Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Sự phi lý của một số thuyết âm mưu về covid-19

 


Dịch COVID-19 hoành hành trên thế giới kéo theo vô số thuyết âm mưu nghe thì nguy hiểm nhưng chẳng hề có căn cứ, trong đó có một số thuyết âm mưu cực kỳ phổ biến.

Năm 2020, thời điểm đại dịch COVID-19 lan ra toàn thế giới cũng là lúc các thuyết âm mưu “nguy hiểm” về nguyên nhân gây bệnh xuất hiện. Đáng buồn là cùng với số ca bệnh tăng, ngày càng có nhiều quan niệm và phỏng đoán sai lầm, thậm chí có phần lố bịch. Loại kiến thức giả mạo này lan truyền trên mạng xã hội gây ảnh hưởng xấu đến công tác phòng chống dịch ở nhiều nơi.  

Thuyết âm mưu cho rằng "COVID-19 lây lan từ sóng 5G". Không hề có một cách giải thích hợp lý nào cho giả thuyết bệnh viêm phổi và các bệnh liên quan đến COVID-19 là do tín hiệu từ cột sóng 5G gây ra. Theo thuyết này thì đáng lẽ dịch bệnh sẽ không lan đến những khu vực chưa có điều kiện tiếp cận mạng 5G, và thực tế cho thấy điều này sai hoàn toàn.

Thuyết âm mưu cho rằng "Khẩu trang làm giảm oxy và gây hại". Việc đeo khẩu trang rất ít ảnh hưởng đến nồng độ oxy hoặc carbon dioxide trong hoạt động hô hấp của người. Từ trước tới nay, các bác sĩ phẫu thuật vẫn đeo khẩu trang trong suốt quá trình làm việc kéo dài mà không gặp ảnh hưởng nào đáng kể. Khẩu trang là thiết bị bảo hộ tiêu chuẩn trong đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) của tất cả các bệnh viện. Tổ chức về Bệnh hen suyễn và Viêm phổi ở Anh, Tổ chức Phổi Anh quốc khuyến cáo tất cả mọi người sử dụng khẩu trang hàng ngày để phòng dịch. Đây là biện pháp dễ dàng để ngăn COVID-19 lây lan. Tổ chức Y tế Thế giới chỉ khuyên mọi người không nên đeo khẩu trang trong lúc tập thể dục vì người dùng có thể khó thở nếu vận động ở cường độ cao.

Thuyết âm mưu cho rằng “COVID-19 không nghiêm trọng hơn bệnh cúm". Cúm cũng có thể trở thành căn bệnh nguy hiểm. Trong một số năm, dịch cúm bùng phát nghiêm trọng khiến hàng nghìn người chết ở Anh. Nhưng quy mô và độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 ở mức độ hoàn toàn khác. Trong năm 2020, số người chết vì dịch bệnh ở Anh đạt kỷ lục kể từ sau Chiến tranh thế giới II. Ngoài ra, COVID-19 có triệu chứng khác với bệnh cúm, người mắc phải có nguy cơ chuyển biến hoặc tử vong cao hơn hẳn.

Thuyết âm mưu cho rằng "Chỉ người già mới phải sợ COVID-19". Nguy cơ chuyển biến nghiêm trọng ở người mắc COVID-19 tăng lên theo tuổi tác và các yếu tố thể chất, bệnh nền khác như béo phì. Tuy nhiên, không thiếu trường hợp người trẻ tuổi phải nhập viện và phụ thuộc máy thở. Cho dù không mắc bệnh nặng đến mức phải vào viện, người nhiễm virus SARS-CoV-2 vẫn phải trải qua nhiều triệu chứng rất khó chịu như kiệt sức, khó thở, mất vị giác... Đặc biệt, ngày càng nhiều người mắc COVID-19 đã điều trị khỏi gặp phải các triệu chứng suy nhược tiếp diễn và di chứng lâu dài. Vì vậy, với người mắc bệnh nhẹ, COVID-19 vẫn có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Thuyết âm mưu cho rằng "Nếu không bị ho, chắc chắn tôi không nhiễm SARS-CoV-2". Theo Dịch vụ Y tế quốc Gia của Anh (NHS), ba triệu chứng chính của COVID-19 là sốt cao, ho liên tục và thay đổi vị giác, khứu giác. Nhưng rất nhiều trường hợp mắc bệnh không có hoặc có rất ít triệu chứng. Vì vậy, người dân nên thận trọng và đi kiểm tra nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số đó.

Thuyết âm mưu cho rằng "Ăn tỏi và uống vitamin có thể ngăn ngừa COVID-19". Không hề có bằng chứng hay nghiên cứu nào cho thấy việc ăn tỏi, thảo mộc, gia vị cũng như vitamin và vi chất dinh dưỡng có thể làm giảm nguy cơ mắc COVID-19. Những loại thực phẩm bổ sung này cũng không giúp bệnh nhân thoát khỏi việc nhập viện điều trị. Ngoài ra, có một số mẹo truyền miệng khác như tắm nước nóng có thể ngăn ngừa COVID-19. Trước đây, cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump từng đề xuất sử dụng methanol, ethanol hoặc chất tẩy trắng để điều trị bệnh.

Thuyết âm mưu cho rằng "Vaccine được làm gấp rút và chưa được kiểm tra đúng cách". Dù quá trình phát triển và sản xuất vaccine đã được đẩy nhanh để kịp thời khắc phục đại dịch toàn cầu, các loại vaccine được cấp phép vẫn đạt tiêu chuẩn phê duyệt của các cơ quan quản lý. Cũng cần lưu ý rằng việc đẩy nhanh tốc độ phát triển vaccine không có nghĩa là các nhà sản xuất đã lược bớt các công đoạn thử nghiệm an toàn. Vaccine COVID-19 cũng không liên quan đến nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ hoặc vô sinh. Các loại vaccine COVID-19 đều được thử nghiệm trên số lượng tình nguyện viên lớn trước khi được phân bố rộng rãi. Năm ngoái, nhiều người tin rằng tham gia thử nghiệm là cách dễ dàng nhất để nhanh chóng được tiêm chủng.

Thuyết âm mưu cho rằng "Những mũi tiêm chứa vi mạch siêu nhỏ". Một trong các thuyết âm mưu vô lý khác là các mũi tiêm vaccine chứa vi mạch điện tử siêu nhỏ, các vi mạch này sẽ biến đổi gene của con người. Bất cứ ai đưa thú cưng đi tiêm đều biết rằng không có cách nào để đưa vi mạch qua những chiếc kim hẹp được sử dụng để tiêm phòng, cho dù là loại vi mạch kích thước siêu nhỏ đi chăng nữa. Dù những phỏng đoán tương tự phổ biến trên mạng xã hội, việc tiêm chủng cũng không thể làm thay đổi DNA của bất kỳ ai.

Thuyết âm mưu cho rằng "Đại dịch là một âm mưu lớn". Đây là phỏng đoán yêu thích của những người đam mê thuyết âm mưu. Giả sử đó là sự thật, âm mưu khủng khiếp này sẽ liên quan đến hàng triệu bác sĩ, nhà khoa học và chính trị gia trên toàn thế giới. Liệu những nhân viên ICU có vui lòng trải qua nhiều tháng dài căng thẳng, đau buồn và chấp nhận ảnh hưởng đến gia đình chỉ để phục vụ một căn bệnh do con người tự tạo ra hay không?

COVID-19 là đại dịch có quy mô toàn cầu, hậu quả của dịch bệnh đã khiến nhiều nền kinh tế suy sụp, dẫn đến thiệt hại khổng lồ. Trong khi cả thế giới đang nỗ lực khắc phục COVID-19 thì những phỏng đoán vô căn cứ, không tôn trọng công sức của hàng triệu nhân viên tuyến đầu chống dịch ở nhiều nước cần phải bị loại bỏ ngay lập tức.

Bản chất “thuyết âm mưu”

 


Cụm từ “thuyết âm mưu” đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, vậy, thuyết âm mưu là gì và bản chất của nó như thế nào? Thuyết âm mưu có phải là học thuyết hay là lý thuyết không?

Căn cứ vào những nội dung hàm chứa của học thuyết cần có, “thuyết âm mưu” không phải là học thuyết. Học thuyết phải là những vấn đề được trình bày có hệ thống về một lĩnh vực nào đó như khoa học, chính trị, đạo đức, kinh doanh... Căn cứ vào hệ thống đó mà người đọc, người xem có thể tìm hiểu và nắm được những vấn đề cần có trong chỉ đạo cũng như trong hoạt động.

Xét về lý thuyết, “thuyết âm mưu” cũng không phải là loại chiêm nghiệm có tính hợp lý về cái gì đó, điều gì đó trừu tượng hoặc được khái quát hóa kết quả có được từ những quan sát, ghi nhận diễn ra của sự việc, hiện tượng. Đã nói đến lý thuyết, người ta nghĩ ngay đến quá trình suy nghĩ, chiêm nghiệm có tính chất lý trí được gắn liền với quá trình nghiên cứu, quan sát.

Vậy, thuyết âm mưu là gì? Hiểu một cách ngắn gọn nhất, thuyết âm mưu là cách lý giải những vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo ý kiến chủ quan được gán với một đối tượng nào đó cùng những âm mưu của các thế lực ngầm, giấu mặt đứng đằng sau. Nói đến thuyết âm mưu là nói đến giả thuyết, giải thích theo cách suy diễn cho một đối tượng, một nhóm đối tượng, một tổ chức nào đó gây nên đứng đằng sau một sự việc hay hiện tượng có ảnh hưởng lớn đến chính trị, kinh tế, xã hội. Vì thuyết âm mưu cốt lõi của nó là đưa ra các giả thuyết theo ý chủ quan và hướng suy diễn nên nó còn có cách gọi khác là thuyết ngờ vực.

Thuyết âm mưu luôn gắn liền với giả thuyết theo lối gán tội, suy diễn nên rất dễ làm cho người nghe, người xem thấy hấp dẫn, ly kỳ, dễ liên tưởng đến cái “na ná” nào đó. Cũng chính vì là giả thuyết nên người đọc, người xem có quyền đưa ra các giả thuyết để lý giải theo ý kiến chủ quan của mình. Và đã là giả thuyết, có cái đúng, chưa đúng và không đúng. Chính vì thế, thuyết âm mưu không bao giờ có kết quả “có” hoặc “không”, hoặc “đúng” hay “sai”. Đây chính là yếu tố gây sự chú ý, tò mò, kích thích khả năng suy diễn của mỗi cá nhân. Nó rất dễ đưa người đọc, người xem, người nghe cũng tự cho mình cái quyền tham gia vào các sự việc, hiện tượng bằng các giả thuyết từ trí tưởng tượng của bản thân.

Trước các sự kiện, hoạt động chính trị - xã hội trọng đại của đất nước, như Đại hội Đảng, bầu cử hội đồng nhân dân các cấp và bầu cử Quốc hội, cuộc đấu tranh phòng chóng đại dịch covid, đấu tranh chống tham nhũng… chính là cơ hội để thuyết âm mưu có “đất diễn”. Các thế lực ngầm, các đối tượng giấu mặt vẫn bằng cách đưa ra các giả thuyết hướng người nghe, người xem đến trách nhiệm, công tác quản lý, công tác cán bộ rồi từ đó cho rằng, đội ngũ cán bộ đều có thể là những người như thế; thậm chí còn đưa ra những giả thuyết về nhân sự cán bộ, về năng lực, trình độ của từng người. Người đọc, nghe, xem nếu không tỉnh táo, bản lĩnh rất dễ dàng “mắc” vào cách suy diễn rồi cũng từ đó đưa ra các giải thuyết theo ý kiến chủ quan, phiến diện…

Thuyết âm mưu là có thật và thực sự đang làm cho người xem, người nghe, người đọc rơi vào “mớ bòng bong” của những giả thuyết từ óc suy diễn của những đối tượng giấu mặt theo hướng có lợi cho chúng. Khi đã “sa” vào thuyết âm mưu rất khó có thể thoát ra được và đó chính là “tự đánh mất” bản mình. Nhận diện và hiểu được bản chất cốt lõi của thuyết âm mưu cũng là cách “tự vệ” tốt nhất đối với cuộc sống xã hội hiện nay. Đó cũng là cách tự xây dựng cho mình là người đọc thông thái trong cả một “rừng” thông tin trên cộng đồng mạng và đời sống xã hội hiện đại.

 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Thông thường trước và sau khi Đảng, Nhà nước ta tiến hành các sự kiện trọng đại của đất nước thì các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, việc lợi dụng vấn đề Biển Đông trong thời gian gần đây để tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam là thủ đoạn rất nguy hiểm và thâm độc. Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng. Trong những ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang phấn khởi chào mừng sự thành công của Đại hội lần thứ XIII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026; được dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế khen ngợi thì trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Đây là luận điệu của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đang ra sức lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trên một vài trang mạng xã hội xuất hiện các diễn đàn tập hợp nhiều phần tử bất mãn, cho rằng: “Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo... ”. Chúng quy chụp lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Mưu đồ của những luận điệu này là khiến nhân dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở nước ta; từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.

Để kiên quyết đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề biển Đông chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc đó là: Đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước; Đảng và Nhà nước ta nhất quán với chính sách “3 không” trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông; Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Trước những hành động vi phạm chủ quyền biển, đảo của một số quốc gia đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn rêu rao rằng: “Khi đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, tại các vùng tranh chấp, Quân đội Việt Nam không dám nổ súng, không dám đấu tranh, để mặc Trung Quốc muốn làm gì thì làm…”. Đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, cố tình kích động gây căng thẳng tình hình với mục đích đẩy chúng ta vào cuộc đối đầu quân sự có thể dẫn đến hậu quả khó lường.

Thực tiễn cho thấy, trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển, các lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển của Quân đội Việt Nam đã phối hợp với kiểm ngư và ngư dân, luôn luôn có mặt 24/24h, thực hiện các hoạt động kiên quyết, kiên trì đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi công dân Việt Nam, hãy đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

                                                                                                                 Thành Nguyễn

Từ “cách mạng cây”, “cách mạng cá” đến “cách mạng màu”

Hãy bảo vệ màu xanh đất Việt, hãy chung tay bảo vệ môi trường (BVMT), hãy bảo vệ động vật hoang dã, đấu tranh vì thành phố văn minh, hãy loại bỏ các dự án “ăn cả vào tương lai”… Những năm gần đây, có rất nhiều phong trào kêu gọi người dân bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Từ đó, nhiều người dân bị cuốn theo, tham gia tụ tập, ghi chữ ký, tâm thư, tuần hành những tưởng đòi quyền lợi cho mình. Nhiều sự việc phải qua một thời gian dài mới lộ ra, đó chỉ là những chiêu trò mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua các tổ chức xã hội dân sự một cách rất tinh vi. Từ “cách mạng cây”, “cách mạng voọc” Chuyến thăm, làm việc tại Na Uy của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gần đây mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, trong đó có việc ký kết hợp tác kinh tế. Trong bối cảnh giá điện tăng khiến người dân lo lắng thì thông tin sắp tới Tập đoàn Scatec Solar của Na Uy sẽ đầu tư 500 triệu USD vào điện mặt trời tại Việt Nam; đồng thời xây dựng phòng thí nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu, chuyển giao và tiến đến xuất khẩu công nghệ năng lượng tái tạo được dư luận rất hoan nghênh. Từ “cách mạng cây”, “cách mạng cá” đến “cách mạng màu” Internet là một trong những phương tiện các thế lực phản động sử dụng để truyền bá quan điểm sai trái, thù địch. Tranh minh họa: tuyengiao.vn Vậy mà một số trang mạng vẫn cố tình bóp méo, xuyên tạc rằng, các dự án điện mặt trời sẽ tàn phá cảnh quan, môi trường ven biển như ở Bình Định, một dự án điện mặt trời lớn đã phải hủy bỏ vì lý do gây ô nhiễm môi trường. Song theo các chuyên gia, điện mặt trời hoàn toàn không gây ô nhiễm. Cơ quan chức năng ở Bình Định cho biết, từng có âm mưu thủ đoạn bịa đặt thông tin để kích động người dân phản đối, tạo điểm nóng ở địa phương. Vài năm gần đây, trên không gian mạng liên tục xuất hiện nhiều trang web, trang mạng xã hội với danh nghĩa BVMT, bảo vệ động vật hoang dã, vì hệ sinh thái và phát triển bền vững… nhưng luôn gắn với việc phản đối một vài dự án kinh tế-xã hội (KT-XH) nào đó ở các địa phương. Cứ ở đâu có các dự án du lịch, du lịch sinh thái gắn với danh lam thắng cảnh thì ở đó lại xuất hiện một số trang mạng “chuyên đề” phản đối. Từ chuyện làm cáp treo ở chùa Hương, ở Fansipan đến chuyện bảo vệ Sơn Trà, Tam Đảo hay hang Sơn Đoòng… Họ đưa ra những lời "có cánh" kêu gọi người dân chung tay, tham gia ký các văn bản được gọi là "kiến nghị" gửi lên Chính phủ, thậm chí gửi ra các tổ chức quốc tế. Không ít người nhẹ dạ cả tin làm theo mà không biết rằng, đứng sau các hoạt động ấy núp dưới danh nghĩa "tổ chức xã hội dân sự", các "nhà dân chủ" trở thành những chuyên gia kích động chống phá đất nước. Như ở Đà Nẵng, Vĩnh Phúc gần đây xuất hiện các trang facebook và blog kêu gọi người dân BVMT sinh thái, phản đối một số dự án KT-XH. Các trang này hoạt động như những tờ báo điện tử với nhiều bài viết của một số cây bút chuyên nghiệp, những hot facebooker nhưng nhiều hơn cả vẫn là các “nhà dân chủ”, những người tự xưng là nhân sĩ, trí thức có tiếng nói đối lập với chính quyền. Đặc biệt, các trang này xuất hiện công khai tư cách của nhóm Green Trees-một nhóm tự xưng là tổ chức xã hội dân sự có hơn 10.000 thành viên, do các đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước, như: Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long giật dây. Những đối tượng này từng đứng sau kích động tụ tập, biểu tình phản đối dự án thay thế cây xanh ở Hà Nội, sau đó kích động biểu tình nhân sự cố môi trường biển miền Trung. Đối tượng Phạm Đoan Trang đã công khai gọi là “cách mạng cá”. Gần đây, từ khi đối tượng Nguyễn Anh Tuấn được đào tạo ở nước ngoài về nước định cư tại Đà Nẵng, chúng áp dụng nhiều chiêu trò kích động, lợi dụng vấn đề môi trường sinh thái để lôi kéo người dân giống như đã làm ở Hà Nội. Chúng không giấu giếm ý đồ sau “cách mạng cây”, “cách mạng cá” sẽ có thể là “cách mạng voọc” ở Đà Nẵng khi thổi phồng vấn đề môi trường sinh thái. Ở địa phương này, dưới sự kích động của chúng, từng xảy ra các phong trào ký đơn tập thể, tụ tập vì môi trường... Đến lợi dụng vấn đề dân sinh, đất đai Cách đây ít lâu, việc chính quyền TP Hồ Chí Minh giải phóng mặt bằng khu đất thuộc vườn rau Lộc Hưng (quận Tân Bình) để xây dựng trường học, công trình phúc lợi, đã xuất hiện tình trạng các cá nhân vi phạm cản trở, chống đối người thi hành công vụ, căng băng rôn, biểu ngữ gây mất trật tự. Ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng sự việc hòng biến vụ giải phóng mặt bằng này thành điểm nóng về “tranh chấp đất đai”, khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, biến Lộc Hưng thành điểm nóng kiểu Đồng Tâm, Tiên Lãng. Các báo đài hải ngoại, như: RFA, VOA… tung nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc “chính quyền cướp đất của dân”, “công an đánh dân”, “dân oan ca thán, chính quyền bất chấp”… Các tài khoản facebook có tên Lê Công Định, Lê Nguyễn Hương Trà, Trịnh Sơn, Nguyễn Tín, Bạch Cúc… đăng tải nhiều bài viết quy chụp chính quyền địa phương “đàn áp giáo hội”, “đập phá nhà dân”... Chúng rêu rao, sắp có “ngòi nổ Tiên Lãng giữa Sài Gòn”, kêu gọi người dân xuống đường hướng dẫn dùng hung khí chống đối… Nhưng nhờ sự cảnh giác của người dân và sự vào cuộc kiên quyết của chính quyền, âm mưu đó đã bị thất bại. Ở Hà Nội, gần đây, nhân sự việc các hộ dân thôn Bắc Lãm (phường Phú Lương, quận Hà Đông) tự ý thi công, san đường trên đất giao thông nội đồng nằm trong quy hoạch dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và gây sức ép với chính quyền một cách phi lý, nhiều đối tượng xấu đã kích động, lái vấn đề để khoét sâu mâu thuẫn, làm nóng tình hình. Chúng gây sức ép, kêu gọi và không cho các gia đình cho trẻ đến trường, ép buộc các em tham gia những hoạt động gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương, cản trở việc dạy và học của học sinh và giáo viên. Lừa phỉnh, lôi kéo giới trẻ Voice-một tổ chức được cho là ngoại vi của tổ chức khủng bố Việt Tân ở nước ngoài nhiều năm qua đã tìm mọi cách kích động, lôi kéo, mở các lớp đào tạo hàng trăm thanh niên thành những “nhà hoạt động dân chủ” rồi đưa về Việt Nam hoạt động chống phá bằng hình thức kích động, biến các sự việc KT-XH thành những vấn đề chính trị gây bức xúc dư luận. Trong đó, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hiện nay là các địa phương xuất hiện nhiều hiện tượng phức tạp từ một số đối tượng do Voice đào tạo trở về hoạt động. Những “học viên” do chúng đào tạo sau khi trở về đều không còn là những công dân lương thiện đóng góp công sức, trí tuệ để dựng xây đất nước mà bị huyễn hoặc trở thành những “nhà dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội”, biết “tổ chức các chiến dịch xã hội”, “gây quỹ”, “viết dự án”, mà bản chất là hướng tới mạo danh vì dân chủ, nhân quyền, vì môi trường sống… để chống phá đất nước. Mấy năm gần đây, Nguyễn Anh Tuấn-đối tượng được chúng đưa đi đào tạo ở nước ngoài trở về Việt Nam, được coi là hạt giống cho nhiều hoạt động chống phá. Sinh sống tại Đà Nẵng nhưng đối tượng này thường xuyên có mặt hoặc tán phát thông tin kích động các sự việc ở Hà Tĩnh, Bình Thuận, Hà Nội, Vĩnh Phúc, TP Hồ Chí Minh... Với thủ đoạn là bám sát vào phản ứng hay bức xúc từ xã hội để chúng “thổi” lên thành một phong trào chính trị chống lại chính quyền nhằm nuôi dưỡng “ý thức phản kháng” của người dân, tuyển lựa và mở rộng lực lượng xã hội tham gia. Từ các chiêu trò này, sâu xa hơn chúng âm mưu tập dượt, đi tới đấu tranh bất bạo động rồi xa hơn là bạo loạn, lật đổ theo mô hình "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập"… Cảnh giác với âm mưu “cách mạng màu” Đối tượng Phạm Đoan Trang trong một tài liệu phản động để tập huấn cho các “nhà lãnh đạo trẻ” của chúng mà cơ quan chức năng thu được đã công khai nêu những cách thức hoạt động trên dựa theo mô hình cách mạng sắc màu để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Cái gọi là tổ chức Green Trees do đối tượng này từng cầm đầu đã áp dụng những “chiến lược đấu tranh bất bạo động” trong cuốn “Từ độc tài đến dân chủ” của Gene Sharp. Theo đó, chúng mượn những hoạt động dân sự ôn hòa và hợp pháp, như: BVMT, thiện nguyện hay biểu diễn nhạc... để lôi kéo đám đông. Mỗi lần chính quyền xử lý các hoạt động như vậy, chúng sẽ khiến dân chúng và quốc tế có thiện cảm với phong trào đối lập, vì nghĩ rằng các nhà đối lập vô tội và bị xử oan. Còn nếu chính quyền không xử lý thì các nhóm đối lập sẽ có đủ thời gian để xây dựng lực lượng và uy tín thông qua những hoạt động dân sự tưởng chừng vô hại đó. Khi đã có lực lượng, mối quan hệ và lôi kéo được cảm tình của đám đông, các nhóm đối lập sẽ phát động cách mạng đường phố để lật đổ chính quyền. Chiến lược này đã được sử dụng lặp đi lặp lại trong cuộc "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập" như đã diễn ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Chúng luôn núp dưới cái bóng vì tương lai, vì sự phát triển của dân tộc nhưng thực tế những hoạt động đó chỉ nhằm mục tiêu phá hoại, chọc gậy, ném đất đá vào bánh xe phát triển của đất nước. Đôi khi, một hạt cát có thể làm hỏng một cỗ máy, một trào lưu núp bóng dân sinh có thể tạo ra những đám cháy nguy hiểm, đe dọa an ninh chính trị của đất nước. Vì thế, đã đến lúc các cơ quan chức năng phải vào cuộc, xử lý nghiêm minh, ngăn chặn không để hình thành cái gọi là “cách mạng cây”, “cách mạng cá”, “cách mạng voọc”. Phải sớm xử lý các trang mạng xã hội chuyên kích động, tập hợp lực lượng và tổ chức các cuộc tụ tập, biểu tình như đã xảy ra ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Bình Thuận… Bài học từ các vụ tụ tập, biểu tình phản đối thay thế cây xanh ở Hà Nội cho thấy, có nguyên cớ ban đầu từ một số trang facebook kêu gọi, kích động người dân. Vì thế, cần sớm tìm ra những đối tượng cầm đầu, điều hành những fanpage, phối hợp với các cơ quan quản lý mạng xã hội để xử lý. Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã làm tốt công tác quản lý, phối hợp với Facebook bóc gỡ nhiều trang mạng có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước. Đối với chính quyền các địa phương, phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo, quản lý; khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập, khuyết điểm trong quản lý KT-XH, giải quyết thỏa đáng những vướng mắc, mâu thuẫn ở cơ sở, không để kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, bóp méo, chống phá. Đối với người dân, cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước những lời kêu gọi đấu tranh vì môi trường, vì dân sinh, dân chủ. Đấu tranh vì quyền lợi chính đáng là cần thiết nhưng trước hết phải đúng pháp luật và phải dựa vào pháp luật, dựa vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, không nên chủ quan, thiếu suy nghĩ để vô hình trung tiếp tay cho các thế lực phản động phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO GẮN VỚI QUỐC PHÒNG – AN NINH LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH HIỆN NAY ĐỐI VỚI CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC Ở NƯỚC TA

 


Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN là một chủ trương, nhiệm vụ, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta nằm trong tổng thể đường lối, quan điểm, chính sách, luật pháp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm đưa nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời, đường lối, quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước thể hiện rõ tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tôn trọng quyền tự do chính đáng của con người, vì sự tiến bộ của con người và xã hội.

Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN ở nước ta hiện nay thể hiện tầm tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước trong tập hợp lực lượng nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới. Tuy nhiên đây là một vấn đề phức tạp, bởi nó gắn liền với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết thấu đáo nhiều vấn đề liên quan như vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền và cả về lý luận và thực tiễn.

Để thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với QP-AN, đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó đặc biệt là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ này cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp, tổ chức thực hiện hiệu quả, biến đường lối, quan điểm, chính sách tôn giáo gắn với QP-AN thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ở thời kỳ cách mạng mới.

 

 

TRUY NÃ ĐẶC BIỆT BỊ CAN "DŨNG VOVA" PHÁT TÁN TÀI LIỆU CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội ra quyết định truy nã đặc biệt bị can Dũng Vova về hành vi phát tán tài liệu chống phá Nhà nước.
Ngày 01/6, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định truy nã đặc biệt đối với bị can Dũng Vova với tội danh: Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự.
Bị can Lê Văn Dũng ( Lê Dũng Vova) sinh ngày 10/10/1970 tại Hà Nội, nghề nghiệp tự do, quê quán: Ứng Hòa, Hà Nội; nơi cư trú: Số 54B ngõ 2, Hà Trì 3, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội.
Quyết định truy nã nêu rõ: Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người đang bị truy nã đến cơ quan Công an, Viện Kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất. Sau khi bắt hoặc tiếp nhận đối tượng truy nã báo ngay cho Cơ quan An ninh điều tra, CATP Hà Nội. Địa chỉ: 89 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội . Điện thoại: 069.219.4084, 038.533.2369.
Theo thông tin trên Báo Công an nhân dân, Lê Văn Dũng hay gọi là Dũng Vova sinh ra trong một gia đình công chức. Bản thân Dũng từng là sinh viên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội vào những năm 1987-1992.
Sau khi ra trường, Dũng làm kỹ sư Công ty cổ phần kỹ nghệ lạnh Đà Nẵng, ở đường Lê Trọng Tấn, TP Đà Nẵng. 2 năm sau, làm kỹ sư điện Công ty TNHH Tư vấn và quản lý xây dựng...
Lê Văn Dũng bắt đầu tham gia vào các hoạt động chống đối tụ tập, biểu tình gây rối an ninh trật tự từ năm 2011. Đối tượng đã lợi dụng các vấn đề phức tạp về chủ quyền biên giới, khiếu kiện đất đai tại một số địa bàn như Dương Nội (Đông Anh); Tiên Lãng (Hải Phòng) và Văn Giang (Hưng Yên); ô nhiễm môi trường (Formusa, chặt hạ cây xanh) hay lợi dụng danh nghĩa tưởng niệm các sự kiện lịch sử; việc bắt giữ, xử lý số đối tượng chống đối để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
Lê Văn Dũng luôn giữ vai trò tích cực tham gia hàng trăm cuộc biểu tình, tụ tập gây rối an ninh trật tự tại các địa phương.
Ngoài ra, Lê Văn Dũng còn tham gia các hội nhóm chống đối như nhóm "No-U"; "Phong trào chấn hưng nước Việt"; tích cực tham gia các "phong trào" do số đối tượng chống đối trong và ngoài nước phát động.
Từ năm 2017, Lê Văn Dũng điều hành "Kênh 4" của "Phong trào chấn hưng nước Việt", sau đổi tên thành "Thông tấn xã vỉa hè", "Chấn hưng tivi", "CHTV VietNam"...
Dũng và các đối tượng tự xưng là phóng viên, tự làm giả thẻ phóng viên, sử dụng nhà riêng để lập "trường quay", móc nối, lôi kéo người dân khiếu kiện kéo dài ở nhiều địa phương để thực hiện livestream.
Đầu năm 2018, Lê Văn Dũng bắt đầu hoạt động trở lại, nổi lên với vai trò là người đứng đầu nhóm "Phong trào chấn hưng nước Việt" đã tạo lập nhiều tài khoản như "Lê Văn Dũng", "Le Dung vova", "Chấn hưng tivi Việt Nam"… lôi kéo 6 đối tượng ở các địa phương, công khai thành lập 1 kênh "Tiếng dân tivi", 1 kênh "Eva tivi", 5 kênh "Chấn hưng Tivi" trên Youtube, Facebook.
Hiện nay, để đối phó với Cơ quan An ninh, khi thực hiện các video, clip các đối tượng không lấy biểu tượng logo "Phong trào chấn hưng nước Việt" mà chuyển thành "CHTV".
Đến nay, Dũng đã thực hiện hàng nghìn video clip xuyên tạc các vấn đề nhạy cảm của xã hội đăng trên các facebook như "Le Dung VoVa"; "Chấn hưng TV Viet Nam"; "Viet Nguyen"…
Ngoài ra, Lê Văn Dũng còn cùng các đối tượng tích cực đi các địa phương tìm cách phát triển lực lượng chống đối, trong đó họ tập trung móc nối, lôi kéo số đầu đơn, khiếu kiện cực đoan tại các địa phương, thu thập thông tin về các vụ khiếu kiện, sau đó lồng ghép các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ..., tán phát trên “Đài CHTV”./.
                                                   Nguồn Báo GT.
         Phạm Văn Vông

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh

 


Về tăng cường lãnh đạo của Đảng

- Đảng phải luôn đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trí tuệ đề ra đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh đúng đắn, phù hợp với diễn biến phức tạp của tình hình tôn giáo và âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu phát triển của công tác tôn giáo ở thời kỳ mới.

- Quan tâm lãnh đạo việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp; xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động một cách cụ thể và hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân làm công tác tôn giáo ở các cấp.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời trấn chỉnh, bổ sung phát triển về chủ trương, chính sách nhất là giải pháp bảo đảm việc thực hiện tốt đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh.

Về tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Với chức năng chính trị và pháp luật, Nhà nước thực hiện nguyên tắc: chỉ đặt ra vấn đề chính trị và pháp luật đối với tôn giáo, tuyệt nhiên Nhà nước không bao giờ tranh cãi với các tôn giáo về thần học, triết học, giáo lý… Trên cơ sở đó, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở nước ta hiện nay, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo, gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

- Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo.

- Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật.

- Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định thắng lợi đường lối, quan điểm, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Vì vậy cần phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

 

Tích cực, chủ động, xây dựng cơ sở chính trị ở các địa bàn có tôn giáo vững mạnh

 


Xây dựng tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở.

Ở các địa bàn có đồng bào tôn giáo, cần trú trọng xây dựng chi bộ, xây dựng đảng viên và cán bộ làm công tác tôn giáo. Trong xây dựng Đảng ở địa bàn có đồng bào tôn giáo hiện nay, cần đặc biệt quan tâm lựa chọn những quần chúng ưu tú, có tín nhiệm trong cộng đồng các tín đồ tôn giáo để phát triển Đảng, đồng thời đẩy nhanh việc xóa các “vùng trắng” hiện còn tồn tại ở nhiều địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo như ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên… chưa có tổ chức Đảng và đảng viên.

Những năm qua hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa chưa được chú ý đúng mức về công tác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chế độ chính sách đãi ngộ. Do đó, ở nhiều nơi đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo nói riêng vừa thiếu, vừa yếu, hoạt động kém hiệu quả, có nơi hệ thống chính quyền cơ sở chưa nắm được dân, giải quyết vấn đề tôn giáo còn sơ hở, do yếu về kỹ năng nghiệp vụ, để kẻ địch lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc, truyền đạo trái phép.

Việc xây dựng phát triển nhân cốt trong các tín đồ chức sắc tôn giáo chưa được coi trọng. Vì vậy những năm tới cần có sự quan tâm đúng mức về tạo nguồn đào tạo, sắp xếp đội ngũ cán bộ đúng, đủ, mạnh ở các cơ sở, ưu tiên nguồn cán bộ tại chỗ; có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung, cán bộ làm công tác tôn giáo nói riêng.

Về xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…) ở cơ sở địa bàn có đồng bào tôn giáo cần được xây dựng, củng cố, kiện toàn cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng nói chung, nhiệm vụ công tác tôn giáo nói riêng trong tình hình mới. Đảng, Nhà nước cần quan tâm đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở cả về phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực tuyên truyền vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng tín đồ tôn giáo; tăng cường hơn nữa về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động và có chính sách đãi ngộ phù hợp để đội ngũ này hăng hái, tích cực làm việc, cống hiến hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ trong triển khai thực hiện đường lối quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh ở thời kỳ mới.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn có tôn giáo.

 


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng báo tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…

Cần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về tình hình kinh tế - xã hội

Mặc dù thời gian qua, kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và nâng lên, thế nhưng trong xã hội, thậm chí một số cán bộ, đảng viên vẫn còn những người chưa hiểu rõ, chưa nhận thức đúng, có cái nhìn phiến diện, tỏ ý hoài nghi về sự phát triển theo hướng ngày càng bền vững và thực chất của kinh tế đất nước; về những giá trị mà phát triển kinh tế mang lại cho người dân. Thực tế này đòi hỏi cần tăng cường truyền đạt, phổ biến thông tin để mọi người có nhận thức và hành động đúng. Hiện nay, vẫn có những người tỏ ý nghi ngờ báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội (KT-XH) Việt Nam, mà trong đó cho thấy những đánh giá lạc quan về bức tranh KT-XH đất nước. Thế nhưng, ngày 28-5 vừa qua, hãng tin Bloomberg nổi tiếng đã trích dẫn báo cáo của Ngân hàng DBS Bank dự báo rằng, kinh tế Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng 6-6,5% trong 10 năm tới. Với tốc độ tăng trưởng đó, theo DBS Bank thì trong 10 năm nữa, quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ lớn hơn quy mô nền kinh tế Singapore-một trong những nền kinh tế phát triển của châu Á và thế giới. Hiện nay, theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô nền kinh tế Singapore vẫn gần gấp rưỡi quy mô nền kinh tế Việt Nam, khi GDP của Việt Nam dự kiến đạt 260,3 tỷ USD trong năm 2019, còn GDP của Singapore dự kiến đạt 372,8 tỷ USD. Theo báo cáo của Chính phủ tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XIV thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam năm 2018 là 7,08%, quý I-2019 là 6,79%, và mục tiêu năm 2019 là tăng trưởng 6,8%. Trong khi đó, nền kinh tế Singapore đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại do những khó khăn chung của kinh tế thế giới, từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Dự báo bi quan nhất, kinh tế Singapore có thể chỉ đạt tăng trưởng 1,5% trong năm 2019. Theo dự báo của IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 cũng chỉ đạt 3,5%. Như vậy, nền kinh tế của Việt Nam có cơ hội rút ngắn, san bằng khoảng cách với nhiều nền kinh tế phát triển hơn mình trong thời gian tới. Không chỉ báo cáo của DBS Bank mà rất nhiều bài viết, những phát biểu, đánh giá của báo chí, nhà quản lý, chuyên gia quốc tế thời gian qua đều cho thấy cái nhìn lạc quan đối với sự tăng trưởng ổn định, dài hạn của kinh tế Việt Nam. Theo ông Irvin Seah-chuyên gia kinh tế của DBS Bank, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong tương lai sẽ được thúc đẩy bởi lợi thế về cơ cấu dân số, lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện, nền chính trị ổn định, năng suất lao động tăng, tạo lực hút đối với dòng vốn nước ngoài. "Các nhà đầu tư nước ngoài đang xếp hàng mong muốn để trở thành một phần câu chuyện Việt Nam", ông Irvin Seah nhận định. Cũng mới đây, Cục Thống kê Hoa Kỳ công bố số liệu cho thấy, kim ngạch nhập khẩu vào Mỹ từ Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2019 tăng 40,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu tốc độ nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam vào Mỹ được duy trì như mức trên trong cả năm 2019 thì Việt Nam sẽ vượt qua Italy, Pháp, Anh và Ấn Độ, đứng vị trí thứ 7 trong danh sách những nước có kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất vào Mỹ. Đánh giá khách quan của quốc tế đều cho thấy lực của nền kinh tế Việt Nam đang lên rất nhanh. Đây là kết quả của những chủ trương, định hướng đúng đắn của Đảng, những giải pháp của Chính phủ được thực hiện quyết liệt trong thời gian qua để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển kinh tế tư nhân, về doanh nghiệp nhà nước, về cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việt Nam thực sự đang là điểm đến hấp dẫn của vốn, của công nghệ, của các nguồn lực kinh tế quốc tế. Tuy hiện nay diễn biến thương mại trên thế giới khá phức tạp do tư tưởng bảo hộ thị trường quay trở lại và tác động của căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, nhưng nhìn về tổng thể thì Việt Nam đã mở được những cánh cửa rộng lớn để đưa sản phẩm của mình đến những thị trường lớn nhất thế giới, như: Mỹ, các nước tham gia Hiệp định CPTPP, Trung Quốc, EU... Tất nhiên, cơ hội luôn đi kèm với thách thức, thuận lợi luôn song hành cùng khó khăn, bên cạnh thành tựu thì luôn có những hạn chế. Điều này trong bất cứ nghị quyết nào của Đảng, của Quốc hội, báo cáo nào của Chính phủ liên quan tới KT-XH cũng đều chỉ ra. Đó là nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn có năng suất lao động thấp; môi trường kinh doanh đã được cải thiện nhưng chưa thuận lợi; nạn tham nhũng vẫn tồn tại; các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân còn có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc không nhỏ vào các doanh nghiệp FDI; ý thức bảo vệ môi trường chưa tốt. Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên, khuyến khích nhưng nhìn chung đời sống người dân vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn... Ở bất cứ quốc gia nào, hay trong bất cứ nền kinh tế nào đều tồn tại trong mình những vấn đề, mà trong đó, vấn đề nào cũng có tính hai mặt. Ví dụ, theo Tạp chí Nikkei của Nhật Bản thì Việt Nam đang trở thành một trong những nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại châu Á, chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu cũng đang đổ về Việt Nam. Nếu ai đó có góc nhìn bi quan thì sẽ thấy sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam đối với khối doanh nghiệp FDI sẽ càng ngày càng nhiều, do tổng lượng vốn FDI đổ vào nền kinh tế rất nhiều trong một thời gian ngắn, gây nên mất cân bằng giữa nguồn lực trong và ngoài nước. Thế nhưng thực tế thì trong làm ăn, trong kinh tế thì vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vốn nhiều thì cơ hội làm ăn sẽ nhiều hơn, việc làm sẽ nhiều hơn. Tất cả các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đều nỗ lực thu hút vốn FDI. Việt Nam đang là điểm hút vốn của thế giới, chứng tỏ sức hấp dẫn của kinh tế Việt Nam từ cơ chế chính sách, cho tới sự ổn định. Chẳng ai dại gì ném tiền vào một nền kinh tế bất ổn, nhiều rủi ro. Càng nhiều doanh nghiệp FDI quan tâm thì chúng ta lại càng có cơ hội lựa chọn được những doanh nghiệp tốt nhất, có công nghệ tốt nhất, tránh được những công nghệ lạc hậu, những ngành sản xuất làm tổn hại môi trường. Vốn FDI, doanh nghiệp FDI đổ vào Việt Nam sẽ tạo ra sự sôi động và tạo ra môi trường tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tất nhiên, việc chớp được cơ hội hay không lại là do nỗ lực của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp và người dân. Có người nói rằng, kinh tế đất nước tăng trưởng tốt, nhưng cuộc sống của họ vẫn vậy, do mức độ tăng giá dịch vụ. Nhưng thực tế là thu nhập và mức sống của người dân Việt Nam đang ngày càng tốt hơn. Theo công bố vào tháng 3-2019 của Nielsen-một công ty nổi tiếng thế giới về nghiên cứu thị trường-Việt Nam xếp hạng 4 trong các nước lạc quan nhất thế giới về chỉ số niềm tin của người tiêu dùng. Bà Nguyễn Hương Quỳnh, Tổng giám đốc Nielsen Việt Nam cho hay, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (CCI) của Việt Nam đạt 122 điểm, cao hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực (117 điểm) và thế giới (107 điểm). Kết quả này cho thấy mức độ lạc quan của người tiêu dùng về kinh tế Việt Nam. Người Việt Nam có thu nhập ngày càng tốt hơn nên nhiều người sẵn sàng chi tiền mua ô tô, thiết bị điện tử đắt tiền, mua quần áo thời trang, các chuyến du lịch trong và ngoài nước, các hoạt động giải trí. Lại có người quá bi quan về nạn tham nhũng mà có cái nhìn không đúng về bản chất của chế độ. Thực tế, tham nhũng là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, bịt các lỗ hổng pháp luật thì các vụ đại án tham nhũng đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, các cá nhân sai phạm dù là cán bộ cấp cao cũng đã bị trừng phạt, không có vùng cấm. Điều này mang lại những kết quả bước đầu tích cực. Theo kết quả điều tra về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018, được công bố vào tháng 3-2019 đã cho thấy những phản ánh tích cực của cộng đồng doanh nghiệp về nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Theo đó, số doanh nghiệp phản ánh phải trả chi phí không chính thức đang có chiều hướng giảm (54,8%), mức thấp nhất trong 5 năm trở lại đây (năm 2015 là 66,3%). Cùng với đó, số doanh nghiệp phàn nàn về hiện tượng nhũng nhiễu của cán bộ cơ quan nhà nước tại địa phương cũng đang giảm (58,2% doanh nghiệp vào năm 2018, so với 65,6% doanh nghiệp vào năm 2014)... Nền kinh tế nước ta đang trong hành trình phát triển và dự báo sẽ "hóa rồng". Nhưng hành trình đi lên ấy có thể không phải chỉ là đường thẳng, bên cạnh những mặt được, bên cạnh sự phát triển thì có cả những hạn chế, thiếu sót, yếu kém. Chính vì vậy, mỗi người dân, nhất là cán bộ, đảng viên cần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về tình hình KT-XH của đất nước, nhận thức đúng bản chất của vấn đề, thực hiện đúng nghị quyết của Đảng; cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho gia đình, đồng nghiệp, đồng đội, bạn bè, từ đó nỗ lực lao động, làm việc, thực hiện nhiệm vụ, tu dưỡng bản thân để nâng cao thu nhập, đời sống của mình, đóng góp vào sự phát triển của đơn vị, cơ quan, tổ chức, địa phương và đất nước.

Tăng cường công tác vận động quần chúng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Để thực hiện giải pháp này, chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

- Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo: chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.

Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo: chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ dịch.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Tăng cường năng lực phòng, chống tấn công mạng

Trong xu thế bùng nổ của internet và các thiết bị kết nối mạng, nguy cơ về mất an toàn thông tin ngày càng trở thành mối quan tâm, lo lắng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, nhiều năm qua, Việt Nam luôn nằm trong danh sách 10 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Theo thống kê của Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), năm 2018 đã xảy ra khoảng 10.200 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam. Quý I/2019, có tới 79 triệu sự kiện mất an toàn thông tin. Đáng lo ngại là đa số các vụ tấn công đều ở mức độ nguy hiểm cao và nguy hiểm trung bình. Theo ông Nguyễn Trọng Đường, Giám đốc Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam, hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước đang là một trong những mục tiêu tấn công của tin tặc. Theo thống kê của Cục An toàn Thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, quý I/2019 có 1,8 triệu địa chỉ IP (Internet Protocol – giao thức internet) của Việt Nam nằm trong các mạng máy tính ma (mạng máy tính nhiễm virus). Tấn công vào các thiết bị kết nối internet của các tổ chức tài chính, ngân hàng và cơ quan Nhà nước đang là xu hướng của tin tặc. Theo chuyên gia tư vấn bảo mật Lê Minh Nghĩa, Công ty Trends Micro, khi mọi thiết bị đều trở nên thông minh và việc kết nối ngày càng gia tăng về tốc độ, số lượng, xu hướng tấn công của tin tặc sẽ nhằm vào các thiết bị kết nối internet. Phần mềm gián điệp khi được cài vào hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước đã vượt qua các phần mềm diệt virus, lây lan và nhiễm virus cho các máy tính của cán bộ công tác tại các vị trí trọng yếu. Các chuyên gia an ninh mạng cho biết, 70% nguyên nhân gây mất an toàn cho hệ thống thông tin tại các cơ quan nhà nước xuất phát từ phía người sử dụng. Nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước đang để nhân viên sử dụng mạng internet bên ngoài công sở, hoặc sử dụng thiết bị cá nhân truy cập vào mạng nội bộ… Đây được coi một trong những hành động gián tiếp gây ra các vụ mất an toàn thông tin. Ngoài ra, việc kết nối các thiết bị rời vào máy tính như thẻ nhớ, các thiết bị kỹ thuật… cũng làm gia tăng khả năng lây nhiễm virus. Để phòng, chống các tấn công trên mạng internet, cần sự kết hợp của 3 yếu tố: Trang thiết bị, phần mềm phòng chống virus và nhân sự. Nhiều cơ quan nhà nước khi đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, do nguồn kinh phí có hạn nên chỉ đầu tư vào trang thiết bị máy tính. Việc mua sắm phần mềm diệt virus, xây dựng tường lửa để phòng tránh tấn công và lọt lộ thông tin chưa được đầu tư hợp lý. Ngoài ra, an toàn thông tin là lĩnh vực chuyên sâu, yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao, trong khi nguồn nhân lực cho an toàn thông tin còn rất hạn chế. Phần lớn nguồn nhân lực an toàn thông tin có chất lượng, trình độ cao đều đang làm việc tại các doanh nghiệp, không công tác trong các cơ quan nhà nước. Điểm đáng lưu ý là hệ thống thông tin của rất nhiều cơ quan nhà nước hiện chưa được các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ thông tin chuyên nghiệp tham gia giám sát bảo vệ. Do đó, khi tấn công mạng, bộ phận công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước không nhận biết được việc bị tấn công. Đồng thời việc xử lý bị chậm trễ, nhiều lúng túng dẫn đến gia tăng mức độ lây lan. Vì vậy, hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước tồn tại nhiều lỗ hổng, là đích nhắm đến của tin tặc. * Đầu tư cho hệ thống an toàn thông tin Ông Hoàng Minh Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông chia sẻ: Cảnh báo sớm và đầu tư hệ thống giám sát cũng như nâng cao nhận thức cho người sử dụng trong các cơ quan Nhà nước là điều cần thiết nhất để tăng cường khả năng an toàn cho hệ thống thông tin. Đồng thời, ông Tiến cũng cho biết, trong tháng 6/2019, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành chính thức Chỉ thị về tăng cường đảm bảo an toàn, an ninh mạng nhằm nâng cao chỉ số an toàn, an ninh thông tin toàn cầu của Việt Nam theo xếp hạng của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU). Chỉ thị này quy định, cơ quan nhà nước khi lập kế hoạch về công nghệ thông tin theo quý, năm… buộc phải chi 10% cho vấn đề bảo vệ an toàn thông tin. Ngoài ra, Chỉ thị cũng yêu cầu các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương phải có một đơn vị chuyên trách đứng ra đảm bảo về an toàn thông tin. Các chuyên gia công nghệ cho rằng, trong khi các cơ quan nhà nước không thể nhanh chóng cải thiện điều kiện vật chất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực an toàn thông tin, cần lựa chọn việc thuê giải pháp an toàn thông tin từ các công ty, đơn vị chuyên sâu về công nghệ. Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng khẳng định cần đẩy mạnh thuê giải pháp an toàn thông tin của các doanh nghiệp trong nước đối với khối cơ quan nhà nước để nâng cao khả năng đảm bảo an toàn thông tin cho các cơ quan, đơn vị. Hiện trên thị trường có 6 nhóm giải pháp an toàn thông tin do doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ gồm: Bộ sản phẩm chống phần mềm độc hại; giải pháp phòng chống tấn công có chủ đích; giải pháp đảm bảo an toàn thông tin cho ứng dụng trong thông tin điện tử; giải pháp phòng chống xâm nhập; giải pháp đảm bảo an toàn thông tin cho thư điện tử; giải pháp quản lý truy cập. Thời gian qua, cục An toàn thông tin đã phối hợp với các đơn vị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, mở các chiến dịch xử lý mã độc. Nhờ đó, công tác đảm bảo an toàn thông tin đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm 2019, đã có 1,534 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin ở Việt Nam, giảm 21,7% so với quý IV/2018 và giảm 49,8% so với cùng kỳ quý I/2018. Theo Báo cáo xếp hạng an toàn, an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2018 của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Việt Nam hiện xếp thứ 50 trong 194 quốc gia, vùng lãnh thổ được xếp hạng. Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 11 và khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 5. Kết quả đánh giá, xếp hạng an toàn thông tin mạng đối với 90 cơ quan nhà nước tại Việt Nam (gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố thuôc Trung ương trừ Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng), năm 2018 được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố cho thấy: Trung tuần tháng 4/2017, không có đơn vị nào xếp loại A – quan tâm triển khai an toàn thông tin ở mức tốt, chỉ có gần 17% đơn vị xếp loại B – đã quan tâm triển khai an toàn thông tin ở mức khá, còn lại khoảng hơn 70% ở mức trung bình. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, từ năm 2019, việc đánh giá, công bố mức độ đảm bảo an toàn thông tin mạng trong các cơ quan nhà nước sẽ được Bộ thực hiện định kỳ hàng năm, tiến tới đánh giá an toàn thông tin cho các doanh nghiệp và tổ chức khác trong xã hội. Bộ thông tin và Truyền thông khuyến nghị, để tăng cường khả năng an toàn thông tin mạng của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các đơn vị cần đảm bảo an toàn thông tin theo nguyên tắc “4 tại chỗ” là chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, thiết bị tại chỗ và hậu cần tại chỗ./.

Nângcao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong tình hình mới là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

 


Đây là giải pháp cơ bản, tạo cơ sở để thực hiện hiệu quả đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh. Để thực hiện giải pháp này, cần tiến hành tốt các biện pháp chủ yếu sau:

- Tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trước âm mưu thủ đoạn mới của địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay

Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước.

Để thực hiện mưu đồ trên, chúng sử dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt và luôn thay đổi theo từng thời kỳ, hoàn cảnh cụ thể. Trong tình hình mới hiện nay, chúng đang thực hiện các thủ đoạn như: kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước, chia rẽ đồng bào có đạo, tiến hành truyền đạo trái phép; ủng hộ giúp đỡ vật chất, tinh thần cho các đối tượng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo hoạt động chống chính quyền, chống luật pháp; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, thực hiện âm mưu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối lập với Đảng; lợi dụng sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện chính sách tôn giáo để kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố mất ổn định, gây rối, bạo loạn, biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị, tạo cơ hội dựng “ngọn cờ” kêu gọi bên ngoài can thiệp vào nước ta… Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng.

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về đường lối, quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh trong thời kỳ cách mạng mới.

Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bởi thực hiện đường lối, quan điểm tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh sẽ góp phần to lớn vào xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân - cơ sở để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Để thực hiện biện pháp này, chúng ta cần phải:

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quan điểm, chính sách về tôn giáo của Đảng, Nhà nước tới mọi cán bộ, Đảng viên, nhân dân, nhất là các tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Trong đó cần tập trung phổ biến sâu rộng Nghị quyết Trung ương Bảy khóa IX của Đảng về vấn đề tôn giáo; chỉ thi 18 Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới; Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016…

+ Tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển đảo của Tổ quốc cho mọi tín đồ tôn giáo, làm cho tôn giáo gắn bó với dân tộc, với Tổ quốc và CNXH, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đấu tranh chống tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.

Thực hiện tốt vấn đề theo đạo và truyền đạo ở nước ta

 


Theo luật tín ngưỡng tôn giáo, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của páhp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị

 


- Về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.

Đảng ta xác định: nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng


Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và chủ nghĩa Mác- Lênin

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có hơn 24 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ 

Cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội vẫn có những cái nhìn phiến diện, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt về thành tựu của cách mạng, nhất là trong công tác đối ngoại và về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhưng việc chúng ta được bầu với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193), trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) một lần nữa khẳng định khả năng, tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, sự kiện quan trọng ấy còn là minh chứng hùng hồn phản bác mọi giọng điệu đang cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại Khóa họp thứ 73 Đại hội đồng LHQ công bố tối 7-6 cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm nặng nề đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực lớn hơn nữa trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và tiếp tục có những đóng góp cụ thể cho HĐBA tại LHQ. Nhiệm vụ quan trọng nhất là góp phần xây dựng chương trình nghị sự, tham gia định hình chính sách của LHQ. Cách đây hơn 4 thập kỷ, ngày 20-9-1977, Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn là thành viên tích cực của tổ chức chính trị đa phương lớn nhất hành tinh này. Những đóng góp của Việt Nam là toàn diện, đặc biệt là trên 3 trụ cột: Hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển kinh tế-xã hội; quyền con người. Những kết quả hoạt động trên 3 lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những đóng góp của Việt Nam tại LHQ mà còn ở việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội tại Việt Nam. Trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, xuất phát điểm từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước lạc hậu, đất nước lại bị chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình của thế giới. Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. GDP năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587USD, tăng 198USD so với năm 2017... Mức sống người dân không ngừng được nâng cao, không phải quốc gia nào lâm vào hoàn cảnh như Việt Nam cũng có được kết quả như vậy. Trong dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC cuối năm 2017 tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải thốt lên rằng “Việt Nam là điều kỳ diệu của thế giới”. Cũng trong dịp dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội (ngày 26-2-2019) Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đưa ra thêm một nhận xét: “Việt Nam đang là một trong những nơi phát triển hiếm có trên Trái Đất”. Là thành viên có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam đã đi đầu trong thực hiện chiến lược của LHQ, trong đó có mục tiêu thiên niên kỷ (MDG). Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành MDG về xóa nghèo. Như vậy, Việt Nam đã về đích mục tiêu này trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Xóa đói, giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ chính trị lớn được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1%-1,5%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%-4% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng: “Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm mạnh...”. Về đường lối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam là nhất quán và có nguyên tắc. Đó là: (1) Đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết; (2) Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; (3) Tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nội dung, giải pháp để thực hiện chiến lược trong tình hình mới. Trong chiến lược nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ đối tác và đối tượng của cách mạng Việt Nam: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta” Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, vừa kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững môi trường hòa bình và hợp tác để phát triển. Việt Nam sẽ đón nhận nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ trong bối cảnh châu Á vừa là tâm điểm phát triển kinh tế, vừa là điểm nóng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn. Đây là một vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Về mặt địa chính trị, Việt Nam và Biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tuyến đường bộ đi từ các quốc gia phương Bắc xuống các quốc gia Đông Nam Á-một thị trường lớn, giàu tài nguyên, đang phát triển mạnh mẽ; đó cũng là tuyến đường biển thuận lợi nhất cho các quốc gia đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương. Việt Nam, với vị trí địa chính trị và địa chiến lược cả trên đất liền, trên biển đảo... luôn là một địa bàn quan tâm của nhiều nước lớn. Với vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của LHQ mà còn trong xử lý những vấn đề chính trị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề chủ quyền biển, đảo và đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Vị trí này còn giúp Việt Nam thực hiện vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020. Liên quan đến những vấn đề địa chính trị của Việt Nam và Biển Đông với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, TS Alexey Muraviev, Phó giáo sư Viện Nghiên cứu chiến lược an ninh quốc gia Đại học Curtin (Úc), một nhà nghiên cứu về khu vực, cho rằng: “Việc được bầu làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ sẽ tiếp tục nâng cao tiếng nói, sức nặng của Việt Nam xét về địa chính trị, như một nhân tố quan trọng và có tầm ảnh hưởng tại khu vực đang phát triển như Đông Nam Á cũng như xa hơn”. Về việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của LHQ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Đội công binh Việt Nam gồm 290 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị về tổ chức biên chế, trang thiết bị, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn và sẵn sàng tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ từ năm 2020”. Nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, đối ngoại là một chủ đề của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Tại phiên bế mạc (ngày 18-5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt, coi bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên… có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.” Một trong những mục tiêu của chiến lược an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là tiếp tục nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt nhất vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ. TS CAO ĐỨC THÁI Nhưng việc chúng ta được bầu với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193), trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) một lần nữa khẳng định khả năng, tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, sự kiện quan trọng ấy còn là minh chứng hùng hồn phản bác mọi giọng điệu đang cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại Khóa họp thứ 73 Đại hội đồng LHQ công bố tối 7-6 cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm nặng nề đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực lớn hơn nữa trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và tiếp tục có những đóng góp cụ thể cho HĐBA tại LHQ. Nhiệm vụ quan trọng nhất là góp phần xây dựng chương trình nghị sự, tham gia định hình chính sách của LHQ. Cách đây hơn 4 thập kỷ, ngày 20-9-1977, Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn là thành viên tích cực của tổ chức chính trị đa phương lớn nhất hành tinh này. Những đóng góp của Việt Nam là toàn diện, đặc biệt là trên 3 trụ cột: Hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển kinh tế-xã hội; quyền con người. Những kết quả hoạt động trên 3 lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những đóng góp của Việt Nam tại LHQ mà còn ở việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội tại Việt Nam. Trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, xuất phát điểm từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước lạc hậu, đất nước lại bị chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình của thế giới. Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. GDP năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587USD, tăng 198USD so với năm 2017... Mức sống người dân không ngừng được nâng cao, không phải quốc gia nào lâm vào hoàn cảnh như Việt Nam cũng có được kết quả như vậy. Trong dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC cuối năm 2017 tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải thốt lên rằng “Việt Nam là điều kỳ diệu của thế giới”. Cũng trong dịp dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội (ngày 26-2-2019) Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đưa ra thêm một nhận xét: “Việt Nam đang là một trong những nơi phát triển hiếm có trên Trái Đất”. Là thành viên có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam đã đi đầu trong thực hiện chiến lược của LHQ, trong đó có mục tiêu thiên niên kỷ (MDG). Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành MDG về xóa nghèo. Như vậy, Việt Nam đã về đích mục tiêu này trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Xóa đói, giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ chính trị lớn được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1%-1,5%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%-4% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng: “Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm mạnh...”. Về đường lối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam là nhất quán và có nguyên tắc. Đó là: (1) Đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết; (2) Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; (3) Tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nội dung, giải pháp để thực hiện chiến lược trong tình hình mới. Trong chiến lược nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ đối tác và đối tượng của cách mạng Việt Nam: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta” Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, vừa kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững môi trường hòa bình và hợp tác để phát triển. Việt Nam sẽ đón nhận nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ trong bối cảnh châu Á vừa là tâm điểm phát triển kinh tế, vừa là điểm nóng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn. Đây là một vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Về mặt địa chính trị, Việt Nam và Biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tuyến đường bộ đi từ các quốc gia phương Bắc xuống các quốc gia Đông Nam Á-một thị trường lớn, giàu tài nguyên, đang phát triển mạnh mẽ; đó cũng là tuyến đường biển thuận lợi nhất cho các quốc gia đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương. Việt Nam, với vị trí địa chính trị và địa chiến lược cả trên đất liền, trên biển đảo... luôn là một địa bàn quan tâm của nhiều nước lớn. Với vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của LHQ mà còn trong xử lý những vấn đề chính trị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề chủ quyền biển, đảo và đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Vị trí này còn giúp Việt Nam thực hiện vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020. Liên quan đến những vấn đề địa chính trị của Việt Nam và Biển Đông với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, TS Alexey Muraviev, Phó giáo sư Viện Nghiên cứu chiến lược an ninh quốc gia Đại học Curtin (Úc), một nhà nghiên cứu về khu vực, cho rằng: “Việc được bầu làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ sẽ tiếp tục nâng cao tiếng nói, sức nặng của Việt Nam xét về địa chính trị, như một nhân tố quan trọng và có tầm ảnh hưởng tại khu vực đang phát triển như Đông Nam Á cũng như xa hơn”. Về việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của LHQ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Đội công binh Việt Nam gồm 290 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị về tổ chức biên chế, trang thiết bị, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn và sẵn sàng tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ từ năm 2020”. Nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, đối ngoại là một chủ đề của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Tại phiên bế mạc (ngày 18-5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt, coi bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên… có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.” Một trong những mục tiêu của chiến lược an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là tiếp tục nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt nhất vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.