Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

LỜI CẢNH TỈNH CHO NHỮNG KẺ TRỞ CỜ PHẢN QUỐC

Trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều những cái tên biệt danh gây xôn xao cộng đồng mạng, chạy theo cái gọi là đấu tranh cho “tự do, dân chủ”. Tiêu biểu như: Nguyễn Chí Thành trên con đường đòi lại công lý; hay gần đây là Đồng Tâm với Lê Đình Kình; Nguyễn Lân Thắng của gia đình danh giá Nguyễn Lân…

CẦN MẠNH TAY NGHIÊM TRỊ HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐỘI LỐT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Để đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch đã không từ một thủ đoạn nào. Chúng ngày đêm “vắt óc” bàn mưu sâu, kế hiểm để thúc đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nước ta. Đội lốt nghiên cứu khoa học (NCKH) để chống phá cách mạng Việt Nam là “sáng kiến” mới của chúng. Vì vậy, vạch trần bản chất hoạt động đội lốt NCKH của các tổ chức, cá nhân phản động đang âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam để bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, cuộc sống bình yên, hạnh phúc là vấn đề cấp thiết, là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam.

BẢO VỆ NỀN TẢNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI - VẤN ĐỀ CẤP THIẾT HIỆN NAY

 Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết, đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa hòng làm suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng. Một trong những vấn đề chúng tập trung chống phá là tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác Lênin, từ đó tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quản trị an ninh các phương tiện truyền thông xã hội vì sự phát triển bền vững đất nước .

Các phương tiện truyền thông xã hội (social media), nhất là mạng xã hội (social network), là một thành tựu của nhân loại, mang đến nguồn tài nguyên thông tin - tri thức vô hạn, những tiện ích trong kết nối - giao tiếp xã hội chưa bao giờ có trước đây. Nếu được sử dụng vào những mục đích tích cực, sẽ tạo nên những giá trị vô cùng to lớn. Tuy nhiên, với sự tham gia đa dạng của người dùng, trong môi trường khó kiểm soát, nó cũng là “con dao hai lưỡi”, khi những tác động nghịch rất dễ xảy ra, tạo nên nhiều hệ lụy tiêu cực tới đời sống chính trị - xã hội, thậm chí khôn lường, nhất là với một quốc gia có số lượng người dùng in-tơ-nét gắn với các phương tiện truyền thông xã hội cao hàng đầu thế giới như Việt Nam. Điều đó cấp thiết đặt ra yêu cầu về quản trị an ninh mạng để xây dựng môi trường mạng lành mạnh, vì sự phát triển bền vững của xã hội, của đất nước. Theo khoản 2, Điều 3, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 quy định, mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng viễn thông và mạng máy tính. Còn theo Trung tâm in-tơ-nét Việt Nam, tính đến cuối năm 2020, cả nước có trên 60 triệu người sử dụng in-tơ-nét, gấp đôi số người sử dụng năm 2011, tương ứng với hơn 60% dân số, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, sau Xin-ga-po (80%), Ma-lai-xi-a (trên 70%). Chỉ tính từ năm 2001 đến năm 2020, số lượng người sử dụng in-tơ-nét đã tăng trung bình mỗi năm 15-18%. Trong số hơn 60 triệu người Việt Nam sử dụng in-tơ-nét, có gần 30 triệu người là khách hàng của Google, 15 triệu người là khách hàng của Yahoo, có trên 48 triệu người là khách hàng của Facebook. Khác với Yahoo đang có xu hướng giảm lượng người dùng, Facebook lại có mức tăng từ 4 triệu người dùng vào năm 2011 lên trên 35 triệu người dùng vào năm 2016 và đạt trên 48 triệu người dùng tính đến cuối năm 2020. Đối tượng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội rất đa dạng, trong đó chiếm số lượng lớn nhất là thanh thiếu niên, sinh viên; ngoài mạng xã hội còn sử dụng các tiểu blog (Microblogging), trang chia sẻ hình ảnh, video (Social sharing), dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền in-tơ-nét (OTT), như: Twiter, Zing Me, Instagram, Zalo, Viber… Với nội dung phong phú và cách thức sử dụng dễ dàng, các phương tiện truyền thông xã hội mang lại rất nhiều tiện ích và ngày càng góp phần quan trọng trong việc kết nối thông tin, nâng cao dân trí… Trong những năm qua, việc xây dựng một chính quyền gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta. Hiện nay, cùng với việc ứng dụng các thành tựu của khoa học - công nghệ, mạng xã hội đã và đang được các cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng một cách có hiệu quả, giúp thu hẹp khoảng cách với người dân. Ví dụ, tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 2 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” với kỳ vọng giúp người dân tiếp cận kịp thời các văn bản, quy phạm pháp luật mới ban hành, thông tin thời sự chính trị, kinh tế - xã hội, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc này không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, khuyến khích người dân đồng hành cùng Chính phủ, mà còn góp phần thiết thực định hướng dư luận trên không gian mạng. Thực tiễn cho thấy, từ khi mạng xã hội phát triển, việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được thực hiện sinh động hơn. Công tác xã hội như cứu trợ thiên tai, xóa đói, giảm nghèo… có nhiều khởi sắc. Nội lực của cộng đồng được phát huy hiệu quả hơn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Các hình thức kinh doanh online trên mạng xã hội của cá nhân và doanh nghiệp ngày càng phát triển, mang tính chuyên nghiệp. Các phương tiện truyền thông xã hội xuyên quốc gia như Facebook, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, thúc đẩy việc xích lại gần nhau, hiểu biết lẫn nhau giữa nước ta với các quốc gia, dân tộc khác trên thế giới. Thông qua mạng xã hội, thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn như một dân tộc yêu chuộng hòa bình, tôn trọng công lý, năng động, với một kho tàng các giá trị văn hóa phong phú, giàu bản sắc… Những lợi ích mà mạng xã hội mang lại là rất lớn. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng và an ninh, trật tự. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, trung bình mỗi năm, qua kiểm tra, kiểm soát, các cơ quan chức năng đã phát hiện trên 850.000 tài liệu chiến tranh tâm lý, phản động, tuyên truyền tà đạo trái phép; gần 750.000 tài liệu tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước được tán phát vào Việt Nam qua đường bưu chính và mạng xã hội. Từ năm 2010 đến năm 2020, có 53.744 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử có tên miền “.vn” bị tấn công, trong đó có 2.393 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước có tên miền “gov.vn”; xuất hiện nhiều cuộc tấn công mang màu sắc chính trị, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Ngoài các vấn đề an ninh truyền thống, đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống ở Việt Nam, trong đó an ninh thông tin mạng xã hội là một loại hình an ninh phi truyền thống điển hình. Các phương tiện truyền thông xã hội đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng, tuyên truyền các thông tin xấu độc, trong số đó phổ biến là một số dạng thông tin, như: Thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, hòng phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đường lối đối ngoại, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta, phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp đổi mới; xuyên tạc lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử các cuộc kháng chiến, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; xuyên tạc thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận công lao to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; vu cáo, bôi nhọ, giả mạo các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội; kích động xu hướng ly khai, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây chia rẽ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận đối với cá nhân và tổ chức; phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây; lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, phát tán virus... Các phương tiện truyền thông xã hội cũng làm gia tăng nguy cơ lộ, lọt bí mật quốc gia. Giai đoạn 2001 - 2020, các cơ quan chức năng phát hiện nhiều vụ lộ, mất bí mật nhà nước, trong đó lộ, mất bí mật nhà nước qua hệ thống thông tin chiếm tỷ lệ lớn với trên 80% số vụ. Tháng 3-2018, Facebook cũng đã để lộ dữ liệu cá nhân để một nhà phát triển bán lại cho Công ty Cambridge Analityca, dẫn tới 87 triệu dữ liệu thông tin người dùng bị lộ, trong đó có 427.466 tài khoản của người dùng Việt Nam. Trong số 35 triệu người dân Việt Nam sử dụng mạng xã hội, có không ít người là cán bộ, đảng viên, làm việc trong các cơ quan, đơn vị có liên quan đến bí mật nhà nước. Nhiều người có thói quen thích chia sẻ thông tin về cuộc sống, công việc, hoạt động của cơ quan, đơn vị lên mạng xã hội hoặc sử dụng mạng xã hội làm công cụ liên lạc, trao đổi. Trong khi đó, hiểu biết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước của một số cán bộ, đảng viên chưa cao, trách nhiệm, ý thức bảo mật chưa tốt đã làm gia tăng nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước. Lợi dụng vấn đề trên, nhiều đối tượng đã đăng tải lại các tài liệu mật trên mạng xã hội, tạo diễn đàn xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước. Các phương tiện truyền thông xã hội làm gia tăng nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Khi mạng xã hội phát triển thì những cuộc “xâm lăng” văn hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn về cường độ, mở rộng về quy mô, tác động đến hầu hết các cá nhân, nhất là số người trẻ. Sự xuất hiện của các trào lưu tuyên truyền, cổ vũ lối sống, các giá trị phương Tây, như: tôn thờ tự do cá nhân, lối sống thực dụng, văn hóa đồi trụy, bạo lực… đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Tình trạng nhiễu loạn thông tin, thật giả lẫn lộn trên mạng xã hội đang ở mức báo động, gây ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng. Hoạt động tung tin đồn, giật gân, câu “like” trên mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận. Một số vụ việc trên mạng xã hội thu hút số lượng rất lớn người quan tâm, theo dõi, hình thành tâm lý đám đông, áp lực dư luận, có thể tạo ra các giá trị lệch lạc hay khuynh hướng phức tạp trong văn hóa ứng xử. Các phương tiện truyền thông xã hội đang trở thành công cụ, môi trường để nhiều đối tượng lợi dụng hoạt động tội phạm, tệ nạn xã hội. Với đặc tính ảo, các phương tiện truyền thông xã hội, nhất là mạng xã hội, thường xuyên bị các đối tượng phạm tội về hình sự, kinh tế, ma túy lợi dụng để hoạt động với các thủ đoạn tinh vi như tạo tài khoản ảo để kết bạn, làm quen sau đó lừa đảo chiếm đoạt tiền, tài sản; tiến hành đánh cắp mật khẩu, chiếm giữ quyền kiểm soát tài khoản trái phép để thu thập các thông tin cá nhân, nhất là những thông tin bí mật về tài chính, từ đó tìm cách đánh cắp, trục lợi. Một số đối tượng còn sử dụng mạng xã hội làm công cụ liên lạc trong quá trình mua bán, vận chuyển các loại hàng cấm, ma túy, vũ khí, vật liệu nổ và các hoạt động phạm tội khác…

YÊU CẦU CẤP THIẾT QUẢN TRỊ AN NINH THÔNG TIN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quản trị an ninh thông tin các phương tiện truyền thông xã hội chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý lên các quá trình và hành vi trong lĩnh vực thông tin và truyền thông của các phương tiện truyền thông xã hội, cung cấp dịch vụ trực tuyến và người sử dụng, nhằm loại bỏ các thông tin gây ảnh hưởng tiêu cực, các định hướng giá trị không tốt. Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới tổ chức quản trị một khủng hoảng an ninh phi truyền thống nói chung, an ninh thông tin mạng xã hội nói riêng thường qua 5 bước: Prevention (phòng ngừa), Mitigation (giảm nhẹ), Preparedness (sẵn sàng: chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất), Response (đối phó), Recovery (phục hồi). Đối với Việt Nam, chúng ta đã và đang áp dụng mô hình “Chu trình quản trị thảm họa an ninh phi truyền thống” cũng theo 5 bước, gồm: phòng ngừa, giảm nhẹ, cứu trợ, phục hồi, tái thiết phát triển. Về phương châm quản trị các thảm họa an ninh phi truyền thống nói chung, quản trị thảm họa an ninh thông tin mạng xã hội nói riêng được thực hiện theo phương châm: “3 sẵn sàng” và “4 tại chỗ”, với tư tưởng chỉ đạo phòng, chống thảm họa an ninh phi truyền thống như “chống giặc ngoại xâm”, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Trong đó, phương châm “3 sẵn sàng” bao gồm: Phòng, chống thảm họa an ninh phi truyền thống như “chống giặc”; chủ động phòng tránh, đối phó kịp thời; khắc phục khẩn trương và có hiệu quả. Còn phương châm “4 tại chỗ” nghĩa là: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Trên thực tế những năm gần đây, các cơ quan chức năng ngành thông tin và truyền thông và công an thực hiện giám sát không gian mạng 24/7, rà soát quét và chủ động gỡ bỏ thông tin xấu độc về các đồng chí lãnh đạo các cấp; gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo mang tên các đồng chí lãnh đạo. Các cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an chủ động đàm phán với Google (bao gồm Youtube) và Facebook, yêu cầu 2 doanh nghiệp này phải cam kết và nghiêm túc triển khai việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin phản động, xấu độc khi có yêu cầu từ phía Chính phủ Việt Nam. Google, Facebook đã đồng ý ngăn chặn, gỡ bỏ 4.500 tin, bài trên Facebook và 30.000 video trên Youtube, giảm đáng kể lượng thông tin xấu độc trên không gian mạng. Hai nhà mạng xã hội nước ngoài lớn Facebook, Google cũng đã thiết lập cơ chế xử lý riêng dành cho Chính phủ Việt Nam nhằm ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin vi phạm quy định pháp luật Việt Nam. Bộ Thông tin và Truyền thông tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2020/NĐ-CP, ngày 14-8-2020, về “Chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác”. Sau 1 tháng ban hành, Nghị định đã ghi nhận kết quả rất khả quan khi tỷ lệ phản ánh tin nhắn rác tháng 11-2020 giảm 47% so với tháng 10-2020. Bộ cũng giám sát, phân tích và dự đoán xu hướng thông tin trên không gian mạng liên quan đến Đại hội XIII của Đảng, các sự kiện lớn của đất nước...; chủ động sử dụng biện pháp kỹ thuật chặn 1.714 website/blog xấu độc trên không gian mạng với hàng chục nghìn bài viết; xử lý 712 bài viết nội dung xấu độc, có lượng theo dõi, chia sẻ lớn trên Facebook; xử lý 827 video clip có nội dung xấu độc trên Youtube. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an phối hợp với Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thống tổ chức rà soát, xử lý nhiều tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin vi phạm trên môi trường mạng. Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội tổ chức ký thỏa thuận hợp tác hằng năm với Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử; Trung tâm Tần số, vô tuyến điện Khu vực 1; Trung tâm internet Việt Nam trong việc phối hợp phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, trong đó có mạng xã hội. Từ năm 2017 đến nay, Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Hà Nội thẩm định, đề nghị Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông xử lý gỡ bỏ 20 tài khoản Facebook, gỡ bỏ 2.678 video clip có dấu hiệu vi phạm pháp luật trên Youtube. Riêng trong năm 2020, thực hiện gỡ bỏ 728 video clip “đăng tải thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố”. Nhiều địa phương đã tổ chức các mô hình quản trị an ninh thông tin mạng xã hội có hiệu quả, trong đó phải kể đến một số mô hình, như: chương trình “Tư duy thời đại số” (We Think Digital) tại Việt Nam gồm các hoạt động đào tạo kỹ năng công dân số và an toàn trực tuyến cho học sinh, sinh viên trên quy mô toàn quốc, xây dựng một môi trường in-tơ-nét tích cực và an toàn; mô hình “Quản lý sinh viên trên các trang mạng xã hội” tại Trường Đại học Hải Phòng, do Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an thành phố Hải Phòng tham mưu và phối hợp với nhà trường triển khai. Ngoài 3 fanpage chính thức của nhà trường gồm: Đại học Hải Phòng với hơn 49.000 lượt theo dõi, Sinh viên Trường Đại học Hải Phòng với gần 10.000 lượt theo dõi và “THP” Confestions với khoảng 30.000 lượt theo dõi, hiện nay đang có một số trang fanpage do sinh viên tự thành lập, hoạt động thường xuyên và có hiệu quả, như Group K14 (hơn 7.600 thành viên); K15 (hơn 6.000 thành viên); K17 (hơn 8.300 thành viên)…; mô hình “Kết nối mạng xã hội - Bình yên cho mỗi gia đình” do Công an tỉnh Đắk Lắk tham mưu với các cơ quan, ban, ngành, trong đó có Trường Đại học Tây Nguyên triển khai, nhằm tăng cường ý thức trách nhiệm quản trị an ninh thông tin mạng xã hội trong cán bộ, nhân dân, sinh viên địa phương…

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ AN NINH THÔNG TIN TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

Thứ nhất, chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách phù hợp để quản trị an ninh mạng nói chung, quản trị an ninh thông tin trên các phương tiện truyền thông xã hội nói riêng. Tập trung sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật về thông tin và truyền thông nói chung và thông tin trên mạng xã hội nói riêng. Triển khai thực hiện hiệu quả hệ thống các văn bản hiện hành, như Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật An toàn thông tin mạng 2016; Luật An ninh mạng 2018 và các luật liên quan, như Luật Xuất bản 2012, Bộ luật Hình sự 2015, Luật Báo chí 2016; Luật Giáo dục đại học 2018, Luật Giáo dục 2019 và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên. Quản lý thông tin đăng ký trên mạng xã hội. Xây dựng chế tài đối với mạng xã hội nước ngoài cung cấp dịch vụ cho người sử dụng tại Việt Nam. Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích thúc đẩy các mạng xã hội do doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp dịch vụ. Xây dựng chính sách hỗ trợ, khuyến khích hình thành các trang mạng xã hội lớn, mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng thay thế hoặc cạnh tranh được với các trang mạng xã hội nước ngoài đang cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam. Thứ hai, chú trọng tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm và ý thức tuân thủ pháp luật cho quần chúng nhân dân khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vạch rõ âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, của các đối tượng xấu trên mạng internet và mạng xã hội; những vấn đề, nội dung thường bị lợi dụng xuyên tạc, cũng như mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin xấu, độc này. Phổ biến, quán triệt nội dung Điều 288 của Bộ luật Hình sự 2015 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013, của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT, ngày 19-8-2014, của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội; Điều 5, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP quy định việc cấm lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ in-tơ-nét và thông tin trên mạng nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định; đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân… Tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học, chuyên đề… về mạng xã hội. Huớng dẫn cho người dân, nhất là học sinh, sinh viên nhận thức được những ưu điểm, hạn chế, cũng như các kỹ năng trong sử dụng mạng xã hội. Đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan truyền thông, phát huy hơn nữa lợi thế của mạng in-tơ-nét, báo, tạp chí điện tử, mạng xã hội trong cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước. Quản lý chặt chẽ, xử lý và đóng cửa theo quy định của pháp luật các trang tin tổng hợp thường xuyên đăng tải những thông tin sai sự thật, cổ xúy những lối sống xa hoa, hưởng thụ, hành vi tiêu cực, suy đồi về đạo đức. Việc trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội cho giới trẻ là rất quan trọng_Ảnh: Tư liệu Việc trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội cho giới trẻ là rất quan trọng_Ảnh: Tư liệu Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý và sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Đưa việc dạy và học pháp luật nói chung, pháp luật quản lý và sử dụng mạng xã hội nói riêng vào các ngành học, bậc học trong hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt phải bắt đầu từ giáo dục phổ thông để nâng cao ý thức, kỹ năng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội ở giới trẻ - đối tượng sử dụng lớn nhất, đồng thời cũng dễ vi phạm hoặc bị lợi dụng khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường, không để các thế lực thù địch thông qua các phương tiện truyền thông xã hội để tác động, “chuyển hóa” tư tưởng, lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật. Tăng cường vai trò của các cấp bộ đoàn, hội sinh viên trong bảo đảm an ninh thông tin, phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Thứ ba, tăng cường năng lực của các cơ quan quản trị an ninh thông tin trên các phương tiện truyền thông xã hội. Quản lý chặt chẽ thông tin trên in-tơ-nét và các phương tiện truyền thông xã hội trên cơ sở luật pháp và các điều ước quốc tế. Hình thành các cơ quan kiểm soát và chống tin giả trên mạng, cũng như hợp tác với các nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Đối với những trang web, mạng xã hội có lượng truy cập lớn hoặc những trang web đặt máy chủ tại Việt Nam, phải cung cấp đầu mối liên hệ cho Bộ Thông tin và Truyền thông và thực hiện việc phối hợp ngăn chặn xử lý thông tin xấu, độc khi có yêu cầu. Xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ, đưa tin bịa đặt, sai sự thật nhằm kích động gây bất ổn xã hội theo pháp luật. Nhà nước sớm ban hành “Bộ quy tắc ứng xử mạng xã hội Việt Nam”, kết hợp việc tăng cường thực thi quản lý nhà nước với những quy định cụ thể và những biện pháp “mềm” mang tính đạo đức, tham khảo các bộ quy tắc ứng xử của các nước… hướng tới xây dựng môi trường an toàn và công bằng hơn cho người sử dụng mạng xã hội. Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục ban hành các quy định mới phù hợp với diễn biến thực tế của mạng xã hội, tiến hành đối thoại, kêu gọi sự hợp tác và trách nhiệm hơn từ các nhà cung cấp nền tảng mạng xã hội. Nghiên cứu, phát triển các phương tiện truyền thông xã hội trong nước có chất lượng để cạnh tranh và kiềm chế hoạt động độc quyền của các mạng nước ngoài. Có các giải pháp lâu dài và bền vững hơn cho cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam. Phát huy vai trò của nhà báo trong đấu tranh, ngăn chặn, phòng, chống thông tin xấu độc trên các phương tiện truyền thông xã hội. Nhà báo phải có trách nhiệm định hướng dư luận xã hội trước các luồng thông tin đa chiều trên mạng xã hội. Chú trọng công tác đào tạo cán bộ quản trị an ninh mạng xã hội ở Việt Nam. Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong cung cấp thông tin có định hướng rõ ràng cho người sử dụng mạng xã hội. Đầu tư hiện đại hóa các lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tác chiến mạng, an toàn thông tin của ngành công an, quân đội, thông tin và truyền thông. Thực hiện nghiêm quy trình bảo vệ an ninh thông tin 4 lớp theo quy định của Chính phủ nhằm tăng cường tính chủ động, kịp thời trong công tác quản lý in-tơ-nét và mạng xã hội, tập trung xây dựng công cụ quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo; xây dựng công cụ đánh giá truy cập website; tăng cường tính bảo mật và đấu tranh với các hành vi tội phạm mạng, khủng bố mạng, tấn công mạng và gián điệp mạng; cảnh báo với các cá nhân, tổ chức những nguyên tắc bảo mật tối thiểu khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội; xây dựng các phương án, kế hoạch hành động quản trị an ninh phi truyền thống khi xảy ra tình huống khẩn cấp về an ninh thông tin. Thứ tư, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các phương tiện truyền thông xã hội theo quy định của pháp luật. Các cơ quan chức năng của ngành thông tin và truyền thông, công an, quân đội thường xuyên phối hợp với thanh tra các bộ, ngành, địa phương tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc truyền thông và sử dụng thông tin trên mạng xã hội của người dùng mạng xã hội, theo quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện, uốn nắn, cũng như xử lý những sai phạm. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các mạng xã hội nhằm chủ động ngăn chặn, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về thông tin, truyền thông và thông tin trên mạng xã hội. Trên cơ sở đó, phát hiện và ngăn chặn xử lý kịp thời những thông tin xấu độc được lan truyền trên các phương tiện truyền thông xã hội, cũng như những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế quản trị an ninh trên các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam. Ngày 7-6-2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg “Về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam”, trong đó nhấn mạnh việc “tăng cường hợp tác, tham gia các tổ chức, thỏa thuận quốc tế song phương, đa phương trong lĩnh vực an toàn, an ninh mạng”. Chúng ta cần tiếp tục tham gia quá trình thảo luận và xây dựng các quy định, tập quán, cũng như luật pháp về không gian mạng với các nước, các tổ chức quốc tế, các trường đại học, hội sinh viên nước ngoài. Điều này giúp Việt Nam có điều kiện và cơ hội để xây dựng các quan hệ đối tác và tham gia các thể chế đa phương nhằm tăng cường các hành động và hợp tác tập thể trong việc ngăn ngừa và chống lại những nguy cơ chung về an ninh mạng, có tác động xuyên biên giới; thúc đẩy hợp tác, hành động và ứng phó tập thể đối với các sự cố an ninh mạng, góp phần giải quyết các sự cố và ngăn chặn những hoạt động gây hại trên không gian mạng một cách hiệu quả; thúc đẩy chia sẻ chính sách và xây dựng đồng thuận chung cho sự ổn định không gian mạng toàn cầu nhằm thiết lập các quy chuẩn, quy định quốc tế và biện pháp trừng phạt đối với các hành vi tội phạm mạng, khủng bố mạng, tấn công mạng và gián điệp mạng./.

Tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa .

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành rất khẩn trương. Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã và đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá cuộc bầu cử với tính chất hết sức quyết liệt, manh động. Thông qua việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những luận điệu sai trái, thiếu trung thực, phiến diện, quy chụp với mục đích hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc nhận thức lệch lạc, sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử ở nước ta. Trong đó, có quan điểm cho rằng: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc, thiếu chính xác của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Ở VIỆT NAM, QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUYỀN CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền "làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình. Trong bất kỳ một thể chế chính trị nào, để Nhà nước có quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" thì phải có được sự đồng thuận của người dân. Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân và được quy định cụ thể tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946: "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử", và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (Điều 54). Hiến pháp năm 2013 và quyền của công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân. Trong đó, Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân", Điều 21 cũng quy định: "Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân...". Theo Điều 2 Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này". Đồng thời, Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp". Thông báo Kết luận số 174-TB/TW ngày 08/6/2020 của Bộ Chính trị về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 nêu rõ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải là những người trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngoài tiêu chuẩn chung, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW, ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện của đại biểu Quốc hội chuyên trách và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách. Bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về quy trình nhân sự theo hướng việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015; quy trình thủ tục, hồ sơ cụ thể thực hiện theo quy định của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy có thể thấy, trong quy trình lựa chọn, sự tín nhiệm của cử tri là thước đo rất quan trọng về tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, tại Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ lần này, trong quá trình lựa chọn, sàng lọc, đặc biệt quan tâm đến yếu tố tín nhiệm. Nếu ở địa bàn, ở nơi công tác nếu cá nhân đó không được tín nhiệm thì bước đầu tiên sẽ không đưa vào giới thiệu nhân sự bầu cử. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân, cũng như tiêu chuẩn về nhân sự bầu của đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật rất vững chắc như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức quốc hội năm 2014, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015… Điều này có nghĩa là các quyền, nghĩa vụ của công dân, của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Việt Nam không hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân, nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân mỗi cử tri có vai trò quyết định trong việc lựa chọn cho mình những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "... ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế. Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài "đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội. Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét, tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội. Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua công tác cán bộ nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Đảng sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Bởi vì, Đảng chỉ định hướng cơ cấu, số lượng nhân sự và xây dựng bộ tiêu chuẩn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, yếu tố quyết định trong việc lựa chọn người đại diện cho tiếng nói của mình thuộc về nhân dân, ngay từ khâu chuẩn bị nhân sự thông qua việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú và trực tiếp thông qua những lá phiếu cử tri trong quá trình bầu cử. Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật, nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.

Chiêu trò xúi giục phá hoại

So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội. . Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu. Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”. Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất. Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri. Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước. Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường... Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước./.

MƯU ĐỒ XẤU ĐẰNG SAU NHỮNG TỪ "TỰ DO", "ĐỘC LẬP"

Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn. Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động. “Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam? Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó!

Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ Campuchia phòng chống dịch COVID-19

Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã huy động động nguồn lực của Nhà nước và nhân dân hỗ trợ Campuchia 800 máy thở, 2 triệu khẩu trang y tế, 300.000 khẩu trang N95 và các thiết bị y tế khác. . Sáng 22/4, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Nguyễn Thanh Long đã có cuộc họp trực tuyến với ông Mam Buncheng - Bộ trưởng Bộ Y tế Campuchia nhằm cập nhật thông tin, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác phòng, chống COVID-19 với mong muốn hợp tác, hỗ trợ Campuchia cùng thực hiện hiệu quả, đẩy lùi, ngăn chặn dịch bệnh. Đánh giá cao nỗ lực, giải pháp chống dịch của Campuchia, ông Long chia sẻ bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong phòng, chống dịch là huy động toàn bộ hệ thống chính trị và người dân tham gia. Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ phía nước bạn trong công tác phòng, chống dịch. “Một trong những kinh nghiệm của Việt Nam trong công tác điều trị là tất cả các cơ sở tham gia điều trị đều được kết nối với nhau để có thể trao đổi, thảo luận và hội chẩn các ca bệnh khó. Hội chẩn từ xa là bài học đã rất hiệu quả, thành công đối với Việt Nam trong đợt dịch lần 1 và lần 2. Trong đợt dịch thứ 3 này, mặc dù có nhiều ca bệnh nặng, nhưng chúng tôi đã điều trị thành công, không có trường hợp nào tử vong,” ông Long cho hay. Giáo sư Nguyễn Thanh Long cho biết để hỗ trợ, cơ sở điều trị của Campuchia sẽ được kết nối với Việt Nam và chúng ta sẽ cử bác sỹ, chuyên gia trao đổi cùng phía bạn để việc điều trị đạt hiệu quả nhất. Việt Nam cũng sẵn sàng cử các chuyên gia, bác sỹ sang hỗ trợ Campuchia nếu có yêu cầu từ nước bạn. Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long, trong bối cảnh dịch bệnh diễn ra phức tạp, vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch là hết sức cấp bách và cần thiết với Campuchia hiện nay. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã huy động động nguồn lực của Nhà nước và nhân dân hỗ trợ Campuchia 800 máy thở, 2 triệu khẩu trang y tế, 300.000 khẩu trang N95 và các trang thiết bị y tế khác. Bộ Y tế Việt Nam sẽ tiến hành vận chuyển sang Campuchia sớm nhất có thể. Hãng hàng không của Việt Nam sẽ vận chuyển từ Sân bay Tân Sơn Nhất sang Sân bay Phnom Penh. Đây là hỗ trợ lớn nhất của Việt Nam cho các nước phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19 từ trước tới nay. Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam cũng mong Bộ trưởng Bộ Y tế Campuchia tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác chống dịch, đặc biệt là tại các tỉnh có đường biên giới với Việt Nam do hiện nay tình hình nhập cảnh trái phép vẫn diễn ra phức tạp. Phía Việt Nam cũng tăng cường đẩy mạnh phòng, chống dịch khu vực biên giới. Bộ trưởng Mam Buncheng bày tỏ sự cảm ơn đến những quan tâm của Việt Nam đối với công tác phòng chống dịch của Campuchia và cho biết sẽ có những trao đổi chính thức về tiếp nhận hỗ trợ của Việt Nam thông qua Bộ Ngoại giao./.

Chủ tịch Quốc hội: Xây dựng pháp luật phải có tầm nhìn xa

Trong công tác giám sát, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Ủy ban Tài chính, Ngân sách đi sâu vào những vấn đề tài khóa, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan. Chiều 22/4, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì buổi làm việc với Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội. Cùng tham dự có Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải... Tại cuộc làm việc, các đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận về các nội dung: hoạt động giải trình; cơ chế phối hợp, kết nối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để tăng cường giám sát trong ban hành và thực thi văn bản pháp luật; chính sách đào tạo cán bộ trẻ, chuẩn bị nguồn cán bộ Quốc hội; quy chế hoạt động của Ủy ban; cơ chế thuê chuyên gia thường xuyên và theo công việc; kết nối thông tin phục vụ công tác chuyên môn... Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá các ý kiến phát biểu rất sâu sắc, mang tính xây dựng của các đại biểu; cho rằng Quốc hội khóa XIV đã có một nhiệm kỳ rất thành công trên các mặt hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và hoạt động đối ngoại, trong đó có đóng góp rất quan trọng của Ủy ban Tài chính, Ngân sách. Trong công tác lập pháp, lĩnh vực tài chính, ngân sách có nhiều nội dung quan trọng, rất khó nhưng Ủy ban Tài chính, Ngân sách đều thực hiện tốt. Điển hình như Luật Quản lý tài sản công có nhiều nội dung tiến bộ; Luật Quản lý nợ công lần đầu tiên thống nhất quản lý nợ công về một đầu mối; Luật Đầu tư công (sửa đổi) tháo gỡ nhiều vướng mắc... Trong công tác giám sát, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đã phục vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát trong những lĩnh vực lớn như: vốn vay, các quỹ tài chính mà Nhà nước quan tâm... bình quân mỗi năm Ủy ban đã thực hiện từ 1 đến 2 cuộc giám sát chuyên đề. Chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá hoạt động đối ngoại của Ủy ban có những kết quả nổi bật, như thiết lập cơ chế hợp tác giữa 4 ủy ban của 4 nước, gồm Việt Nam-Lào-Campuchia-Myanmar. Chủ tịch Quốc hội bày tỏ mong muốn, Ủy ban tiếp tục duy trì cơ chế hợp tác này và tiến tới mở rộng trong khối ASEAN. Về những vấn đề trọng tâm mà Ủy ban Tài chính, Ngân sách cần tập trung trong thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: Các cơ quan của Quốc hội là cơ quan lập pháp nên cần thực hiện đúng quy định của pháp luật. Ủy ban Tài chính, Ngân sách nghiên cứu, xây dựng đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ủy ban trên cơ sở những thành tích đã đạt được. Trong công tác lập pháp, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với ba cấu phần quan trọng: Tổ chức bộ máy Nhà nước; xây dựng chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật với tầm nhìn dài hạn và chiến lược cải cách tư pháp. Trên tinh thần đó, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, việc quyết định chương trình xây dựng pháp luật phải có kế hoạch và tầm nhìn xa. Trong công tác giám sát, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ủy ban Tài chính, Ngân sách đi sâu vào những vấn đề tài khóa, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan. “Cả vấn đề về lập pháp, giám sát tối cao, quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia, các đồng chí phải tính toán cho 5 năm, 10 năm và đến năm 2045,” Chủ tịch Quốc hội nói. Về những vấn đề cấp bách trước mắt, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ủy ban Tài chính, Ngân sách tập trung vào Kế hoạch đầu tư công trung hạn, lưu ý về thời hạn Chính phủ phải trình; Kế hoạch tài chính 5 năm; chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia... Tiếp thu các ý kiến kiến nghị của các đại biểu về phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, ủy viên thường trực, quy định về đại biểu Quốc hội không chuyên trách, chế độ cho chuyên gia... Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh thêm về tính chủ động của các cơ quan của Quốc hội, về tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong công tác lập pháp; hướng tới thực hiện vai trò dẫn dắt trong công tác lập pháp theo yêu cầu của thực tiễn. Về đổi mới kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết sẽ có đề án riêng trên tinh thần chuyển từ Quốc hội tham luận sang Quốc hội thảo luận và tranh luận; nâng cao chất lượng thảo luận ở tổ và nâng cao chất lượng công tác thư ký ghi chép thảo luận ở tổ.../.

TĂNG CƯỜNG CÁC BIÊN PHÁP PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH

Để duy trì vững chắc thành quả phòng, chống dịch, thực hiện thành công mục tiêu kép, bảo vệ tốt nhất sức khỏe nhân dân, đặc biệt trong những ngày lễ lớn sắp tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục tăng cường cảnh giác với nguy cơ dịch bệnh, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch đã đề ra với phương châm “phòng ngừa tích cực, phát hiện sớm, cách ly nhanh, điều trị hiệu quả, xử lý dứt điểm, nhanh chóng ổn định tình hình”. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống dịch trên phạm vi quản lý. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm chính về việc phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn; báo cáo cấp ủy cùng cấp để thống nhất chỉ đạo. Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn, chủ động tham mưu, đề xuất các vấn đề liên ngành, vượt thẩm quyền; đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19; tổng hợp, báo cáo tình hình, kết quả lên Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết liệt chỉ đạo thực hiện và tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghiêm các biện pháp: (1) Thực hiện nghiêm yêu cầu 5K của Bộ Y tế, nhất là đeo khẩu trang bắt buộc tại nơi công cộng, tại các sự kiện có tập trung đông người, trên các phương tiện giao thông công cộng. (2) Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp... thường xuyên tự đánh giá việc thực hiện các yêu cầu, biện pháp phòng, chống dịch, cập nhật kết quả tự đánh giá trên hệ thống bản đồ chống dịch. (3) Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch trong phạm vi và trên địa bàn quản lý, nhất là tại các cơ sở y tế, trường học, cơ sở du lịch, cơ sở sản xuất, chợ, siêu thị, sân bay, bến xe...; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm phòng, chống dịch. (4) Chủ động cập nhật, hoàn chỉnh các phương án sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống của dịch. (5) Trường hợp phát hiện ca bệnh, phải tập trung chỉ đạo, áp dụng ngay các biện pháp khoanh vùng, truy vết, cách ly; kiên quyết không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Việc áp dụng các biện pháp cách ly, phong tỏa, giãn cách xã hội phải theo phương châm thiết thực, hiệu quả; bảo đảm an toàn nhưng không để sản xuất, kinh doanh bị đình trệ ở quy mô quá mức cần thiết; hạn chế tối đa tác động bất lợi đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. (6) Tiếp tục hạn chế các sự kiện, hoạt động tập trung đông người không cần thiết; trường hợp tổ chức, phải thực hiện nghiêm các biện pháp bảo đảm an toàn, đặc biệt, phải tuân thủ đeo khẩu trang, sát khuẩn... theo đúng quy định. Đối với Bộ Y tế, Công điện nêu rõ: Rà soát, hoàn chỉnh các phương án phòng, chống dịch ở quy mô quốc gia, sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống dịch bệnh. Rà soát, hoàn chỉnh các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp trong tình hình mới, hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn trong các sự kiện, hoạt động có tập trung đông người, tại các cơ sở thường xuyên tập trung đông người. Khẩn trương thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc xin phòng COVID-19; phân bổ và tổ chức tiêm vắc xin phù hợp với tình hình diễn biến dịch, bảo đảm an toàn tuyệt đối, không để vắc xin bị quá hạn. Tiếp tục chủ động tiếp cận với các nguồn vắc xin khác trên thế giới đồng thời tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển vắc xin trong nước. Tăng cường tầm soát chủ động, xét nghiệm trên diện rộng đối với các trường hợp có biểu hiện ho, sốt, khó thở, viêm đường hô hấp và các trường hợp khác có nguy cơ lây nhiễm cao trong cộng đồng. Các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập cảnh trên các tuyến biên giới. Bộ Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục tăng cường hoạt động rà soát, phát hiện nhanh các trường hợp nhập cảnh trái phép trên địa bàn, xử lý nghiêm theo pháp luật các trường hợp nhập cảnh trái phép, nhất là ở các tỉnh biên giới, đặc biệt là biên giới Tây Nam. Các Bộ: Ngoại giao, Công an, Quốc phòng, Y tế, Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục quản lý chặt chẽ việc nhập cảnh, cách ly, theo dõi y tế sau cách ly, đồng thời chuẩn bị các yếu tố cần thiết sẵn sàng mở rộng đối tượng nhập cảnh phù hợp với tình hình dịch bệnh trên tinh thần phát triển nhưng phải bảo đảm an toàn. Các Bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý, giám sát chặt chẽ các cơ sở cách ly người nhập cảnh, phòng ngừa lây chéo và lây lan dịch bệnh ra cộng đồng. Các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Y tế, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan báo chí tiếp tục truyền thông về đề cao cảnh giác với dịch bệnh, thực hiện việc tiêm vắc xin phòng COVID-19, tự giác thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định./.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc

Chủ tịch nước nêu rõ, Việt Nam hết sức coi trọng thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, lâu dài, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. . Sáng 26/4, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sang thăm chính thức Việt Nam. Tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh chuyến thăm Việt Nam của Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa; tin tưởng chuyến thăm sẽ đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Chủ tịch nước cũng bày tỏ vui mừng vì chuyến thăm đã để lại nhiều ấn tượng giao lưu sâu sắc, thắm tình đồng chí, anh em giữa Quân đội và nhân dân hai nước. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao kết quả hội đàm giữa Thượng tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Chủ tịch nước cho rằng, thành công trong hợp tác giữa Quân đội 2 nước sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai Đảng, hai nước nói chung và hai Bộ Quốc phòng nói riêng, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở mỗi quốc gia cũng như của khu vực và thế giới. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã dành thời gian tiếp; chúc mừng đồng chí Nguyễn Xuân Phúc được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa nêu rõ, chuyến thăm Việt Nam lần này của Đoàn thể hiện sự coi trọng của Đảng, Nhà nước Trung Quốc trong việc phát triển mối quan hệ với Việt Nam; đồng thời, chuyến thăm cũng nhằm thúc đẩy hợp tác nhiều mặt giữa Quân đội hai nước Việt Nam-Trung Quốc ngày càng đi vào chiều sâu. Đề cập đến kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phan Văn Giang, Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa cho biết, hai bên đã thống nhất nhiều nội dung hợp tác giữa Quân đội hai nước; qua đó góp phần thúc đẩy tình hữu nghị, quan hệ hợp tác Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng tốt đẹp trong thời gian tới. Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa nhấn mạnh, Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm chung, cùng là 2 quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thời gian qua, quan hệ hai nước và Bộ Quốc phòng hai nước đã đạt được nhiều thành tựu tích cực. Đặc biệt, năm 2020, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 gây thiệt hại lớn trên thế giới, song, Việt Nam và Trung Quốc vẫn đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và phòng, chống dịch bệnh. Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa nêu rõ, Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước có mối quan hệ đặc biệt, có truyền thống lâu đời. Nhân dân hai nước vừa là đồng chí, vừa là anh em. Tình cảm đó khắc sâu trong lòng các thế hệ nhân dân hai nước và cần được tiếp tục gìn giữ và phát huy trong thời gian tới. Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa tin tưởng trong tương lai, Việt Nam chắc chắn sẽ dành được nhiều thắng lợi rực rỡ hơn nữa trong phát triển kinh tế xã hội. Nhân dịp này, Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa cũng chuyển lời chào, lời chúc tốt đẹp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đến Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng những kết quả toàn diện về kinh tế xã hội của Trung Quốc thời gian qua dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch nước nêu rõ, Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên duy trì trao đổi, đạt nhiều nhận thức chung quan trọng. Việt Nam hết sức coi trọng thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, lâu dài, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Việt Nam ủng hộ Trung Quốc phát triển lớn mạnh và có đóng góp ngày càng tích cực, thiết thực cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Chủ tịch nước cũng ghi nhận, đánh giá cao sự phát triển hiệu quả của mối quan hệ giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước Việt Nam, Trung Quốc, đem lại lợi ích cho mỗi bên, nhất là các tỉnh có chung đường biên giới. Chủ tịch nước hoan nghênh sự phát triển toàn diện của quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước; đóng góp quan trọng vào phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, trong đó, tổ chức thành công chuỗi hoạt động Đối ngoại quốc phòng vừa qua. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, hai nước đã hợp tác kiểm soát tốt đại dịch, tạo điều kiện để phát triển thương mại 2020 đạt mức kỷ lục 133 tỷ USD, tăng 14%. Việt Nam là đối tác lớn thứ 6 của Trung Quốc. Hai bên cần triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tăng trưởng thương mại mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới. Chủ tịch nước cũng mong muốn quân đội 2 nước cần tiếp tục tăng cường xây dựng vững chắc lòng tin chiến lược; phối hợp đưa quan hệ hợp tác quốc phòng tiếp tục là trụ cột trong quan hệ hai nước; triển khai đầy đủ, hiệu quả các văn bản hợp tác đã ký kết cũng như các cơ chế hợp tác. Hai bên cũng cần tăng cường hợp tác giữa cơ quan chính trị của Quân đội hai nước, đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân mỗi nước, nhất là thế hệ trẻ về tình cảm hữu nghị, truyền thống giữa hai nước, hai Quân đội, không để các thế lực thù địch phá hoại. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao việc Bộ Quốc phòng hai nước quyết tâm cùng nhau xây dựng không khí hòa bình giữa hai nước nói chung và trên Biển Đông nói riêng; khẳng định, sự hợp tác giữa hai bên đi vào thực chất, môi trường hòa bình ở Biển Đông được giữ vững chính là điều kiện thuận lợi để các cơ quan chức năng hai bên tiến hành hiệp thương, giải quyết những vấn đề tồn tại, nhất là vấn đề trên biển. Tại buổi tiếp, qua Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng gửi lời chúc sức khỏe và cảm ơn Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã sớm gửi Điện chúc mừmg nhân dịp đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước./.

Nhiều điểm khác biệt trong bầu cử ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh

Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, 3 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM sẽ không bầu HĐND cấp phường. . Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, khác với 60 tỉnh, thành phố khác, ba thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ không bầu Hội đồng Nhân dân cấp phường. Cùng với đó, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ không bầu Hội đồng Nhân dân cấp quận. Những điểm khác biệt trên là do ba thành phố này thực hiện theo các Nghị quyết số 97/2019/QH14, số 119/2020/QH14 và số 131/2020/QH14 của Quốc hội về thực hiện mô hình chính quyền đô thị từ năm 2021. KHÔNG BẦU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Ở 177 PHƯỜNG CỦA HÀ NỘI Nghị quyết về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng Nhân dân phường tại thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026 là cần thiết để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc từng bước đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thị, đáp ứng những đòi hỏi từ thực tiễn quá trình phát triển, yêu cầu quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và chính quyền đô thị trên cả nước nói chung. Theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội, việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội được thực hiện từ ngày 1/7/2021 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm. Do đó, trong kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp lần này, Hà Nội thực hiện không tổ chức bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân tại tất cả các phường (177 phường) thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây. Khi thực hiện thí điểm, mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp của thành phố Hà Nội đã có sự phân biệt giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn. Cụ thể, đối với chính quyền ở đô thị (khu vực nội thành, nội thị) thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị 2 cấp: tại thành phố Hà Nội và các quận, thị xã, tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Tại phường, tổ chức chính quyền địa phương (không tổ chức Hội đồng Nhân dân mà chỉ có cơ quan hành chính ở phường là Ủy ban Nhân dân) để thực hiện một số công việc quản lý hành chính Nhà nước và cung ứng một số dịch vụ công. Đối với chính quyền ở nông thôn (huyện, xã), giữ nguyên mô hình tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tại huyện, xã; đối với thị trấn, tuy là đô thị nhưng là đơn vị hành chính thuộc huyện nên vẫn tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân. KHÔNG BẦU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỦA 6 QUẬN, 45 PHƯỜNG THUỘC ĐÀ NẴNG Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của Quốc hội nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo Nghị quyết số 119/2020/QH14, ở cấp thành phố, Đà Nẵng cấu trúc chính quyền như các tỉnh, thành phố khác, gồm Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Còn ở quận, phường chỉ có Ủy ban Nhân dân. Tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính khác của thành phố Đà Nẵng được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Như vậy, trong kỳ bầu cử lần này, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chỉ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng, đại biểu Hội đồng Nhân dân huyện Hòa Vang và đại biểu Hội đồng Nhân dân các xã thuộc huyện Hòa Vang nhiệm kỳ 2021-2026, cùng với đó Hội đồng Nhân dân của 6 quận, 45 phường thuộc thành phố sẽ dừng hoạt động từ năm nay. KHÔNG BẦU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG Ở TP HỒ CHÍ MINH Khác với Hà Nội và Đà Nẵng, ngày 16/11/2020, Thành phố Hồ Chí Minh được Quốc hội đồng ý cho triển khai tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh mà không cần tiếp tục “thí điểm” từ 1/7/2021. Việc thí điểm đã được Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiều năm trước đó và được đánh giá là hiệu quả. Theo Nghị quyết số 131/2020/QH14 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc tổ chức chính quyền đô thị sẽ được thực hiện từ ngày 1/7/2021. Nghị quyết nêu rõ: chính quyền địa phương ở Thành phố Hồ Chí Minh là cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng Nhân dân thành phố và Ủy ban Nhân dân thành phố. Chính quyền địa phương ở quận tại thành phố là Ủy ban Nhân dân quận; ở phường là Ủy ban Nhân dân phường. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021. Việc tổ chức chính quyền đô thị quy định tại Nghị quyết này được thực hiện từ ngày 1/7/2021. Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội được ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, áp dụng theo quy định của Nghị quyết này. Nghị quyết cũng quy định điều khoản chuyển tiếp. Theo đó, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân quận, phường nhiệm kỳ 2016-2021 kết thúc nhiệm vụ vào ngày 30/6/2021. Với Thủ Đức, “thành phố thuộc thành phố” được thành lập trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức theo Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vẫn tổ chức Hội đồng Nhân dân thành phố, nhưng 34 phường sẽ không tiến hành bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ tới. TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA CẤP ỦY, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG, ỦY BAN BẦU CỬ Do không bầu Hội đồng Nhân dân cấp quận, phường nên số lượng các tổ chức phụ trách bầu cử tại các thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh có sự giảm bớt khá nhiều so với các đơn vị hành chính thông thường khác. Để có thể bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026 trên địa bàn, cấp ủy, chính quyền địa phương, đặc biệt là Ủy ban bầu cử ở các thành phố nói trên tập trung đẩy mạnh, tổ chức thực hiện tốt công tác chỉ đạo việc tổ chức bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử trên toàn địa bàn thành phố; chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về cuộc bầu cử; chú trọng công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; có phương án chủ động ứng phó với những tình huống thiên tai, dịch bệnh có thể xẩy ra trong thời gian tiến hành bầu cử... Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử cần tiến hành tổng kết cụ thể, chi tiết về việc triển khai thực hiện công tác bầu cử ở địa phương mình để đánh giá, rút kinh nghiệm, chỉ ra các nội dung còn khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp, điều chỉnh cần thiết nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác này trong các kỳ bầu cử tiếp theo./.

Điểm mới thí sinh cần lưu ý trước khi đăng ký thi Tốt nghiệp THPT .

gày mai, 27/4, thí sinh trên cả nước sẽ bắt đầu làm thủ tục đăng ký dự thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông và nguyện vọng xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng sư phạm ngành giáo dục mầm non. . Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bắt đầu từ ngày mai, 27/4, thí sinh sẽ bắt đầu nộp hồ sơ dự kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2021 và đăng ký nguyện vọng xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng sư phạm theo hình thức xét tuyển dựa trên điểm của kỳ thi này. Điểm mới đáng lưu ý năm nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thí sinh chỉ được chọn một trong hai phương thức đăng ký nguyện vọng xét tuyển. Phương thức 1: Đăng ký trực tiếp tất cả các thông tin trên phiếu đăng ký dự thi kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông và xét tuyển vào đại học; cao đẳng năm 2021. Ở phương thức này, thí sinh không được điều chỉnh thông tin đăng ký nguyện vọng xét tuyển khi điểm tiếp nhận đã cập nhật thông tin của thí sinh vào cơ sở dữ liệu trong thời gian quy định. Phương thức 2: Đăng ký trực tuyến (tại các nơi có đủ điều kiện), thí sinh đăng ký trực tiếp trên phiếu đăng ký dự thi và đăng ký xét tuyển phần thông tin phục vụ kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông. Phần đăng ký nguyện vọng xét tuyển trực tuyến, thí sinh sẽ được cấp mật khẩu và tài khoản để đăng ký. Thí sinh phải hoàn thành việc đăng ký trong thời gian quy định. Với phương thức này, thí sinh có thể điều chỉnh nhiều lần thông tin đăng ký nguyện vọng xét tuyển trong thời gian quy định. Một điểm mới quan trọng khác của việc xét tuyển đại học năm nay là sau khi có kết quả thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông, mỗi thí sinh được điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển tối đa ba lần trong thời gian quy định và chỉ được thực hiện theo phương thức trực tuyến. Các thí sinh phúc khảo các bài thi/môn thi sẽ điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển sau khi có kết quả phúc khảo. Thí sinh sử dụng tài khoản và mật khẩu cá nhân đã được cấp để thực hiện việc điều chỉnh. Số nguyện vọng điều chỉnh không lớn hơn số lượng nguyện vọng đã đăng ký ban đầu. Trong trường hợp thí sinh điều chỉnh lớn hơn số lượng nguyện vọng đã đăng ký ban đầu hoặc điều chỉnh sai sót các nội dung liên quan đến đối tượng ưu tiên, khu vực ưu tiên phải khai chính xác thông tin và nộp tại điểm thu nhận hồ sơ để bổ sung kinh phí tương đương với số lượng nguyện vọng tăng so với số nguyện vọng đã đăng ký ban đầu, sau đó sử dụng tài khoản và mật khẩu cá nhân đã được cấp để thực hiện việc điều chỉnh sau khi cán bộ điểm thu nhận hồ sơ cập nhật thông tin bổ sung số nguyện vọng của thí sinh trên Cổng thông tin tuyển sinh. Thí sinh cũng cần lưu ý ghi đúng mã cơ sở đào tạo, mã ngành/nhóm ngành, mã tổ hợp xét tuyển theo quy định của cơ sở đào tạo. Nguyện vọng nào ghi không đúng sẽ không được hệ thống phần mềm chấp nhận và bị loại./.

Sơ thảo Luận cương của Lênin soi sáng tư tưởng Hồ Chí Minh .

Chủ tịch Hồ Chí Minh đón nhận tư tưởng trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin với khát khao cháy bỏng giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Người coi Sơ thảo luận cương là “cái kim chỉ nam”, là “mặt trời soi sáng”, là “cẩm nang thần kỳ”, là chân lý hướng dân tộc Việt Nam đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đến với độc lập, tự do, hạnh phúc. “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin vào Quốc tế thứ ba”[1]. Đó là lời kể lại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên báo Nhân dân ngày 22/4/1960 về thời khắc Người đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin vào giữa tháng 7/1920. Hồ Chí Minh đón nhận tư tưởng trong Sơ thảo luận cương với khát khao cháy bỏng giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Người coi Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin là “kim chỉ nam”, là “mặt trời soi sáng”, là “cẩm nang thần kỳ”, là chân lý hướng dân tộc Việt Nam đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đến với độc lập, tự do, hạnh phúc. Những tư tưởng trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin có ý nghĩa định hướng, làm nền tảng phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng con người về sau, cụ thể: Thứ nhất, tư tưởng về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin làm nền tảng hình thành chần lý bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” ở Hồ Chí Minh. Mở đầu bản Sơ thảo luận cương, V.I.Lênin đã vạch trần tư tưởng dân chủ tư sản, một tư tưởng chỉ rao giảng đến quyền bình đẳng chung chung, trừu tượng, hình thức và quyền bình đẳng trên pháp luật chứ không phải là quyền bình đẳng thực sự. V.I.Lênin cho rằng, chế độ dân chủ tư sản chỉ là chế độ lừa dối, mị dân, chúng dùng quyền bình đẳng chung chung làm vũ khí triệt tiêu tư tưởng bình đẳng tuyệt đối của giai cấp công nhân; chủ nghĩa tư bản chỉ áp dụng quyền bình đẳng đó khi nói về quan hệ sản xuất hàng hóa, còn các quan hệ khác trong xã hội như: quan hệ giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, quan hệ giữa người bị áp bức với kẻ đi áp bức lại bị vờ quên đi. V.I.Lênin khẳng định: “Ý niệm bình đẳng - bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hóa, đã bị giai cấp tư sản biến thành vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu giai cấp dưới chiêu bài bình quyền tuyệt đối của cá nhân”[2]. Vì vậy, V.I.Lênin yêu cầu các Đảng Cộng sản khi tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc phải xuất phát bằng việc nghiên cứu quyền bình đẳng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nhờ đó, mới có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tình hình chính trị - xã hội, mới đưa ra được phương pháp hành động cách mạng phù hợp nhất. V.I.Lênin khuyên các Đảng nên tập trung xem xét các hiện tượng biểu hiện trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, vì bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền bộc lộ rõ nét nhất trong các hoạt động kinh tế. V.I.Lênin kêu gọi các giai cấp, tầng lớp bị áp bức, bóc lột trong xã hội đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để giành lại quyền bình đẳng trong xã hội, quyền bình đẳng thực sự, chứ không phải quyền bình đẳng hình thức; các Đảng Cộng sản phải “tố cáo những việc vi phạm thường xuyên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và những sự bảo đảm quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong tất cả các quốc gia tư bản chủ nghĩa”[3]; xác định đúng đắn, rõ ràng và khoa học quyền bình đẳng của các dân tộc và đòi hỏi phải “phân biệt thật rõ rệt những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc, không được hưởng quyền bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bóc lột, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi”[4]. Tư tưởng này, cùng với tinh thần yêu nước Việt Nam và bài học của nhiều năm bôn ba khắp thế giới, trực tiếp tham gia các phong trào công nhân thế giới đã làm sáng tỏ động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, tìm hiểu ý nghĩa của cụm từ “tự do, bình đẳng, bác ái”. Những luận giải rõ ràng, mạch lạc, khoa học của V.I.Lênin đã củng cố vững chắc cho Hồ Chí Minh trong tư duy, suy nghĩ về độc lập tự do cho dân tộc, và là tâm điểm phát triển tư tưởng đấu tranh giành độc lập tự do ở Hồ Chí Minh sau này. Điều này được Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý thời đại, áp dụng triệt để trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam là: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chân lý đó không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là khát vọng cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam, là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh, là động lực giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ chiến thắng mọi kẻ thù, dành lại độc lập tự do cho dân tộc. Với tinh thần đó, nhân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu, hi sinh buộc các đế quốc lớn trên thế giới phải chấp nhận quyền dân tộc cơ bản của Nhân dân Việt Nam, phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; xung đột tôn giáo, sắc tộc, tranh chấp tài nguyên và lãnh thổ, biển đảo, bạo loạn, khủng bố diễn biến phức tạp; giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc phát triển mạnh mẽ, phức tạp, chằng chéo đòi hỏi phải có tư duy, nhận thức rõ ràng, sâu sắc về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về chủ quyền an ninh quốc gia đến độc lập, tự do về kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống và đạo đức xã hội; phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc có tính chất phương pháp luận được xác định trong chiến lược xây dựng, bảo vệ đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; phải chủ động hội nhập; độc lập dân tộc gắn chặt chẽ với chủ nghĩa xã hội. Do đó, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”[5]. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Thứ hai, tư tưởng về giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin làm tiền đề để Hồ Chí Minh hoàn thiện lý luận về con đường cứu nước. 12 luận điểm trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin đã đặt ra một loạt vấn đề có tính nguyên lý và phương pháp luận giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của cách mạng vô sản, gồm: phân biệt lợi ích của các giai cấp bị áp bức, bóc lột với lợi ích của giai cấp thống trị; phân biệt quyền lợi của dân tộc bị áp bức với quyền lợi của các lực lượng đi áp bức; gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc, gắn kết phong trào dân tộc với cách mạng thế giới; và trên hết là tư tưởng về giải phóng dân tộc khỏi nô dịch, xâm lược của các dân tộc, thuộc địa, phụ thuộc. Chính những tư tưởng đó làm tiền đề để Hồ Chí Minh hoàn thiện lý luận con đường cứu nước, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Có thể khái quát như sau: Một là, Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam phải đi theo cách mạng vô sản và bằng bạo lực cách mạng, kết hợp với lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang trong nhân dân. Trong Sơ thảo luận cương, V.I.Lênin khẳng định, “Chuyên chính vô sản là hình thức đấu tranh giai cấp kiên quyết nhất và cách mạng nhất của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh ấy chỉ có thể thắng lợi, khi đội tiên phong cách mạng nhất của giai cấp vô sản lôi cuốn được theo mình tuyệt đại đa số vô sản”[6]. V.I.Lênin phân tích chuyên chính vô sản là tư tưởng trong đấu tranh giai cấp với tinh thần cương quyết, khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp công nhân mà đại diện đội tiên phong của giai cấp đó là Đảng Cộng sản; phong trào cách mạng vô sản muốn thành công phải thực hiện chuyên chính vô sản. Tư tưởng chuyên chính vô sản được Hồ Chí Minh đón nhận, phân tích sâu sắc trong điều kiện lịch sử Việt Nam, Người đi đến kết luận con đường giải phóng dân tộc, không thể có con đường nào khác chỉ có duy nhất con đường cách mạng vô sản; và phải bằng bạo lực cách mạng kết hợp với lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang trong nhân dân; phải đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa “Ở nước ta, khởi nghĩa có thể bùng ra trong một nơi rồi dần dần lan ra khắp nước”[7]. Tư tưởng giành độc lập tự do ở Việt Nam của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn, bổ sung lý luận cho học thuyết Mác - Lênin; là kinh nghiệm quý báu cho các Đảng Cộng sản trên thế giới. Hai là, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản là Đảng chân chính nhất lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam làm cách mạng giải phóng dân tộc. Trong dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc tin theo học thuyết C.Mác, Ph.Ăngghen, dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, đã cổ vũ, động viên các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức, bóc lột đứng lên giành độc lập tự do mạnh mẽ, liên tục, rộng khắp; mở ra một “chân trời” mới, một phương pháp cách mạng mới - tự tin vào sức mạnh để giải phóng dân tộc mình. V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng đó lên một nấc thang mới trong Sơ thảo luận cương và khẳng định chắc chắn chỉ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cách mạng của giai cấp công nhân mới đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thấm nhuần tư tưởng đó, Hồ Chí Minh vận dụng, phát triển sáng tạo trong điều kiện Việt Nam về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản. Người khẳng định, để cách mạng giải phóng dân tộc thành công thì việc đầu tiên và trước mắt phải thành lập chính Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động “cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[8]. Và “Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”[9]. Từ đó, Hồ Chí Minh ra sức chuẩn bị về chính trị, tổ chức để thành lập Đảng, đến ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hội tụ sức mạnh giai cấp, sức mạnh dân tộc; mở ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam. Ba là, Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng làm cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là liên minh giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội và đoàn kết quốc tế với khẩu hiệu “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Tư tưởng đoàn kết dân tộc đã thấm đẫm lớp lớp các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Hồ Chí Minh - Người Việt Nam ưu tú nhất, hiểu sâu sắc nhất tinh thần đoàn kết của dân tộc, biến nó trở thành hành động cách mạng, tạo ra sức mạnh vô biên để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Tư duy đó được củng cố, hoàn thiện khi Hồ Chí Minh bắt gặp tư tưởng liên minh công - nông trong Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin. Theo V.I.Lênin, Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa phải ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, ngay cả khi phong trào giải phóng dân tộc đó có tính chất tư sản, nhưng nó thực sự là phong trào cách mạng; cần chú ý đến liên kết với phong trào nông dân, những người bị áp bức; phải giúp phong trào nông dân trong tổ chức và giáo dục họ theo lý tưởng cộng sản, để dần lôi kéo họ về phía những người cộng sản, xây dựng khối liên minh công - nông; phát triển cuộc đấu tranh chống đế quốc đi đôi với chống phong kiến, hình thành phong trào dân tộc dân chủ rộng rãi; các nhà cách mạng ở chính quốc, thuộc địa phải đoàn kết với nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc; các Đảng Cộng sản ở chính quốc, thuộc địa “phải là làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản”[10]. Tư tưởng giải phóng của dân tộc thuộc địa phải được kết hợp chặt chẽ với tư tưởng của các Đảng Cộng sản trên thế giới, nhất là các Đảng ở chính quốc; cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa muốn thành công phải nổ ra cùng lúc với phong trào vô sản ở chính quốc. Bởi vậy, Hồ Chí Minh đã đặt cách mạng Việt Nam trong khối đại đoàn kết với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Người nhận định, trước hết, phải phân biệt rõ bạn và thù, phải biết thêm bầu bạn, bớt kẻ thù. Vì, phong trào cách mạng Việt Nam không chỉ liên minh giữa giai cấp công nhân và nông dân lao động mà còn “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”[11]. Hồ Chí Minh cũng khẳng định cốt lõi của đoàn kết là công - nông “công nông là người chủ cách mệnh... công nông là gốc cách mệnh”[12]. Để thực hiện đoàn kết dân tộc phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện đoàn kết, đại đoàn kết là định hướng, lãnh đạo nhằm xây dựng, củng cố trên nền tảng thống nhất chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản; lợi ích tối cao của dân tộc với quyền lợi của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người; phải tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân; phải tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; phải đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, chặt chẽ; phải chân thành, thân ái, thẳng thắn đoàn kết gắn với tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên có công lao to lớn trong việc gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, gắn nhân tố dân tộc với nhân tố quốc tế tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Mối quan hệ chặt chẽ giữa đại đoàn kết và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[13]. Người kết luận: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[14]. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn chăm lo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xác định đặc trưng, mô hình, cấu trúc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lấy phát triển con người là trung tâm... Do vậy, Đảng xác định: “Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[15]. Trong bất luận hoàn cảnh nào, "Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau”[16]. Dân tộc Việt Nam quyết tâm vượt qua thử thách, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Học tập, làm theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để không chệch hướng chủ nghĩa xã hội với phương pháp linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với quê hương, đất nước, con người và văn hóa Việt Nam; góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân tộc.