gen Z.

Thêm vào đó, cần hoàn thiện tiêu chí đánh giá và bổ nhiệm để ưu tiên những phẩm chất thực chất: Bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tinh thần gần dân và liêm chính. Hình mẫu cán bộ trẻ thời kỳ mới nên được gắn với tiêu chí rõ ràng: “Bản lĩnh-trí tuệ-gần dân-liêm chính”. Khi những tấm gương trẻ trung, trong sáng, tận tụy được ghi nhận và lan tỏa, niềm tin xã hội sẽ được nuôi dưỡng bằng thực tiễn, không chỉ bằng lời nói.

Cần có cơ chế bảo vệ người tốt và xử lý nghiêm sai phạm, đồng thời tạo điều kiện cho luân chuyển, thử thách và chương trình cố vấn để cán bộ trẻ trưởng thành bền vững. Xây dựng môi trường làm việc có đãi ngộ, minh bạch và cơ hội phát triển đều giúp giảm thiểu áp lực so sánh về vật chất và giữ người tài ở lại phục vụ.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu quyết tâm: “Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Trong đó, thế hệ trẻ, nhất là cán bộ trẻ là người kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Vì vậy, Dự thảo xác định: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội”.

Với Gen Z-thế hệ sinh ra trong thời đại bùng nổ thông tin, lớn lên cùng trí tuệ nhân tạo và thế giới phẳng, thử thách lớn nhất không nằm ở bên ngoài mà ở chính họ: Giữa lý tưởng và thực tế, giữa khát vọng và cám dỗ, giữa cái tôi và cái chung. Chỉ khi đủ dũng cảm vượt qua những “nút gãy”, thế hệ Gen Z mới thực sự trở thành lớp cán bộ kế cận vững vàng, bản lĩnh, có khát vọng cống hiến cho đất nước./.
Ảnh: Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
Yêu nước ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: 🇷🇺 🇻🇳 NGA VÀ VIỆT Nam SẼ XÂY DỰNG TUYẾN ĐƯỜNG SẮT XUYÊN LỤC ĐỊA LIÊN KẾT CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU!

Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, Nga và Việt Nam đã thống nhất triển khai dự án phát triển tuyến đường sắt kết nối hai nước thông qua lãnh thổ Trung Quốc và Mông Cổ, nhằm tăng cường kết nối giao thông và mở rộng hợp tác kinh tế khu vực.

Phó Thủ tướng Nga Alexey Overchuk công bố thông tin này tại cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính bên lề Hội nghị Cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Malaysia.

Theo thỏa thuận, trong năm 2025, các doanh nghiệp vận tải của Nga, Việt Nam và Trung Quốc sẽ phối hợp thực hiện những bước đi cụ thể để xây dựng tuyến đường.

Các vấn đề tài chính sẽ được giải quyết thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và sự tham gia của khu vực tư nhân.

Việt Nam đã ký thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với Trung Quốc, trong khi tập đoàn vận tải FESCO của Nga dự kiến tăng tần suất các chuyến tàu vận tải trực tiếp lên 6 chuyến mỗi tháng (gồm 2 chuyến nhập khẩu và 4 chuyến xuất khẩu) - mức cao kỷ lục của ngành.

Phó Thủ tướng Overchuk nhấn mạnh Việt Nam là “người bạn lâu năm và đối tác đáng tin cậy” của Nga, đồng thời khẳng định hợp tác với Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu của Moskva.

Tuyến đường sắt mới ước tính có tổng chiều dài hơn 2.200 km, chủ yếu phục vụ vận chuyển hàng hóa xuất khẩu từ Tuva (Nga), Mông Cổ và miền Nam Trung Quốc.

Ngoài giá trị kinh tế, dự án còn mang ý nghĩa chiến lược khi giúp củng cố vị thế của Nga trong mạng lưới giao thông Á-Âu, đồng thời mang lại cho Việt Nam cơ hội mở rộng hạ tầng logistics và phát triển hệ thống cảng biển.

Các chuyên gia nhận định đây là một trong những dự án trọng điểm của khu vực Á-Âu những năm tới.

Việc huy động vốn, tìm kiếm nhà đầu tư và trao đổi nhân sự đang được tiến hành song song với quá trình thẩm định kỹ thuật.

Nếu triển khai đúng tiến độ, tuyến đường sắt này sẽ định hình lại luồng vận chuyển hàng hóa trong khu vực, thúc đẩy quan hệ kinh tế và tạo ra lựa chọn thay thế hiệu quả cho các tuyến hàng hải truyền thống.

Theo báo Vzglyad, nhu cầu du lịch của du khách Nga đến Việt Nam năm 2025 đã tăng mạnh, ngang bằng với lượng khách Nga đến Thái Lan./.

Yêu nước ST.