Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

Hãy đeo khẩu trang để phòng chống dịch COVID-19

 


Với chủ trương của Việt nam: Chống dịch như chống giặc, mỗi gia đình là một pháo đài chống dịch; có thể hy sinh một số lợi ích về kinh tế, nhưng tất cả vì con người. Từ chủ trương đó, nên khi xuất hiện dịch COVID 19, cả hệ thống chính trị và người dân ở Việt Nam vào cuộc với ý chí quyết tâm cao nhất, nhanh nhất, quyết liệt nhất. Cho đến nay hầu như chúng ta đã có biện pháp phòng chống dịch hiệu quả; sự lây lan dịch tyrong cộng đồng hàu như chúng ta đã kiểm soát được. Tuy nhiên hiện nay dịch CIVID-19 đang lây lan nhanh ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, thể hiện tính nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng con người trên toàn cầu. Mặt khác, hiện nay Đảng, Nhà nước ta chủ trương mở cửa dần với thế giới để thực hiện nhiệm vụ kép: Vùa phát triển kinh tế- xã hội, vừa phòng chống dịch. Như vậy với hai đặc điểm trên thì việc lây lan, bùng phát trở lại của dịch COVID-19 là rất cao, cho nên theo tôi cả hệ thống chính trị, mọi người dân bên cạnh thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch thì chúng ta phải thực hiện tốt vấn đề đeo khẩu trang. Bởi vì nếu xã hội ai cũng đeo khẩu trang, thì khi có một người nào đó mắc dịch COVID-19 sẽ không lây lan ra người khác. Vấn đề ở chỗ chúng ta phải đeo khẩu trang mọi lúc, mọi nơi, đeo đúng kỹ thuật. Nếu làm được như vậy chắc chắn chúng ta sẽ chống được dịch.

 

Hãy chung tay, góp sức với đồng bào lũ lụt

 

Những ngày vừa qua cả nước hướng về Miền Trung ruột thịt thân yêu. Từ những cơn bão, những trận lũ ống, lũ quét, ngập lụt, bão chồng bão đã cướp đi ở Miền Trung nhà cửa, của cải, con người với thiệt hại vô cùng lớn. Từ thiệt hại trên, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến mọi phương diện từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, động viên đến công tác quản lý để đảm bảo mọi người dân ở Miền Trung vơi đi khó khăn trong lúc hoạn nạn. Bên cạnh mọi hoạt động tích cực của chính quyền, với tấm lòng tương thân, tương ái, đoàn kết tương trợ lẫn nhau, đồng bào cả nước đã có nhiều hoạt động như quyên góp, ủng hộ với khối lượng vật chất không nhỏ, đã phần nào chia sẽ nỗi khó khăn của đồng bào Miền Trung. Qua sự việc COVID-19 và bão lũ ở Miền Trung, một lần nữa lại ngân vang chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng của con cháu Vua Hùng, của dân tộc kiên trung và cũng là minh chứng thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam dang xây dựng.

Việt nam thực hiện tốt vấn đề quyền con người

 

Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền, coi con người, chất lượng con người là trọng tâm của cách mạng; mục tiêu cuối cùng là vì con người và đã đạt được nhiều thành tựu trong đó đã thực hiện thành công công tác phòng, chống đại dịch COVID-19, được thế giới đánh giá rất cao.

Với chủ trương của Việt nam: Chống dịch như chống giặc, mỗi gia đình là một pháo đài chống dịch; có thể hy sinh một số lợi ích về kinh tế, nhưng tất cả vì con người. Từ chủ trương đó, nên khi xuất hiện dịch COVID 19, cả hệ thống chính trị và người dân ở Việt Nam vào cuộc với ý chí quyết tâm cao nhất, nhanh nhất, quyết liệt nhất.

 Trong chống dịch, quyền con người được thể hiện rất rõ, đó là mọi người dân Việt Nam đều được đối xử như nhau, không ai bị bỏ lại phía sau, mọi chi phí trong điều trị chống dịch đều miễn phí. Đặc biệt những người nghèo, người khó khăn, Đảng nhà nước Việt nam luôn quan tâm chu đáo bằng mọi khả năng vật chất cũng như tinh thần, nên đã phát huy cao độ tính tự giác, trách nhiệm, mọi người dân đồng lòng, quyết tâm chống dịch đến cùng.

Đó chính là minh chứng rằng ở Việt Nam luôn quan tâm đến con người, bằng bất cứ giá nào cũng phải cứu sống con người. Qua chống dịch COVID 19 ở Việt Nam một lần nữa hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng: Ở Việt Nam không có nhân quyền.

BÁO VỚI CHÍ

Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi một số tờ báo dùng từ "đánh chết", "đánh tử vong" với một chiến sỹ công an Hà Nam hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. 

Sự hy sinh của người lính cả ở thời chiến lẫn thời bình đều là nỗi đau thương vô hạn, niềm mất mát to lớn không chỉ của gia đình đồng chí ấy mà còn của cả Đảng, Nhà nước, Lực lượng vũ trang và Nhân dân. Sự hy sinh ấy là thiêng liêng, nỗi mất mát, đau thương ấy là to lớn, không cớ gì không thể dùng 1 từ ngữ kính trọng hơn để gọi. 

Báo chí cách mạng nên luôn luôn tâm niệm và ghi nhớ điều ấy! Chẳng phải vừa rồi, 1 Nhà báo đã hy sinh khi cứu nạn ở Rào Trăng 3 cũng đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân nghiêng mình cúi đầu tặng bằng Tổ quốc ghi công, gọi anh là Liệt sỹ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đó sao? Bất kể ai ngã xuống vì nước, vì dân thì đều nên gọi là "hy sinh".

Nhận diện chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước


Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, cần nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng hiện nay:

Các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Chúng xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Chúng thường xuyên lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Chúng lợi dụng những vấn đề đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo…

Từ những nhận diện trên, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác cao, cương quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, không để kẻ địch lợi dụng vấn đề tôn giáo lôi kéo, mua chuộc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ ta hiện nay.

 

Lại luận điệu xuyên tạc vấn đề dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân


Trước tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra tại các tỉnh miền Trung, Đảng, Nhà nước, Công an, Quân đội, các đoàn thể chính trị - xã hội, các nhà hảo tâm đang tận dụng từng thời khắc để chung tay, giúp đỡ, hướng về miền Trung ruột thịt. Tất cả đang tranh thủ từng giờ, từng phút để cứu trợ đồng bào. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình này, nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tuyên truyền, chia sẻ bài viết, video bịa đặt, cóp nhặt hoặc tự dựng lên để xuyên tạc tình hình, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều này thêm gây khó khăn cho chính đồng bào các tỉnh miền Trung và công tác phòng, chống lũ lụt, khắc phục thiên tai của Đảng, Nhà nước ta. Đây là những luận điệu, hành vi với ý đồ gây nhiễu loạn thông tin rất đáng lên án và cần phải hết sức cảnh giác.

Mục đích của những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là để tạo nên sự kì thị, vẽ nên bức tranh rất xấu về hình ảnh người dân vùng lũ, nhằm khoét sâu vào tâm lý, tư tưởng, thái độ và cách nhìn nhận của những người đã và đang có ý định làm từ thiện sẽ suy nghĩ lại, thậm chí dừng hành động cứu trợ của mình. Đây thực chất là thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn, cản trở cho công tác khắc phục hậu quả thiên tai mà các lực lượng chức năng, những nhà hảo tâm đang hướng về miền Trung ruột thịt. Trong khi chính nhân dân vùng lũ đang gặp rất nhiều khó khăn. Có một số đối tượng đã xây dựng những tiểu phẩm, đoạn video ngắn bày tỏ quan điểm phản đối, lên án chính quyền, có ý kiến đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước khi thiên tai xảy ra. Những video này sau khi chia sẻ, đăng tải đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý của cộng đồng mạng. Đáng chú ý là những video sau khi được sự cổ súy của một số người, hùa vào lên án, đả kích chế độ, miệt thị, hoài nghi các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường, công tác cứu trợ đồng bào.Mục đích của chúng, ngoài chống phá Đảng, Nhà nước thì còn nhằm cung cấp những thông tin thiếu chính xác, tiêu cực về tình hình trong nước đối với cộng đồng người dân nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại nói riêng.

Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng lại phải làm như vậy? Đây là câu hỏi ít người để ý hoặc có xuất hiện nhưng lại chưa kịp trả lời mà thay vào đó đã bị những luận điệu kích động làm nhiễu thông tin. Bên cạnh ý thức, thái độ với Đảng, Nhà nước thì đằng sau đó là lợi ích, là vật chất, tiền bạc, là những gì lợi lộc mà các đối tượng nhận được từ các tổ chức, đối tượng và thế lực chống đối bên ngoài. Đây như một hình thức "trả công" cho những kẻ tay sai vốn dĩ từ lâu đã làm thuê bằng hoạt động chống phá Việt Nam. Vì lợi ích vật chất, vì động cơ cá nhân mà chúng không từ bất cứ một sự kiện nào diễn ra trong xã hội, kể cả lũ lụt đau thương đang diễn ra tại miền Trung để kích động chống phá. Nói tóm lại, ngoài mục đích, ý đồ chống phá thì đây còn là một cơ hội “kiếm ăn” đối với những kẻ đi ngược lại với lợi ich quốc gia, dân tộc.

Phát triển kinh tế biển song song với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

TGVN. Dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2010-2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho phát triển kinh tế biển. Cụ thể: "Phát triển bền vững kinh tế biển, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, kiểm soát khai thác tài nguyên biển, phục hồi hệ sinh thái biển, gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo". Theo các Đảng viên lão thành, nhà nghiên cứu chính trị tại thành phố Đà Nẵng, đây là một vấn đề lớn, phức tạp và cần tập trung giải quyết, trọng tâm là vấn đề bảo đảm an ninh, quốc phòng, tăng cường bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Mong muốn huyện đảo Hoàng Sa được nhắc tên trong Dự thảo Ông Bùi Văn Tiếng (Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng) cho rằng Dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên đã nêu nhiều nhận định rất đúng với thực tế Biển Đông hiện nay. Phát triển kinh tế biển song song với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Vùng biển và ven biển nước ta là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng. (Ảnh:MONRE) Ông Bùi Văn Tiếng liệt kê nhiều lần thực trạng Biển Đông đã được nhắc tới, từ việc xác định bối cảnh quốc tế: "Tình hình Biển Đông diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định của khu vực và môi trường đầu tư, phát triển"; đến đánh giá những hạn chế, bất cập trong việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ: "Công tác bảo đảm an ninh, an toàn trên biển còn nhiều khó khăn, thách thức"; "Nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc gia gặp nhiều khó khăn, thách thức". Trong Dự thảo Báo cáo chính trị cũng đánh giá: "Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột"… Ngoài ra, ông Bùi Văn Tiếng góp ý: "Dự thảo có thể bổ sung một số thông tin lãnh đạo phòng, chống những hành động vi phạm chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia trong lĩnh vực dầu khí, nghề cá, bảo hộ ngư dân… Trong bối cảnh hiện nay, những thông tin như vậy nên được hiện diện trong Báo cáo chính trị Đại hội XIII. Với tư cách một người dân ở Đà Nẵng, thành phố quản lý huyện đảo Hoàng Sa, tôi rất mong tên gọi Hoàng Sa được nhắc đến trong văn kiện cực kỳ hệ trọng của đất nước như Báo cáo chính trị Đại hội Đảng". Nguôn: The gioi Viet Nam

Cảnh báo việc Cảnh sát Biển Trung Quốc sẽ được dùng vũ khí

Thứ Năm, ngày 12/11/2020 18:30 Dự thảo luật của Trung Quốc cho phép Lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc nổ súng vào các tàu thuyền nước ngoài đã được bàn. Sự kiện: Tin tức Trung Quốc Cảnh báo việc Cảnh sát Biển Trung Quốc sẽ được dùng vũ khí Truyền thông Nhật Bản đưa tin, Ngoại trưởng Indonesia ngày 11/11 bày tỏ quan ngại về dự thảo luật của Trung Quốc cho phép Lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc nổ súng vào các tàu thuyền nước ngoài tại các vùng biển mà Trung Quốc cho là "thuộc quyền tài phán của mình". Bà Retno Marsudi, Ngoại trưởng Indonesia, cho biết mặc dù Indonesia tôn trọng quyền của các quốc gia khác trong việc áp dụng luật trong nước, bà hi vọng rằng dự luật của Trung Quốc sẽ không gây ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định tại Biển Đông. Ngoại trưởng Retno Marsudi cũng cho biết Indonesia sẽ tiếp tục giữ liên lạc với Trung Quốc về vấn đề này. Hôm 4/11, Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, tức Quốc hội Trung Quốc, công bố dự luật quy định nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát biển. Dự luật đề xuất cho phép Cảnh sát Biển Trung Quốc sử dụng vũ khí tại các vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc quyền tài phán của mình, trong trường hợp tàu nước ngoài tiến hành hoạt động mà Trung Quốc cho là trái phép, cũng như khi các tàu không tuân thủ lệnh dừng tàu. Dự luật cũng đề cập tới việc sẽ thực thi các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cho các đảo và cơ sở nhân tạo. Nội dung này được cho là đang nhắc đến các đảo ở Biển Đông, nơi Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự trái phép. Indonesia tuyên bố vùng biển ngoài khơi Quần đảo Natuna ở phía Nam của Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền phi pháp với hầu như toàn bộ Biển Đông.

Giá trị bất diệt và vĩ đại cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga

 

Cách mạng Tháng Mười như một cơn địa chấn của thế kỷ 20, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp hơn.

Thực tế, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và tiếp đó là thắng lợi của nhân dân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước đã phát triển thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đầy sức sống và hùng mạnh, đã có vai trò to lớn và từng có tính chất quyết định đến vận mệnh và sự phát triển của thế giới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô đã có những giai đoạn phát triển rực rỡ, đã đoàn kết các dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân chung tay xây dựng một xã hội tốt đẹp, bình đẳng, công bằng, mang lại hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động. Nhờ ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười và sự giúp đỡ, tác động của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, hàng loạt các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã đứng lên giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

Cho nên có thể nói, Cách mạng Tháng Mười Nga mang tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn, tính thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Đúng như lãnh tụ vĩ đại Lênin từng khẳng định trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, năm 1920: “Ngày nay, chúng ta đã có trước mắt một kinh nghiệm quốc tế phong phú chứng thực hiển nhiên rằng một số đặc điểm cơ bản của cuộc cách mạng của ta không phải có ý nghĩa địa phương, ý nghĩa đặc biệt dân tộc, ý nghĩa riêng biệt cho nước Nga mà có ý nghĩa quốc tế”.

Đánh giá về giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Dưới anh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng, giành độc lập, tự do cho dân tộc, vững bước đi lên trong thời kỳ quá độ và đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, van minh”.

“Yêu thương con người” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu thương con người xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội, là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người là phải quan tâm đến những người lao động bình thường, chiếm số đông trong xã hội. Yêu thương con người là phải làm mọi việc vì con người, vì mục tiêu “ai cũng có cơm no, áo ấm để mặc, ai cũng được học hành”; dám hy sinh, dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người. Yêu thương con người là phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc, với người thì độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm. Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, sống cao đẹp hơn. Yêu thương con người là phải tự phê bình, phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm. Song song đó, quan điểm đạo đức Hồ Chí Minh, với mọi người phải “Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình”./.


 

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các Hội nghị Cấp cao Liên quan

 

Dưới đây là toàn văn Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các Hội nghị Cấp cao Liên quan.

Thưa Quốc vương và Quý vị Lãnh đạo ASEAN,

Thưa Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch AIPA 41 và các vị khách quý,

Tôi nồng nhiệt chào mừng Quý vị Lãnh đạo các nước ASEAN và các nước Đối tác của ASEAN tham dự Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các Hội nghị Cấp cao liên quan giữa ASEAN với các Đối tác. Do dịch Covid-19, chúng ta không có dịp gặp trực tiếp trong năm qua, nhưng trên các nền tảng kỹ thuật số hiện đại, chúng ta vẫn duy trì trao đổi và hợp tác, rút ngắn khoảng cách địa lý và không gian vật chất giữa các quốc gia.

Tôi trân trọng cảm ơn Ngài Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng tại Lễ khai mạc hôm nay.

Thưa Quý vị,

Chúng ta đang trải qua những thời khắc vô cùng khó khăn khi cuộc sống và sinh mạng người dân bị đe dọa bởi COVID-19, đời sống kinh tế - xã hội bị đảo lộn, chất chồng thêm bởi thiên tai, bão lũ, hạn hán gay gắt,... Những tiến bộ xã hội và thành quả kinh tế tích lũy được hàng thập kỷ có nguy cơ bị cuốn trôi và các quốc gia cần nhiều năm nữa để khắc phục và vượt qua những tổn thất này.

Trăn trở với nỗi đau của người dân, đau đáu với nhu cầu khôi phục để vượt qua giai đoạn cam go này, Chính phủ các nước ASEAN chúng ta đã đoàn kết cùng hành động ngay từ những ngày đầu. Từ giữa tháng 2/2020, Chủ tịch ASEAN đã ra Tuyên bố về Ứng phó chung của ASEAN trước bùng phát dịch bệnh COVID-19. Giữa tháng 4/2020, khi dịch Covid-19 mới bùng phát, trên tinh thần Gắn kết và Chủ động thích ứng, đã diễn ra phiên họp Cấp cao đặc biệt ASEAN và ASEAN+3 về ứng phó với dịch COVID-19, Lãnh đạo các nước ASEAN và các đối tác đã có những cam kết mạnh mẽ, tiếp đó tới Cấp cao ASEAN-36, họp tháng 6/2020, các quốc gia thành viên ASEAN đã triển khai hành động mạnh mẽ ở cả cấp quốc gia và khu vực. 

Quỹ ứng phó COVID-19 của ASEAN công bố tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 36 nhận được cam kết ủng hộ tới 10 triệu USD, sẵn sàng hỗ trợ nhu cầu chống dịch của các quốc gia. Tại Cấp cao ASEAN 37 lần này, chúng ta sẽ lập Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp của ASEAN và thông qua Khung chiến lược ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp của ASEAN. Với hỗ trợ của Nhật Bản, ASEAN thống nhất sẽ thành lập Trung tâm khu vực ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp và dịch bệnh. Đây là những kết quả hợp tác thiết thực, có ý nghĩa nâng cao năng lực chung ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp và nguy cơ dịch bệnh trong tương lai.

Khó khăn không chùn bước, thách thức chẳng sờn lòng, dịch bệnh COVID-19 đã không thể cản trở tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Chúng ta  vui mừng thấy hợp tác trên 3 trụ cột vẫn được triển khai tích cực, đúng tiến độ qua kết quả đánh giá giữa kỳ các Kế hoạch tổng thể thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025. Nhân đây, tôi cũng xin nhấn mạnh nhu cầu cần thiết nâng cao năng lực thể chế và khả năng vận hành hiệu quả của bộ máy ASEAN để thích ứng với các yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới. Rà soát triển khai Hiến chương ASEAN là rất cần thiết và tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 37, các Nhà Lãnh đạo sẽ cho ý kiến chỉ đạo về nhiệm vụ quan trọng này.

Thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch, vừa thúc đẩy phục hồi, chúng ta sẽ chính thức thông qua tại Hội nghị lần này Khung phục hồi tổng thể ASEAN và Kế hoạch triển khai cụ thể cho cả 3 trụ cột. Các kế hoạch duy trì ổn định chuỗi sản xuất và cung ứng, đẩy mạnh kết nối và khôi phục giao thương trong khu vực đang được khẩn trương thúc đẩy. Hình thành khuôn khổ đi lại an toàn cho doanh nhân, nhà đầu tư trong bối cảnh Covid-19. Trước mắt, chúng ta có thể xem xét mở lại Lối đi chung cho công dân ASEAN tại các cửa khẩu.

Thưa Quý vị,

Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, nhưng hòa bình và an ninh thế giới chưa thực sự bền vững. Năm qua, hòa bình, ổn định càng trở nên mong manh bởi các nguy cơ chất chồng đến từ hành xử khó đoán định của các quốc gia, cạnh tranh, cọ xát giữa các nước lớn, hệ thống đa phương quốc tế chịu nhiều thách thức, các vấn đề an ninh phi truyền thống, các xu thế cực đoan ngày càng trở nên gay gắt. 

Nhận thức được lợi thế và nguy cơ đặt ra với khu vực, ASEAN trên tinh thần tự cường, đã tỉnh táo và kiên định tiếp cận cân bằng và hài hòa, giữ vững vai trò trung tâm, không bị chao đảo, cuốn vào các dòng xoáy biến động thế giới và khu vực. Tôi hoan nghênh Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN nhân kỷ niệm 53 năm thành lập Hiệp hội, đã khẳng định quyết tâm duy trì khu vực Đông Nam Á hòa bình, an ninh, ổn định và trung lập. ASEAN cũng đã thể hiện nhất quán lập trường nguyên tắc và cam kết mạnh mẽ xây dựng Biển Đông, nơi có tuyến hàng hải huyết mạch của khu vực và toàn cầu, trở thành vùng biển hòa bình và ổn định, an ninh và an toàn cho tự do lưu chuyển hàng hóa, nơi mà khác biệt, tranh chấp được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, nơi pháp luật được tôn trọng, tuân thủ và các giá trị chung được khẳng định. Đề cao ý nghĩa của UNCLOS 1982, là khuôn khổ cho mọi hoạt động trên biển, chúng ta trông đợi sớm hoàn thành Bộ Qui tắc Ứng xử trên Biển Đông COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982.

Trong 75 năm qua, với vai trò thúc đẩy của Liên Hợp Quốc thông qua các Tuyên bố và Nghị quyết quan trọng, thế giới và khu vực chúng ta đạt những tiến bộ đáng khích lệ trong thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Nhân dịp này, chúng ta sẽ lần đầu tiên tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo nữ ASEAN để đại diện lãnh đạo nữ từ các nước trực tiếp lên tiếng về vai trò của phụ nữ thúc đẩy phát triển bền vững trong thế giới hậu COVID-19.     

Khép lại năm 2020, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các Cấp cao giữa ASEAN với các Đối tác sẽ có ý nghĩa quan trọng trong hoàn tất triển khai các ưu tiên đề ra của năm 2020 và định hướng hợp tác trong giai đoạn tới

Trước hết, ASEAN cần tập trung nguồn lực và nỗ lực ở mức cao nhất để từng bước đẩy lùi nguy cơ dịch bệnh COVID-19, sớm có vắc-xin phòng bệnh cũng như phương thức điều trị hữu hiệu, nâng cao năng lực y tế dự phòng để đáp ứng tốt nhất với các tình huống y tế khẩn cấp, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người dân. Song song với đó, chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục sản xuất, kinh doanh, việc làm và sinh kế cho người dân. Các Hội đồng Cộng đồng ASEAN khẩn trương bắt tay thực hiện Khung phục hồi tổng thể của ASEAN và Kế hoạch triển khai ngay sau Hội nghị này. 

Góp phần tái định hình thế giới sau COVID-19, ASEAN cần xác lập vị trí của mình trong sự dịch chuyển sức mạnh kinh tế-chính trị giữa các quốc gia cũng như những điều chỉnh của chuỗi sản xuất-cung ứng toàn cầu. Lợi thế cạnh tranh sẵn có của ASEAN cần được bổ sung thêm các giá trị của khoa học công nghệ tiên tiến, năng lực chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như khả năng đa dạng hóa các thị trường đầu vào và đầu ra.

Thứ Hai, Phát triển đồng đều, bền vững, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Cộng đồng ASEAN, nhất là khi dịch bệnh, thiên tai đang đe dọa làm suy giảm tăng trưởng của cả khu vực. ASEAN khẳng định cam kết và tình đoàn kết trong thu hẹp khoảng cách phát triển, gắn kết và hài hòa các nỗ lực phát triển tiểu vùng, như Mê Công, khu vực phát triển Đông ASEAN, với tiến trình phát triển chung của ASEAN. 

Thứ Ba, hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phục hồi và phát triển. Ổn định chỉ có được khi quan hệ quốc tế được duy trì dựa trên luật lệ, các quốc gia cùng tôn trọng, hiểu biết, đối thoại, hợp tác và tin cậy lẫn nhau. ASEAN sẽ tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong dẫn dắt các tiến trình đối thoại và hợp tác sâu rộng ở khu vực; gắn kết sự tham gia, đóng góp của các Đối tác vào các vấn đề thuộc quan tâm và lợi ích chung, ứng phó hữu hiệu với các thách thức. 

Trên tinh thần đó, chúng ta sẽ thông qua các Tuyên bố quan trọng với các Đối tác dịp này, trong đó có (i) Tuyên bố kỷ niệm 15 năm tiến trình EAS, (ii) Tuyên bố về tăng cường hợp tác ASEAN+3 trong nâng cao năng lực tự cường kinh tế tài chính trước các thách thức đang nổi lên. Chúng ta cũng sẽ chính thức (iii) kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), khẳng định quyết tâm mạnh mẽ về tự do hóa thương mại và liên kết của ASEAN và các Đối tác.     

Chúng ta cũng sẽ tiếp tục nỗ lực kiến tạo cấu trúc hợp tác đa phương khu vực dựa trên luật lệ, hình thành và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử được thừa nhận rộng rãi. Cuba, Cô-lôm-bia và Nam Phi đã tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) tại Hội nghị lần này. 

Cuối cùng, bản sắc và tình đoàn kết, gắn bó của Cộng đồng ASEAN càng cần được đề cao trong giai đoạn khó khăn, thử thách này. Tôi hoan nghênh thông qua Bản tường trình về bản sắc ASEAN cũng như các khuyến nghị của Hội đồng Điều phối ASEAN về khuyến khích treo cờ ASEAN tại các quốc gia thành viên và sử dụng ASEAN ca trong các hoạt động chính thức của ASEAN. Để vinh danh các cá nhân, tổ chức đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ASEAN, Hội đồng chấm Giải thưởng ASEAN đã quyết định trao giải thưởng năm 2020 cho Trung tâm nghiên cứu ASEAN trực thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á của Trường Ai-sít U-sốp I-sác vì những công trình nghiên cứu góp phần thúc đẩy hợp tác khu vực và tăng cường nhận thức về Cộng đồng ASEAN. 

Thưa Quý vị,

Chúng ta sẽ có một lịch trình hoạt động dày đặc trong các ngày tới đây. Tôi tin tưởng vào tầm nhìn xa trông rộng và tư duy sáng suốt của các Nhà Lãnh đạo ASEAN, sự tham gia, đóng góp tích cực của các Đối tác, các tổ chức quốc tế hàng đầu như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức y tế thế giới v.v. cho thành công của chuỗi Hội nghị chúng ta. 

Đoàn kết và tự cường, ASEAN sẽ vững vàng vượt lên các thách thức, hướng tới cuộc sống ấm no, thịnh vượng cho hơn 600 triệu người dân, đóng góp hiệu quả cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. 

Trên tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN 37 và các Hội nghị Cấp cao liên quan. 

Xin trân trọng cám ơn Quý vị./.


Cảnh giác với âm mưu của những kẻ lật sử chống phá thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga

 Cách đây 103 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra làm “rung chuyển thế giới”. Kể từ đó, loài người trải qua biết bao biến cố, thăng trầm nhưng giá trị bất diệt, vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười vẫn ngày càng được khẳng định. Vậy nhưng, mỗi khi đến ngày kỷ niệm cuộc cách mạng ấy, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội, bất mãn lại dùng mọi chiêu trò, thủ đoạn hòng bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Chúng không coi Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng thực sự mà là “cuộc cách mạng mạo danh”, “là sự chệch hướng lịch sử”... Trần Quốc Quân, một kẻ trở cờ, viết bài đăng trên BBC, coi “Cách mạng Tháng Mười thực chất là một cuộc bẻ ghi đường tàu, khiến một phần nhân loại rẽ sang đường vòng”. Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử” chúng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác - Lênin và rêu rao cuộc cách mạng đó là “đẻ non”, “đã chết” và chủ nghĩa xã hội đã đến “hồi kết thúc”...

Bản chất sự xuyên tạc của những kẻ lật sử ấy không chỉ nhắm vào xuyên tạc một sự kiện lịch sử cụ thể, mà sâu xa hơn là qua đó phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn cách mạng thế giới đã cho chúng ta thấy hậu quả nghiêm trọng của âm mưu và sự chống phá đó.

Nhìn lại những biến cố lịch sử ở Liên bang Xô viết cuối thập niên 1980 với vai trò của A.Yakovlev, thì chính tuyên bố Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử” và những hành động phá hoại của kẻ lật sử A.Yakovlev là một trong những vũ khí tư tưởng trong chiến lược làm tan rã Liên Xô theo âm mưu, kịch bản của phương Tây. Vì vậy, bài học cảnh giác với âm mưu của những kẻ xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng đễn nay vẫn còn nguyên giá trị.

 

Tổng bí thư, Chủ tịch nước phát biểu khai mạc Hội nghị cấp cao ASEAN 37


TTO - Ngày 12-11, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37, tái khẳng định lập trường của Việt Nam về chính sách đối ngoại cũng như tính trung tâm và trung lập của ASEAN.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước phát biểu khai mạc Hội nghị cấp cao ASEAN 37 - Ảnh 1.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên khai mạc ASEAN 37 sáng 12-11 - Ảnh: NHẬT ĐĂNG

"Việt Nam luôn chủ trương giữ vững độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phần đấu vì hòa bình, hợp tác, phát triển.

Tinh thần đó đã đưa Việt Nam trưởng thành và lớn mạnh trong suốt 75 năm qua, và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam trong chính sách đối ngoại của chúng tôi, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đang biến chuyển phức tạp và khó lường như hiện nay", Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói.

Hôm nay, 12-11, Hội nghị cấp cao ASEAN 37 và các hội nghị liên quan chính thức diễn ra. Năm nay sự kiện được tổ chức trực tuyến từ 12 tới 15-11 nhằm hạn chế ảnh hưởng của dịch bệnh do virus corona chủng mới (COVID-19).

Trong phát biểu khai mạc, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định quá trình gắn bó với ASEAN 25 năm qua là tiền đề để Việt Nam triển khai hiệu quả chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của mình.

ASEAN đã trở thành ngôi nhà chung, Cộng đồng ASEAN là cơ sở quan trọng trong việc duy trì bản sắc của Đông Nam Á.

Hội nghị năm nay diễn ra trong bối cảnh Đông Nam Á cũng như các khu vực khác trên thế giới chịu nhiều ảnh hưởng, từ thiên tai, dịch bệnh COVID-19, cho tới cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước phát biểu khai mạc Hội nghị cấp cao ASEAN 37 - Ảnh 2.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng (trái) và Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hội nghị ASEAN 37 ngày 12-11 - Ảnh: NHẬT ĐĂNG

Trên vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, trách nhiệm của Việt Nam rất nặng nề.

Tuy nhiên theo Tổng bí thư, Chủ tịch nước, điểm lạc quan là Việt Nam được hỗ trợ bởi tinh thần đoàn kết, hỗ trợ quý báu của các quốc gia thành viên, các đối tác, và bạn bè của ASEAN.

Ông khẳng định những sự hỗ trợ đó đã giúp "Cộng đồng ASEAN vững vàng vượt qua thách thức, giữ vững đà liên kết xây dựng cộng đồng và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN, xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị, hợp tác, trung lập, và ổn định".

Theo Tuoitre.vn

“LỎM” - KẺ PHẢN ĐỘNG CHÍNH HIỆU

 


Trong bài viết với tiêu đề: “Phản động” rút cuộc là gì? Trên trang Boxitvn.net ngày 22/9/2020, kẻ có bút danh là “Lỏm” sau khi mượn học thuật, đưa ra những kết luận lệch lạc, sai trái, phản khoa học, “y đã hiện nguyên hình là một kẻ phản động chính hiệu, dùng chính những tri thức lệch lạc, sai trái, phản khoa học ấy của mình để đả phá cách mạng, bôi nhọ chế độ, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng, nhân dân ta.

Hắn cho rằng “phản động tự thân nó không có nghĩa xấu”; “nhưng… phản động càng giỏi lại càng dễ bị ăn đòn”; rồi lại cho rằng “những người phản động không đơn giản là những người muốn đứng yên hay muốn quay ngược bánh xe lịch sử… họ hoàn toàn có thể là những người muốn tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới, chỉ là không theo kiểu cách mạng đang diễn ra”.

Thật nực cười với lập luận vờ ngô nghê của “Lỏm”, đã là “phản động’ thì làm sao mà là hành động tốt mà y lại khẳng định “tự thân nó không có nghĩa xấu”?! Bởi nghĩa của “Phản động” là chỉ ý kiến hoặc hành động phản đối, chống đối các phong trào chính trị hoặc phong trào xã hội đúng đắn, tiến bộ - phản đối, chống cách mạng. Mà “cách mạng” là thay cũ đổi mới”, cái “mới” ở đây là cái đúng đắn, tiến bộ, hợp quy luật; nếu không mạng những đặc tính như thế thì dù cái nào đó thay cái cũng cũng không được coi là cái mới và như cái hành động để đưa tới sự ra đời của cái như thế cũng sẽ không thuộc phạm trù “cách mạng”, thậm trí nó đối lập với cách mạng - “phản động”.

Động cơ mục đích của “Lỏm” khi luận bàn về “Phản động” rút cuộc là gì? Chung quy là “…không theo kiểu cách mạng đang diễn ra”. Không hiểu “Lỏm” không đủ dung khí hay không đủ khả năng và trình độ để nói lên con đường mà “Lỏm” và những kẻ phản động như “Lỏm” “muốn tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới”, nhưng “không theo kiểu cách mạng đang diễn ra” ấy rút cuộc là con đường nào? Chẳng phải lịch sử Việt Nam đã quá rõ ràng, sau biết bao tìm tòi thử nghiệm với mục đích “tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới” dưới các ngọn cờ tư tưởng, “kiểu cách mạng” khác nhau đã chứng tỏ rằng “...đối với nước ta không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do hạnh phúc cho nhân dân ngoài con đường xã hội chủ nghĩa”. Lịch sử xã hội đang trải qua những bước quanh co, nhưng loài người tất yếu tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

“Theo kiểu cách mạng đang diễn ra”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 "long trời, lở đất," thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ," "không có gì quý hơn độc lập, tự do"; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc Đổi Mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Còn có con đường nào khác “kiểu cách mạng đang diễn ra” mà có thể “tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới” thực sự thì có lẽ lịch sử dân tộc cũng không đợi chờ đến lúc này để “Lỏm” có cơ hội suy ngẫm, tìm tòi. Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Bất cứ kẻ nào, thế lực nào đả phá cách mạng, bôi nhọ chế độ, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng, nhân dân ta đều là phản động đáng vạch mặt, lên án./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Trung với nước, hiếu với dân”

 

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Trung với nước, hiếu với dân” phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của người làm chủ đất nước.



Về những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam, quan điểm đạo đức Hồ Chí Minh đã bao quát những mối quan hệ cơ bản của con người trong xã hội. Đó là với đất nước, với dân tộc phải “Trung với nước, hiếu với dân”. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trung với nước, hiếu với dân là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập và làm cho đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân là chủ nước, cho nên trung với nước là trung với dân, trung thành với lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”… Hiếu với dân là Đảng, Chính phủ, cán bộ nhà nước phải là “đầy tớ trung thành của dân”, “phải tận trung với nước, tận hiếu với dân”./.

 


Sai lầm, khuyết điểm của các nước đi theo con đường xã hội chủ đã và đang mắc phải, không chứng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm

 

Một số thế lực thù địch, phản động hiện nay cho rằng, “một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường XHCN, trong đó có nước ta đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về CNXH là sai lầm và lỗi thời”. Chúng ta thấy rằng, rocx ràng chúng đang cố tình đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN.

Sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN không phải bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”. Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng “trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan”. Đó là những hạn chế trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền, v.v..

Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước là khó tránh khỏi. Xây dựng CNXH là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Cái khó khăn lớn nhất của chúng ta có lẽ trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở lối nghĩ, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe XHCN như trước đây. Nhiều thế lực đang dòm ngó, chống phá. Trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mớiđạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5% năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80USD đã tăng lên mức trên 2.100USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.

Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chúng ta đã chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ một Nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản, chúng ta đã chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối XHCN là chủ yếu, chúng ta đã mở cửa hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên Hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, hai đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực.

Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về CNXH và xây dựng CNXH, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Chủ nghĩa tư bản có thực sự ưu việt?

 


Hiện nay, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng: “điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường XHCN, chứng tỏ CNTB là ưu việt”. Chúng cố minh chứng sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường XHCN hiện nay. Thật nực cười, tính ưu việt của một chế độ xã hội so với chế độ xã hội khác tại sao lại chỉ có thể duy nhất dựa vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ. Đó chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì.

Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước TBCN phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. CNTB đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của CNTB, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”, đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời Victoria(Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuối thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang Caliphoócnia, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù...

Làm sao, là người Việt Nam mà ai đó có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của CNTB thực dân Pháp? Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét hết vàng, than, sắt, đồng... mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân đế quốc Pháp thiết lập ách thống trị, dày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ B52 ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động và của cải của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về.

Việc xây dựng chế độ XHCN là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện không thể thiếu khác. Theo như C.Mác, CNXH chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ TBCN đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất TBCN. Đối với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ XHCN hầu như còn rất ngắn. Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng CNXH năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng về sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ban Lan cho đến phía Tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước XHCN ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng. Nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học công nghệ vũ trụ. Vào thời hoàng kim, CHDC Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội chung trời của CNTB ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước XHCN như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực TBCN nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnhđã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga.

Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường XHCN sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số không khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế nữa, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn.

Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh, đánh giá tính ưu việt của chế độ TBCN so với chế độ XHCN. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của CNXH cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội.