Thứ Năm, 11 tháng 3, 2021

Đại tướng Lương Cường được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội

 

Đại tướng Lương Cường được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội

Cơ quan Tổng cục Chính trị giới thiệu hai người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV là Đại tướng Lương Cường và Thượng tướng Trần Quang Phương.

Theo quyết định của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị được giới thiệu 4 người ứng cử. Tại các hội nghị cho ý kiến về nhân sự giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV chiều 10/3, cơ quan Tổng cục Chính trị giới thiệu Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND VN, và Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Theo báo cáo kết quả nhận xét, đại tướng Lương Cường có "lai lịch chính trị rõ ràng, sức khỏe tốt; bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng...". Tương tự, Thượng tướng Trần Quang Phương "luôn gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có uy tín cao trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang; đã trải qua chiến đấu và giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy...".

Sau khi nghe các báo cáo, các đại biểu dự hội nghị đã thảo luận và biểu quyết thống nhất 100% giới thiệu Đại tướng Lương Cường, Thượng tướng Trần Quang Phương ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV.

Trước đó, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị lãnh đạo, chỉ huy mở rộng giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Hai người được giới thiệu ứng cử gồm Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Quốc phòng; và Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Quốc phòng.

Sáu tướng lĩnh và ba sĩ quan cấp tá ở các Quân khu 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 cũng được giới thiệu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV.

Theo nghị quyết 1185 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng Quốc phòng nằm trong cơ cấu Chính phủ. Ngoài ra, trong khối lực lượng vũ trang, quân đội (gồm cơ quan bộ, các quân khu, quân chủng và lĩnh vực trọng yếu) có 12 đại biểu. Tổng số lượng đại biểu Quân đội ở các cơ quan Trung ương là 13; số lượng đại biểu quân đội ở địa phương theo cơ cấu định hướng là 14.

Bên cạnh đó, 6 cán bộ quân đội được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giới thiệu bầu đại biểu chuyên trách, cơ cấu giữ các chức danh của Quốc hội khóa XV. Như vậy, tổng số đại biểu quân đội được cơ cấu bầu vào Quốc hội khóa XV là 33.

 

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

Triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: 8 nội dung lớn

 

Triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: 8 nội dung lớn

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Chỉ thị khẳng định Đại hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng).

Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức Đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt 8 nội dung lớn sau.

Thứ nhất, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ.

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Thứ hai, các cấp uỷ, tổ chức Đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng chương trình hành động của cấp uỷ.

Thứ ba, nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII; Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Báo cáo Chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm năm 2021-2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khoá XII.

Thứ tư, công tác tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, chất lượng; kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, quán triệt; nhấn mạnh, làm rõ những vấn đề mới, cốt lõi; nêu cao trách nhiệm của báo cáo viên, người đứng đầu cấp uỷ trong báo cáo truyền đạt Nghị quyết, cũng như cán bộ, đảng viên trong học tập Nghị quyết, đặc biệt là sự nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp.

Thứ năm, sau đợt nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội, các cấp uỷ, tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội khẩn trương tiến hành xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, sáng tạo và bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả. Kết quả thực hiện chương trình hành động là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị hằng năm và cả nhiệm kỳ. Thời gian hoàn thành chương trình hành động trong quý II/2021.

Thứ sáu, công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cần được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, phong phú, sinh động.

Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm “lấy xây làm chính”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài để góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thứ bảy, việc tổ chức hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải kết hợp với thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị khác, đặc biệt là công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19, công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, an toàn.

Thứ tám, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng tham mưu kế hoạch tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hướng dẫn việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, đồng thời theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chất lượng, hiệu quả nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn về kinh phí phục vụ việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xây dựng Kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Bộ Chính trị yêu cầu Chỉ thị được phổ biến đến Chi bộ.

 

LÊ BÁ DƯƠNG - TÁC GIẢ BÀI THƠ "ĐÒ XUÔI THẠCH HÃN ƠI...CHÈO NHẸ" - NGƯỜI CHIẾN SĨ KIÊN TRUNG!

 


Hình ảnh chiến sĩ Lê Bá Dương tác giả của bài thơ "Đò xuôi Thạch Hãn ơi...chèo nhẹ" (tay cầm AK) và 2 đồng đội khác (Quán và Hè) chụp ngay trước trận đánh đồi Thám Báo 1971.

Trận đánh đồi Thám Báo tức cao điểm 544 diễn ra vào rạng sáng ngày 20.6.1971. Đơn vị của Trung đội trưởng Lê Bá Dương (Trung đoàn 27, Sư đoàn 390, Quân đoàn I) nhận nhiệm vụ đánh chiếm cao điểm 544 (PuLơ) được coi là “con mắt thần” đặc biệt quan trọng của tuyến hàng rào điện tử Mcnamara tại Quảng Trị.

Trung đội trưởng Lê Bá Dương cùng 3 chiến sĩ đại đội 3, tiểu đoàn 2, trung đoàn 27 được Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các gọi lên trao 3 quả pháo hiệu với lời dặn dò và cũng là mệnh lệnh: "Cậu chọn mấy tay súng lên mỏm đồi thám báo, cố giữ lấy điểm chốt này một ngày để tối đến tiểu đoàn tập kết lên làm bàn đạp đánh chiếm cao điểm 544. Trong trường hợp không thể giữ được nguyên vẹn, cậu bắn pháo hiệu cho pháo ta bắn thẳng vào trận địa để tiểu đoàn tiếp tục phương án 2, bằng mọi giá đánh chiếm cao điểm 544..."

Nhận nhiệm vụ cho một trận đánh quyết tử, chấp nhận cái chết, trước khi lên chốt, Lê Bá Dương đã lấy cuốn sổ tay - phần thưởng cho chiến sĩ Quyết thắng rồi lẳng lặng tách lấy 2 trang đầu có in hình Bác Hồ, bỏ vào túi áo bên ngực trái và dẫn 3 chiến sĩ lên chốt.

-------

Từ rạng sáng ngày 20.6.1971, tại điểm chốt trên đồi Thám Báo, Lê Bá Dương đã chỉ huy 3 chiến sĩ đánh bật hàng chục cuộc phản kích của của 2 đại đội bộ binh VNCH. Khi chỉ còn những viên đạn cuối cùng, hai đồng đội đã hy sinh, hai người còn lại bị thương nặng. Nhìn quân địch giãn đội hình chia làm nhiều hướng chuẩn bị cuộc phản kích mới, trong giây phút quyết định của trận đánh, Lê Bá Dương đã lấy máu từ vết thương trên thân mình viết sau tấm ảnh Bác Hồ lời thề quyết tử:

“Bác Hồ ơi! Bắt đầu từ hôm nay 20.6, con cùng đồng đội đã bắt đầu nổ súng diệt địch giữ chốt đến cùng. Quán đã diệt được 7 tên, Hoè, Dương hơn một chục. Tại mỏm đồi thám báo này con và Hoè cùng trung đội càng ghi sâu lời Bác dạy: Hễ còn tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi. Bác ơi! Quyết tâm của chúng con, trách nhiệm của chúng con là giữ chốt...”.

Rồi giật 3 quả pháo hiệu làm hiệu cho pháo của quân ta phá hủy trận địa, chấp nhận hy sinh nhưng may mắn chỉ bị ngất đi.

Trước đó, trong một trận đánh khác tại Tây Bắc huyện lỵ Cam Lộ đã trở thành cội nguồn của việc sau này Lê Bá Dương thường về thắp hương trên núi, trên đồi, thả hoa xuống suối sông. Đêm đó, sau trận đánh cao điểm 322 (giữa tháng 11 năm 1969), đại đội của ông lúc ấy gồm 67 người vừa mới dừng chân để nấu ăn thì một loạt bom B52 dội xuống đội hình. Trận bom quét qua chỉ mấy giây đồng hồ nhưng đại đội chỉ còn đúng 6 người.

Lê Bá Dương cũng là tác giả của bài thơ viết về Thành cổ Quảng Trị:

"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm..."

---

Nguồn: Tuấn Nghĩa

SỰ THẬT!

 Tòa án cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm hình sự đối với 6 bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và dự kiến phiên tòa sẽ kết thúc vào ngày 10/3. Ngày đầu tiên xét xử phúc thẩm, báo chí Việt Nam tham dự đã loan tải đầy đủ thông tin về diễn biến phiên tòa (có cả ghi âm, ghi hình) nhưng không hiểu sao RFA vẫn cứ một mình đăng tải thông tin một cách thiếu toàn vẹn, thiếu khách quan và cố tình hướng lái dư luận hiểu sai về kháng cáo của bị cáo Lê Đình Công cũng như bản chất vụ án này.

RFA cũng vội vàng đưa tin về phiên tòa xét xử từ tiêu đề cho đến nội dung của bài viết đều thể hiện rõ một vấn đề ‘bị cáo Lê Đình Công thay đổi kháng cáo từ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt sang kháng cáo kêu oan’. Bên cạnh đó, lời khai của Lê Đình Công từ việc đe dọa sẽ giết 300 công an nếu vào làng Đồng Tâm, cũng như việc góp tiền, tự tay chuẩn bị bom xăng, vật liệu nổ đến hành vi sử dụng bom xăng để tấn công lực lượng công an,… đã bị RFA bẻ lái theo hướng ‘nhẹ đi’ như “Lê Đình Công chỉ ném hai chai xem với mục đích đe dọa….”. Tuy nhiên, toàn bộ quan điểm bài viết này chỉ là việc RFA ‘dựa vào các thông tin báo chí Việt Nam đã nêu’ để viết lại.
Rõ ràng, các tờ báo của Việt Nam cũng loan tải đầy đủ thông tin từ việc bị cáo Lê Đình Công kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt sau đó tại phiên tòa lại thay đổi kháng cáo sang kêu oan và sau khi trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử lại thay đổi từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt. Các báo có phóng viên tham dự phiên tòa như TTXVN, báo Tiền phong, Thanh niên, Tuổi trẻ, Dân trí,… đều đăng tải và khẳng định về ‘sự thay đổi kháng cáo của bị cáo Lê Đình Công’. Đồng thời, các báo còn mô tả khá rõ ràng về câu hỏi của Hội đồng xét xử và câu trả lời rành mạch của bị cáo Lê Đình Công cũng như các bị cáo khác ở phiên tòa.
Trong khi đó, RFA không hề được phép có phóng viên tại phiên tòa cũng như chưa có luật sư nào cung cấp thông tin cho RFA (trong bài viết không nêu chỉ nêu luật sư Đặng Đình Mạnh đăng trên facebook về thông tin luật sư tiếp xúc với bị cáo tại phiên tòa) để RFA viết bài viết trên. Rõ ràng, RFA tự viết bài sau khi khái lược các bài viết trên các báo Việt Nam sao lại cố tình ‘cắt đuôi’ và ‘vuốt nhẹ’ lời khai của bị cáo Lê Đình Công ? Điều này phản ánh sự thiếu trung thực, khách quan khi đưa tin nếu như chưa muốn nói rằng ‘cố tình hướng lái dư luận’ hiểu sai về kháng cáo của Lê Đình Công cũng như bản chất vụ án. Phải chăng, nhân dân Việt Nam không biết thông tin này ? Vậy, mục đích mà RFA muốn hướng đến là gì ?

HẾT TRÒ: LÊ CHÍ THÀNH ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

 

 


Đọc được tin này đúng là không nhịn được cười. Cách đây mấy hôm thì Lê Dũng Vova (một kẻ phá hoại) tự ứng cử Đại biểu Quốc hội thì hôm nay Lê Chí Thành (một kẻ biến chất của ngành Công an) tiếp tục bày trò ứng cử Đại biểu Quốc hội.

Biết rằng ứng cử và tự ứng cử là quyền của công dân và không bị hạn chế. Người được giới thiệu ứng cử và tự ứng cử đều có quyền lợi như nhau và các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ tham gia.

Theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng được các tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội (Điều 2 Luật số 57/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014). Cụ thể, 7 tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội được quy định như sau:

1. Đủ 21 tuổi trở lên tính đến ngày được công bố bầu cử.

2. Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

3. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

4. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ ĐBQH.

5. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

6. Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

7. Có 1 quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

Từ những tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội nêu trên thì thấy rằng Lê Chí Thành chỉ có đáp ứng hai tiêu chuẩn (tiêu chí 1 và tiêu chí 7 là đủ 21 tuổi và là có quốc tịch Việt Nam), còn 05 tiêu chuẩn còn lại thì Lê Chí Thành lại không đáp ứng mà thậm chí còn theo chiều hướng ngược lại.

Trình độ Lê Chí Thành chắc hẳn thấp nhất cũng là 12/12 nên việc đọc và hiểu những tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội là không vấn đề. Thế nhưng Lê Chí Thành vẫn ngoan cố bày ra cái chiêu trò phá hoại thì mọi người có thể hiểu được bản chất con người Lê Chí Thành như thế nào.

Phải chăng Lê Chí Thành tự biết rằng việc tự ứng cứ chắc chắn sẽ bị loại nên Thành cố ý bày trò này để lợi dụng việc bị loại để xuyên tạc, vu cáo cho nhà nước Việt Nam không có quyền “dân chủ”, không có quyền tự do và thực hiện các hoạt động phá hoại, chống phá đất nước. Đúng là một nhân phẩm vứt đi!

Thiết nghĩ, phải cảm thấy rất may mắn khi ngành Công an đã loại bỏ sớm "con sâu làm rầu nồi canh" ra khỏi lực lượng.

Theo Hoa Xuân – Việt Nam Trong Tim Tôi

Không thể xuyên tạc quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam

Trước hết, phải khẳng định rằng, bảo đảm tự do tôn giáo và tín ngưỡng của nhân dân là quan điểm cơ bản, nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ sau một ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945, chủ tọa phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới thành lập, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Từ đó đến nay, quan điểm ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành định hướng chung cho việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Hiến pháp - luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước ta đều khẳng định công dân có quyền tự do tôn giáo. Điều 70 của Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp hiện hành) nêu rõ “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua cũng đã khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Không chỉ được thể hiện bằng các quan điểm, đường lối, chính sách, quy định của pháp luật mà trên thực tế, quyền tự do tôn giáo của mọi công dân, của mọi tổ chức tôn giáo chân chính với hàng chục triệu tín đồ trên cả nước luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển. Theo số liệu thống kê, hiện nay cả nước có gần 100.000 chức sắc tôn giáo, trên 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều công trình được trùng tu, xây mới. Tính riêng hai năm 2010 và 2011 đã có gần 500 công trình tôn giáo được xây mới, hơn 600 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học, như: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo và các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Hoạt động báo chí, in ấn, xuất bản trong lĩnh vực tôn giáo được đẩy mạnh, riêng Nhà xuất bản Tôn giáo đến nay đã xuất bản hơn 4000 đầu sách với số lượng hàng chục triệu bản. Mọi sinh hoạt tôn giáo hợp pháp ở Việt Nam đều diễn ra bình thường, không gặp bất cứ sự cản trở nào. Đặc biệt, những ngày lễ của các tôn giáo được tổ chức trọng thể theo đúng nghi thức tôn giáo, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng vào chính sách tôn giáo và pháp luật của Nhà nước Việt Nam, đồng thời bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Dư luận trong nước và quốc tế đánh giá rất cao việc Việt Nam đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc vào năm 2008, Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới vào năm 2010... Cùng với việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách chăm lo đến đời sống của bà con giáo dân, đặc biệt là việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, phát triển văn hóa, tạo điều kiện cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. Khách quốc tế khi đến đất nước Việt Nam đều dễ dàng nhận thấy người dân theo tín ngưỡng, tôn giáo sinh hoạt bình thường và các lễ hội được tổ chức chu đáo tại các cơ sở thờ tự có sự tham gia đông đảo của người dân. Cựu Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ, khi về thăm Việt Nam, chứng kiến sự thật về tự do tôn giáo tại đất nước của mình đã phát biểu: “Không phải riêng tôi, mà cả trăm, nghìn Việt kiều về thăm quê hương đều thấy chùa chiền được xây cất ngày càng nhiều, người đi chùa, đi nhà thờ đông nghìn nghịt, hoàn toàn không có sự cấm đoán. Nếu mà nói về tự do tôn giáo thì thật sự có tự do, không ai có thể chối cãi được”. Năm 2009, Đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do Phó chủ tịch M.L Cro-ma-ti dẫn đầu đến thăm và làm việc tại Việt Nam đã nhận xét: “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ”. Theo quan điểm của Liên hợp quốc trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 thì tự do tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tôn giáo không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có giới hạn. Sự giới hạn đó là cần thiết nếu việc thực hiện quyền này xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và tự do cơ bản của người khác. Nói cách khác, ở tất cả các nước, các loại hình tổ chức tôn giáo đều được tự do hoạt động nhưng phải trong giới hạn của pháp luật. Mọi hành vi hoạt động tôn giáo gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức và các quyền của người khác…, đều bị cấm và nghiêm trị theo pháp luật. Những tổ chức hoạt động mê tín dị đoan, giả danh tôn giáo, giáo phái cực đoan đều không được thừa nhận có tư cách và quyền như một tôn giáo. Nước Mỹ luôn tự nhận là quốc gia bảo đảm về tự do tôn giáo, nhưng tại đây, nếu ai đó có những hành vi danh xưng tôn giáo để tập hợp lực lượng, chống nước Mỹ đều bị cơ quan bảo vệ pháp luật ở các bang bắt, xử lý nghiêm khắc. Mới đây, các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Mỹ đã bắt giữ 7 thành viên của nhóm Hutaree (tên thổ ngữ mà những người trong nhóm tự đặt ra) vì có hành vi chống lại chính quyền Mỹ. Nhóm Hutaree có trụ sở tại bang Michigan, đã lên kế hoạch giết một sĩ quan cảnh sát sau khi tấn công một đám tang, nhằm bắt đầu một cuộc nổi loạn, sử dụng vũ khí chống lại chính quyền Mỹ. Khi bị bắt, nhóm này xưng danh "chiến binh Thiên Chúa giáo" và nói rằng họ được quyền làm theo "Chúa". Rõ ràng, tự do tôn giáo không thể đánh lận với một số đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau. Pháp luật ở Việt Nam và ở hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đều có những điều, khoản khẳng định: Mọi công dân trong một quốc gia đều bình đẳng trước pháp luật. Khi phạm một tội thì dù công dân đó theo hay không theo tôn giáo cũng đều chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng. Việc đánh giá hoạt động tự do tôn giáo phải dựa trên tình hình khách quan về đời sống tôn giáo ở một quốc gia, vùng, lãnh thổ, bao gồm cả đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần, không nên chỉ nhìn vào một số đối tượng theo tôn giáo nhưng vi phạm pháp luật lại “chụp mũ” cho rằng nhà nước đó đã “đàn áp tôn giáo”. Những ai lợi dụng tôn giáo để gây mất ổn định xã hội, lật đổ chính quyền thì đều được coi là vi phạm pháp luật của quốc gia ấy và họ sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của mình. Không thể xuyên tạc thực tế về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam./.

Thiếu thông tin hay cố tình xuyên tạc?

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RWB – Reporters Without Borders) mới đây đưa ra nhận xét phi thực tế rằng, Việt Nam là “nhà tù lớn nhất thế giới cho các bloggers và những người bất đồng chính kiến phổ biến quan điểm của mình trên mạng...". Dư luận chẳng lạ gì RWB – một tổ chức phi chính phủ chuyên hoạt động cổ xúy, thúc đẩy tự do báo chí theo kiểu “vô chính phủ”. Điểm dễ nhận thấy là tổ chức này thường xuyên bóp méo, xuyên tạc tự do báo chí, ở những quốc gia mà họ thiếu thiện chí như Việt Nam. Thực tế đã chứng minh, internet ở Việt Nam ngày càng phát triển và quyền tự do internet của người dân được đảm bảo. Hiện nay, hơn 30 triệu người, chiếm khoảng 40% dân số, Việt Nam sử dụng internet. Không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) lại đưa ra đánh giá: "Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng internet cao nhất trong khu vực Đông Nam Á...". Nhận xét trên, tuy chưa toàn diện, nhưng đã phản ánh rõ sự thật về tự do internet, tự do báo chí ở Việt Nam. Vậy căn cứ vào đâu RWB đưa ra những phát ngôn đi ngược thực tế đó? Có phải là họ chỉ dựa vào những thông tin một chiều, những lời vu cáo, bịa đặt của một số phần tử cơ hội chính trị, phản động nên cách nhìn nhận của họ là hết sức phiến diện, không phản ánh đúng thực chất tình hình tự do internet, tự do báo chí của Việt Nam. Mọi người đều hiểu, mỗi quốc gia có bản chất chế độ chính trị khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau. Căn cứ vào tình hình cụ thể ở trong nước và quốc tế, chính phủ từng quốc gia ban hành các điều luật phù hợp với nhu cầu thực tế phát triển của đất nước mình. Việc quản lý báo chí, truyền thông, internet bằng pháp luật là hình thức bảo đảm thực hiện quyền tự do báo chí, tự do internet của công dân. Do bản chất chế độ, điều kiện lịch sử cụ thể không giống nhau nên luật báo chí của các nước cũng khác nhau. Và như vậy quyền tự do báo chí, tự do internet của công dân cũng không giống nhau giữa các nước. Nhưng có một điểm chung là dù ở bất cứ quốc gia nào, quyền tự do báo chí, tự do internet không phải là các quyền tuyệt đối, mà đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. RWB không thể tuyệt đối hóa, coi quyền “tự do báo chí”, "tự do internet" như một thứ quyền không giới hạn, tự do vô chính phủ. Đó là điều không thể có và không tồn tại trên thực tiễn ở bất cứ quốc gia nào... Nguy hiểm hơn, RWB còn công khai hậu thuẫn, tiếp sức cho những kẻ cơ hội, phần tử chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật ở Việt Nam… Họ đứng ra bênh vực, bảo vệ, thậm chí can thiệp đòi trả tự do cho những đối tượng lợi dụng tự do internet, tự do báo chí đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam. RWB còn phối hợp với một số tổ chức nhân quyền phương Tây chuyên lợi dụng “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, "tự do internet" hòng chụp mũ công kích Việt Nam. Việc làm của RWB đã đi ngược luật pháp quốc tế nhằm thực hiện mưu đồ gây mất ổn định ở Việt Nam, một quốc gia độc lập, chủ quyền và hợp hiến. Hành động đó là không thể chấp nhận.

Phía sau chiêu bài "dân chủ, nhân quyền"

Do sự biến đổi mau lẹ của thời cuộc nên phương thức “kinh điển” là dùng vũ khí, bạo lực vũ trang, gây chiến tranh, đổ quân xâm lược nước khác đã trở nên lỗi thời. Vì vậy, “diễn biến hòa bình” với các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”… được phương Tây coi là những “ngón đòn độc chiêu”, được đưa vào các chương trình nghị sự, trở thành điểm “then chốt” của chiến lược đối ngoại thời hậu “Chiến tranh lạnh” và là phương thức hữu hiệu để họ áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản “kiểu phương Tây” vào Việt Nam và một số nước trên thế giới, với toan tính chuyển hóa các nước từng là XHCN đi theo quỹ đạo của họ, tạo thuận lợi để họ xếp đặt lại trật tự thế giới sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Quả thật, họ đang ngộ nhận là “đứng trên người khác”, là trung tâm văn hóa phát triển, đỉnh cao của nền dân chủ, có quyền ban phát cái gọi là “dân chủ, nhân quyền” cho nhân loại; thực hiện công việc “nhân đạo” là đi “khai hóa văn minh” cho các dân tộc, mà theo họ là “lạc hậu”, “kém cỏi”, “chậm tiến”... Và nếu quốc gia, dân tộc nào làm trái ý họ, muốn trượt ra ngoài “vòng cương tỏa” của họ, thì lập tức bị đưa vào danh sách “các nước còn nhiều hạn chế về quyền tự do, dân chủ”, là đối tượng “cần theo dõi”, “chỉnh đốn”... Làm việc đó, họ ngang nhiên tự cho mình là đại diện chân chính cho nền dân chủ, nhân quyền, là hình mẫu của sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ..., mà các quốc gia, dân tộc khác cần phải làm theo. Hơn thế, họ còn trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có độc lập, chủ quyền, ép buộc các nước đang phát triển “quay theo vòng xoáy”, thực hiện sự sắp đặt của họ, ràng buộc bằng những điều khoản cam kết về “viện trợ kinh tế”, “giúp đỡ nhân đạo”, mà bất đắc dĩ, các nước nghèo phải chấp nhận. Họ không hề quan tâm đến sự khác biệt giữa các quốc gia, dân tộc, vùng miền; giữa các nước ở phương Đông và phương Tây, cũng như đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền. Bằng văn hóa và lối sống phương Tây, họ đang muốn phủ lên các quốc gia, dân tộc đang phát triển “làn sóng văn hóa dân chủ, nhân quyền phương Tây”, buộc mọi người phải thừa nhận rằng, chỉ có văn hóa dân chủ, nhân quyền phương Tây mới là hình mẫu chuẩn mực nhất. Sự giáo đầu về lý luận ấy đã và đang hợp lý hóa các hành vi bạo lực “đánh trước”, “đánh phủ đầu” nhằm “phòng, chống, ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố để bảo vệ các giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây”, kể cả chiến lược "diễn biến hòa bình". Họ đã và đang tung ra luận thuyết “dân chủ không biên giới", “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và coi đó là chuẩn mực để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới” và sẵn sàng đổi trắng thay đen. Cô-xô-vô, I-rắc, Áp-ga-ni-xtan, Li-bi, Xy-ri… là kết quả của những cuộc thử nghiệm đó. Tuy nhiên, điều mà họ hứa hẹn là đem đến cho các nước này nền dân chủ, quyền sống làm người, tự do, độc lập, thì sau nhiều năm can thiệp chẳng thấy đâu, chỉ thấy ở các quốc gia, dân tộc mà họ đến, máu đổ thêm nhiều, đầy đau thương, tang tóc, chẳng có một ngày yên ả, hòa bình. Phải chăng kẻ đi phân phát dân chủ, nhân quyền lại chính là kẻ đang cướp đi quyền làm chủ, quyền sống của những người dân vô tội; giày xéo lên độc lập, chủ quyền của các nước mà họ cho là đi thực hiện sứ mệnh “khai hóa, giáo hóa”? Với Việt Nam, họ tìm mọi phương cách nhằm kích động những phần tử phản động, bất mãn với Đảng, Nhà nước, chế độ ta; tập hợp, tạo dựng phe cánh, gây “điểm nóng” về xung đột sắc tộc và tôn giáo, gây rối loạn tình hình chính trị, xã hội và khi có điều kiện thì tổ chức bạo loạn lật đổ. Việc can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thể hiện ở việc, họ họp bàn, thông qua “đạo luật dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” với các màn kịch nhiều hồi, nhiều lớp, với lý do “chăm lo cho xây dựng nền dân chủ, đem lại hạnh phúc cho người dân Việt Nam”. Chúng ta hiểu rằng, chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” chỉ là một trong những âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch đã và đang áp dụng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vì thế, hai trong nhiều vấn đề then chốt của các học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản. Họ sử dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” nhằm mục đích từng bước phá hoại Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta, không thừa nhận chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đồng tâm gắng sức xây đắp nên. Họ cũng cố tình xuyên tạc, vu cáo Việt Nam "thiếu nền dân chủ", “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, lấy đó làm cớ để tuyên truyền sai lệch, nhằm kích động những phần tử bất mãn, phản động chống đối Đảng, Nhà nước ta, tiến tới phủ nhận con đường, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nhân dân Việt Nam đã đi qua hai cuộc chiến tranh thần thánh để tự bảo vệ mình, tự giải phóng mình nên càng thấu thế nào là tự do độc lập, thế nào là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy đương nhiên, nhân dân Việt Nam sẽ biết nhìn nhận ai là bạn, ai là thù. Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo gần 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế của đất nước Việt Nam ngày càng được nâng cao, đời sống của gần 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện. Khách quốc tế, bạn bè khắp năm châu đến Việt Nam đều thấy một sự thật: Đất nước Việt Nam đã thay da đổi thịt; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả, song chính trị-xã hội của đất nước luôn ổn định, cuộc sống thật sự có hòa bình, tự do, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Những điều giản dị ở Việt Nam là chăm lo cho "nước ta được độc lập, đồng bào ta được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang được khẳng định. Đó là đạo lý, là lẽ sống giản dị, chân tình của người dân Việt Nam. Xin ai tự thừa nhận là tốt bụng, có lương tâm, biết sống vì con người thì đừng làm những điều sai trái, phản dân, hại nước, cản trở sự tiến bộ của lịch sử. Ai đó vẫn “ngựa quen đường cũ”, vẫn lên lớp về “dân chủ, nhân quyền”, xin hãy nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử hàng nghìn năm đánh giặc để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; hãy đến thăm và tận mắt chứng kiến đất nước Việt Nam đổi thay, phát triển, yêu chuộng hòa bình, là điểm đến thân thiện, an toàn, mà bạn bè năm châu, nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ... đều ghi nhận, khâm phục, đánh giá cao.

Thượng tôn pháp luật, không chấp nhận cái gọi là “bất tuân dân sự”

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua, được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng, thực thi. Theo Bộ Công an, từ nay đến khi Luật An ninh mạng có hiệu lực, còn có tới 25 nghị định và thông tư được thông qua. Vì thế, không thể tiếp tay cho các thế lực xấu phá hoại sự thượng tôn pháp luật bằng những thông tin vu vơ, không có cơ sở. Còn với dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện. Chúng ta tin tưởng rằng, dự án luật sẽ được hoàn thiện tốt nhất, tiếp thu đầy đủ nhất mọi góp ý, không để tồn tại những sơ hở, thiếu sót phương hại đến an ninh quốc gia. Nhưng những góp ý phải trên cơ sở tìm hiểu dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho sự xuyên tạc, kích động, phá hoại đất nước. Không thể dựa trên những bịa đặt vô căn cứ và những ý kiến phiến diện, không đúng quy định của Luật Trưng cầu ý dân để kêu gọi phải trưng cầu ý dân để thông qua dự án luật. Mặt khác, cũng cần cảnh giác với cái gọi là bất tuân dân sự trước Luật An ninh mạng. Bất tuân dân sự với nguồn gốc là một phong trào đấu tranh từ đầu thế kỷ 20 chống thực dân về sau trở thành phong trào người dân phản kháng những đạo luật không công bằng. Nhưng gần đây, nó đã bị biến tướng gắn với các cuộc “cách mạng nhung” ở Đức, Tiệp Khắc, “cách mạng hoa hồng”, “cách mạng cam” ở Liên Xô (cũ)… Gần đây, các thế lực thù địch đang tìm cách du nhập nó về Việt Nam, kêu gọi nhen nhóm bất tuân dân sự bằng việc lợi dụng một số quy định của pháp luật hay vấn đề thu phí đường bộ… Tuy nhiên, ngay cả luật sư từng có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước cũng từng phải thừa nhận, không nên cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật khi “bất tuân dân sự”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động” nhưng cũng chỉ rõ: “Người nào sử dụng quyền tự do quá mức của mình mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”. Pháp luật nước ta chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Chúng ta ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật nhưng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ súy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi.

NHỮNG THÀNH CÔNG TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRI VÀ KINH TẾ VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẢO VỆ SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

         ĐỐI VỚI LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ

          Một là, đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam.

          Hai là, đã vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng.

          Ba là, góp phần củng cố giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; đã gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính.

          Bốn là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về tổ chức, về công tác cán bộ; hệ thống chính trị của Việt Nam không ngừng được xây dựng và phát triển.

          Năm là, đã chủ động xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

          ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KINH TẾ

          Một là, nền kinh tế của Việt Nam vẫn giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đã chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại ý đồ “tư nhân hóa” nền kinh tế, tiến công vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

          Hai là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986 đến nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

          Ba là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng cao từ 6 - 7%/năm.

        Bốn là, phát triển kinh tế đã gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội./.

TBQL 17

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG LẠI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊC

        Lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là một bộ phận quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội; là công cuộc giữ nước của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,...được tiến hành bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa là vấn đề cơ bản, lâu dài; kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn và răn đe, trừng trị với việc tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

          Đây là cuộc chiến đấu trong thời bình, một “cuộc chiến không bom rơi, đạn nổ, không tiếng súng” nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, giữa dân tộc Việt Nam kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc và đi theo con đường chủ nghĩa hội với “lũ giặc nội xâm”, đang tìm “trăm phương nghìn kế” để phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là nhất quán và được khẳng định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn chặt với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương kể từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) đến nay.

          Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Hội nghị Trung ương Ba khóa VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình”. Vạch trần những âm mưu thâm độc và những luận điệu chiến tranh tâm lý. Quản lý chặt chẽ các cuộc hội thảo, các dịch vụ thông tin, ngăn chặn việc lợi dụng diễn đàn và các cơ hội để thu thập tin tức tình báo, truyền bá các quan điểm thù địch và lối sống tư sản”. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ tham nhũng và các tệ nạn xã hội; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

          Hội nghị Trung ương Tám khóa IX, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta”. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Hội nghị Trung ương Tám khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: “Chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào”. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định 4 nguy cơ vẫn tồn tại, “có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. 

          Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương ở các khóa tiếp theo; đồng thời, được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa trong thực tiễn lãnh đạo công tác đấu tranh này./.

TBQL 17

NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI VÀ QUỐC PHÒNG - AN NINH VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẢO VỆ SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

        TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 
        Một là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị văn hóa tư sản”; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới. 
        Hai là, giữ vững được sự ổn định chính trị đất nước, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội về mọi mặt.
        Ba là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây mâu thuẫn xã hội - giai cấp; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội.
        TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH
        Một là, lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; đạt nhiều thành quả quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số đơn vị, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.
        Hai là, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phá hoại vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật.
        Ba là, xác định đúng đắn vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
        Bốn là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
        Năm là, làm thất bại mưu đồ bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế; nhờ đó, Việt Nam tạo được môi trường thuận lợi phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sáu là, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; tranh thủ được nhiều diễn đàn quốc tế để tập hợp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị./. 
TBQL 17