Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

 NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

(10-12-1948, 10-12-2020) 🌎


Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10-12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người. Những luận điệu bịa đặt đó hoàn toàn vô căn cứ bởi từ khi lập quốc theo chế độ mới đến nay, Việt Nam luôn thực hiện mục tiêu, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tất cả những giá trị tốt đẹp thuộc về quyền lợi cơ bản của con người.

1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

 Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.


Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.


3. Do trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân đế quốc kéo dài suốt ba thập niên (1945-1975) và chịu ảnh hưởng, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội khoảng chục năm sau khi đất nước thống nhất, dù rất quan tâm, song Việt Nam chưa có nhiều điều kiện thuận lợi để bảo đảm thực sự đầy đủ các quyền con người.


Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986-2020). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Mới đây, Tạp chí The Economist tháng 8-2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương ở mức khá. Nhìn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) so sánh mức sống với các nước trên thế giới, thu nhập của người dân Việt Nam năm 2020 tương đương gần 9.000USD (tính theo ngang bằng sức mua).

Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “Chỉ số phát triển con người” (HDI). Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9-12-2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%. Điều này giúp Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Theo nhận định của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 đến nay. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” 17-10-2020 vừa qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.


*Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia đã kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, do vậy, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ người bị lây nhiễm và tử vong vì dịch Covid-19 thấp nhất trên thế giới. Kết quả này thêm một lần chứng tỏ Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên cao nhất để bảo đảm quyền được sống an toàn, khỏe mạnh cho mọi người dân-một trong những giá trị cao cả của quyền con người.


*Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

QĐND

NGĂN CHẶN THÔNG TIN XẤU ĐỘC

 Thời gian qua, liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội.

Chủ động phòng, chống các thông tin sai trái, thù địch

 Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vững bền của đất nước nên thu hút sự quan tâm, kỳ vọng, niềm tin của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

 “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

ĐẬP TAN ÂM MƯU THÚC ĐẨY "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Vu cáo, đặt điều, xuyên tạc, lợi dụng, kích động bạo loạn… là những chiêu trò phổ biến mà các thế lực thù địch tích cức lợi dụng để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là khi đất nước có các sự kiện chính trị quan trọng, thời điểm nhạy cảm. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng là một trọng điểm.

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ PHẢI VÀO CUỘC

 “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm.

Nhận diện các website mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước thềm Đại hội XIII

 Theo quy định pháp luật, báo điện tử, trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng ít nhất 01 tên miền “.vn”

Mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 Sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, thực tế đã và đang có một bộ phận cán bộ sợ sai không dám làm, sợ trách nhiệm, không dám đổi mới, sáng tạo, có tư tưởng chỉ làm “tròn vai”, “đứng yên một chỗ”, “mũ ni che tai”...

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 Gần đến ngày Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch đã lợi dụng việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội để đẩy mạnh chống phá bằng nhiều thủ đoạn, hình thức tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng đặc biệt chú trọng sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội để kích động, bôi nhọ, hạ thấp uy tín cán bộ lãnh đạo, nhằm gây chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Cơ chế “xin - cho” - một nguồn gốc của thoái hóa, biến chất!

 Một vấn đề nhức nhối chúng ta đã đề cập, phê phán rất nhiều lần và muốn ngăn chặn, xóa bỏ tận gốc nhưng đến nay nó vẫn còn “đất sống”, đó chính là cơ chế “xin - cho” - “con đẻ" của chế độ phong kiến và tàn dư từ thời bao cấp.

Chủ động tìm cơ hội mở ra trong cơn nguy nan đại dịch Covid-19

Năm 2020 sắp đi qua để lại dấu ấn nổi bật là đại dịch Covid-19 đã trở thành thảm họa toàn cầu, làm đảo lộn mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội con người trong năm qua. Cùng với sự lây lan dịch bệnh, tác động kinh tế của đại dịch là hết sức nghiêm trọng, nền kinh tế thế giới, vốn đã giảm tốc từ năm 2019, đã bước vào cơn suy thoái nặng nề trong năm 2020. Nhiều đánh giá cho thấy GDP toàn cầu 2020 giảm tới khoảng 4-5%. Thất nghiệp, thu hẹp giờ làm và giảm thu nhập đeo bám hàng trăm triệu lao động. Nhiều nước đã phải dùng các gói hỗ trợ kinh tế chưa từng có tiền lệ, cả về qui mô, diện bao phủ, biện pháp, và trao quyền. Phía trước, rủi ro, bất định còn nhiều.

Việt Nam là một nền kinh tế hội nhập rất sâu rộng, đặc biệt với nhiều đối tác đầu tư, thương mại, du lịch chủ chốt (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ…) đang hứng chịu dịch bệnh rất nặng nề, tăng trưởng giảm sâu. Bản thân Việt Nam cũng phải gồng mình chống dịch, chấp nhận “cách ly địa giới” và “giãn cách xã hội” ở những thời điểm dịch bùng phát (tháng 4 trên phạm vi cả nước, cuối tháng 7 và 8 ở một số tỉnh thành). Kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng 1,81% nửa đầu năm nay, mức thấp nhất trong suốt tiến trình Đổi mới. Do dịch bùng phát trở lại cuối tháng 7 và tháng 8, tăng trưởng dự báo có thể chỉ đạt 2-3% cho cả năm nay. Sáu tháng đẩu năm, gần 31 triệu lao động chịu ảnh hưởng tiêu cực; con số đó trong tháng 8 là khoảng 5 triệu. Dịch Covid-19 tác động xấu tới gần như tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế như du lịch, lưu trú ăn uống, giải trí, vận tải, logistic, phân phối, công nghiệp chế tác, công nghiệp khai khoáng, và cả nông nghiệp. Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn đối với cả nền kinh tế và doanh nghiệp. Nhưng càng khó khăn, càng phải cầm cự, duy trì “năng lượng” để khi cơn bão dịch đi qua, chúng ta có thể lại vươn lên mạnh mẽ.

Phản ứng của Chính phủ  kịp thời với những chính sách kích thích kinh tế mới

Trong điều kiện nguồn lực không dư giả, ngân sách còn eo hẹp, nhưng chính sách hỗ trợ lần thứ nhất của Chính phủ về cơ bản vẫn đảm bảo được 3 mục tiêu: thiết thực; cách thức hỗ trợ như giãn hoãn khoanh nợ, giãn hoàn thuế, cắt giảm nhiều loại phí; trao tiền mặt cho khoảng 20 triệu người cơ bản thuộc các nhóm dễ tổn thương là chưa từng có tiền lệ song vẫn đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ đã ban hành gói hỗ trợ kinh tế lần thứ nhất khá kịp thời, ngay trong tháng 3-4. Mặc dù việc thực thi chính sách nói chung còn chậm, đến tháng 9, theo điều tra diện rộng của Tổng cục Thống kê, chỉ chưa tới 18% doanh nghiệp tiếp cận được gói hỗ trợ. Bối cảnh khó khăn chung cộng việc dịch Covid-19 tái bùng phát càng cho thấy phải tiếp tục có những chính sách kích thích kinh tế mới (gói hỗ trợ lần thứ hai). Quan trọng nhất là cần đảm bảo thực thi nhanh, đúng và minh bạch các gói hỗ trợ này. 

Thời điểm tư duy lại, nâng cấp quản trị  

Trước cú sốc lớn như đại dịch Covid-19, vai trò hỗ trợ của Nhà nước là rất quan trọng. Song dù như thế nào, nỗ lực của bản thân doanh nghiệp vẫn có ý nghĩa quyết định. Vấn đề không chỉ là cách ứng phó với khủng hoảng mà còn là phục hồi và bứt phá khi dịch qua đi.

Thảm họa Covid-19 là biến cố không ai mong đợi. Song, đây chính là dịp thử thách bản lĩnh Việt Nam và doanh nghiệp. Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp đã đương đầu thử thách, vượt qua khó khăn bằng ý chí, sự linh hoạt và sáng tạo như:

Cắt giảm chi phí là việc rất “truyền thống” nhiều doanh nghiệp tính toán và làm ngay, tùy theo nguồn lực của mỗi doanh nghiệp. Tính toán bước đi tiếp và việc chỉ giữ lại phần cốt yếu nhất (hoạt động, nhân sự) cũng có thể là việc “cực chẳng đã” nhưng là một lựa chọn. Ngay trong khó khăn, việc duy trì quan hệ hoặc tìm hiểu đối tác cũng là khía cạnh đáng lưu tâm.

Thời dịch bệnh, giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc trực tiếp được khuyến khích. Kinh tế số, không chỉ thương mại điện tử mà cả trong giáo dục, làm việc văn phòng… có cơ phát triển. Không ít doanh nghiệp đã bổ sung, chuyển đổi mô hình kinh doanh, cách thức tương tác khách hàng thành công nhờ công nghệ số.

Thị trường có nhu cầu cao hơn đối với các mặt hàng thiết yếu, dù tình hình có khó khăn đến mấy vẫn phải dùng hàng ngày. Nhiều doanh nghiệp nắm bắt nhanh nhu cầu và chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh. Thiết bị y tế, khẩu trang, nước rửa tay kháng khuẩn… là những sản phẩm rõ nhất cho câu chuyện này. Sản phẩm bánh mì Thanh long của một doanh nghiệp còn cho thấy chất sáng tạo rất nhân văn, lại phù hợp đòi hỏi thị trường.

Do dịch bệnh diễn ra và khống chế khác nhau giữa các quốc gia, nên rất cần sự nhanh nhạy xử lý thông tin và tiếp cận thị trường ngay khi có điều kiện. Ví dụ, khi một thị trường khống chế được dịch, nới lỏng các biện pháp chống dịch, doanh nghiệp rất nên “nhắm tới/quay lại” để tranh thủ cơ hội này.

Tìm hiểu thông tin, tận dụng có hiệu quả các gói hỗ trợ của Chính phủ cũng là cách giúp vượt khó. Không nên chỉ chú ý đến chính sách uu đãi mà quên nhìn cả việc thúc đẩy đầu tư công, như vào kết cấu hạ tầng, để có thể trực tiếp hay gián tiếp tham gia.

Quan trọng không kém là doanh nghiệp cần xem cú sốc đại dịch Covid-19 là cơ trong nguy để xoay chuyển tình thế và cải tổ chính mình. Có thể nói đây chính là thời điểm tư duy lại, thiết kế lại, xây dựng lại gắn với việc nhận diện xu thế; định vị thị trường, đối tác; xác định cách thức chuyển đổi số; nâng cấp quản trị (cả quản trị rủi ro); sáng tạo sản phẩm; đào tạo kỹ năng mới cho người lao động.

(Theo vietnamnet.vn)


Ngày mai xét xử sơ thẩm cựu Giám đốc CDC Hà Nội Nguyễn Nhật Cảm

Ông Nguyễn Nhật Cảm (cựu Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật - CDC Hà Nội) bị cáo buộc vì động cơ vụ lợi đã ký mua thiết bị phòng chống dịch COVID-19 cao gấp 3 lần. Theo dự kiến, trong 3 ngày (10-12.12), TAND TP Hà Nội mở phiên sơ thẩm xét xử 10 bị cáo, trong đó có ông Nguyễn Nhật Cảm cùng về tội "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3, Điều 222, Bộ Luật hình sự 2015. Theo cáo trạng, từ đầu năm 2020, CDC Hà Nội đã mua một số hệ thống Realtime PCR tự động nhằm đáp ứng nhu cầu xét nghiệm phòng chống dịch COVID-19. Do thời gian gấp nên việc mua sắm này được CDC Hà Nội thực hiện theo phương thức chỉ định thầu. Từ các tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra xác định hệ thống máy xét nghiệm Realtime PCR phòng chống COVID-19 khi nhập về Việt Nam giá khoảng hơn 2 tỉ đồng. Tuy nhiên các doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối mua bán lòng vòng với nhau và CDC Hà Nội đã mua với giá hơn 7 tỉ đồng, gấp 3 lần giá nhập. Cơ quan điều tra xác định, tổng số các thiết bị y tế mua là hơn 4 tỉ đồng, được nâng khống thành hơn 9 tỉ đồng. Theo đó, số tiền Nhà nước bị thiệt hại là hơn 5 tỉ đồng. Trong quá trình điều tra, toàn bộ số tiền thiệt hại đã được thu hồi cho Nhà nước. Các bị can cũng đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án. Cơ quan công tố cáo buộc, bị can Nguyễn Nhật Cảm có trách nhiệm chính trong việc mua sắm hàng hoá, thực hiện đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu thông thường đối với gói thấu 15 theo quy địnhcủa pháp luật. Tuy nhiên, bị can Cảm đã lợi dụng dịch bệnh, vì động cơ vụ lợi, trực tiếp thoả thuận, thống nhất giá mua sắm các máy, thiết bị y tế gói thầu 15, ấn định giá là 9,54 tỉ đồng trước khi thực hiện quy trình chỉ định thầu thông thường; Trực tiếp ký hợp đồng cung cấp dịch vụ thẩm định giá với bị can Nguyễn Trần Duy (Tổng giám đốc Công ty CP định giá và bán đấu giá Nhân Thành) để Duy giả mạo hồ sơ, ký ban hành chứng thư thẩm định giá theo mức do CDC Hà Nội yêu cầu; Ghi lùi ngày ký để hợp thức hoá các thủ tục chỉ định thầu... (Nguồn Báo Lao động)

Sẽ triển khai nghiên cứu đa trung tâm, 10 nghìn người thử vaccine COVID-19

Ở giai đoạn 3 của quá trình thử nghiệm lâm sàng vaccine COVID-19, Việt Nam sẽ cần ít nhất 10 nghìn người thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao hoặc dương tính với SARS-CoV-2. Vậy làm thế nào để đạt đủ số mẫu? Sẽ cần 10 nghìn người có nguy cơ mắc COVID-19 cao hoặc dương tính Trước những thông tin Việt Nam sẽ chính thức khởi động chương trình thử nghiệm lâm sàng vaccine COVID-19 đầu tiên, người dân đang quan tâm đến những tình nguyện viên sẽ đăng ký thử nghiệm vaccine COVID-19 ra sao, những mũi vaccine đầu tiên sẽ được tiêm như thế nào? TS Nguyễn Ngô Quang - Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế, Chánh Văn phòng Chương trình Quốc gia nghiên cứu phát triển vaccine cho hay, sau khi rà soát lại hồ sơ nghiên cứu tiền lâm sàng và các nghiên cứu tương tự trên thế giới, dự kiến vaccine Nano Covax sẽ được thử nghiệm lâm sàng với 2 khoảng liều chính là 50 mcg (microgam) và 75 mcg. Nếu được Hội đồng Đạo đức thông qua như vậy thì dự kiến giai đoạn 1, chúng ta sẽ có khoảng 40 đối tượng tham gia vào giai đoạn 1. "Đây là số lượng tối thiểu chứ không áp dụng số lượng tối đa, vì đây là giai đoạn rất nhạy cảm và rất quan trọng, khi chuyển nghiên cứu từ động vật sang người. Việc xác định tính an toàn là quan trọng nhất trong giai đoạn này. Chính vì vậy, dự kiến giai đoạn 1 sẽ có 40 đối tượng, chia cho 2 khoảng liều là 50 mcg và 75 mcg"- ông Quang nói. Dự kiến từ tháng 1- 4.2021, khi có kết quả ban đầu giai đoạn 1, đặc biệt đánh giá về tính an toàn của 2 khoảng liều thì Hội đồng Đạo đức sẽ chuyển sang giai đoạn 2. Dự kiến giai đoạn 2 sẽ tiến hành từ tháng 3-4.2021 và giai đoạn 2, số lượng cỡ mẫu tối thiểu là 400. Giai đoạn 2 bắt buộc phải thiết kế nghiên cứu có nhóm chứng, nghĩa là chúng ta sẽ sử dụng các đối tượng có nguy cơ, liên quan đến vùng dịch tễ và đối tượng thứ 2 là nhóm placebo (nhóm sử dụng thuốc đối chứng). Trên cơ sở kết quả giai đoạn 1, cơ quan quản lý và Hội đồng Đạo đức mới cho phép triển khai kết quả giai đoạn 2, trên cơ sở kết quả giai đoạn 2 thì cơ quan quản lý và Hội đồng Đạo đức sẽ cho phép chuyển sang giai đoạn 3. Giai đoạn 3 dự kiến số lượng tối thiểu là 10.000 người. Theo TS Quang, đối với thử nghiệm vaccine giai đoạn 3 thì số mẫu tối thiểu là mười nghìn đến vài chục nghìn. Đặc biệt, giai đoạn 3 lại rất cần việc triển khai, đánh giá vaccine trên đối tượng có nguy cơ cao hoặc dương tính đối với SARS-CoV-2 để đánh giá tính sinh miễn dịch. Triển khai nghiên cứu đa trung tâm Vậy làm sao để Việt Nam có thể đảm bảo đủ số lượng 10.000 người có nguy cơ cao để thử nghiệm vaccine? Trả lời câu hỏi này, TS Nguyễn Ngô Quang cho biết: "Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã thực phòng chống dịch COVID-19 rất tốt. Vì vậy, khi nói đến vấn đề số lượng mẫu để thử nghiệm lâm sàng vaccine giai đoạn 3, chúng ta cần đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc dương tính với COVID-19 thì chúng tôi rất quan ngại vì ở Việt Nam không đủ số lượng. Do vậy sau khi xin ý kiến của Bộ trưởng và vừa qua, trong cuộc họp Thường trực Chính phủ thì Bộ trưởng cũng đã công bố là Việt Nam sẽ chính thức phối hợp cùng với 3 quốc gia trong đó có Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh để triển khai nghiên cứu đa trung tâm". Theo ông Quang, với mục tiêu làm sao có được số lượng đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu là 10.000 người, đảm bảo tính có yếu tố dịch tễ và tỉ lệ nguy cơ cao, từ đó, chúng ta có thể so sánh làm sao cho khoa học và ra kết quả cuối cùng. "Như vậy, dự kiến thời gian nghiên cứu sẽ kéo dài từ tháng 1.2021 và chúng tôi hy vọng là đến tháng 12.2021, chúng ta có các dữ liệu ban đầu về an toàn tính sinh miễn dịch. Còn lại, để đánh giá khả năng bảo vệ hay hiệu lực bảo vệ của vaccine, chúng ta còn phải thêm thời gian theo dõi tiếp theo vì trong 12 tháng, thậm chí 16 tháng, chúng ta vẫn chưa đủ thời gian để đánh giá được hiệu lực bảo vệ"- TS Quang khẳng định. (Nguồn Báo Lao động)

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

HĐND TP bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số Ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021

 

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh cho biết những ứng viên được giới thiệu bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP đều có năng lực, uy tín, ông cũng đề nghị các đại biểu công tâm, khách quan, lựa chọn người thực sự xứng đáng.

Chiều 8-12, phát biểu giải trình một số nội dung tại phiên chất vấn, kỳ họp thứ 18, HĐND TP Hà Nội, chủ tịch UBND TP Chu Ngọc Anh đã dành thời gian nói thêm về những ứng viên được giới thiệu bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021.

"Tại kỳ họp này, HĐND TP bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số Ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021. UBND TP giới thiệu để HĐND TP bầu lần này đều là các đồng chí cán bộ có năng lực, uy tín, kinh qua nhiều vị trí công tác tại các sở, ngành, quận, huyện, được lựa chọn thông qua quy trình công tác cán bộ nghiêm túc, chặt chẽ, dân chủ, công khai" - ông Ngọc Anh cho biết.

"UBND TP mong muốn các vị đại biểu HĐND TP công tâm, khách quan, lựa chọn những đồng chí thực sự xứng đáng, giúp cho UBND TP sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt để tăng cường hiệu quả" - chủ tịch Chu Ngọc Anh nói tiếp.

Tại kỳ họp này, chiều ngày 9-12, HĐND TP sẽ bầu 5 phó chủ tịch UBND, dự kiến phân công trong các lĩnh vực: kinh tế tổng hợp; kinh tế ngành; quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, quản lý đô thị; văn hóa - xã hội và tài nguyên, môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đề cập về công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19, theo ông Chu Ngọc Anh, dịch bệnh COVID-19 đã tác động tiêu cực đến nhiều mặt, tuy nhiên, về cơ bản thành phố vẫn đạt được những mực tiêu kép, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, GRDP ước đạt 3,98%, gấp 1,5 lần bình quân chung của cả nước.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ trong giai đoạn tới là tập trung phục hồi, lấy lại đà phát triển kinh tế, tiếp tục thực hiện "mục tiêu kép" vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, ông Ngọc Anh nhấn mạnh trong phòng chống dịch COVID-19 giai đoạn tới, cần tập trung quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả các biện pháp để kiểm soát, phòng chống dịch COVID-19. Đồng thời duy trì vững chắc thành quả phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe của nhân dân Thủ đô. 

Ông Chu Ngọc Anh cũng nhấn mạnh nhiệm vụ việc đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các sự kiện chính trị của Đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII trên địa bàn.

 

ĐÁNG TIẾC THAY CHO MỘT NHÀ KHOA HỌC LẦM ĐƯỜNG

Nguyễn Đình Cống là một giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân tại Đại học Xây dựng. Ông là một trong những kỹ sư đầu tiên ở Việt Nam chuyên về nghiên cứu Bê tông và các lĩnh vực khác trong Xây dựng. Ông đã có nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu giảng dạy đào tạo trong lĩnh vực Xây dựng.

Ngoài ra ông cũng đi sâu vào nghiên cứu Phong thuỷ cũng như các môn huyền học mệnh lý khác ứng dụng vào thực tế. Ông cũng có mở các lớp dạy phong thuỷ sau khi về hưu.

Tuy nhiều năm công tác trong Nhà nước nhưng sau khi về hưu, trong những năm gần đây, ông gây tranh cãi khi có nhiều bài viết trên trang cá nhân phản biện các chính sách của Đảng Cộng sản. Ông có nhiều bài chỉ trích những điều mà ông cho là sai lầm của Chủ nghĩa Mác- Lênin. Gần đây, ông còn kêu gọi thực hiện đa nguyên, dân chủ trên trang mạng Bauxite.

Giáo sư Nguyễn Đình Cống được sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những năm đất nước còn khó khăn, trong khi lớp lớp thanh niên đều ra chiến trường, với biết bao hy sinh xương máu, không tiếc thân mình vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì Giáo sư được Đảng, Nhà nước ưu ái tạo điều kiện cho đi ăn học ở Liên Xô. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng trường Đại học Xây dựng, bao thế hệ sinh viên đã học Giáo sư ra trường và trở thành những người thành đạt. Còn đối với Giáo sư, ở tuổi đã xế chiều, được Đảng và Nhà nước cho nghỉ chế độ, học vấn đủ đầy, công danh, sự nghiệp khó ai sánh bằng. Tại sao Giáo sư không an phận với những gì Đảng và Nhà nước đã ưu ái mà lại quay ra phản bội lại lý tưởng một thời ông theo đuổi, phản bội lại chính tổ chức đã nuôi dưỡng và cho Giáo sư tất cả vinh quang trong cuộc đời. Việc Giáo sư cố tình “công khai tuyên bố” rời bỏ lý tưởng mà mấy chục năm phấn đấu là việc riêng của cá nhân Giáo sư, tôi không quan tâm nhiều. Nhưng Giáo sư lại ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản động, chống đối Đảng, chống đối cách mạng. Đó là một tội lỗi còn trên cả sự tha hóa, suy thoái của cá nhân. Thái độ vong ơn, bội nghĩa đối với đất nước, dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa của Giáo sư hoàn toàn trái với đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Vừa qua, trên trang blog baotiengdan đã đăng tải bức “thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống gửi các đại biểu Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trong thư, ông ta tha thiết đề nghị các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng “công khai phát biểu ở Đại hội những điều bức thiết của dân tộc, các vị thể hiện rõ lòng yêu nước, yêu dân, trọng công lý, có trí tuệ và dũng cảm, dám bảo vệ sự thật…”

Tuy nhiên, nội dung thực chất “thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống nhằm tuyên truyền, kích động, chia rẽ các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được ban soạn thảo chuẩn bị hết sức công phu, khoa học và lấy ý kiến đóng góp của đại hội đảng các cấp, thể hiện tập trung trí tuệ của toàn Đảng. Song Nguyễn Đình Cống cho rằng: “Đọc toàn bộ thấy tổ hợp một đống ngôn từ và khẩu hiệu, bóng bẩy, hùng hồn, nhiều ý trùng lặp, nhiều rác rưởi, chủ yếu là để tuyên truyền và tự ca ngợi. Nhiều kế hoạch, nhiều số liệu thuộc dạng tầm phào”.

Nhằm kích động, lôi kéo các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng đồng tình, ủng hộ quan điểm sai trái, phản động trên, Nguyễn Đình Cống viết: “Tôi nhận thấy có nhiều điều phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học và nghĩ rằng nhiều vị cũng nhận thấy như thế, nhưng chưa dám nói, vì sợ. Sợ quá hóa hèn. Xin hãy nghĩ đến lương tri mà khắc phục nỗi sợ này. Đã có rất nhiều người vượt qua được nỗi sợ như thế”.

Để phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xã hội, Nguyễn Đình Cống đã cố tình bịa đặt, xuyên tạc tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện của đất nước sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; đồng thời phủ nhận các chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, nội dung bức “Thư ngỏ” này là hoàn toàn sai trái, thù địch nhằm tuyên truyền, kích động chống Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, hiểm họa từ “Thư ngỏ” này của Nguyễn Đình Cống thật là khôn lường, bởi lẽ, nó được che đậy dưới những ngôn từ của một con người dối trá, tự cho mình “có lòng yêu nước, yêu dân, trọng công lý, có trí tuệ và dũng cảm, dám bảo vệ sự thật”. Song, Nguyễn Đình Cống không thể nào che đậy được bản chất của một phần tử cơ hội bất mãn chính trị, chống Đảng, Nhà nước Việt Nam.

CHúng ta tin tưởng rằng các vị đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng đều là những cán bộ, đảng viên thực sự ưu tú, tiêu biểu về bản lĩnh và trí tuệ, Nguyễn Đình Cống sẽ không bao giờ có thể lừa gạt được họ. Song tôi mong mọi người hãy nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái trong “Thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống.

 

 

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

  Tại buổi nói chuyện với giáo viên và học sinh Trường Phổ thông Chu Văn An - Hà Nội ngày 31 tháng 12 năm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Cá nhân chủ nghĩa đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị.v.v...”. Chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh ví như “giặc nội xâm”, “giặc trong lòng” và nó như một thứ vi trùng độc hại, là rác rưởi làm tha hóa các mối quan hệ vốn có của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, cần phải kiên quyết đấu tranh, sửa chữa, quét sạch.

Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra tội ác của chủ nghĩa cá nhân; đó là: Sống ích kỷ, sống thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước; đặt ra yêu cầu cao về tính tập thể, về mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, quan hệ quân - dân... đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta, được nhân dân yêu mến, tin tưởng vinh danh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Vì vậy, muốn quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ đảng viên trong Quân đội nói riêng phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận; nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình và tích cực xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, để dẹp cái xấu, lấy xây là chính... nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng, góp phần xây dựng quân đội nhân dân “cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng tốt với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN MỚI

CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ "VIỆT TÂN"

 

  Sau khi Bộ Công an công bố “Việt tân” là tổ chức khủng bố đồng thời xử lý nghiêm những người có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”... một số đối tượng cầm đầu, cốt cán trong tổ chức đã tuyên bố rút ra khỏi tổ chức để thực hiện các dự án riêng. Một trong số đó là việc sử dụng danh nghĩa Tổ chức NGO nước ngoài, lợi dụng các vấn đề liên quan “dân sinh”, “dân chủ”, dễ dàng tiếp cận với người dân. Đây là thủ đoạn nguy hiểm của “Việt Tân” nhằm tránh cáo buộc liên quan khủng bố. Một trong số đó là tổ chức Rise (gọi tắt là RISE). Tổ chức RISE hoạt động dưới vỏ bọc tổ chức phí chính phủ (NGO) theo mô hình tổ chức “xã hội dân sự”, bảo vệ môi trường, nhu cầu dân sinh, là những vấn đề thu hút được sự chú ý của người dân để tập hợp lực lượng, kích động bạo loạn, biểu tình trong nước; huấn luyện đào tạo cho các cá nhân, hội nhóm người Việt trong và ngoài nước nhằm gây dựng các tổ chức chính trị đối lập.

* Ngày 02/3/2020, ba thành viên cốt cán của “Việt tân” gồm Trinnitry Phạm Hồng Thuận, Angelina Trang Huỳnh và Nguyễn Quốc Trinh “công khai” xin ra khỏi tổ chức “Việt tân”, tuyên bố thành lập tổ chức “RISE” với khẩu hiệu hoạt động là “RISE: Thay đổi trong tầm tay” được đăng ký dưới danh nghĩa tổ chức phi lợi nhuận hoạt động về môi trường, thành lập tại Mỹ. Angelina Trang Huỳnh là giám đốc điều hành; nhóm cố vấn có Nguyễn Mạnh Hùng, Cựu phó ban Việt ngữ Đài BBC, hiện là cộng tác viên đài VOA; Nguyễn Khoa Diệu Quyên (vợ của Trúc Hồ, phát ngôn viên đài SBTN). Các đối tượng đang xúc tiến lập “Văn phòng” tại Singapore và móc nối, lôi kéo số đối tượng trốn truy nã như Thái Văn Dung, Lê Văn Sơn... tham gia.

Đây là những đối tượng cầm đầu, cốt cán trong “Việt tân” có nhiều hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam trong nhiều năm qua.

* Angelina Trang Huỳnh, có tên đầy đủ là Huỳnh Phạm Phương Trang (SN 1973, trú tại Mỹ). Từ năm 2002, đối tượng đã có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam. Cụ thể, từ năm 2002-2004, làm phân hội phó “Hội chuyên gia Việt Nam tại Đan Mạch”. Đến năm 2005, tham gia tổ chức “Việt tân” tại Đan Mạch sau đó sang Mỹ du học và sinh hoạt tại Mỹ. Năm 2010, Angelina Trang Huỳnh nhập cảnh Việt Nam cùng với Huỳnh Châu, tổ chức các khóa huấn luyện tại TP Hồ Chí Minh và hiện đang là Ủy viên Trung ương “Việt tân”, Ủy viên Tổng bộ chính trị, trưởng ban Internet.

Trinnitry Phạm Hồng Thuận (SN 1988, quốc tịch Mỹ) đã được kết nạp vào tổ chức “Việt tân” vào năm 2007. Từ khi tham gia đến nay, Phạm Hồng Thuận đã có rất nhiều hoạt động chống phá Việt Nam. Ngày 22/7/2007, Thuận đã đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt Nam tại Nam California. Không lâu sau đó, vào ngày 25/9/2007, Thuận đại diện cho Cộng đồng người Việt Nam tại California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”. Phạm Hồng Thuận đồng thời là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của Việt tân), trưởng ban tuyên truyền của “Đại hội thanh niên, sinh viên thế giới Việt Nam kỳ 5”, do Việt tân tổ chức tại Philippines năm 2008 và là thành viên ban tổ chức “Đại hội thanh niên, sinh viên thế giới Việt Nam kỳ 6” tại Philippines từ ngày 4 đến 07/8/2011 và tham gia biểu tình đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân (SN 1953, quốc tịch Mỹ, nguyên Ủy viên TW “Việt tân” phản đối Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Với những hoạt động trên, “Việt tân” âm mưu đẩy mạnh tập hợp lực lượng móc nối với các nhóm xã hội dân sự trong nước; tăng cường đưa lực lượng, phương tiện về địa bàn kề cận, triển khai các kế hoạch chống phá trong nước, tìm kiếm thêm nguồn tài trợ cho hoạt động thúc đẩy xã hội dân sự tại Việt Nam, sau khi các tổ chức ngoại vi như NGO “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại”, VOICE bị các cơ quan chức năng Mỹ, Canada và các nước khác theo dõi... RISE xác định mục tiêu hoạt động là xây dựng phong trào và hình thành các nhóm xã hội dân sự trong lĩnh vực dân sinh, thúc đấy sáng kiến xã hội thông qua hỗ trợ kiến thức, tài chính; hình thành một số nhóm cộng đồng hoạt động độc lập nhằm thúc đấy các hoạt động xã hội dân sự vì môi trường và sức khỏe tại Việt Nam. Đồng thời sử dụng danh nghĩa của tổ chức NGO hoạt động trong các lĩnh vực “dân sinh”, “dân quyền”, đặt trọng tâm vào Việt Nam nhằm vào các vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân (môi trường, dịch bệnh...) với mục đích là để tập hợp lực lượng, lồng ghép các hoạt động chống phá Nhà nước ta. Vì thế chúng ta cần nâng cao cảnh giác trước các thủ đoạn mới của tổ chức phản động "Việt tân"./.

SỰ XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM NĂM 2020

 

Xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam là một trong những hoạt động thường xuyên của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta. Năm 2020, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam có sự ổn định và đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn xuyên tạc thực tiễn này. Trần Phương với bài viết đăng trên mạng xã hội: “10 vấn đề tôn giáo năm 2020 mà chính quyền không muốn bạn biết” là một trong số đó. Với những dẫn chứng rời rạc, sai sự thật, bản chất và mục đích của y và đồng bọn là xuyên tạc: không có tự do tôn giáo ở Việt Nam và sự can thiệp của chính quyền.

Thứ nhất, các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động đúng pháp luật, có những đóng góp tích cực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Theo Điều 21, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016: Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện: Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Có hiến chương theo quy định…, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương ….

Theo quy định trên, hiện nay ở nước ta có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động. Các tổ chức tôn giáo được công nhận cơ bản hoạt động theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong đời sống xã hội.

Các “tôn giáo mới” mà Trần Phương đưa ra như: Pháp Môn Diệu Âm, Đạo Giê Sùa, Đạo Bà Cô Dợ, Đạo Hà Mòn, Pháp Luân Công, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ…. đều không đủ các điều kiện trên. Hơn nữa, những hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo này làm gì, tôn chỉ, mục đích ra sao thì ai cũng biết. Họ đã làm gì cho đất nước, làm cho người dân hạnh phúc hay luôn bị các thế lực xấu sai khiến, vì trục lợi mà làm những việc trái với luân thường đạo lý, truyền thống văn hóa dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại, hủy hoại sức khỏe, sự nghiệp, tiền của biết bao gia đình.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước ta luôn bảo đảm và tạo mọi điều kiện để các tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo

Tại Điều 24, Chương II, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, có những chủ trương, chính sách đúng đắn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật và đường hướng hành đạo đã xác định. Trong thời kỳ đổi mới, các tổ chức tôn giáo có những biến đổi theo hướng đồng hành cùng dân tộc, tăng nhanh về số lượng tín đồ, các công việc nội bộ được tôn trọng, các hoạt động in ấn, xuất bản được mở rộng. Tuy nhiên, chúng ta cũng kiên quyết xử lý việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở, phá hoại cuộc sống yên bình của người dân (trong đó có đồng bào theo đạo). Các tổ chức, cá nhân mà Trần Phương cho là chính quyền cản trở, kiểm soát, chiếm đoạt, ép buộc, trả đũa, bắt giữ, trừng phạt, cầm tù, giam lỏng: Pháp Luân Công, một số chức sắc, tín đồ ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Nguyễn Đình Thục, Nguyễn Văn Toản, việc tổ chức tang lễ Thích Quảng Độ, các vụ liên quan đến đất đai của một số tổ chức tôn giáo… là hoàn toàn vu khống, suy diễn, đổi trắng thay đen. Dư luận đều biết những vụ việc, tổ chức, cá nhân này. Mọi công dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ hiến pháp và pháp luật. Chức sắc, tín đồ các tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp. Mọi hành động cản trở công cuộc đổi mới, “hại nước, hại dân” đều bị xử lý theo pháp luật. Các cá nhân, tổ chức trên bị xử lý vì vi phạm pháp luật, không phải vì họ theo tôn giáo này hay tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào.

Năm 2020 sắp đi qua, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành tổng kết về các nội dung liên quan đến tôn giáo để đánh giá khách quan tình hình tôn giáo, công tác tôn giáo và đề ra chủ trương, giải pháp cho thời gian tới. Vì thế, mỗi chúng ta phải luôn cảnh giác, nhận diện và đấu tranh bác bỏ với những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam như Trần Phương và đồng bọn./.

                                                                                                                Theo Nhân văn việt

Thi đua yêu nước - động lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

 

Thực hiện chủ đề thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động: “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, những năm qua, các phong trào thi đua tiếp tục phát triển sâu rộng ở các cấp, các ngành, các vùng miền, địa phương trên cả nước, với nhiều đổi mới về nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức.

Bên cạnh 4 phong trào thi đua trọng tâm do Thủ tướng Chính phủ phát động: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, các bộ, ngành, địa phương đã phát động các phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề, thi đua cao điểm, thi đua đặc biệt để giải quyết những khó khăn, cấp bách của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Trong phát triển kinh tế, tiêu biểu là các phong trào: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”; “Công nhân lao động giỏi, lao động sáng tạo”… đã góp phần cùng đất nước ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý. Sản xuất công nghiệp được củng cố, tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội cả nước. Cung cầu, giá cả hàng hóa giữ được ổn định, kể cả trong giai đoạn cả nước gặp khó khăn do COVID-19.

Bình quân giai đoạn 2016 - 2020, ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng 30% GDP và cũng là lĩnh vực có đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước. Thương mại trong nước giữ vững vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 9%/năm, đóng góp 12 - 13% GDP, thu hút khoảng 12,1% tổng lao động toàn xã hội.

Đến tháng 6/2020, cả nước đã có 5.177 xã (58,2%) đạt chuẩn nông thôn mới; có 9 tỉnh, thành phố có 100% số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân cả nước đạt 16,2 tiêu chí/xã. Có 127/664 đơn vị cấp huyện thuộc 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm khoảng 19,1%).

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, các phong trào thi đua đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phong trào “Dạy tốt, học tốt” tiếp tục được triển khai sâu rộng, chất lượng giáo dục ngày càng nâng lên. Hàng nghìn học sinh, sinh viên, vận động viên thể thao đã đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế.

Trong lĩnh vực y tế, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu”, phong trào thi đua đã góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dịch bệnh được kiểm soát, bước đầu sử dụng trang thiết bị y tế và ứng dụng nhiều thành tựu y học tiên tiến của thế giới trong điều trị bệnh và ghép tạng thành công. An sinh xã hội được bảo đảm, thực hiện hiệu quả các chương trình nhân văn, ý nghĩa như “Đền ơn, đáp nghĩa”; “Xóa đói, giảm nghèo”, “Mái ấm tình thương”, “Vì Trường Sa thân yêu”... đã mang lại niềm tin yêu trong nhân dân, phát huy mạnh mẽ truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc... Đặc biệt, phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” đã đóng góp tích cực trong nỗ lực giảm nghèo của Việt Nam, đưa tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm xuống còn 4% năm 2019.


Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nội chính, tư pháp và đối ngoại, các phong trào thi đua góp phần quan trọng trong việc giữ vững chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Trong lĩnh vực đối ngoại, các cấp, các ngành đã hướng thi đua vào việc tập trung nghiên cứu, tham mưu thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, thiết lập quan hệ ngoại giao và thương mại với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương đã được ký kết, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, tạo cơ hội để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về kinh tế, thúc đẩy tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,5%/năm; nhập khẩu được kiểm soát tốt, nhiều chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu bền vững giai đoạn 2011 - 2020 đã về đích trước kế hoạch.

Việt Nam đã đảm nhiệm tốt nhiều trọng trách quốc tế lớn như Chủ tịch ASEAN, Ủy viên Thường trực Hội đồng Liên hợp quốc, Chủ tịch Hội đồng Liên Nghị viện các nước ASEAN (AIPA). Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, ngành Ngoại giao triển khai tốt ngoại giao trực tuyến với kết quả nổi bật.

Công tác khen thưởng nhìn chung đã thực hiện đúng quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chất lượng khen thưởng được nâng lên; đã chú trọng việc phát hiện tập thể, cá nhân lao động trực tiếp có thành tích xuất sắc để khen thưởng kịp thời./.

Dận diện các thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang

 

“Phi chính trị hóa” quân đội, công an được xác định là nhiệm vụ trọng yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam; các thế lực thù địch cho rằng, “phi chính trị hóa” quân đội, công an chính là con đường cơ bản để “vô hiệu hóa” vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ có như vậy thì chúng mới có cơ hội làm “cách mạng sắc màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Thực tiễn đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam đã lộ diện một số “gương mặt” đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an như sau:

Một là, một số “lý luận gia” tư sản, chính trị gia ở các nước phát triển phương Tây vốn thâm thù ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những người này chống cộng điên cuồng, chống Đảng Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá. Từ thực tế ở Liên Xô, Đông Âu, họ rút ra kinh nghiệm muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quân đội, công an. Những “lý luận gia” này đang làm việc trong bộ máy chính quyền nhà nước hoặc làm việc trong quân đội nên họ có điều kiện tác động vào chính sách đối ngoại của đất nước họ, đồng thời quyên góp, ủng hộ vật chất để đầu tư cho các chương trình tuyên truyền, xuyên tạc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam.

Hai là, một số nhóm tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài. Thành viên các nhóm này bỏ chạy khỏi đất nước năm 1975, vốn là những người phản bội Tổ quốc, có nợ máu với nhân dân. Những hội, nhóm này tự xưng đảng phái, ủy ban, hội nọ, hội kia để lôi kéo những người Việt trẻ ở nước ngoài và các thành phần tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền ở trong nước.

Ba là, một số trí thức, văn nghệ sĩ suy thoái, biến chất, bất mãn chế độ trong nước. Đáng tiếc nhất, trong số này có cả một vài cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị, sau khi nghỉ hưu hoặc bị kỷ luật đã sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã thành lập những câu lạc bộ, hội, nhóm để chống phá đất nước, chĩa mũi dùi tấn công nền tảng tư tưởng bằng cách xuyên tạc bản chất chính trị của quân đội, công an.

Bốn là, một bộ phận nhỏ người dân có nhận thức non kém về chính trị. Họ là trí thức trẻ, sinh viên, thanh niên, nông dân, công nhân... vì những lý do khác nhau, bị đầu độc bởi môi trường thông tin xấu độc, tham gia đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an.

Nếu như trước đây, các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an thông qua đòi hỏi trực diện là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, công an, thì gần đây có những biến thể mới về nội dung. Cụ thể như:

Dựa vào chính các nội dung lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an để xuyên tạc, bịa đặt. Chẳng hạn, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó một số lực lượng, quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại thì chúng “bẻ lái” sang xây dựng “quân đội hiện đại, quân đội nhà nghề”. Từ đó cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”.

Dựa vào chính sách tuyển quân, tuyển công an của Đảng, Nhà nước ta để tung ra luận điệu cho rằng “quân đội, công an là của nhân dân, của mọi người dân yêu nước” để phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, công an; phá hoại bản chất giai cấp của quân đội, công an.

Tuyên truyền, kích động, gây mất đoàn kết giữa quân đội với công an, gây mất đoàn kết trong nội bộ hai lực lượng này. Đặc biệt, chúng phao tin, đồn nhảm về các tướng lĩnh, cán bộ cấp cao trong lực lượng vũ trang (LLVT); cho rằng “có tham nhũng ghê gớm” trong quân đội, công an; từ đó gây tâm lý hoang mang, dao động trong cán bộ, chiến sĩ hòng làm suy giảm sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, công an. Những vụ việc tiêu cực trong quân đội, công an được xử lý, thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật thì chúng cho rằng, đó chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Nét mới nổi lên gần đây là các lực lượng ở trong nước chủ động ngụy tạo hoặc thổi phồng, bôi đen các sự kiện, vấn đề của quân đội, công an trong nước để “đánh trống, la làng” gây sự chú ý của các lực lượng thù địch, phản động ở nước ngoài; từ đó móc nối, liên hệ với nhau để chống phá.

Xuyên tạc về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Cho rằng, đây là những hoạt động tốn kém, không thiết thực đối với xây dựng sức mạnh của lực lượng vũ trang; chia rẽ, gây sự phân biệt giữa các cán bộ chính trị với đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang.

Bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh người chiến sĩ công an; truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo vật chất trong bộ đội, công an; kích động, lôi kéo một số cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ sa vào lối sống sa đọa, hưởng thụ, không còn lý tưởng vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Các thế lực thù địch đã sử dụng kết hợp nhiều phương tiện truyền thông (sách, băng đĩa, truyền hình, phát thanh, báo in, báo điện tử) cùng với mạng xã hội để phát tán thông tin. Một số cơ quan báo chí của nước ngoài như RFA, RFI, BBC, VOA... thường xuyên đăng, phát các dạng bài tuyên truyền đầu độc nêu trên và đăng kèm phụ đề “bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả”. Hằng năm, vào dịp các ngày lễ lớn của đất nước hoặc các sự kiện chính trị quan trọng (như Đại hội Đảng bộ Quân đội, Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng) thì các hoạt động tuyên truyền, vận động đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an lại được tổ chức rầm rộ như một chiến dịch truyền thông.

Bài học rút ra từ quá trình “phi chính trị hóa” Quân đội Xô Viết càng giúp chúng ta hiểu hơn lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội không thể và không nên trung lập”.

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt./.

GIẢ DANH CỰU CHIẾN BINH ĐỂ LÀM ĐIỀU XẤU!

Hôm nay, ngay tại số 132 Hàng Bạc, một nhóm đối tượng giả danh cựu chiến binh, đã dàn 4,5 xe trên đường phố, chặn gần hết con đường này để… đòi nợ thuê. Những người này giăng biểu ngữ, thậm chí, chửi bới, cản trở dòng người qua lại để gây sức ép với gia chủ. Việc làm của đám người trên gây bức xúc với người đi đường, làm ảnh hưởng tới uy tín của những người cựu chiến binh thực sự. 

Đây không phải là lần đầu tiên có những kẻ mang danh cựu chiến binh để gây rối trật tự công cộng. Còn nhớ, cách đây hơn 1 năm, trên VTV đã có phóng sự về một nhóm những kẻ mặc áo cựu chiến binh được thuê đòi nợ, ra sức chửi bới, ném chất bẩn vào nhà người dân ở TP Hồ Chí Minh. Hay người dân Hà Nội không còn lạ gì những kẻ mạo danh cựu chiến binh để chen lấn mua vé ưu tiên các trận bóng có đội tuyển Việt Nam tham dự, sau đó, nhanh chóng bán cho những kẻ phe vé ngay trước sân vận động Mỹ Đình.

Tôi dám khẳng định, những kẻ kia chắc chắn không phải là cựu chiến binh, bởi lẽ, một người lính, đã từng ra trận, hay khoác trên mình bộ quân phục, không bao giờ làm những việc đi ngược lại với pháp luật, gây phản cảm với người dân như vậy. Là người lính từng vào sinh ra tử, hi sinh vì đất nước không màng đến lợi ích cá nhân, không bao giờ chúng tôi lấy danh nghĩa cựu chiến binh để làm những điều xấu xa như vậy.

Hi vọng các cơ quan chức năng, đặc biệt là chính quyền địa phương và lực lượng kiểm soát quân sự cần nhanh chóng vào cuộc, làm rõ những hành vi lợi dụng, giả danh cựu chiến binh để gây rối trật tự, nhằm bảo vệ uy tín, danh dự những người cựu chiến binh như chúng tôi.

CỜ NGOÀI, BÀI TRONG

 


Ở đâu quan tâm đến các sự kiện của đất nước cũng có chuyện trong, chuyện ngoài; đây là sự quan tâm, mong mỏi chính đáng của mỗi công dân có trách nhiệm với đất nước. Nhưng quan tâm, mong muốn, thể hiện chính kiến thế nào cho đúng là người công dân có trách nhiệm mang tính xây dựng với đất nước là rất cần thiết, khi Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp chuẩn bị diễn ra. Đại đa số nhân dân đều nắm chắc và thể hiện sự mong muốn của mình đúng cách, như đã rất tích cực tham gia, đề xuất những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đất nước trong 5 năm tới và những năm tiếp theo rất tốt, rất trách nhiệm; nhiều người đã thể hiện được cái tâm, cái tầm, tài năng trong tham gia hoạch định các chủ trương, chính sách để phát triển đất nước, được ghi nhận. Nhưng cũng có một số người còn bất đồng chính kiến, do cái tôi quá lớn; cá biệt có người chỉ nhăm nhăm soi, bới lông tìm vết,… xoáy vào những hạn chế, sai sót để phê phán, lăng mạ… thậm chí suy diễn thiếu cơ sở, mang nặng ý kiến cá nhân, làm xấu hình ảnh của quốc gia, dân tộc theo hướng không lành mạnh, gây hoang mang, nghi ngờ, mất đoàn kết trong một số tổ chức và xã hội, làm mất tính xây dựng và trách nhiệm với đất nước, dân tộc. Do vậy, đối với các công dân có trách nhiệm, hãy bình tĩnh xem xét mọi sự việc một cách khách quan, không nên cảm quan, vội vã bình luận những sự việc thiếu tính xây dựng, không cẩn thận lại có tội với Tổ quốc mình./.

QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM NGÀY NAY

 


Lịch sử đã chứng minh, hai nước Việt Nam và Lào đã “cùng chung một chiến hào” đấu tranh chống kẻ thù chung, giúp đỡ lẫn nhau chí tình, chí nghĩa, dành độc lập dân tộc của mỗi nước, hình thành lên mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, trong sáng hiếm có trong bang giao quốc tế. Từ ngày giành được độc lập đến nay, hai nước đã hợp tác giúp đỡ nhau hết lòng, hết sức trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển của mỗi nước. Lào và Việt Nam đã hợp tác giúp đỡ lẫn nhau mọi mặt với tinh thần vô tư, trong sáng, thủy chung, kế tục truyền thống mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay Sỏn - Phôm Vi Hản và các thế hệ lãnh đạo, chiến sĩ cách mạng, nhân dân hai nước đã dày công vun đắp. Nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ hai nước 45 năm qua, chúng ta có quyền tự hào, khẳng định: tình đoàn kết đặc biệt thủy chung và sự hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, đang tiếp tục củng cố, đổi mới và phát triển sâu rộng hơn; nội dung hợp tác ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, trên tất cả các lĩnh vực; tiêu biểu là những dự án viện trợ không hoàn lại, như: Nhà Quốc hội mới, Sân bay Hủa Phăn, Bệnh viện ở Hủa Phăn và Xiêng Khoảng… đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của đất nước Lào.

 

QUAN HỆ ĐẶC BIỆT LÀO - VIỆT NAM

 


Theo Chủ tịch Caysỏn, thắng lợi của cách mạng Lào cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu chặt chẽ giữa cách mạng của ba nước Đông Dương. Trong mấy chục năm qua, ba dân tộc của ba nước Đông Dương cùng chung một chiến hào chống thực dân Pháp và trên tuyến đầu chống Mỹ, đã kề vai, sát cánh, chiến đấu hỗ trợ nhau, hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa, san sẻ với nhau những khó khăn, tạo cho nhau những thuận lợi, khích lệ động viên nhau. Đó là sự hợp đồng chiến đấu theo tinh thần anh em và tình đồng chí giữa cách mạng ba nước; đó cũng là mối quan hệ quốc tế trong sáng và mẫu mực. Chủ tịch đã từng nói “Nhân dân Lào chúng tôi vô cùng hãnh diện có nhân dân Việt Nam anh hùng vừa là đồng chí vừa là anh em thân thiết của mình”. Mối quan hệ Lào - Việt Nam được bắt nguồn từ nền móng tư tưởng vững chắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn xây dựng là mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện, trước sau như một, không bao giờ thay đổi.

NHẬN DIỆN BỘ MẶT THẬT CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Chủ nghĩa chống cộng - hệ tư tưởng chiến đấu của chủ nghĩa đế quốc, thể hiện lợi ích của tư bản độc quyền trong cuộc đấu tranh của nó chống lại các lực lượng của chủ nghĩa xã hội, dân chủ và tiến bộ, chống lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chống các dân tộc đang đấu tranh bảo vệ sự nghiệp giải phóng dân tộc của mình.

Theo đó, chủ nghĩa chống cộng là hệ thống các học thuyết chính trị - xã hội, quan điểm, tư tưởng và những chính sách phản động, phản khoa học của giai cấp tư sản và nhà nước tư bản chủ nghĩa, chống lại chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội hiện thực, các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới, nhằm duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa chống cộng ra đời ngay từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện. Lúc đầu chúng coi chủ nghĩa Mác là bóng ma ám ảnh châu Âu, chúng tìm mọi cách làm mất uy tín, tiêu diệt cả học thuyết và người sáng tạo ra học thuyết khoa học, cách mạng về sự phát triển xã hội là chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa chống cộng tập hợp một cách vô nguyên tắc tất cả những gì có thể sử dụng với hai hai hướng tiếp cận: Một là, đưa ra những quan điểm, tư tưởng, học thuyết chính trị - xã hội phản động, phản khoa học, hoàn toàn đối lập về thế giới quan, phương pháp luận với chủ nghĩa Mác-Lênin. Hai là, tìm chính sách, thủ đoạn thực tiễn nhằm bao vây, cấm vận, ám sát, đảo chính, xâm lược và can thiệp một cách trắng trợn vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền bằng những học thuyết phản khoa học, phản động. Đối tượng và mục đích chống phá của chủ nghĩa chống cộng là xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, làm tan rã và sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa, chia rẽ, làm suy yếu phong trào cách mạng, chống lại các lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Để chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa chống cộng không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn đen tối nào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao… Chúng sử dụng chiến lược "diễn biến hòa bình" để chống phá cách mạng Việt Nam một cách toàn diện, thủ đoạn của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực là đánh mềm, đánh ngầm, đánh sâu, đánh hiểm để thực hiện âm mưu phá hoại toàn diện, chiến thắng không cần chiến tranh. Vì vậy, chúng ta phải hết sức cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc của các thế lực thù địch, đập tan chiến lược "diễn biến hòa bình" của chúng; thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

Trải qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã nhận rõ nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết, xử lý đúng đắn, hiệu quả.

Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội XII của Đảng lại nhấn mạnh và cụ thể hóa hơn là mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Để nhận thức đúng đắn và xử lý tốt mối quan hệ đó, Đảng đã chỉ rõ nguyên tắc và phương châm, phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn đất nước, chú trọng nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, những diễn biến của khu vực, quốc tế tác động tới nước ta trên cả hai mặt thuận lợi và khó khăn, tích cực và tiêu cực để đón kịp, tận dụng thời cơ, chủ động vượt qua thách thức và nguy cơ, tôn trọng quy luật khách quan, không phiến diện, cực đoan, duy ý chí. Từ thực tiễn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy cần nhận thức sâu sắc hơn, tiếp tục bổ sung, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mối quan hệ lớn về mặt tư tưởng, lý luận, đề ra quyết sách, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, tiếp tục phát triển đất nước nhanh và bền vững. Chú trọng xử lý tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng tưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đó là những mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta. Đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đầy đủ, thật sự thấm nhuần, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, thật hiệu quả./.