Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Bản chất, tính chất, chức năng của tín ngưỡng, tôn giáo- Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật - lịch sử,

 


 

Bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo

Tôn giáo là sản phẩm của con người gắn với những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định. Do đó xết về bản chất, tôn giáo phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội.

- Tôn giáo, tín ngưỡng là sản phẩm của con người, con người đã sáng tạo ra tôn giáo, tín ngưỡng

- Tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh xuyên tạc, hư ảo hiện thực khách quan thành lực lượng siêu tự nhiên, là "thế giới quan lộn ngược"

Ăng ghen: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ảnh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống của họ; là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức lực lượng siêu trần thế"[1]

- Sự bất lực, bế tắc của con người và biểu hiện sự khốn cùng hiện thực và sự phản kháng tiêu cực của tầng lớp nhân dân bị áp bức

Mác, Ăng ghen: "Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[2].

- Tôn giáo làm cho con người trở nên thụ động, cam chịu và tha hóa

Mác, Ăng ghen: "tính có thượng đế" trong lịch sử càng lớn bao nhiêu, thì tính phi con người, tính súc vật càng lớn bấy nhiêu. Thời trung cổ "có Thượng đế" cũng đã dẫn đến chỗ làm cho con người trở thành hoàn toàn như dã thú, dẫn đến chế độ nông nô"[3].

V. I. Lênin: "thứ rượu tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách của con người và quyên hết những điều họ đòi hỏi để được sống cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người".

- Tôn giáo cũng chứa những giá trị đạo đức, văn hóa nhất định phù hợp với sự phát triển của CNXH- xã hội văn minh, tiến bộ.

Tính chất tôn giáo, tín ngưỡng

- Tính lịch sử

+ Tôn giáo ra đời cùng với sự phát triển sản xuất và tư duy trùi tượng

Trong suốt giai đoạn đầu của thời kỳ công xã nguyên thuỷ, tôn giáo vẫn chưa tồn tại, mà chỉ đến cuối thời kỳ này, và sang thời kỳ cổ đại thì những tôn giáo đầu tiên mới bắt đầu hình thành. Đó là do chỉ đến thời kỳ này con người mới có đủ những tri thức để xây dựng, hoàn thiện hệ thống kinh sách và tín điều, mà quan trọng nhất là việc xuât hiện chữ viết để ghi chép kinh sách.

+ Chịu tác động của những biến đổi lịch sử 

Khi xem xét những tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ đầu lịch sử, ta nhận thấy chúng mang nhiều đặc điểm xuất phát từ những tín ngưỡng rất sơ khai. Tôn giáo của người Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp - La Mã hay Giéc-manh..., đều là những tôn giáo đa thần (polytheism) mang màu sắc tín ngưỡng "vạn vật hữu linh"; các thần thánh đều đại diện cho những lực lượng thiên nhiên, và "những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hoá một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp". Là đại diện cho những lực lượng tự nhiên chi phối đời sống con người, thần thánh của các tôn giáo chi phối đời sống con người. Và bắt nguồn từ đó, những lực lượng chỉ mang tính tự nhiên đã dần mang tính xã hội. Và bắt nguồn từ đó, tôn giáo mang tính giai cấp- khi xuất hiện giai cấp và nhà nước trong xã hội chiếm hữu nộ lệ.

+ Tôn giáo sẽ mất đi trong những điều kiện nhất định

Trong bước nhảy vọt từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn không bị triệt tiêu ngay lập tức, mà chỉ "dần mất đi ảnh hưởng của nó đối với ý thức xã hội", và "chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn toàn biến mất và hoàn toàn bị xoá bỏ khỏi đời sống con người".

- Tính xã hội, quần chúng của tôn giáo:

Trong Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen, Mác viết: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân".

 Ăng ghen: "Cơ đốc giáo cũng như mọi phong trào cách mạng lớn đều do quần chúng tạo nên"[4]; "Cơ đốc giáo cũng như CNXH hiện đại, nắm lấy quần chúng qua hình thức những giáo phái này khác, qua các hình thức các quan điểm cá nhân mâu thuẫn nhau"[5].

Tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo của con người, những tôn giáo cũng phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội về tự do, bình đẳng. Mặt khác, giáo lý của các tôn giáo đều chứa đựng những giá trị chân, thiện, mỹ. Do đó, vẫn thu hút được số đông quần chúng tham gia.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Sinh hoạt tôn giáo là hoạt động văn hóa, tinh thần của con người – hoạt động xã hội.

- Tính giai cấp của tôn giáo

Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo luôn phản ánh ý chí, nguyện vọng của những giai cấp nhất định

Những lực lượng thuộc tầng lớp trên của xã hội, có địa vị, có tiền của và có tri thức hơn, đã biết lợi dụng tôn giáo để bảo vệ và củng cố quyền lợi của mình. Đồng thời tôn giáo nhờ đó được phát triển, mở rộng. Đây là cơ sở hình thành liên minh thần quyền- thế quyền

Chức năng của tôn giáo, tín ngưỡng

- Chức năng thế giới quan

Phản ánh hư ảo, hoang đường, "lộn ngược" về thế giới khách quan

- Chức năng đền bù hư ảo

"Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Tôn giáo là thứ rượu tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quyên mất hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người"[6]

". Bù đắp những bất lực của con người, xoa dụi bớt những nỗi đau, ru ngủ, mê hoặc con người trước tự nhiên, xã hội đương thời.

- Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức của con người.

- Chức năng liên kết xã hội

- Chuyển tải, bảo lưu bản sắc văn hóa

- Tác động đến đời sống xã hội

 + Tác động tích cực nhất định đến đời sống: về văn hóa, đạo đức...

Các nguyên tắc của tôn giáo có thể vẫn có những giá trị nhất định trong xã hội chủ nghĩa, như nguyên tắc yêu thương, nhân đạo, nhân ái của đạo Phật hay đạo Kitô.

Mác, Ăng ghen cho rằng, "nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm tin tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và chủ nghĩa xã hội đang hiện thực hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc sống của mỗi người dân" 

+ Tác động tiêu cực: mê tín dị đoan, hoài nghi, cực đoan, thiếu chủ động, thiếu tích cực trong đời sống, không tin tưởng ở bản thân và xã hội...



[1] Mác, Ăng ghen, t.20, H.1995, tr.437

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb CTQG, H.2004, tr. 570

[3] Mác, Ăng ghen, t.1, H.1995, tr.819

[4] Mác, Ăng ghen, t.21, H.1995, tr.438

[5] Mác, Ăng ghen, t.21, H.1995, tr.19

 

[6] V.I. Lênin, tt, t.12. CNXH và tôn giaó, Sđd, tr.170

Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc

Xây đựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Quy trình xây dựng, ban hành các văn bản quy _ phạm pháp luật về dân tộc bao gồm các bước: nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn; xác định nhu cầu thực tiễn để hình thành chính sách (tên gọi và nội dung); xây đựng văn bản mang tính pháp quy; trình các cấp có thấm quyền phê duyệt; ban hành văn bản.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc bao gồm các văn bản luật, nghị định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư và các chiến lược, chương trình, đề án cấp quốc gia và cấp bộ.

Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc

Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc là hoạt động trọng tâm được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở cả cấp Trung ương và địa phương. Hoạt động này được các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở các địa phương thực hiện thường xuyên để các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu, tuân thủ và thực hiện các quy định đúng luật pháp.

Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đến dân tộc

Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, phương trình liên208

quan đến dân tộc là việc hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vềdân tộc trọng thực tế. Việc tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đến dân tộc gồm các bước: quán triệt mục tiêu, yêu cầu, nội dung chính sách, chiến lược, chương trình; cụ thể hóa, lập kế hoạch triển khai chính sách, chiến lược, chương trình; chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình; phân công, hướng dẫn các tô chức, cá nhân chủ trì hoặc phối hợp thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình; theo dõi, giám sát quá trình thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình và tiếp thu, giải quyết các thông tin phản hồi của nhân dân về chính sách, chiến lược, chương trình.

Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Xây dựng và tô chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, tô chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc có hệ thống từ

 Trung ương đến địa phương (cấp Trung ương: Ủy ban Dân tộc; cấp tỉnh: Ban Dân tộc; cấp huyện: Phòng Dân tộc) được quy định các chức năng, nhiệm vụ; được bố trí các nguồn lực đẻ thực hiện các nhiệm vụ cụ thê thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác - dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc nhằm cung cấp thông tin, đữ liệu về các tộc người, các vùng dân tộc thiểu số, các lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cho các cá nhân, tô chức liên quan để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, chương trình, đự án về dân tộc. Xây đựng hệ thống thông tin, dữ liệu phải dựa vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, dân tộc cùng các chỉ số phát triển cho các dân tộc, các vùng dân tộc thiểu số, các đơn vị hành chính, các chính sách, chiến lược, chương trình, dự án về dân tộc và tiến trình thực hiện, kết quả, những tác động, ._ ảnh hưởng của chính sách, chiến lược, chương trình, dự án đó.

Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc

Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc là nội đung hết sức quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành việc thực hiện chính sách dân tộc. Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc sẽ phát hiện được những hạn chế của từng nội dung chính sách để có cơ sở sửa đôi chính sách cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn của đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số. Đồng thời, qua công tác này sẽ phát hiện được những sai lệch, khó khăn trong thực hiện chính sách dân tộc tại các địa bàn để có sự chấn chỉnh kịp thời. 1.2.7. Tông kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc Tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc là sự nhìn nhận lại quá trình triển khai chính sách dân tộc nhằm đánh giá những kết quả đạt được, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đặc biệt là những bài học được rút ra từ việc tổng hợp ý kiến phản hồi của nhân đân (đối tượng thụ hưởng chính sách); đề xuất kiến nghị, giải pháp để phát huy kết quả đạt được và khắc phục những khó khăn, hạn chế khi thực hiện chính sách dân tộc.

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị trong tình hình mới

 

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị trong tình hình mới

Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương về xây dựng Đảng, Đại hội XIII của Đảng đánh giá công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Đảng ta luôn vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định những nguyên tắc trong đường lối đổi mới và trong công tác xây dựng Đảng.

Năng lực dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng được nâng lên rõ rệt. Ban Chấp hành Trung ương đã bám sát Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là 6 nhiệm vụ trọng tâm, ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết và 1 quy định 1  về công tác xây dựng Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản2  về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có các chủ trương, nghị quyết để lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng3. Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng đã kịp thời thể chế hoá, cụ thể hoá các đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị4. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá; khắc phục điểm yếu, giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề phức tạp của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày càng được nâng lên, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường5  và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân được giữ vững; đa số cán bộ, đảng viên tin tưởng, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

Tuy nhiên, việc cụ thể hoá, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số chủ trương, nghị quyết có nơi, có lúc chưa quyết liệt, còn yếu kém, chậm trễ nhưng chưa xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng. 

Để tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Đại hội XII xác định tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.  

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, cơ chế, quy định; thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình. Khi hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp phải bám sát và xuất phát từ thực tiễn, đánh giá tác động, cân đối, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết; kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân./.

 

Nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng- Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật - lịch sử,

 


 Nguồn gốc tự nhiên

V. I. Lênin "sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu"[1]

 Nguồn gốc kinh tế- xã hội

V.I. Lênin "Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đã đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, những phép màu"[2]

 Nguồn gốc nhận thức

V. I. Lênin "nhận thức của con người không phải là (không đi theo) một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn, đến một loạt những vòng tròn đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, mảnh nào, đoạn nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thắng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây, không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của giai cấp thống trị  củng cố lại). Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết cứng và cứng nhắc, chñ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm"[3]

 Nguồn gốc tâm lý

V.I.Lênin "sự sợ hãi đã tạo ra thần linh"[4]



[1] V.I. Lêni, tt, t.12, Nxb TB, M.1979, tr. 169- 170

[2] V.I. Lêni, tt, t.12, Nxb TB, M.1979, tr. 169- 170

[3] V.I. Lêni, tt, t.29, Nxb TB, M.1981, tr.385- 386

[4] V.I. Lêni, tt, t.17, Nxb TB, M.1981, tr.515

 

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Công tác dân tộc là những hoạt động của Nhà nước về lĩnhvực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bảo các dân tộc  thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể hiểu, công tác dân tộc là những hoạt động của Nhà nước - tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; gắn với kế hoạch phát triển chung của đất nước, tạo ra sự bình đẳng, hòa nhập và phát triển, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động của. Nhà nước nhằm điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình Nhà nước, trong phạm vi quyền lực của mình, tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng ở vùng đân tộc thiểu số theo hướng bền vững; thu hẹp khoảng cách giữa các dân tộc, vùng, miền. Quá trình đó bao gồm: việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc; tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược và chương trình liên quan đến dân tộc; xây đựng và tô chức bộ máy thực hiện; xây dựng hệ thống thông tin cơ sở đữ liệu về công tác dân tộc; thanh tra, kiểm tra, giám sát; tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc thực chất là quản lý việc thực hiện luật pháp, chính sách và chương trình của Nhà nước liên  quan đến dân tộc; đồng thời đây còn là sự kết hợp hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở các vùng dân tộc thiểu số.

QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ TÔN GIÁO

 


Mác - Ăngghen chỉ rõ: “sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[1].

 Theo quan điểm của Mác thì chính con người đã sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sinh ra con người. Tôn giáo giống như “thuốc phiện” - bởi cả hai tác dụng của chất này: gây nghiện và giảm đau. Tôn giáo dễ làm đầu óc nhân dân mụ mị, mê muội song nó cũng là “chất giảm đau” xoa dịu nỗi thống khổ của nhân dân.

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” Ăngghen khẳng định: tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người-những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó các lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.

Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật - lịch sử, có thể hiểu tôn giáo là trên phương diện nghĩa rộng và nghĩa hẹp

- Theo nghĩa rộng: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và súng bái những lực lượng siêu tự nhiên"

 Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội; sinh ra từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

Tôn giáo phản ánh xã hội một cách hư ảo, sùng bái lực lượng siêu tự nhiên.

Các hiện tượng sấm, chớp, mây mưa được thần thánh hóa.

Đạo Phật cho rằng vạn vật biến đổi theo chu trình bất tận:sinh-trụ-dị-diệt, bất tận không có điểm khởi đầu không có điểm kết thúc, giống như một vòng tròn luân hồi. Do  vậy chết không phải là hết mà là một sự tái sinh, đầu thai ở một kiếp khác theo vòng luân hồi.

Công giáo cho rằng con người là do Chúa tạo ra. Con người có hai phần, thể xác và linh hồn. Thể xác là tạo vật như mọi tạo vật khác, linh hồn là phần sinh khí do Thiên chúa giáo truyền vào. Con người khi chết đi về với cát bụi, linh hồn tồn tại vĩnh viễn.

- Theo nghĩa hẹp: Tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên.

Tôn giáo là một thực thể xã hội, một thiết chế xã hội- một lực lượng xã hội có tổ chức. Nó có hệ thống giáo lý, giáo luật, cơ sở thờ tự, giáo dân, tín đồ....

Chú ý phân biệt:

Tín ngưỡng: Có nghĩa là sự ngưỡng mộ, niềm tìn đến mức sùng bái vào một hay một số đấng siêu nhiên, lực lượng siêu tự nhiên nào đó và những sức mạnh có thể thu nhận được từ các đấng siêu nhiên được tin tưởng, ngưỡng mộ đến mức sùng tín.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ các vị anh hùng có công với dân tộc, cộng đồng…

Tín ngưỡng gồm có: tín ngưỡng dân tộc (truyền thống) là loại hình tín ngưỡng của từng dân tộc hoặc quốc gia dân tộc, hoặc vùng miền, địa phương; và tín ngưỡng tôn giáo là một loại hình tín ngưỡng phát triển đến trình độ cao, thể hiện ở chỗ có hệ thống giáo lý, hệ thống tổ chức, lễ nghi và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ các sinh hoạt tôn giáo.

Mê tín dị đoan: Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông quá mức, không dựa trên một cơ sở khoa học nào. Dị đoan là sự suy đoán một cách nhảm nhí, tùy tiện, sai lệch những điều xảy ra trong cuộc sống. Mê tín dị đoan là chỉ những hành động sai lệch quá mức, gây tổn hại cho cá nhân và cộng đồng, được tạo ra bởi niềm tin mù quáng, nhảm nhí, mê muội… Đây là một biến tướng của tín ngưỡng.

Các hiện tượng: bói toán, lên đồng, gọi hồn, chữa bệnh bằng gọi thầy cúng, trừ tà ma…

Như vậy, tín ngưỡng tôn giáo và mê tín dị đoan đều là niềm tin vào những lực lượng siêu nhiên, là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh của con người. Nhưng đây là các hiện tượng tâm linh có nội dung, hình thức, đặc điểm và vai trò xã hội khác nhau, cần phải được phân biệt để có chính sách, biện pháp phù hợp



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, tt, t.1, Nxb CTQG, H.2004, tr. 570

 

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo.

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh chống “thiên tai, địch hoạ”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.

Vì vậy, hiện nay chúng ta bên cạnh phải thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, đồng thời tích cực đấu tranh các quan điểm sai trái chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhà nước và nhân dân ta.

KIÊN QUYẾT LOẠI KHỎI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC NHỮNG KẺ THOÁI HÓA BIẾN CHẤT CÓ BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ CHÍNH TRỊ HIỆN NAY BÀI HỌC VỀ"LIÊN XÔ" VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ


"THẤY VỎ DƯA ĐẠP VỎ DỪA MÀ TRÁNH"


***********

Đất nước bình yên, hội nhập và phát triển ấy cũng là lúc những đồng "đô la xanh" len lỏi vào tận đầu não sào huyệt các bộ máy nhà nước.? 

Lũng loạn giáo dục. Lật sử hoành hành.!

Hễ có ai lên tiếng được coi là KÍCH ĐỘNG NÓI XẤU LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC.

Kich bản một Xô Viết tái hiện có thể xẩy ra ở Việt Nam hay không.?


ĐỪNG CHỦ QUAN

" Thấy vỏ dưa đạp vỏ dừa mà tránh"

NGUYỄN HÀ PHAN - GIÁN ĐIỆP CỦA CIA LEO CAO, SÂU NHẤT TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. 

Nguyễn Hà Phan (Sáu Phan) trước khi bị truất phế, chức vụ cao nhất của Phan là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Phó Chủ tịch Quốc hội.!

Trong chiến tranh Việt Nam, Nguyễn Hà Phan làm cho nhà tù VNCH. Sau giải phóng Nguyễn Hà Phan đã được Mỹ hậu thuẫn đóng giả trà trộn vào tù binh cách mạng của Việt Cộng bị bắt.

Phan được tổng bí thư tin tưởng và ủng hộ vận động cho Phan lên làm thủ tướng theo dự đoán nếu không bị lộ 10 năm nữa nhiều khả năng sẽ lên tổng bí thư. Đến khi TBT Nguyễn Văn Linh viết hồi kí. Vốn là người cẩn thận ông Linh khi viết hồi kí có tìm nhân chứng để xác minh. Tuy nhiên số cán bộ trong nhà tù mà ông bị bắt đã bị giết sạch chỉ còn Phan.

TBT Nguyễn Văn Linh bấy giờ mới đặt nghi vấn cho Phan. Theo trí nhớ của Ông Linh thì trong số lính trong nhà tù có một tên lính đã đánh ông, nhưng ông lại không nhớ mặt. Tên lính này khiến ông Linh mường tượng về Phan. Ông Linh vẫn nhớ trên lưng hắn có vết sẹo. Ông Linh đã liên kết với ông Đỗ Mười tổ chức cho Phan đi tắm biển để theo dõi. Đúng là trên người hắn có vết đó. Phan lúc đó đã lộ. Vào năm 1996 trong một buổi sáng ông Phan đã có 1 loạt đơn tố cáo, bị khai trừ khỏi Đảng, tước hết mọi chức vụ sau đó bị quản thúc đến cuối đời để tra hỏi.

Trường hợp của Phan là trường hợp mật vụ CIA gài sâu nhất trong cơ quan nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên Việt Nam đã kịp khai trừ tên này trước khi biến thành Gorbachev của Việt Nam. Sau vụ Nguyễn Hà Phan chính quyền Mỹ tổ chức điều tra bí mật các Việt Kiều tại Mỹ xem ai báo tin.!!!

Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2021

NHẬN DIỆN ÂM MƯU “MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG”

Trước và trong thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng, không ít phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và trang cá nhân của nhiều đối tượng cực đoan trên mạng xã hội rộ lên những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc về nhân sự, các nội dung văn kiện, Điều lệ Đảng và công tác tổ chức đại hội... nhằm mưu đồ phá hoại.

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Mục tiêu bình đẳng giới đã được ghi rõ trong Luật Bình đẳng giới của Việt Nam là “xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.

THẤY CÂY MÀ KHÔNG THẤY RỪNG!

 Giữa lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vui mừng, phấn khởi khi Đại hội lần thứ XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp, lại có những kẻ hậm hực “bới lông tìm vết”. Không tìm thấy những thiếu sót trong đại hội, họ bèn “soi” vào nhân sự Bộ Chính trị và “phát hiện” ra rằng nhiệm kỳ này chỉ có một phụ nữ, trong khi nhiệm kỳ XII có 3. Thế là họ phán trên mạng xã hội rằng: “Đây là bước thụt lùi về bình đẳng giới”.

BÁC BỎ THÔNG TIN SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Ngày 11-3, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước báo cáo của tổ chức Freedom House cho rằng Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm quốc gia “không có quyền tự do”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do cơ bản được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật liên quan.

CHUYỆN CỦA MYANMAR CHỈ CÓ NGƯỜI MYANMAR MỚI GIẢI QUYẾT ĐƯỢC!


Tình hình Myanmar vẫn căng thẳng, mới đây trên trang 9gag của Myanmar xuất hiện một bài cảm thán “Myanmar ngày nay giống Polpot trong quá khứ, nhưng giờ đây chúng ta không có Việt Nam đến tiêu diệt chế độ độc tài nữa!”; thậm chí nhiều thanh niên Myanmar còn vào cả trang của quân đội Hoa Kỳ để cầu cứu họ mang binh tới giúp đỡ để đánh bại quân đội của nước họ. Là người Việt Nam được các bạn nêu danh nên xin có vài lời thế này:

Thứ nhất, cái trò cõng rắn cắn gà nhà thì ở VN tôi không lạ gì; lịch sử đã làm cho chúng tôi rút ra nhiều bài học xương máu. Ví như Nguyễn Ánh cầu Xiêm để đánh Tây Sơn và quân Xiêm thừa cơ cướp bóc, giết chóc và hãm hiếp phụ nữ. Đến nay người ta cứ nhắc đến sự kiện đó là lại muốn tế cái ông Nguyễn Ánh. Thời hiện đại cũng có ngụy VNCH tay sai, rước Mỹ vào xâm lược và hậu quả là bị AK cộng sản bắn cho không trượt phát nào, Mỹ chạy đằng Mỹ, ngụy đu càng tụt quần đằng ngụy. Đã thế, vì lợi ích quốc gia mà Mỹ đã thỏa hiệp với Tàu khựa để nuốt mất Hoàng Sa; ngụy cũng để cho Đài Loan, Malaysia, Phi Luật Tân thừa cơ lấy mất mấy đảo thuộc quần đảo Trường Sa. 

Hãy nhìn vào Gia Long triều Nguyễn đến Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở nước chúng tôi để đừng có ảo tưởng. Mỹ hay Tàu chẳng cho không các bạn gì nếu họ không có lợi ích trong đó. Tỉnh táo và khôn khéo lên nào, nếu không thì sẽ mãi mãi lệ thuộc vào họ, mất quyền tự quyết, sau này con cháu các bạn lại chửi chính các bạn đấy. Chớ dại mà thành tội nhân thiên cổ, tội đồ dân tộc!

Thứ hai, Đất nước các bạn chẳng có nhiều dầu mỏ như Trung Đông hay nhiều vàng, kim cương và các loại khoáng sản có giá trị như châu Phi; vậy nên Mỹ hay Phương Tây chẳng dại mà đổi máu xương để lấy con số không tròn trĩnh đâu. Với lại, người Tàu họ rất muốn hợp tác với các bạn, bất kể ai cầm quyền là bởi vị họ muốn thông qua lãnh thổ các bạn để kết nối với Ấn Độ Dương một cách nhanh nhất chứ thông qua Ấn Độ thì còn lâu mới cho; vì Ấn và Tàu là 2 nước có dân số đông nhất thế giới và lại đang táng nhau phầm phập thì làm sao mà bắt tay ngồi chung mâm được. Thế nên họ việc gì phải giúp các bạn, người ta chỉ tọa sơn quan hổ đấu, các bạn cứ lao vào nhau và suy yếu thì họ càng thích. 

Thứ ba, Mỹ chưa bao giờ giành chiến thắng khi mang binh xâm lược các nước gần biên giới với TQ. Vùng đệm an toàn là điều mà bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm, vậy nên họ chấp nhận hy sinh với chiến thuật biển người để đánh nhau với Mỹ, bảo vệ Bắc Triều Tiên bằng mọi giá; thiệt hại của người Mỹ rất lớn. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ cũng thế; người VN không để họ mang quân đội sang, vì chúng tôi hiểu tiền bạc, vật chất có thể trả nhưng máu xương thì không; cách mà họ ủng hộ là lương thực, vũ khí để đánh Mỹ thôi. Người Mỹ thấm đòn ở VN, Triều Tiên nên sẽ chẳng dại mà dấn thân vào cuộc chiến mà ở đó không thu lợi lộc gì và khó có khả năng chiến thắng.

Thứ tư, VN đang bận giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tài; mục tiêu của chúng tôi là vượt quy mô nền kinh tế của Phi Luật Tân trong năm tới; đè Xiêm La và tịnh tiến đến sát Indonesia để trở thành quốc gia có nền kinh tài chuẩn vip của ĐNA và châu Á. Nhà bao việc, chẳng dại mà đi can thiệp chuyện đấm đá nội bộ của các bạn. Sở dĩ trước đây chúng tôi đánh Pôlpốt và mang binh vào CPC là vì bọn chúng ảo tưởng sức mạnh, đòi diệt chủng VN và nhân dân CPC; chúng đã mang quân sang VN giết hại rất nhiều dân thường. VN bất đắc dĩ phải thay trời hành đạo, vào hang hổ để nhổ cỏ tận gốc, vừa cứu mình vừa giúp người. 

Chúng tôi mất nhiều máu xương ở CPC để cứu nhân dân họ; thế nhưng Quốc tế lại vu cho chúng tôi xâm lược, nay họ đã biết sai nhưng chưa chịu xin lỗi chúng tôi. Đã thế cái tên mồm lông Lý Hiển Long của tiểu quốc Singapore lại lếu láo bảo là VN xâm lược CPC. Cay nhất vẫn là một bộ phận không nhỏ giới trẻ CPC hiện nay vô ơn, gọi chúng tôi là xâm lược dù thực tế thì chính quân đội chúng tôi đã cứu ông, bà, cha, mẹ họ, để họ được sống và sinh ra lớp người này. Nếu chẳng ai động đến tấc đất, tấc trời, tấc biển của chúng tôi thì chẳng bao giờ VN mang đại binh can thiệp chuyện nội bộ của bất kỳ ai cả!

Tóm lại, việc ở Myanmar hiện nay là chuyện nội bộ, mà đã là nội bộ thì chỉ người trong nước mới giải quyết được. Ngồi lại với nhau mà đàm luận để đi đến thống nhất, rồi ai lại về nhà ấy mà làm ăn. Cái gốc rễ của sự loạn lạc chính là chia bè chia đảng; 54 triệu người nhưng có 92 đảng thì làm sao mà không táng nhau sấp ngửa được! Tốt nhất các bạn nên tổ chức cái hội nghị hợp nhất 92 tổ chức đảng làm một; sang đâu đó học hỏi về đường lối, ví như qua phía Đông của nước Lào chẳng hạn. Ở đó họ chỉ có một Đảng, thống nhất ý chí, tạo ra sức mạnh tổng hợp để soi đường cho quốc dân đi. 

Ở đó LLVTND được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bác Tổng Bí thư là người đứng đầu và giữ cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương. Thế là quân đội ở nước phía Đông của nước Lào được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Trung thành với Đảng, với tổ quốc, với nhân dân. Mà Đảng thì chỉ có mục đích duy nhất là “phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Vậy thì loạn là loạn thế quái nào được! Chẳng có kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi là vì thế đó.

Thế nhé, rất lấy làm quan ngại vì tình hình bất ổn ở đất nước các bạn nhưng chúng tôi nghĩ, chỉ người Myanmar mới có tư cách để giải quyết những vẫn đề trọng đại của đất nước của mình. Không ai làm thay các bạn được./.

Yêu nước ST.

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

 Ngày 9-3, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Bệnh thành tích

"Bệnh thành tích” là những suy nghĩ, nhận thức, thái độ, hành vi cố bám theo, chạy theo thành tích một cách bất thường xảy ra trong mỗi cá nhân, tổ chức, làm ảnh hưởng và gây tác hại đến sự phát triển lành mạnh của xã hội. Hai nhà ngôn ngữ học ngồi trò chuyện. Một người khơi mào. 

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2021

VIỆT NAM MUỐN HOÀ BÌNH NHƯNG KIÊN QUYẾT BẢO VỆ TỪNG TẤC ĐẤT, TẤC BIỂN CỦA TỔ QUỐC

 Trong những ngày biển Đông dậy sóng, không ít người tỏ ra lo lắng cho rằng nào là Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc, nào là chênh lệch về sức mạnh vũ khí, sức người sức của. Thậm chí cho rằng “hèn với giặc”.

Gã hàng xóm x.ấu bụng, lâu nay quen thói bắt nạt tư tưởng đại Hán, thấy Việt Nam nhẫn nhịn càng lấn tới. Nhưng, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn đang cố kiềm chế một cách khôn ngoan tỉnh táo.

Nếu Trung Quốc bước qua “lằn ranh đỏ”, phát động chiến tranh, lòng kiên nhẫn của người Việt bị dập tắt, như chiếc lò xo bị nén lại để bung ra, thì kẻ xâm lược sẽ bị quân đội nhân dân Việt Nam can trường giáng những đòn táo bạo bất ngờ nhất như đã từng.

Kẻ thù dù có v-ũ khí tối tân đến đâu cũng không khuất phục được cả dân tộc vốn hiền lành nhưng có truyền thống chống ngoại xâm. Tinh thần “Còn cái lai quần cũng đ.ánh” sẽ dạy cho kẻ thù về sức mạnh Việt Nam.

Những trận Bạch Đằng, Như Nguyệt, trận Đông Bộ Đầu, Thăng Long, Hàm Tử - Tây Kết, trận Chương Dương Độ, Chi Lăng, Xương Giang, trận Rạch Gầm – Xoài Mút, trận Ngọc Hồi - Đống Đa và hàng trăm ngàn trận chiến lớn nhỏ, đã có biết bao thế hệ đã ngã xuống để dân tộc trường tồn.

Bị ví “châu chấu đá voi”, Pháp đã dồn người Việt tới đường cùng, buộc cả dân tộc phải vùng dậy, nhờ hơn hẳn khát vọng độc lập và ý chí quật cường, dân tộc Việt đã tiến hành “Cuộc chiến giữa hổ và voi” nghiền nát đội quân kẻ thù, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân, là nguồn cổ vũ giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa khắp thế giới lúc ấy.

Cuối năm 1972, Mỹ đã quyết định chơi đòn sinh tử, ném bom hủy diệt miền Bắc Việt Nam bằng tất cả vũ khí tối tân nhất, nghiến răng tuyên bố: “Sẽ đẩy Bắc Việt Nam vào thời kỳ đồ đá”. Nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam không phải là Thỏ mà là Cóc tía.

Bom đạn chỉ hù dọa được những kẻ yếu bóng vía. Dân tộc Việt Nam xưa nay chỉ cúi đầu trước lẽ phải chứ chưa bao giờ khiếp nhược trước kẻ thù. Dù bom rơi, đạn trút, trẻ em vẫn tung tăng đến lớp học mái hình chữ A. Quân đội nhân dân Việt Nam đối đầu với những siêu pháo đài bay B52, những máy bay tàng hình cánh cụp cánh xòe cỡ F111…. và lại rụng như sung. Nhân dân Việt Nam lại làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Đã có Điện Biên Phủ trên mặt đất, dưới hầm sâu năm 1954 và “Điện Biên Phủ trên không” xé toang bầu trời năm 1972. Cả dân tộc Việt Nam nếu cần, sẵn sàng một “Điện Biên Phủ trên biển”, đập tan mọi tham vọng ngông cuồng muốn bá chủ biển Đông.

Người Việt ta có đầy lòng vị tha, bao dung, khi đất nước bị xâm lăng thì dẹp qua mọi thứ, gan góc, đoàn kết một lòng, kiên cường bảo vệ Tổ quốc. Đây là lúc để mỗi người dân Việt nhìn lại mình, sửa những thói hư tật xấu, bỏ qua mọi hiềm khích, làm việc nhiều hơn vì một Tổ quốc Việt Nam cường thịnh.

Không một ai đủ tư cách dạy người Việt về lòng yêu nước! Không một ai đủ tư cách dạy bộ đội Việt Nam về lòng dũng cảm và gan dạ ! Đừng nhân danh bất kỳ cái gì để kích động chiến tranh. Quân đội Nhân dân Việt Nam không phải là người rút gươm ra trước, nhưng sẽ là người tra gươm vào vỏ sau cùng./.

Yêu nước ST.

CẦN LẬT MẶT CHỐNG PHÁ CỦA THÁI BÁ TÂN MỘT KẺ THOÁI HÓA BIẾN CHẤT

       Thái Bá Tân sinh ngày 27 tháng 02 năm 1949 tại xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là dịch giả, nhà thơ, nhà văn. Thái Bá Tân từng được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ và cử đi học tại Đại học Ngoại ngữ Matscova (1967-1974), sau đó, làm phiên dịch tiếng Anh và Nga ở Bộ Thủy sản. Thái Bá Tân đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau như dạy tiếng Anh và Văn học Anh tại Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội 1975-1978, biên tập sách tại Nhà xuất bản Lao Động, Hội nhà văn. Thái Bá Tân đã từng là một công dân hăng say cống hiến cho nền văn học nước nhà với khoảng 70 đầu sách, gồm thơ dịch, truyện ngắn và thơ sáng tác.

          Trước đây, dư luận đã hết sức phẫn nộ khi Thái Bá Tân sáng tác thơ xuyên tạc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sáng tác thơ xuyên tạc, nói xấu chính quyền, ủng hộ bọn phản động như Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam…

 Ngay cả người mẹ của Thái Bá Tân cũng khuyên răn ông ta rằng  không được "chửi đảng" nữa. "Ơn đảng, ơn chính phủ mà nhà ta được như ngày nay".

         Nhưng Thái Bá Tân tỏ ra báo hiếu mẹ mình bằng cách sử dụng tiếng nói của những kẻ chống đối xuyên tạc bản chất vụ việc. Đó là lợi dụng vụ việc sau khi TAND Cấp cao tại Hà Nội Y án sơ thẩm với 6 bị cáo vụ án tại Đồng Tâm trong đó 5 bị cáo với tội giết người là Công, Chức, Hiếu, Tiến. Thái Bá Tân cổ súy, ủng hộ các hành vi vi phạm pháp luật các bị cáo. Ông ta đã lộ nguyên hình là một kẻ cơ hội chính trị.

        Chính vì vậy, Cộng động mạng cần nhận diện rõ bản chất chống phá của Thái Bá Tân và nâng cao cảnh giác, không tin, nghe theo những luận điệu xuyên tạc của ông ta và các đối tượng chống đối.

Yêu nước ST.