Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

 

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng đồng bào dân tộc, tôn giáo rất đoàn kết

Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người)[1]. Theo kết quả Tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người. Trong đó, người Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,7% dân số. Các dân tộc ở Việt Nam c­ư trú xen kẽ với nhau, đây chính là yếu tố tạo nên tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Mỗi dân tộc ở Việt Nam vừa mang đặc điểm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa có bản sắc văn hóa riêng.

Đặc điểm nổi bật nhất của các dân tộc ở Việt Nam là truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. truyền thống đó hình thành, phát triển từ yêu cầu chinh phục thiên nhiên để lao động sản xuất và đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ, trở thành một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, ở Việt Nam có 14 tôn giáo với 38 tổ chức và hệ phái tôn giáo khác nhau[2], trong đó có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Cao đài, phật giáo Hoà hảo; các tôn giáo lớn chủ yếu du nhập từ nước ngoài như: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành. Sở dĩ Việt Nam có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo là do:

Một là, Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, đó là yếu tố khách quan để hình thành nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Hai là, do vị trí địa lý Việt Nam tiếp giáp với với nhiều địa tôn giáo, đó là điều kiện thuận lợi để các tôn giáo bên ngoài tiếp cận, xâm nhập vào Việt Nam.

Ba là, lịch sử Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, các thế lực ngoại xâm luôn sử dụng tôn giáo như là công cụ để thực hiện mục đích xâm lược, thống trị của chúng.

Một số đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam

Thứ nhất, có tính dung hợp, đan xen, hoà đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các tôn giáo khác.  

Thứ hai, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội đều du nhập từ bên ngoài vào và nhiều, ít được “Việt hóa”. Các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, dù “tự nhiên” như Phật giáo hay “áp đặt” như Thiên Chúa giáo vẫn hoà quyện với văn hóa dân tộc, tạo nên một nền văn hóa thống nhất nhưng phong phú.

Thứ ba, nhìn chung tôn giáo ở Việt Nam có sự hoà hợp, chung sống hoà bình, các tôn giáo khác nhau nhưng đều có chung mục đích sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở một số thời điểm lịch sử nhất định, giữa các tôn giáo cũng có sự “bất hoà” do các thế lực thù địch âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị.

Tuy Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng ở Việt nam không có xung đột dân tộc, sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo; các dân tộc luôn đoàn kết gắn bó; các tôn giáo hòa đồng, thực hiện cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”. Các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam luôn luôn coi mình là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn phát huy tinh thần đoàn kết, chủ nghĩa yêu nước, khí phách anh hùng của một dân tộc anh hùng để cùng dựng xây tổ quốc.



[1] Phụ lục 1

[2] Phụ lục 2

DÂN CHỦ KIỂU MỸ

 


Bình luận về cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hiện đang đến hồi gay cấn, chuyên gia Daria Kislitsyna, Giám đốc bộ phận chương trình khu vực của Viện nghiên cứu xã hội (EISS) lưu ý đến sự chia rẽ quy mô lớn trong xã hội Mỹ, mà theo bà, cả hai bên đều sử dụng các phương pháp kiểm phiếu gian lận và bẩn thỉu để đạt được chiến thắng.

Ở một số bang, chúng ta có thể quan sát thấy cái thường được gọi là 'bước nhảy vọt về dân chủ'. Khi đầu tiên có sự ủng hộ cho một ứng cử viên, và sau đó là sự gia tăng rất mạnh số phiếu bầu cho người kia. Tất cả điều này chỉ ra có rất nhiều câu hỏi đối với hệ thống.

Theo bà Daria Kislitsyna, bản thân hệ thống này có thể đã lỗi thời, mặc dù đã có lúc nó được coi là một trong những nền chính trị dân chủ và tiên tiến nhất. Đó là chưa nói đến những nỗ lực có chủ đích của con người.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TRƠ TRẼN THÌ KHÔNG AI QUA ĐƯỢC CHÚNG ,VỚI THỦ ĐOẠN NHÉT CHỮ VÀO MỒM NGƯỜI KHÁC.

 

Hết xuyên tạc bán biển đảo rồi hội nghị Thành Đô năm 2020 VN sẽ sáp nhập vào TQ mà lũ Ma Giáo này xuyên tạc. 

 Bao năm nay chúng vẫn luôn cố gắn cắn phá cho bằng được. Lôi kéo con chiên tham gia công cuộc phục quốc của lũ Ngụy. 

Gần đây, trang facebook  của bọn phản động  "Thanh niên công giáo " cố tình  bịa đặt lời nói  của  cố TBT NVL. Đúng là ma giáo

Nếu không có việc, có lẽ ma giáo nên kéo chiên qua Mỹ đòi lại công bằng cho ông Trump thì tốt hơn.

Thanh niên công giáo chính nghĩa  không ai làm  điều này.

Bá Duy 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

 Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Giải pháp góp phần ngăn chặn tin giả trên mạng xã hội

 Nạn tin giả không phải là mới, song những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì tin giả xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Xử lý nghiêm việc đưa tin bão lụt sai sự thật trên mạng xã hội

 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao các Bộ: Công an, Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường quản lý, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi thông tin bão lụt sai sự thật trên mạng xã hội.

Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết. Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo. Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến thăm và chúc mừng chức sắc Công giáo nhân dịp Lễ Giáng sinh năm 2019 tại Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. (Ảnh: Quochoi.vn). Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội. Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế. Nguồn: Báo điện tử ĐCSVN

Một số tổ chức phản động lợi dụng dịch bệnh để chống phá Việt Nam

Những hành vi lợi dụng dịch Covid-19 để tung thông tin xấu độc, chống phá Nhà nước, chính quyền trên mạng xã hội sẽ bị xử lý triệt để và nghiêm khắc. Đây là thông tin được Thượng tá Nguyễn Thành Lợi, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, chia sẻ trong cuộc phỏng vấn với phóng viên VOV trong bối cảnh lợi dụng dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, trong thời gian qua, nhiều đối tượng đã liên tục phát tán những thông tin xấu độc với mục đích gây hoang mang dư luận, phá hoại nền sản xuất trong nước và nghiêm trọng hơn là chống phá Nhà nước, chính quyền. một số tổ chuc phan dong da xuyen tac ve dich benh covid-19 tai Việt Nam Thượng tá Nguyễn Thành Lợi, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Phóng viên: Lợi dụng tình hình dịch Covid-19 có những diễn biến phức tạp, nhiều đối tượng đã phát tán những thông tin trái chiều trên mạng xã hội. Ông đánh giá như thế nào về tác động của những thông tin này tới cuộc sống của nhân dân? Thượng tá Nguyễn Thành Lợi: Trong thời gian qua, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 có nhiều diễn biến phức tạp, trên không gian mạng đã xuất hiện rất nhiều thông tin liên quan đến dịch bệnh. Trong đó bên cạnh những thông tin tích cực còn có cả những thông tin xuyên tạc sai sự thật về tình hình dịch bệnh, công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế, cũng như các bộ ngành gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Một thủ đoạn khác cũng rất đáng chú ý là các đối tượng lợi dụng khoảng trống thông tin khi các báo đài chính thống chưa kịp đăng tải những thông tin mang tính chất công bố chính thức thì chúng đã lồng ghép những thông tin sai sự thật để đăng tải trước gây hoang mang trong dư luận. Nghiêm trọng hơn, một số tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm thời, VOICE… và một số đối tượng chống đối trong và ngoài nước cũng rất tích cực phát tán những thông tin mang nội dung chống phá. Chúng còn chi hàng nghìn USD để thực hiện các quảng cáo chính trị trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, công kích “Chính phủ bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh”. mot so to chuc phan dong da xuyen tac ve dich benh covid-19 tai viet nam hinh 3 Những tin đồn về Covid-19 như thế này được các đối tượng phát tán với mục đích gây hoang mang dư luận và làm rối loạn xã hội. Phóng viên: Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã triển khai những biện pháp gì để ngăn chặn những hành vi sai trái nói trên? Thượng tá Nguyễn Thành Lợi: Trước tình hình trên, lãnh đạo Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ Thông tin Truyền thông và các ban ngành liên quan để điều tra, xác minh, làm rõ các trường hợp đăng tải những thông tin sai sự thật trên không gian mạng để đấu tranh xử lý theo đúng quy định của pháp luật đồng thời yêu cầu dỡ bỏ hoặc đính chính những thông tin nói trên. Phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để gỡ bỏ những thông tin sai sự thật. Đến nay, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng đã phối hợp với công an các địa phương tổ chức xác minh và đấu tranh với hơn 600 trường hợp các thông tin sai sự thật trên không gian mạng và đã xử phạt hành chính trên 130 đối tượng, trong đó có một số nghệ sĩ và những người có ảnh hướng lớn đối với xã hội. Tuy nhiên, việc xử lý các đối tượng phát tán thông tin giả, thông tin sai sự thật gặp không ít khó khăn. Những thông tin này chủ yếu được đăng tải trên không gian mạng, mạng xã hội. Việc này được thực hiện rất dễ dàng bởi các đối tượng chỉ cần có thiết bị kết nối mạng và vài cú click chuột là đã có thể đăng tải bất kỳ thông tin gì mà không chịu sự kiểm duyệt. Ngoài ra, lợi dụng các tính năng của mạng xã hội, trong đó có tính năng chia sẻ, các đối tượng sẽ phát tán thông tin tức thời tới rất nhiều hội nhóm, trong đó có các hội nhóm có hàng chục nghìn thành viên. Điều này khiến các cơ quan quản lý và các nhà cung cấp dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát và xác định những thông tin nào là thông tin chính xác và thông tin nào là thông tin giả để ngăn chặn. Hơn thế nữa, một số nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như Youtube, Google, Facebook trong thời gian qua vẫn chưa phối hợp và tuân thủ triệt để các quy định pháp luật của Việt Nam cũng như hợp tác với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong việc ngăn chặn, xử lý những tin giả tán phán trên những nền tảng mà họ cung cấp. Nguồn: VOV

ĐỂ CÁI TỐT NẢY NỞ, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG MỖI NGƯỜI

     (Theo Chinhphu.vn) - Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội về tình trạng văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp, chiều 9/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng đây là vấn đề rất lớn, liên quan đến mọi tổ chức, mọi người dân. Bởi vì không ai có thể nói mình không cần tiếp tục tu dưỡng về đạo đức hay tất cả các hành vi ứng xử của mình đều đã là tối ưu, chuẩn mực.

Theo Phó Thủ tướng, thực trạng đạo đức xã hội và ứng xử xuống cấp là có thật. Nhiều hội thảo, nhiều tài liệu đánh giá là xuống cấp đáng báo động, một số mặt nghiêm trọng, thể hiện rõ ở tội phạm, tệ nạn, những hành vi bị đồng tiền chi phối hay gian dối không trung thực. Biểu hiện ở một số giá trị văn hóa truyền thống bị mai một. Nhưng đánh giá thực trạng cần nhìn hai mặt. Câu chuyện của văn hóa, hình thành văn hóa, đạo đức xã hội là câu chuyện dài hơi của mấy chục năm, trăm năm thậm chí dài hơn. Tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức xã hội xuất hiện từ khi chúng ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, bắt đầu đổi mới thì thấy rõ hơn. Nhưng mặt khác chúng ta không quên và vẫn rất tự hào về những ưu điểm lớn nhất của đạo đức, văn hóa xã hội Việt Nam.

Nhân lên những phẩm chất tốt đẹp

Thứ nhất là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Nhân dân nước nào yêu nước và có tinh thần dân tộc hơn nhân dân Việt Nam?  Khi đội tuyển U23 Việt Nam thi đấu thành công tại Vòng chung kết U23 châu Á năm 2018, cả dân tộc nao nức. Đấy là tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Thứ hai là tình yêu thương đồngloại, thương người. Có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh như vừa rồi mà người dân thương nhau, giúp đỡ nhau đến như vậy.

Thứ ba là sự hòa ái, thân thiện, cởi mở.  Nếu người dân Việt Nam không hòa ái, thân thiện, cởi mở là soa Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của du lịch.

Thứ tư là tình yêu lao động. chịu thương chịu khó.  Dân tộc Việt Nam nếu không yêu lao động. chịu thương chịu khó thì không thể thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển như hôm nay.

Thứ năm là tinh thần vươn lên, đức hiếu học. Ngay việc các đại biểu Quốc hội và toàn dân quan tâm đến giáo dục cũng đã thể hiện điều đó.

Nói như vậy để thấy rằng những hiện tượng xuống cấp của toàn xã hội là đáng báo động nhưng không phải vì thế mà chúng ta nhìn nhận xã hội, đạo đức xã hội, con người Việt Nam một cách không công bằng.  Chúng ta nhìn thẳng vào những khiếm khuyết để khắc phục và gần đây đã có những khắc phục rất tốt, nếu qua nhiều năm tích tụ lại thì mới rõ lên. Phó Thủ tướng  lấy ví dụ về phong trào học tập, làm theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước, từng bước thấm vào.

Ba nguyên nhân chính

Phó Thủ tướng phân tích nguyên nhân khách quan là mặt trái của kinh tế thị trường, thông tin mạng, mạng xã hội. Về chủ quan thì nhiều người thường nói ngay là yếu kém của văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa thứ nhất là trong mỗi con người và trong toàn xã hội, cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu.

Nguyên nhân thứ hai, khi có sự suy yếu và đạo đức trong từng thời kỳ không chỉ riêng do giáo dục hay văn hóa mà do các bất cập của cả hệ thống thể chế quản lý về pháp luạt, kinh tế, xã hội. Đảng ta xác định: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần, là vô cùng sâu sắc.

Thứ ba là kinh tế thị trường, đặc biệt gần đây mạng internet, mạng xã hội có mặt trái nhưng không bao giờ bằng mặt tốt và chúng ta tiếp cận, chủ động sử dụng để đẩy mạnh mặt tốt lên.

Chú trọng thực chất đến các vấn đề nền tảng

Trong các văn bản của Đảng, Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức, văn hóa xã hội, Phó Thủ tướng chia sẻ thêm một số suy nghĩ.

Trước hết, muốn góp phần cho cái tốt nhiều lên, cái xấu bớt đi thì đầu tiên phải làm cho toàn xã hội, từng người dân hiểu rõ cái gì là tốt, cái gì là xấu. “Có những thứ chúng ta tưởng là dễ thấy ngay nhưng không phải. Ví dụ ăn cắp ai cũng biết là xấu nhưng ăn cắp thời gian thì không mấy ai nghĩ là xấu”.

Vấn đề thứ hai là phải kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền, vận động phong trào với luật hóa và xử lý. Việc xử lý nghiêm minh bằng pháp luật là một biểu hiện của văn hóa, đạo đức nhưng suy cho cùng phải vận động tuyên truyền mọi người để tự điều chỉnh hành vi, đạo đức cá nhân. Đấy mới là nền tảng, gốc rễ.

Thứ ba, trong mọi thời kỳ đều cần sự nêu gương từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, người lớn nêu gương cho người trẻ, đảng viên đi trước, làng nước đi sau.

Thứ tư, trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Đức-Trí-Thể-Mỹ cần đặc biệt lưu ý không chỉ “Đức” mà cả “Mỹ”, lưu ý đến các ngành nghệ thuật, tôn giáo  tín ngưỡng vì những tác phẩm nghệ thuật hay là những thông điệp giáo đục văn hóa đạo đức tốt nhất, những hoạt động văn hóa tín ngưỡng đúng mức, đúng pháp luật sẽ giúp cho cái tốt nảy nở trong mỗi người một cách bền vững.

Bốn điểm đó, theo Phó Thủ tướng, cần hết sức lưu ý và thực hiện kiên trì.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng cho rằng phải thực sự đặc biệt chú ý, chú trọng các vấn đề xã hội nói chung, trong đó có đạo đức, văn hóa. Nhược điểm phổ biến của tất cả các nước đang phát triển khi bị sức ép về tăng trưởng kinh tế, thì những vấn đề xã hội, văn hóa, đạo đức nhiều khi là vấn đề chưa làm ra tiền trong ngắn hạn, chưa cấp bách nên dễ bị coi nhẹ nhưng Việt Nam chúng ta cũng đã chú ý hơn các nước khác rất nhiều, nên các chỉ tiêu xã hội tốt hơn. Khi xã hội khấm khá hơn như ngày hôm nay thì chúng ta sẽ có điều kiện chú trọng hơn một cách thực chất đến các vấn đề nền tảng.

Phó Thủ tướng mong các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực văn hóa, xã hội, không chỉ là nguồn lực đầu tư, con người mà cả thời gian, tâm sức, chỉ đạo.

Để dân tộc Việt Nam tiếp tục tự hào với truyền thống văn hiến, xứng đáng với truyền thống cha ông ta để lại.

Yêu nước ST.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI, THAM GIA XÂY DỰNG, GÓP Ý VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược công cuộc đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Việc tham gia xây dựng, góp ý Văn kiện Đại hội Đảng vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi không chỉ của đảng viên, tổ chức đảng, mà còn của các tổ chức chính trị - xã hội (trong đó có các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ) và các tầng lớp nhân dân.

Trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2020 nhân Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ IV_Ảnh: TTXVN

Một số kết quả nổi bật trong giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng, góp ý văn kiện đại hội đảng các cấp của Hội trong thời gian qua

Một là, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam đã tăng cường chỉ đạo thực hiện khâu đột phá của nhiệm kỳ XII (2017 - 2022) về “Nâng cao hiệu quả thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ”, tích cực góp phần xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực liên quan tới phụ nữ và bình đẳng giới.

Từ năm 2014 - 2018, các cấp Hội đã chủ trì 15.415 cuộc giám sát chuyên đề; tham gia 55.679 đoàn giám sát, khảo sát của cấp ủy đảng các cấp, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức 21.832 hội nghị phản biện, gửi 37.970 văn bản kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền. Kết quả từ giám sát và phản biện xã hội, các cấp Hội đã tham mưu đề xuất thành công 119 chính sách, chương trình liên quan đến phụ nữ, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới và tổ chức Hội(1). Các góp ý, phản biện của Hội về nhiều vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách, bảo đảm quyền lao động nữ và bình đẳng giới đã được tiếp thu thành công trong Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi); kiến nghị của Hội về lồng ghép giới xuyên suốt các nội dung của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã được tiếp thu trong Nghị quyết số 88/2019/QH14(2) và Nghị quyết số 12/NQ-CP(3), đặc biệt là còn được thể hiện tập trung trong Dự án số 8 của Chương trình này về thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em. Hiện nay, Hội cũng đang tích cực góp ý trong xác định các vấn đề, chỉ tiêu về giới cần giải quyết trong Dự thảo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021  - 2030.

Hai là, Hội đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa hội viên, phụ nữ với Đảng, Nhà nước trong phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thông qua nhiều hình thức nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ, như: tổ chức các diễn đàn, đối thoại để hội viên, phụ nữ thảo luận, trình bày nguyện vọng, nêu kiến nghị với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. Trong giai đoạn từ năm 2017 - 2019, các cấp Hội LHPN Việt Nam đã chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu tổ chức 664 cuộc đối thoại(4) trực tiếp giữa phụ nữ với cấp ủy, chính quyền địa phương. Thông qua đối thoại, nhiều ý kiến được cấp ủy đảng, chính quyền tiếp thu phục vụ cho công tác lãnh đạo, điều hành, bổ sung, điều chỉnh và ban hành các chính sách bảo đảm phù hợp, hiệu quả.

Ba là, đối với văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã có văn bản góp ý đề nghị xem xét, bổ sung 4 nội dung: 1- Đánh giá về vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân (nông dân, công nhân, phụ nữ) vào thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 5 năm vừa qua; 2- Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cũng như xác định rõ chỉ tiêu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế (các chỉ tiêu về giới, tỷ lệ đào tạo nghề cho phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ hưởng các dịch vụ gia đình, y tế); 3- Đánh giá tình hình liên quan đến vấn đề gia đình; 4- Xem xét nội dung liên quan đến vấn đề phụ nữ trong mục XII “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” trên cơ sở quan điểm coi phụ nữ là chủ thể, đồng thời là nguồn lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần có cơ chế, chính sách để tạo cơ hội, điều kiện cho phụ nữ phát huy thế mạnh trong xã hội.

Hội đã tổ chức các hội thảo khoa học để góp ý xây dựng văn kiện đại hội đảng, sớm ban hành các văn bản cần thiết(5) nhằm chỉ đạo việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cấp Hội Phụ nữ và định hướng đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó, tập trung đóng góp vào mục tiêu, chỉ tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trong các dự thảo văn kiện nhằm đề xuất và bảo đảm các vấn đề liên quan đến phụ nữ, gia đình và vấn đề bình đẳng giới được thể hiện phù hợp với đường lối phát triển của đất nước trong nhiệm kỳ. Đồng thời, để việc tham gia góp ý bảo đảm tập trung, có chiều sâu, Trung ương Hội đã nghiên cứu dự thảo văn kiện, lựa chọn 4 chủ đề tập trung góp ý (phát huy quyền làm chủ của phụ nữ thông qua thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Hội LHPN Việt Nam; kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do quốc tế thế hệ mới; nâng cao năng lực đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao) nhằm bảo đảm lựa chọn các nội dung có chiều sâu, phát huy được sự tham gia đóng góp của các tầng lớp phụ nữ. Với 4 chủ đề này, Hội LHPN Việt Nam không chỉ phát huy vai trò của các cấp Hội, hội viên phụ nữ các cấp mà Hội còn chú trọng phát huy vai trò của hai tổ chức thành viên là Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam và Hội Nữ trí thức Việt Nam. Các cấp Hội đã tích cực, chủ động tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng trong cán bộ và hội viên, phụ nữ cả nước với chủ đề: “Giữ trọn niềm tin theo Đảng”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; theo dõi, nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên, phụ nữ và tổ chức các hoạt động lấy ý kiến hội viên, phụ nữ vào dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Với nhiều hình thức, nhiều cấp độ, như hội nghị đảng viên, tọa đàm chuyên gia, hội nghị lấy ý kiến trong lực lượng nữ trí thức, nữ doanh nhân, hội nghị phản biện xã hội..., các cấp Hội đã lắng nghe nhiều ý kiến tâm huyết của các tầng lớp phụ nữ, tiếp thu và tổng hợp đề xuất đối với các cấp ủy địa phương, góp phần vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông của Hội, Nhà xuất bản Phụ nữ, Cổng thông tin điện tử của Trung ương Hội, Báo Phụ nữ Việt Nam, đã đăng tải các nội dung yêu cầu lấy ý kiến góp ý của các tầng lớp phụ nữ vào dự thảo văn kiện, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề (đặc biệt là chuyên đề “Màu cờ tôi yêu” với chủ đề “Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” trên Báo Phụ nữ Việt Nam).

Tuy nhiên, việc giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ các cấp trong thời gian qua còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định, như: 1- Các cấp Hội còn gặp nhiều khó khăn trong giám sát đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu và trong phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Hội LHPN cơ sở thường khó lựa chọn được nội dung giám sát thiết thực và trong phát hiện, kiến nghị, theo dõi việc tiếp thu các vấn đề sau giám sát; 2- Việc nghiên cứu chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để phản biện xã hội, tham gia xây dựng, góp ý văn kiện đại hội đảng bộ các cấp đôi khi còn chưa sâu, thiếu tính dự báo nên chất lượng chưa cao; 3- Tính chủ động của Hội LHPN ở một số nơi trong thực hiện phản biện xã hội, đề xuất chính sách, góp ý vào dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp chưa cao; chưa có nhiều ý kiến  góp ý và được tiếp thu liên quan đến các vấn đề của phụ nữ, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới và tổ chức Hội...

Một số định hướng và giải pháp chủ yếu mà các cấp Hội cần tập trung thực hiện trong giám sát, phản biện xã hội và xây dựng, góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII trong thời gian tới

Hội Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nữ trí thức Việt Nam góp ý về lĩnh vực khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng_Ảnh: phunuvietnam.vn.

Thứ nhất, tập trung giám sát các vấn đề phụ nữ quan tâm, phản biện xã hội đối với các lĩnh vực thiết yếu, nhất là các dự án luật, chương trình, đề án liên quan đến phụ nữ, trẻ em gái và bình đẳng giới, những quy định lồng ghép giới trong các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, làm cơ sở thực tiễn để các cấp Hội tham gia góp ý có hiệu quả vào dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Bên cạnh đó, các cấp Hội chủ động triển khai thực hiện các quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là các quy định về giám sát và phản biện xã hội. Cán bộ Hội cần nâng cao nhận thức về chức năng đại diện của tổ chức Hội, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thể hiện rõ bản lĩnh, chính kiến để làm tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội. Phát huy vai trò làm chủ của hội viên, phụ nữ; tuyên truyền để phụ nữ hiểu được quyền, trách nhiệm và tích cực tham gia giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến Văn kiện Đại hội Đảng.

Thứ hai, tiếp tục tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, phát huy trí tuệ, dân chủ, tạo sự đồng thuận và thể hiện nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ trong xây dựng và hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng thông qua tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và thu thập, phản ánh ý kiến đóng góp của cán bộ, hội viên, phụ nữ vào dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đặc biệt là tập trung góp ý vào định hướng, mục tiêu và chỉ tiêu trong dự thảo Văn kiện nhằm đề xuất và bảo đảm các vấn đề liên quan đến phụ nữ, gia đình và vấn đề bình đẳng giới, với các giải pháp cụ thể sau:

- Tổ chức nhiều diễn đàn, nhiều buổi sinh hoạt cho hội viên, phụ nữ đóng góp ý kiến với các hình thức đa dạng, phù hợp; trong đó, tôn trọng vai trò định hướng của tổ chức Hội nhằm cung cấp thông tin đầy đủ giúp chị em phụ nữ nghiên cứu, trao đổi, thảo luận sâu các vấn đề thiết thân liên quan đến phụ nữ, gia đình và bình đẳng giới; qua đó, nâng cao chất lượng góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

- Tăng cường huy động ý kiến của mạng lưới các chuyên gia, các nhà khoa học trong từng lĩnh vực, tổ chức các hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến đóng góp của đại diện các nhóm nữ trí thức, nữ doanh nhân, các chuyên gia về giới, gia đình, phụ nữ và trẻ em để có căn cứ thực tiễn trong góp ý kiến vào Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

- Tổ chức hội nghị trực tuyến để trao đổi và lấy ý kiến góp ý xây dựng Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng của các cấp Hội trong cả nước; tuyên truyền và mở chuyên mục tiếp nhận các ý kiến của hội viên, phụ nữ góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng trên Cổng thông tin điện tử của Hội, Báo Phụ nữ Việt Nam; tổng hợp, phản ánh đầy đủ ý kiến đóng góp của cán bộ, hội viên, phụ nữ và các nhóm phụ nữ khác nhau vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ ba, các cấp Hội cần chủ động, sáng tạo trong tuyên truyền, phổ biến, triển khai nghị quyết đại hội đảng các cấp đến các tầng lớp phụ nữ và nhân dân, bảo đảm nghị quyết sớm được đi vào cuộc sống; đồng thời, bám sát các chủ trương, nhiệm vụ của nghị quyết đại hội đảng các cấp làm định hướng trong xây dựng văn kiện đại hội phụ nữ các cấp, cũng như trong xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ công tác hội.

Thứ tư, coi trọng việc đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội, cũng như việc tiếp thu ý kiến của tổ chức hội trong quá trình góp ý, xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp; thường xuyên đánh giá tính đúng đắn, khoa học, hợp lý của các vấn đề mà Hội kiến nghị, đề xuất để tiếp tục rút kinh nghiệm nhằm làm tốt hơn nhiệm vụ này trong những giai đoạn tiếp theo.

Thứ năm, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm cơ sở để Hội không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội, mà còn tham mưu cho Đảng về các phương thức, cơ chế hiệu quả nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh./.

Theo: tapchicongsan.org.vn

Tỉnh Oudomxay, Lào ủng hộ miền trung Việt Nam khắc phục hậu quả lũ lụt

     Chiều 11-11, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Luang Prabang Nguyễn Đăng Hùng tiếp đồng chí Somchit Panyasack, Ủy viên Thường vụ, Phó Tỉnh trưởng tỉnh Oudomxay và Đoàn đại biểu tỉnh Oudomxay đến Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang trao 80 triệu kíp Lào, ủng hộ nhân dân miền trung Việt Nam để khắc phục hậu quả lũ lụt. Tham dự có cán bộ, nhân viên Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang.

    Tiếp đồng chí Somchit Panyasack và Đoàn, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Luang Prabang Nguyễn Đăng Hùng cảm ơn tấm lòng chân thành của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Oudomxay đã luôn dành những tình cảm tốt đẹp đối với nhân dân Việt Nam nói chung và đối với nhân dân miền trung Việt Nam đang gặp khó khăn do bão lũ hiện nay; thông báo tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam; thông báo về tình hình bão lũ và những khó khăn và thống kê sơ bộ những thiệt hại về tính mạng và tài sản tại khu vực miền trung Việt Nam.

    Tổng Lãnh sự Nguyễn Đăng Hùng khẳng định, sẽ sớm chuyển ngay số tiền về Việt Nam để gửi đến nhân dân các tỉnh miền trung Việt Nam.

Oudomxay, Lào ủng hộ miền trung Việt Nam khắc phục hậu quả lũ lụt -0
 Tổng Lãnh sự Nguyễn Đăng Hùng (phải) cảm ơn tấm lòng chân thành của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Oudomxay.

    Tại buổi tiếp, đồng chí Somchit Panyasack cho biết, mặc dù còn nhiều khó khăn, kinh tế còn chưa phát triển như một số địa phương khác tại Lào, tuy nhiên, khi biết thông tin nhiều cơn bão đã đổ bộ miền trung Việt Nam, gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của nhân dân tại đây, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Oudomxay đã phát động phong trào, kêu gọi cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Lào tại tỉnh ủng hộ quyên góp nhân dân miền trung Việt Nam.

    Đồng chí Somchit Panyasack khẳng định, mặc dù số tiền không nhiều nhưng là tình cảm, là tấm lòng chia sẻ những khó khăn với nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân miền trung Việt Nam anh em mỗi khi gặp hoạn nạn khó khăn.

    Đồng chí Somchit Panyasack chúc chính quyền và nhân dân các tỉnh miền trung Việt Nam sớm khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định cuộc sống.

    Oudomxay là tỉnh giàu truyền thống cách mạng, có mối quan hệ khăng khít với nhiều tỉnh của Việt Nam. Trước đó hồi tháng 4, sau khi xuất hiện dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Oudomxay cũng đã quyên góp 50 triệu kíp Lào, ủng hộ 10 tỉnh kết nghĩa  là Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Phòng, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ để sử dụng trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

    Là một trong ba Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Lào, khu vực lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang bao gồm tám tỉnh phía Bắc Lào trong tổng số 18 tỉnh, thành phố của Lào, là tỉnh Bokeo, Luang Namtha, Oudomxay, Xayaburi, Phongsaly, Houaphanh, Xiengkhouang và Luang Prabang. Các tỉnh này đều có mối quan hệ hợp tác văn hóa, xã hội và kinh tế với Việt Nam, nhiều tỉnh đã kết nghĩa với các tỉnh phía Đông Bắc Việt Nam. 

    Trong thời gian gần đây, các hoạt động lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang đã được đẩy mạnh rất nhiều, đặc biệt là việc tuyên truyền các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và hình ảnh Việt Nam tại khu vực phụ trách. 

    Từ khi dịch Covid-19 xẩy ra cũng như khi các cơn bão đổ bộ vào miền trung Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh phía Bắc Lào, cũng như kiều bào, doanh nghiệp Việt Nam tại đây đã hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang, có nhiều đóng góp, ủng hộ đối với Việt Nam, mang đến sự chia sẻ, động viên kịp thời cũng như thể hiện tấm lòng đầy tình nghĩa, góp phần không nhỏ vun đắp mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào.

Nguồn: Nhân dân.
 

Sáng 12-11, Việt Nam không ghi nhận ca nhiễm Covid-19 mới

     Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 cho biết, sáng nay, Việt Nam không ghi nhận có thêm ca nhiễm Covid-19. Việt Nam đã bước sang ngày thứ 71 không có ca lây nhiễm trong cộng đồng.

    Tính đến 6 giờ ngày 12-11, Việt Nam có tổng cộng 1.252 ca mắc Covid-19, trong đó có 691 ca mắc Covid-19 do lây nhiễm trong nước.

    Số ca mắc Covid-19 nhập cảnh ngày càng gia tăng. Riêng chiều qua, Việt Nam có thêm 26 ca nhập cảnh, trong đó có 25 ca trở về từ Rumani. 

    Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly) là 15.540 người, trong đó có 217 ca cách ly tập trung tại bệnh viện; 14.334 ca cách ly tập trung tại cơ sở khác và 989 ca cách ly tại nhà, nơi lưu trú.

    Theo báo cáo của Tiểu ban Điều trị, đến nay Việt Nam đã điều trị khỏi cho 1.091 ca bệnh. Trong số các ca đang điều trị tại các cơ sở y tế, hiện có 42 ca âm tính từ 1-3 lần với SARS-CoV-2.

    Tại TP Hà Nội, chiều qua, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Ngô Văn Quý đã chủ trì cuộc họp trực tuyến chống dịch Covid-19 với các đơn vị liên quan.

    Tại cuộc họp, năm đoàn kiểm tra của thành phố đã báo cáo về tình hình thực hiện các biện pháp phòng dịch. Theo đó, các quận, huyện, các khu cách ly đã thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống dịch. Đáng chú ý, tại các khu tập thể, các điểm công cộng, hầu như người dân không đeo khẩu trang, không có ai kiểm tra. Tại các khu chợ, bến xe chưa xử lý nghiêm việc bắt buộc đeo khẩu trang.

    Khẳng định công tác phòng dịch tiếp tục là ưu tiên số 1 và cần thực hiện thường xuyên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đề nghị năm nơi công cộng là: Bệnh viện, bến bãi đỗ xe, phương tiện công cộng, trung tâm thương mại và siêu thị, chợ phải bố trí người kiểm soát chặt chẽ, ai không có khẩu trang không cho ra - vào, bố trí điểm bán khẩu trang ngay ở cửa.

Nguồn: Nhân dân.

RÈN LUYỆN CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ, điều rất quan trọng là phải thường xuyên và kiên quyết đấu tranh làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những cán bộ không còn đủ phẩm chất. Ngay từ những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm đấu tranh chống những căn bệnh dễ mắc trong bộ máy Nhà nước. Người kịch liệt phê phán những khuyết điểm của các cán bộ: làm trái, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, hách dịch, ăn hối lộ, hủ hóa.

Tháng 11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I về những thành viên của Chính phủ không trong sạch: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết” (4). Theo Người: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân” .

Một nền pháp quyền chân chính, tiến bộ phải bảo đảm được tính công bằng, khách quan, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Thi hành được điều này không phải dễ dàng bởi vì từ xưa rồi, tội của quan vẫn được xử theo lễ còn tội của dân được xử theo luật (!). Những kẻ bất liêm vẫn tồn tại trong xã hội, thậm chí ở tại ngay những cơ quan được giao trọng trách duy trì sự nghiêm minh của pháp luật. Tình trạng này một phần do hệ thống luật pháp của chúng ta còn nhiều kẽ hở để những kẻ bất liêm lợi dụng, phần khác do việc thi hành pháp luật chưa nghiêm minh, luật pháp chưa đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe khiến lòng dân chưa yên.

Trong bối cảnh đó, việc thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ đó giữ địa vị nào, làm nghề gì” đang đặt ra như một yêu cầu bức xúc.VNĐ

CĂN CỨ ĐỂ ĐÀO TẠO CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


“Độ bền của chuỗi xích phụ thuộc vào độ bền của mắt xích yếu nhất”. Từng chi tiết hoạt động tốt là điều kiện quan trọng bảo đảm cho cả hệ thống bộ máy hoạt động tốt. Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản bảo đảm cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít “bệnh tật”.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt một cách cụ thể và thiết thực: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có vị trí rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền. Đào tạo huấn luyện luôn cần đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ. Muốn vậy “phải biết rõ cán bộ”, “phải cất nhắc cán bộ cho đúng”; “phải khéo dùng cán bộ”; “phải giúp cán bộ cho đúng”; “phải giữ gìn cán bộ”, v.v (1). Muốn lựa chọn cán bộ đúng, theo Người cần phải căn cứ vào:

“... Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong đấu tranh.

- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng...

- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn...

- Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

... Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ” (2).

Để bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết những cách làm việc với đội ngũ cán bộ như sau:

- Chỉ đạo những phương hướng đường lối công tác cho cán bộ, để họ phát huy năng lực và tinh thần sáng tạo trong những công việc cụ thể.

- Nâng cao trình độ cho cán bộ bằng cách tạo điều kiện để họ học thêm lý luận và chuyên môn.

- Thường xuyên kiểm tra rút kinh nghiệm, sửa chữa những khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong quá trình công tác.

- Khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục, cải tạo, giúp họ sửa chữa.

- Giúp đỡ họ bảo đảm những điều kiện sinh hoạt, chăm sóc họ khi đau ốm. Tùy theo điều kiện có thể giúp đỡ họ giải quyết những vấn đề gia đình”./ VNĐ

Hiểu rõ về Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển sau 26 năm có hiệu lực.

 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994.

Các vùng biển theo luật biển quốc tế.


    Trong khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhận được các công cụ phê chuẩn và gia nhập và Liên Hiệp Quốc quy định ủng hộ các cuộc họp của các quốc gia là thành viên của Công ước thì Liên Hiệp Quốc không có vai trò hoạt động trong việc thi hành Công ước này. Tuy nhiên các tổ chức liên chính phủ tự trị như: Tổ chức Hàng hải Quốc tếỦy ban Cá voi Quốc tế và Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế được Công ước này thành lập lại có một vai trò trong việc thực thi Công ước.

    Nội dung công ước có một loạt điều khoản. Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp.

    Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở (baseline) được định nghĩa kỹ càng. (Thông thường, một đường biển cơ sở chạy theo đường bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị thụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường cơ sở). Có các khu vực dưới đây:

    Nội thủy
Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền). Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.
    Lãnh hải
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại". Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.
Vùng nước quần đảo
Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào. Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải
Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp.
    Vùng đặc quyền kinh tế
Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn đề quan trọng. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.
    Thềm lục địa
Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn. Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.

    Bên cạnh các điều khoản định nghĩa các ranh giới trên biển, công ước còn thiết lập các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học trên biển. Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban đáy biển quốc tế (International Seabed Authority).

    Các nước không có biển được quyền có đường ra biển mà không bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó.

Hiểu rõ các khái niệm này, các căn cứ pháp lý đưa ra giúp chúng ta đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của mình trên biển Đông.

Ngày này năm xưa: 55 năm trận Ia Đrăng lịch sử!!!

 

Trận Ia Đrăng Lục quân Mỹ kinh hồn, bạt vía trước sức mạnh và cơ trí của quân chủ lực


Vào cuối năm 1965, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch, trận đánh trực tiếp với quân Mỹ và giành thắng lợi vang dội. Trong đó, trận Ia Đrăng là một trong những thắng lợi điển hình với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc, góp phần khẳng định, bộ đội ta có đủ khả năng tiêu diệt từng đơn vị quân Mỹ, làm chuyển biến cuộc chiến tranh. Trận đánh này thể hiện sự mưu trí, sáng tạo, kế lừa địch và dụ địch vào hiểm địa để đánh những đòn khai tử giặc Mỹ xâm lược. Với cách đánh "vây điểm, diệt viện", cuối tháng 10-1965, trong khuôn khổ Chiến dịch Plây-me, quân ta đã vây ép đồn Plây-me, tiêu diệt đồn Chư Ho, buộc địch phải điều một chiến đoàn bộ binh cùng Chiến đoàn thiết giáp số 3 ngụy ứng cứu nhưng cũng bị lực lượng của ta đánh bại. Đòn đau này đã kích thích tính kiêu ngạo của quân Mỹ khi lần đầu tiên chúng xuất hiện ở Tây Nguyên.

Như con thú dữ bị thương, người Mỹ quyết tâm "ăn tươi nuốt sống" quân đội ta, ngày 14-11-1965, Lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng (cách đồn Plây-me 25 km về phía Tây) nhằm đánh đòn bất ngờ vào sau lưng đội hình các đơn vị chủ lực ta. Tuy nhiên địch không thể ngờ là chúng ta đã đoán ra ý đồ của họ; tình huống nằm trong ý định của ta nhằm đưa bộ đội chủ lực trực tiếp đương đầu với quân Mỹ để tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng và xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội. Vì thế, trận Ia Đrăng đã diễn ra liên tục nhiều giờ, cả ngày lẫn đêm hết sức ác liệt, dưới các loại hỏa lực bom và đạn pháo của Mỹ. Bằng quyết tâm cao, thế trận vững chắc, hiểm hóc và cách đánh linh hoạt, chủ động, táo bạo dũng mãnh, quân ta tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác của Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ, buộc chúng phải tháo chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng. Với trận đọ sức này đem lại niềm tin to lớn rằng, Quân đội nhân dân ta đủ sức đối đẩu, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù dù thua kém về hỏa lực cũng như các phương tiện hỗ trợ. Đó là chiến thắng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam, thể hiện một số điểm chính sau:

1. Đây là trận đầu tiên của Quân đội ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, mở ra khả năng ta có thể thắng Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế về lực lượng, trang bị và cơ động. Trong trận đánh này, phía quân giải phóng đã cơ động, tấn công bất ngờ từ nhiều hướng vào các bãi đáp của Mỹ khiến chúng hoàn toàn lúng túng và phản kháng một cách bị động. Chúng ta có lợi thế vượt trội hơn hẳn khi đã chủ động mai phục, đánh trúng vào "chỗ hiểm" của Quân đội Mỹ. Chỗ hiểm đó chính là việc quân giải phóng bắt thóp được chiến thuật trực thăng vận của Mỹ, khi ta có thể đón đoán trước được các khu vực trực thăng Mỹ có thể đổ quân. Những bãi đáp này được Mỹ sử dụng như một cầu không vận để đưa thương binh ra và đưa hàng tiếp tế vào chiến trường. Khi bị chúng ta tấn công vào đây, phía Mỹ hoàn toàn bị động.

2. Ta chủ động đánh giáp lá cà trong khi đó bản đồ chia ô rải thảm bom B-52 của Mỹ trong chiến dịch Plei Me, các khu vực bãi đáp X-Ray và bãi đáp Albany, hai điểm diễn ra cuộc đụng độ cực lớn giữa quân chủ lực của ta và lính Mỹ đều nằm trong bản đồ này, điều khiến người Mỹ không dám rải thảm bom xuống các khu vực diễn ra giao tranh là do phía Mỹ và ta có cự ly chiến đấu quá gần, nếu sử dụng B-52 rất có thể sẽ thả trúng vào cả quân Mỹ.

3. Quân giải phóng miền nam mở chiến dịch "đánh điểm, diệt viện", diệt đồn Chư Ho, vây đồn Plei-me để một chiến đoàn quân đội Sài Gòn ra cứu viện, lập tức bị Quân giải phóng là trung đoàn 33 và trung đoàn 320 đánh cho thiệt hại rất nặng, không còn sức chiến đấu. Lập tức Mỹ đưa một lữ đoàn của sư đoàn kỵ binh bay lên ứng cứu. Khi lữ đoàn đổ bộ xuống một tiểu đoàn do Moore chỉ huy đánh vào tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9 trung đoàn 66. Tiểu đoàn này đã chuẩn bị tinh thần để chiến đấu với quân Mỹ nhưng tiểu đoàn trưởng đi họp với cấp trên, trợ lý tác chiến ở nhà chỉ huy tiểu đoàn bộ trụ vững, chiến đấu kiên cường. Tiểu đoàn kỵ binh bay không thể chiếm lĩnh được trận địa, bị thương vong nhiều. Đến tối, các đại đội của tiểu đoàn 9, trung đoàn 66 đã tiến đánh từ các phía vào, tiểu đoàn kỵ binh bay. Điều này chứng tỏ chúng ta đã chuẩn bị rất tốt cho trận đánh, thiếu chỉ huy nhưng do có kế hoạch, phương án sẵn sàng chiến đấu nên chúng ta đã chiến thắng.

4. Tổng cộng, trong trận Ia Đrăng phía ta đã loại khỏi cuộc chiến tổng cộng 476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính tử vong và 245 lính bị thương. Con số này là rất lớn khi mà lực lượng Mỹ tham gia trận Ia Đrăng đông gấp nhiều lần quân ta và chúng đã ném tới 5000 tấn bom, bắn hơn 6000 quả đạn pháo một ngày trong trận đánh này. Chúng ta đã rất khôn khéo điều dụ quân Mỹ đến địa bàn có lựa chọn để hình thành trận then chốt, tiêu diệt lớn quân địch. Ngay từ khi quân Mỹ ồ ạt nhảy vào miền Nam, ta đã tích cực tìm hiểu quy luật hoạt động, thủ đoạn đối phó của chúng; từ đó, đánh giá đúng những chỗ mạnh của địch là: quân đông, hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, khả năng tiếp tế hậu cần dồi dào…; đồng thời, thấy rõ những điểm yếu chí tử của chúng là tinh thần chiến đấu kém, ngại đánh gần, ỷ lại hỏa lực, chưa quen khí hậu, thời tiết, v.v. Vì thế, việc điều dụ quân Mỹ vào các địa bàn rừng núi lựa chọn, xa căn cứ của chúng, nhằm hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu để đánh thắng các trận then chốt là vấn đề rất quan trọng.

KẾT LUẬN:

Lính Mỹ có kỹ thuật chiến đấu cao, hỏa lực rất mạnh lại được hỗ trợ trực thăng, B52 nhưng cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do giới cầm quyền Mỹ phát động, lính Mỹ không hiểu sang Việt Nam chiến đấu để làm gì, không hiểu đối tượng, không quen địa hình và khí hậu. Còn người lính của Quân đội nhân dân Việt Nam khi cầm súng đã được biết rõ cầm súng để làm gì, chiến đấu để bảo vệ ai, đánh lại ai, cuộc chiến đấu đạt mục tiêu gì và có thể thắng hay không? Những vấn đề lớn về mục tiêu chiến đấu, về nhiệm vụ chiến đấu của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã được giáo dục và thảo luận kỹ trong quân đội cho nên một người lính của Quân đội nhân dân Việt Nam khi chiến đấu rất tự giác, kiên cường, không sợ hy sinh gian khổ, chủ động sáng tạo mưu trí trong cách đánh. Cao hơn hết, trận đánh này người Hoa Kỳ được mở rộng tầm mắt để biết rằng họ đang phải đối đầu với một đội quân mang trong mình sức mạnh và hào khí của 4000 năm lịch sử, luôn chiến đấu và chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược bất chấp chúng hùng mạnh và hung hãn đến cỡ nào. Người lính Việt Nam ra trận mang theo cả hồn thiêng sông núi, khí phách của tiền nhân, điều đó đã tạo nên sức mạnh vô địch khiến cho Hoa Kỳ kinh hồn, bạt vía, cúi đầu và cuốn cờ./.

Đối sách của Việt Nam trước xu thế tập hợp lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương dưới tác động của Covid-19

 

Là Chủ tịch ASEAN 2020, Chủ tịch AIPA-41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đúng vào thời kỳ đại dịch, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức to lớn. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, có thể khẳng định, Việt Nam không chỉ đứng vững trước những sóng gió của thời cuộc, đặc biệt là cạnh tranh nước lớn và tác động của đại dịch, mà còn hoàn thành tốt trách nhiệm quốc tế, góp phần vào việc duy trì và củng cố hòa bình, ổn định, tạo điều kiện để ASEAN nói chung, các quốc gia thành viên ASEAN nói riêng nỗ lực vượt qua đại dịch. Đứng trước các thách thức khó lường, những biến chuyển phức tạp của tập hợp lực lượng (THLL) ở khu vực, Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu, nguyên tắc và phương châm khi tham gia các THLL.

Mục tiêu lớn nhất của Việt Nam khi tham gia các THLL là góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định, đảm bảo an ninh, thu hút nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Nguyên tắc tối cao trong quá trình cân nhắc tham gia THLL mới cũng như trong khuôn khổ các THLL đang tham gia chính là lợi ích quốc gia - dân tộc.

Phương châm tham gia THLL của Việt Nam là: 1) Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, và phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa. 2) Không để cho các nước lớn “hiểu lầm chiến lược” - tuyệt đối tránh việc tham gia THLL của một nước lớn khiến nước lớn khác hiểu rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. 3) Đa dạng hóa các loại hình THLL tham gia. 4) Linh hoạt, khéo léo dùng việc tham gia THLL do nước lớn này dẫn dắt để thúc đẩy quan hệ với nước lớn kia và các THLL khác. 5) Kết hợp giữa song phương với đa phương, triệt để khai thác giá trị chiến lược của Việt Nam tại ASEAN, Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác khu vực và tiểu vùng ở CA-TBD.

Đối với cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc

Trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc gia tăng cạnh tranh THLL, Việt Nam cân nhắc hình thức và mức độ tham gia các THLL của hai cường quốc này trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa và mối quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các bên, chú ý đảm bảo các phương châm và nguyên tắc đã nêu ở trên.

Với các cơ chế đa phương, ASEAN và các THLL khác

Một là, tích cực triển khai Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương,tiếp tục thực hiện hội nhập quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các nước; tận dụng và phát huy vai trò của các thể chế, các diễn đàn đa phương trong việc bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích an ninh và phát triển của ta; nâng cao vị thế của đất nước và hài hòa với các lợi ích chung; tích cực phát huy vai trò trong các thể chế, các diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM… Qua đó, tạo sự ủng hộ, đồng thuận của quốc tế đối với chủ trương hợp tác, phát triển cũng như giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Hai là, đẩy mạnh duy trì đoàn kết, gắn kết trong nội khối ASEAN thông quachủ động phát huy vai trò tích cực trong “Cộng đồng chung ASEAN”; thúc đẩy đồng thuận trong ASEAN, tránh để các nước lớn lợi dụng gây chia rẽ ASEAN; có nhiều sáng kiến trong việc tăng cường đoàn kết, hợp tác nội khối; sẵn sàng phát huy vai trò lớn hơn trong những vấn đề liên quan đến lợi ích sát sườn của đất nước; ủng hộ và sẵn sàng tạo điều kiện để các nước lớn tăng cường quan hệ với ASEAN.

Ba là, cùng với các thành viên ASEAN khác giữ vững và củng cố vị trí trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực nói chung, trong các THLL lớn khác của khu vực. Tích cực tham vấn các thành viên ASEAN để đạt nguyên tắc, phương châm chung của các thành viên ASEAN trong quá trình tham gia các THLL hoặc khi xuất hiện THLL mới.

Bốn là, chủ động tích cực tham gia các cơ chế hợp tác và THLL quan trọng ở khu vực, kể cả kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa xã hội, qua đó bổ sung cho quan hệ song phương và ngược lại, lấy đa phương để đẩy song phương.

Năm là, đối với các THLL theo vấn đề, chủ động phát huy vai trò trong các vấn đề Việt Nam có lợi ích, dùng các THLL này để gia tăng vị thế trong các diễn đàn quốc tế phù hợp. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam đẩy mạnh các THLL liên quan an ninh phi truyền thống như về y tế, an ninh lương thực./.