Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Đảng phải luôn phụng sự và liêm chính!

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và di huấn của Người về xây dựng một Đảng cách mạng luôn phụng sự và liêm chính, luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” không chỉ là tất yếu khách quan, là yêu cầu và nhiệm vụ của một Đảng cầm quyền mà còn là trách nhiệm của những người cộng sản Việt Nam trước lịch sử, nhân dân và dân tộc, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, trách nhiệm và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước Tổ quốc và Nhân dân. Luôn chú trọng xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành một Đảng cách mạng phụng sự và liêm chính, được nhân dân tin yêu và ủy thác, vì thế, trước khi đi xa, Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[1]. Ngay từ khi chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927): “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải lấy dân chúng công nông làm gốc”[2]. Sau này, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[3]. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, cùng với mỗi bước ngoặt của cách mạng, tình hình và nhiệm vụ của Đảng cũng có sự thay đổi. Song, ở đâu và lúc nào, dù hoạt động bí mật hay đã cầm quyền, thì Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng luôn thấu triệt rằng: Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ, quyền là do nhân dân ủy nhiệm, nên đó phải là một Đảng luôn phụng sự (dốc lòng phục vụ, tận tụy phục vụ: phục vụ Tổ quốc[4]) và liêm chính (trong sạch, ngay thẳng: người liêm chính không có lòng tư túi[5]), để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Trong di sản để lại, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm của Người về yêu cầu xây dựng một Đảng phụng sự và liêm chính qua các tác phẩm: Chính phủ là công bộc của dân (19/9/1945); Sao cho được lòng dân (12/10/1945); Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (17/10/1945); Sửa đổi lối làm việc (10/1947); Dân vận (15/10/1949); Tinh thần và trách nhiệm (13/12/1951); Tự phê bình và phê bình (14/2/1952); Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu (3/1952); Phải xem trọng ý kiến của quần chúng (21/8/1956); Đạo đức cách mạng (12/1958); Nói chuyện tại hội nghị thanh tra (5/3/1960); Một lòng một dạ phục vụ nhân dân (18/1/1961); Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (3/2/1969); Di chúc (1969),v.v.. Một Đảng cách mạng chân chính luôn phụng sự Tổ quốc và nhân dân theo Hồ Chí Minh phải tuân thủ 12 điều sau: “1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. 2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau. 3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương. 4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không. 5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. 6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng. 7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát. Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng. 8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên. 9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo. 10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài. 11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng. 12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”[6]. Vì, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”[7] và “trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[8], nên Hồ Chí Minh xác định Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng liêm chính. Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, nhất là phải có và thường xuyên rèn luyện 5 đức tính tốt: “a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. b) NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng, ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất cứ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng đúng đắn. c) TRÍ là vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian. d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc là phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc. đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ”[9]. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ, công bộc của nhân dân nên phải luôn “đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”[10], để được nhân dân tin yêu và gắn bó. Đồng thời, để phụng sự và liêm chính được tốt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện tinh thần, ý chí: “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, “ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng”; “là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”; “vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết” và “hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng”[11]; “vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”… Tuy nhiên, sớm tiên lượng nguy cơ suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên khi được trao/ủy quyền, Hồ Chí Minh chỉ rõ, “những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân”. Do đó, để ngăn ngừa tình trạng “tư túi”, không “dốc lòng phục vụ, tận tụy phục vụ” Tổ quốc và nhân dân, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[12]. Cụ thể, theo Hồ Chí Minh: Muốn liêm chính, “những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu… Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người tài năng, làm được việc… Chớ lên mặt làm quan cách mệnh”[13]… Đồng thời, để phụng sự tốt, mỗi cán bộ, đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”[14] để không chỉ lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội mà còn phải “luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực hiện theo những chỉ dẫn của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh về mọi mặt; xây dựng và phát triển đội ngũ đảng viên vừa hồng, vừa chuyên, có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, xứng tầm với nhiệm vụ được giao. Trong mọi thời điểm, Đảng đều tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xây dựng Đảng: Tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh; đoàn kết thống nhất; gắn bó mật thiết với nhân dân, v.v.. Đồng thời, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đã luôn kế thừa, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất và giữ kỷ luật nghiêm minh; tính tiền phong gương mẫu, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn gian khổ, chịu đựng hy sinh, phấn đấu vì mục đích, lý tư­­ởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v.. để xứng đáng với vai trò tiền phong, để làm tròn bổn phận phụng sự và giữ nghiêm tính liêm chính. TIẾP TỤC XÂY DỰNG ĐẢNG PHỤNG SỰ VÀ LIÊM CHÍNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TÌNH HÌNH VÀ NHIỆM VỤ Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng: “Tất cả các đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo ra sức mạnh của mình, vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”[15], nên nhấn mạnh thang thuốc đặc hiệu để nhìn nhận, đánh giá khuyết điểm, sửa chữa sai lầm chính là phải hằng ngày, liên tục tự phê bình và phê bình gắn với việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ từ chương trình hành động, kế hoạch của cấp ủy đến của mỗi cán bộ, đảng viên. Thông qua đó, củng cố và tăng cường khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, nhất là ở bộ chỉ huy tối cao (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư). Cũng trên cơ sở nhận thức sâu sắc rằng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, dạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, ở cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao sẽ làm cho sức chiến đấu của Đảng bị tê liệt, nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân cũng vì thế mà suy kiệt, nên trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn“trước hết nói về Đảng” và chỉ rõ: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”[16]. Không chỉ khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh còn từ sự tiên liệu về sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình và căn dặn trong Di chúc việc phải làm trước tiên là về Đảng. Thực tế, “chỉnh đốn lại Đảng” là yêu cầu khách quan, tất yếu, là công việc nội tại, thường xuyên của Đảng cầm quyền, để “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[17]. Hơn nữa, vì “Đảng ta một đảng cầm quyền”, nên muốn ra sức làm tròn nhiệm vụ trước Tổ quốc và nhân dân, muốn liêm chính và phụng sự trong tư tưởng và hành động, Đảng phải tập trung thực hiện 3 nội dung chính: 1) “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 2) “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”[18]. 3) “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [19]. Đây chính là những nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng một Đảng phụng sự và liêm chính; là văn hoá Đảng, là bản chất tâm hồn và đạo đức dân tộc Việt mà Đảng là đại diện, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ của một Đảng cách mạng chân chính. Từ thực tiễn cách mạng; từ tấm gương cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cùng những lời căn dặn đầy tâm huyết của Người trong các trước tác, đặc biệt là bản Di chúc lịch sử về công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn tự chỉnh đốn, đổi mới để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đã tránh được những sai lầm cố hữu và những tổn thất do chủ quan duy ý chí, để đưa đất nước ngày một phát triển. Sau 50 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định. Vai trò đó thể hiện rõ ở đường lối chính trị đúng đắn, ở sự kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ở bản lĩnh chính trị vững vàng của đội ngũ cán bộ, đảng viên khi dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; ở tinh thần chủ động đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Vai trò đó còn thể hiện ở quá trình Đảng lãnh đạo và tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, nhất là ở vào những thời điểm cam go, bước ngoặt khó khăn, thử thách của cách mạng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng một Đảng cách mạng phụng sự và liêm chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là: 1) Sự dao động chính trị, tha hóa đạo đức, sự mất ổn định vững chắc về tư tưởng, tinh thần và sự nao núng, ngả nghiêng của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong tư tưởng và hành động trước sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Từ sự giảm sút niềm tin xã hội chủ nghĩa, “nhạt Đảng”, “nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa”, nhận thức mơ hồ, lệch lạc về chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội, về đường lối, chủ trương của Đảng,v.v.. dẫn đến không dám hoặc không dám công khai đấu tranh với các quan điểm, hành vi trái với quan điểm của Đảng. Thậm chí có người còn a dua, cổ súy cho những tư tưởng đó; mất phương hướng tư tưởng, mất khả năng chủ động kiểm soát và điều chỉnh hành động của mình dẫn đến rơi vào tình trạng khi tả khuynh khi hữu khuynh, khi tự phát manh động khi phiêu lưu chính trị... 2) Thói thực dụng trong chính trị và đạo đức, thể hiện trong tư tưởng, hành động và lối sống. Với những người này, những gì mang lại lợi ích cho mình và phe nhóm mình là quan trọng nhất và trước hết mà không cần biết tới lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Thậm chí, họ không từ một thủ đoạn nào để chiếm đoạt cho lợi ích riêng của mình và phe nhóm mình,v.v.. 3) Tham nhũng chính trị, tha hóa quyền lực khi tự cho mình quyền “sở hữu”, “hiện thân” quyền lực chính trị mà nhân dân ủy thác, để trao đổi, ban phát, trục lợi cho mình và nhóm lợi ích của mình, dẫn đến hình thành tệ nạn gian dối trước cấp trên, cấp dưới và nhân dân; tệ ăn trộm chức quyền như lạm quyền, lợi dụng quyền; tệ nạn chạy chức quyền, tuổi tác, luân chuyển, bằng cấp; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Những thói hư, tật xấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không còn phụng sự và liêm chính như Hồ Chí Minh căn dặn này đã dẫn đến tình trạng cánh hẩu, phường hội cát cứ, phe nhóm lợi ích, địa phương chủ nghĩa theo kiểu “trên có chính sách, dưới có đối sách”, hành xử theo lối “nói một đằng, làm một nẻo” miễn là lợi ta mà không màng đến người chung quanh, xâm hại lợi ích chung, làm phân liệt ý chí và tan rã sức mạnh của từng cơ quan, địa phương, đơn vị… Vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ” ngày 30/10/2016 đã chỉ rõ; đồng thời, nhận diện và chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện. Cụ thể là: “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”; “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”… Từ đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Để khắc phục những hạn chế nêu trên và để xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh luôn phụng sự và liêm chính ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, các cấp ủy Đảng, chính quyền và ban, ngành chức năng tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị tăng cường bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo và chỉ đạo (từ quán triệt đến đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống) trên tinh thần: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh”. Nói đi đôi với làm và phải luôn hướng về cơ sở, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để không chỉ đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị mà còn củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Thứ hai, nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng; gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với Quy định về những điều đảng viên không được làm, với các quy định nêu gương,v.v.. Mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải thường xuyên, liên tục rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,v.v.. theo chương trình hằng năm và đột xuất tại mỗi tổ chức cơ sở Đảng để nâng cao tinh thần phụng sự và liêm chính. Thứ ba, xây đi đôi với chống: tập trung xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế phòng ngừa, kiểm soát quyền lực, đảm bảo mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân gắn với chống sự tha hóa quyền lực; đảm bảo công khai và minh bạch trong thực thi chức năng, nhiệm vụ, trong thực thi quyền lực công theo phương châm cấp trên làm gương cho cấp dưới noi theo; quyết liệt và nghiêm khắc trong công tác kiểm tra, giám sát gắn với tự phê bình và phê bình, đảm bảo trên dưới phối hợp, trong ngoài đồng bộ. Thông qua đó, một mặt ngăn chặn những biểu hiện tha hóa quyền lực như lạm quyền, lộng quyền, trục lợi từ quyền, kéo bè kết cánh, “đầu cơ chính trị”, quan hệ “lợi ích nhóm”, xa rời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sa đọa về đạo đức, lối sống v.v..; mặt khác, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng và chống sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, ngăn ngừa sự dao động trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thứ tư, tiếp tục xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, địa phương nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Không để quyền làm chủ của nhân dân chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà phải là hành động, là những việc làm cụ thể, phải tạo điều kiện và có cơ chế để thực thi định chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thật sự và hiệu quả. Coi sự đánh giá của nhân dân là thước đo, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của cấp ủy các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác, nhất là trong quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ các cấp. Thứ năm, mở rộng và đổi mới công tác truyền thông để không chỉ định hướng đúng, kịp thời, đảm bảo sức mạnh của công luận và nhân dân mà còn làm cho việc tuyên truyền các tấm gương người tốt, việc tốt, lấy cái tích cực chống cái tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu được nhân rộng trong cộng đồng bằng nhiều hình thức phong phú. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, của cả hệ thống chính trị tham gia công tác xây dựng Đảng; tham gia giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mọi nơi, mọi lúc. Đẩy nhanh xét xử những vụ án tham ô, tham nhũng nghiêm trọng trên tinh thần thấu triệt nguyên tắc pháp luật là thượng tôn, kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng là tối thượng, để không chỉ kịp thời, công minh, bình đẳng, đúng đắn đưa ra khỏi Đảng những kẻ sâu mọt không còn phụng sự và liêm chính mà còn thiết thực làm trong sạch Đảng, làm cho Đảng mạnh khỏe, chắc chắn như Hồ Chí Minh mong muốn.

Không để các vụ án hình sự bị hướng lái “chính trị hóa”

Khởi tố và xử lý kịp thời, đúng người, đúng tội các vụ án hình sự là trách nhiệm của các cơ quan pháp luật, có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cảnh sát kiểm tra, khám xét tại cửa hàng điện thoại Nhật Cường mobile ở 33 Lý Quốc Sư, Hà Nội. Ảnh: TTXVN Trong bối cảnh nền kinh tế-xã hội (KT-XH) phát triển và hội nhập, có nhiều tác động của mặt trái kinh tế thị trường, việc xử lý các vụ án hình sự là điều bình thường. Thế nhưng vừa qua, các thế lực thù địch, phản động lại tìm cách lợi dụng, bóp méo, thổi phồng hòng hướng lái "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Đây là một trong những thủ đoạn nham hiểm nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta… TỪ ĐỔ CHO GEN HỆ THỐNG, LỖI THỂ CHẾ Mới đây, nhân việc cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự một doanh nghiệp tư nhân, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam, khám xét với một chủ doanh nghiệp để điều tra về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, đã xuất hiện khá nhiều thông tin suy diễn, đồn đoán theo kiểu “thầy bói xem voi” về sự việc. Dù đây chỉ là một vụ án hình sự được thông tin khá rõ ràng, đầy đủ trên báo chí nhưng “lại được” một số phần tử đơm đặt thành vấn đề chính trị. Họ gán ghép vụ án bị khởi tố với nhiều thông tin mang tính cóp nhặt rồi đồn đoán rằng: Đây là những dấu hiệu của việc thanh trừng nội bộ trước Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; và sẽ có nhiều “củi vào lò”. Một số trang báo hải ngoại, vẫn với cái nhìn lệch lạc về Việt Nam đã có bài viết xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khi cho rằng, ở Việt Nam, muốn làm giàu phải được “bảo kê” và khi sinh mệnh chính trị của người bảo kê bị lung lay thì số phận của doanh nghiệp cũng rất mong manh. Nhiều bài viết trên mạng xã hội chuyển sang suy diễn, xuyên tạc rằng nhiều doanh nghiệp được “nuôi béo đã tới lúc làm thịt”, do ăn chia với các quan chức bảo kê không sòng phẳng, nên bị trả đũa, rồi đây là “cạnh tranh giữa các nhóm quan chức đang bảo kê với nhau…”. Đó chỉ là những suy diễn lung tung, hoàn toàn trái ngược với thực tế xử lý các vụ án hình sự luôn hết sức chặt chẽ, đúng người đúng tội. Một vụ án hình sự khác được dư luận quan tâm là vụ Nguyễn Hữu Linh (61 tuổi) luật sư Đoàn luật sư Đà Nẵng, nguyên Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP Đà Nẵng đã bị khởi tố về hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là sự việc gây bức xúc dư luận xã hội và đã được cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố theo các quy định tố tụng hình sự. Song lợi dụng vụ việc này, nhiều đối tượng cực đoan đã bẻ lái vấn đề sang xuyên tạc hệ thống tư pháp và chế độ XHCN ở Việt Nam. Trang facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc, xưng là người hoạt động tại doanh nghiệp bán sản phẩm Trà Xuân cùng một số facebooker đã có nhiều bài viết thổi phồng sự việc khi đòi tẩy chay không ít thương hiệu vì dùng hình ảnh ca sĩ quảng cáo đã từng chụp ảnh chung với nghi phạm dâm ô. Chưa dừng ở đó, họ còn chính trị hóa vụ án, cho rằng, lực cản chống xâm hại tình dục đã trở thành một nguyên do chính trị, xếp ngang hàng với Formosa là do lỗi hệ thống chế độ, “mềm trên biển” là vì ràng buộc xuất phát từ liên hệ giữa hai đảng, bất công xã hội là hệ quả của đặc quyền dành cho đảng viên. Từ đó, facebook mang tên Phạm Hưng Ngọc kêu gọi phải có một thể chế dân chủ, để “gọi điện cho dân biểu, rồi kêu gọi người khác cùng làm như thế và đưa sự việc ra… Quốc hội, v.v và v.v... Từ kiểu suy diễn này, họ chuyển sang công kích Quốc hội chỉ là “chiếc áo choàng dân chủ”... ĐẾN BÔI ĐEN CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG Xung quanh sự việc này, một số đối tượng lại cố tình xuyên tạc, bóp méo Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật, cho rằng đảng viên quấy rối tình dục chỉ bị khiển trách. Đài Á châu tự do đã có bài viết xuyên tạc “Đảng viên quấy rối tình dục dưới mọi hình thức chỉ bị khiển trách?". Đài này viện dẫn Điểm c, Khoản 1, Điều 33 Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm nếu đảng viên "có hành vi quấy rối tình dục dưới mọi hình thức" mà "gây hậu quả ít nghiêm trọng" thì bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Từ đó suy diễn rằng đảng viên dù vi phạm quấy rối tình dục ở hình thức nào thì cũng chỉ bị khiển trách. Họ cố tình quên rằng, ở Khoản 2, Khoản 3 của Điều 33 còn có thêm các quy định xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo hoặc cách chức, khai trừ khỏi Đảng đối với những trường hợp tái phạm, vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Mặt khác, quan điểm xử lý của Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ"; bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ. Kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật. Với tinh thần đó, đảng viên vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh hơn cả công dân bình thường. Song những người thiếu thiện chí đã cố tình cắt ghép các văn bản, xuyên tạc kỷ luật của Đảng. Tương tự, với vụ án nâng điểm tại kỳ thi THPT quốc gia xảy ra ở một địa phương, như: Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Lạng Sơn. Đây là những vụ án phức tạp đã và đang được các cơ quan pháp luật điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm minh. Việc công bố danh tính các đối tượng liên quan một phần phụ thuộc quan trọng vào kết quả quá trình điều tra và tuân thủ các quy định của pháp luật. Thế nhưng, lợi dụng sự bức xúc của xã hội, nhiều đối tượng xuyên tạc, bóp méo và cho rằng có sự bao che cho tội phạm. Nhạc sĩ T.K, người gần đây có nhiều bài viết với quan điểm lệch lạc trên một số đài báo hải ngoại đã trắng trợn suy diễn rằng việc nâng điểm chủ yếu xảy ra đối với các đối tượng thi vào ngành công an. T.K hồ đồ lập luận rằng đó là việc “tìm kiếm sự an toàn và bảo đảm sống còn trong một xã hội ngày càng lộ rõ hình thức công an trị” rồi lái sang vấn đề nhân quyền, cho rằng vừa qua Hoa Kỳ chính thức cáo buộc Việt Nam duy trì chế độ “công an trị”. Đây là lập luận bóp méo, xuyên tạc hết sức nguy hiểm. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế vô sản, là nền tảng lý luận cho chúng ta xây dựng nền pháp chế XHCN ngày nay. V.I.Lênin viết: “Tính nghiêm minh của pháp luật hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt”. Kế thừa tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng xây dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta. Đó là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, trong đó tất cả cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, nhân viên Nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Trong bài viết về đạo đức công dân, tiêu chuẩn đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là: “Tuân thủ pháp luật của nhà nước”. Điều đó vẫn còn nguyên tính thời sự khi chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, đòi hỏi mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh và thượng tôn pháp luật. Trong nền pháp chế ấy, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự của chúng ta cũng ngày càng hoàn thiện, mọi vụ án hình sự đều phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Vì vậy, việc xuyên tạc, bóp méo, bẻ lái các vụ việc đơn lẻ thành những vấn đề chính trị, đao to búa lớn để chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ XHCN thực chất chính là hành vi sai trái cả về pháp lý và đạo lý, cần phải được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Đây là những thủ đoạn nham hiểm mà chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại. Đối với chính quyền và các cơ quan pháp luật, việc xử lý nghiêm minh, công khai và thông tin đầy đủ, kịp thời về các vụ án hình sự, nhất là các vụ án tham nhũng, tiêu cực được dư luận quan tâm sẽ là vũ khí mạnh mẽ đẩy lùi mọi thông tin xuyên tạc. Đối với mỗi người dân, sự quan tâm đến tình hình thời cuộc, đến các vụ án hình sự là chính đáng nhưng phải dựa trên cơ sở thông tin chính xác, khoa học, đồng thời phải tỉnh táo, tránh bị lôi kéo, kích động, đánh lừa bởi thông tin giả, bởi những âm mưu đen tối.

PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID 19

 Sáng 2.6, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM (HCDC) thông tin TP.HCM ghi nhận 23 trường hợp nghi nhiễm Covid-19 mới, trong đó có 7 ca ở Q.Gò Vấp, 6 ca ở Q.Bình Thạnh,  và 3 ca ở Q.12.

Sáng 2.6, theo HCDC, TP.HCM ghi nhận thêm 23 trường hợp nghi nhiễm Covid-19 mới. Trong đó, có 7 ca nghi nhiễm Covid-19 ở Q.Gò Vấp, 6 ca ở Q.Bình Thạnh, 3 ca ở Q.12, 2 ca ở Q.Tân Bình. Còn Q.Bình Tân, Q.8, H.Bình Chánh và TP.Thủ Đức mỗi địa phương ghi nhận 1 ca. Ngoài ra, có 1 ca mới nhận kết quả từ phòng xét nghiệm và đang xác minh thông tin.
Trong số 23 ca nghi nhiễm mới này có 17 ca được xét nghiệm theo diện F1, 1 ca tiếp xúc vòng 3 liên quan đến Điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng (sinh hoạt tại một địa chỉ ở hẻm 415 Nguyễn Văn Công, P.3, Q.Gò Vấp) và 5 ca còn lại đang xác minh nguồn tiếp xúc.
heo HCDC, tính đến sáng 2.6, Bộ Y tế công bố 19 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 tại TP.HCM các bệnh nhân có mã bệnh từ BN 7552 đến BN 7570; có 497 ca dương tính với Covid-1 phát hiện tại TP.HCM được Bộ Y tế công bố (trong đó 267 ca điều trị khỏi; 230 ca đang điều trị).
Từ ngày 26.5, TP.HCM ghi nhận 219 ca mắc Covid-19 mới có liên quan đến chuỗi lây nhiễm từ Điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng.
Từ 27.5 đến hết ngày 1.6, TP.HCM đã lấy tổng cộng 277.841 mẫu xét nghiệm, trong đó 3.770 trường hợp tiếp xúc gần, 274.071 trường hợp được lấy mẫu giám sát.
Trong 3.770 mẫu tiếp xúc gần, có 219 mẫu cho kết quả dương tính với Covid-19, 2.718 mẫu âm tính, còn lại đang chờ xét nghiệm. Và trong số 227.071 mẫu xét nghiệm giám sát, 93.913 mẫu có kết quả âm tính và 180.158 mẫu đang chờ kết quả.
TP.HCM cũng tăng cường giám sát hoạt động tại các khu cách ly tập trung, kiểm tra, giám sát hoạt động phòng chống dịch tại các doanh nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp, mở rộng xét nghiệm cho người lao động làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp.
HCDC cũng cho biết thêm, tổng số trường hợp hiện đang thực hiện cách ly trên địa bàn TP.HCM là 15.348, trong đó 5.554 người đang cách ly tập trung, 9.794 trường hợp đang cách ly tại nhà/nơi lưu trú.
Ngoài ra, TP.HCM đã nhận 70.000 liều vắc xin phòng chống Covid-19 từ chương trình tiêm chủng mở rộng và đang chuẩn bị kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm đợt 3.

Giải pháp đột phá để chống xuống cấp đạo đức trong Đảng

Chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng nhất định phải đứng vững trên hai chân cơ chế và ý thức tu dưỡng, rèn luyện, vì muốn làm người tốt mà cơ chế không hoàn thiện cũng rất khó. Ngược lại, cơ chế hoàn thiện mà con người hỏng thì phá nát bộ máy. Để xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, quan điểm của Đảng về những giải pháp nêu trong các nghị quyết gần đây là nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân; trong đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; đồng thời, thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp. NHÓM GIẢI PHÁP CƠ CHẾ, BỘ MÁY Đây là nhóm giải pháp bàn đến tính khoa học của cơ chế, bộ máy, vai trò của tổ chức như “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, với nhiều nội dung cụ thể như công tác chính trị tư tưởng; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; công tác kiểm tra, kỷ luật đảng; vai trò của nhân dân, v.v.. Chỉ có bằng giải pháp cơ chế, bộ máy đúng nghĩa, thật sự và phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm thì mới có thể nghĩ tới cách làm của Singapore: Làm cho quan chức không dám, không thể, không cần, không muốn tham nhũng. Một là, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đảng phải tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và đây được coi là giải pháp hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình cách mạng. Điều này đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Người cách mạng lại càng cần phải được giáo dục, vì cách mạng là một việc to, chiến sĩ cách mạng phải hiểu cả hai mặt của sự nghiệp cách mạng là to lớn, nặng nề, phức tạp và vẻ vang. Đảng viên khác với những người thường, đó là những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp, của dân tộc, nên hoàn toàn không được đại biểu cho lợi ích cá nhân mà phải đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của giai cấp. Mặt khác, đảng viên sai lầm sẽ đưa quần chúng đến sai lầm, vì tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân. Trong giáo dục chính trị tư tưởng, quan trọng nhất là nội dung và phương pháp giáo dục. Cụ thể, hiện nay, càng phải tăng cường giáo dục nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; giáo dục về lý tưởng cách mạng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối không được, không thể mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng. Phải giáo dục nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Phải giáo dục nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, để mỗi đảng viên nhận thức sâu sắc rằng con người cần đạo đức, cách mạng cần đạo đức, thiếu một trong bốn đức cần, kiệm, liêm, chính thì không thành người và không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Có tài năng mà không có đạo đức thì tài năng dễ mai một, nguy hiểm hơn nữa là dễ bị dùng vào những việc xấu xa, thành công cụ của cái bậy, cái ác, gây tác hại không lường được cho cách mạng. Người cách mạng phải được giáo dục đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư, là phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, để thấu hiểu rằng “làm cán bộ, đảng viên là suốt đời làm người đày tớ trung thành của nhân dân”. Học tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải biết “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào, đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(2) và “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng, mà phải làm đày tớ cho quần chúng. Cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đày tớ cho quần chúng”(3). Hai là, xây nền dân chủ. Trong cơ chế, tính khoa học của bộ máy thì vun bồi nền dân chủ, thực hành dân chủ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Cùng với cách hiểu “dân chủ là cái thìa khóa vạn năng; là động lực của cách mạng; là dân làm chủ”, cần phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc rằng: “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên phong trào chống tham ô, lãng phí quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”(4). Đây là một điểm nhấn, cốt tủy trong công tác xây dựng Đảng, chống xuống cấp về đạo đức trong Đảng hiện nay. Những năm qua, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chúng ta thiếu thể chế hóa, cụ thể hóa những đúc kết thành phương châm rất có giá trị của Đảng như “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Vì vậy, có nhiều điều rất hay nhưng vẫn chỉ nằm ở phương châm, nghị quyết. Thực tiễn phong phú hơn sách vở, lý luận. Cuộc sống thay đổi từng ngày. Vì vậy, Đảng, Nhà nước phải rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có quyền. Đồng thời, rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản, quy phạm pháp luật về quản lý công khai minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin-cho; duyệt-cấp”, ngăn chặn, đẩy lùi “nhóm lợi ích”, “sân sau”. Phải suy nghĩ, trăn trở xem dân còn trách nhiệm và những quyền lợi gì nữa ngoài phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”? Phải kiên quyết chống lại thực trạng “nghị quyết một đường, thi hành một nẻo”, nhất là “Đảng phải luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào” và phải đi vào những khâu cụ thể, mới có thể chống được sự hư hỏng của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng “đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng” và để làm được điều này, phải thể chế hóa nội dung “nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” sao cho thực chất, có hiệu quả. Nhất định phải dựa vào dân để chống tiêu cực, rèn cán bộ, vì “ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(5). Do đó, phải thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Có kiểm soát bên trong cơ cấu quyền lực nhà nước, đặc biệt là phân công ba thứ quyền rõ ràng, cụ thể; kiểm soát không theo vụ việc mà phải thành chính sách. Rồi kiểm soát quyền lực bên ngoài, tức là vai trò của báo chí, dư luận, các tổ chức xã hội, đặc biệt từ nhân dân. “Cái lồng nhốt quyền lực” không phải chỉ thuộc về trách nhiệm của cấp ủy cấp trên, tổ chức Đảng mà theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì còn là vai trò của nhân dân, là “cái lồng nhân dân”. Nhân dân là những người ủy thác quyền lực cho cán bộ, thì phải là những người có sứ mệnh, trách nhiệm, vai trò to lớn trong việc kiểm soát quyền lực. Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, “kiểm soát từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo là cách tốt nhất”, thì rõ ràng “cái lồng nhân dân” mới thực sự là lồng thép đủ sức ngăn chặn, đẩy lùi mọi tiêu cực, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nhân dân tham gia góp ý là dân chủ. Nhưng cơ chế nào để người dân dám nói là cả một vấn đề. Dân chủ là người dân có quyền nói, quyền làm, quyền quyết và quyền được hưởng hạnh phúc - những nội dung đó đã được ghi vào Hiến pháp và rất cần phải được làm rõ hơn nữa. Không thể nhắc đi, nhắc lại những cụm từ “kiên quyết”, “quyết liệt”, “nâng cao”, “đẩy mạnh”, “tăng cường”, v.v.. mà không có tổng kết, rút ra bài học. Ba là, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng. Không nên hiểu kỷ luật đảng chỉ là xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm mà phải là thường xuyên siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Với phương châm giáo dục là chính, khi cán bộ sai lầm thì phải phê bình cho đúng, tìm mọi cách dạy bảo, “không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa”, đã “cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng”(6). Nhưng không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt, vì không xử phạt sẽ mất cả kỷ luật, sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Trong Hiến pháp và luật pháp không có khái niệm “vùng cấm”. cho nên phải chống sự suy thoái, tha hóa của những con “sâu mọt” theo tinh thần của Lênin: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy - đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”(7) và Hồ Chí Minh: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(8). Không chỉ bắt một tên giặc tham nhũng mà “cần phải có một biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị chúng. Biện pháp ấy là gây nên một đạo đức để ngăn ngừa trộm cắp, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống trộm cắp, làm cho lũ trộm cắp “đường hoàng” cũng như trộm cắp kín đáo - không sống còn được”. Đây chính là một khía cạnh của giải pháp xây nền dân chủ đã nói ở trên. NHÓM GIẢI PHÁP Ý THỨC CÁ NHÂN Một là, sự gương mẫu của cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu có ý nghĩa quyết định. Mọi việc đều do con người làm ra; cơ chế, bộ máy nào cũng do con người tạo ra; một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, cho nên, muốn cơ chế, bộ máy tốt, trước hết phải do những con người tốt xây dựng. Mặt khác, cơ chế, bộ máy tốt mà con người cố tình xuyên tạc, thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực. Vì vậy, muốn chống sự xuống cấp đạo đức trong Đảng phải bằng cả sự tự giác tu dưỡng và nêu gương. Mỗi đảng viên phải có lòng tự trọng, tính liêm sỉ và tự giác trong rèn luyện, vì chờ để pháp luật xử lý là hạ sách. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Sự gương mẫu của Trung ương, của từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương Đảng là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Pháp luật là tối thượng nhưng nhân văn cũng rất quan trọng. Pháp trị nhưng phải có đức trị. Đạo lý có trước pháp lý. Thời Bác Hồ rất ít luật, nhưng một hành vi, một việc làm của Bác có sức mạnh lan tỏa lớn. Đó là sức mạnh của nêu gương. Có những việc pháp luật không cấm nhưng lương tâm cắn rứt, đạo lý dân tộc không cho phép làm. Tu thân, chính tâm mới là thiêng liêng, sâu xa, bền vững, tạo niềm tin vững chắc. Hai là, thực hành phê bình và tự phê bình thường xuyên và nghiêm chỉnh là việc làm cần thiết trong tu dưỡng ý thức cá nhân. Đây là nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; là quy luật phát triển Đảng; là thang thuốc hay nhất để chữa các bệnh trong Đảng. Về điểm này, chúng ta còn những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao, quan trọng nhất là “nghiêm chỉnh” như lời Hồ Chí Minh dặn thì chưa làm được. Vẫn làm chiếu lệ, qua loa, đại khái như cách nói dân gian phê bình theo kiểu “bắn súng chỉ thiên”; thậm chí có kiểu “phê bình” nhưng ẩn ý sâu bên trong, đằng sau đó là nịnh. Một thực tế cho thấy trong những năm qua, 80-90% những vụ việc tham nhũng, lãng phí bị phát hiện, phanh phui không phải do kết quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng mà do công luận, tai mắt của quần chúng, truyền thông phát hiện, đúng như một đúc kết đã khẳng định: “Sự tha hóa không thể chấm dứt chỉ bằng tu dưỡng ý thức, đạo đức, nó bị đánh bại bởi cơ chế, tính khoa học của bộ máy, cơ bản nhất, bởi nền dân chủ. Nhưng phần tác động lại của tu dưỡng ý thức không phải thứ yếu. Cơ chế, bộ máy tốt mà con người cố tính xuyên tạc nó thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực, thậm chí, thành công cụ của cái bậy, cái ác. Hai phạm trù trên phải đặt ngang bằng nhau, tạo thế hỗ trợ và bổ sung nhau”(9)./.

Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận tất yếu, lâu dài và không khoan nhượng hiện nay

Con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta đi, không gì lay chuyển được. Công tác tư tưởng, lý luận tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử cầm nhịp thống nhất toàn dân tộc, “soi đường cho quốc dân đi” trên con đường ấy. ẢO TƯỞNG, BUÔNG LƠI HAY TỰ HUYỄN HOẶC MÌNH... NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI Khi một tư tưởng xuất hiện, tồn tại và phát triển, tự thân nó là một cuộc đấu tranh để tự khẳng định nó; và, tranh đấu với các tư tưởng khác, dù muốn hay không, dưới muôn ngàn hình thức, quy mô, tính chất và mức độ, là quy luật sinh tồn của tư tưởng, đó là lẽ tự nhiên của sự phát triển. Không có con đường nào khác. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã và đang như vậy. Phương diện tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta cũng như vậy, không nằm ngoài quy luật đó. Hiện nay, hơn bao giờ hết, sau hơn 32 năm đổi mới, trên đường tiến tới Đại hội XIII của Đảng, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đang đối mặt với rất nhiều thử thách. Chúng ta hiểu rằng, có những ý kiến phản biện, đóng góp tâm huyết hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc hoạch định đường lối và tổ chức thực tiễn từ nhiều người, nhiều phía cả trong và ngoài nước, chúng ta trân trọng ghi nhận và tiếp thu. Nhưng, nếu đem ý kiến phản biện dù đầy thiện chí xây dựng đó tán phát khắp nơi, thậm chí loan tải trên mạng in-tơ-nét để cho người khác lợi dụng, công kích, chống phá,... thì lại đưa câu chuyện ấy sang một hướng khác, dù thấm đẫm sự mong đợi về nhiệt huyết hay thiện tâm nào đó. Mấy năm nay, với “hàng núi” sách báo chống Đảng, hàng trăm giọng điệu công kích, bôi nhọ, phủ nhận, với hàng nghìn thủ đoạn đủ loại, trên mọi phương diện, đang tràn ngập mạng in-tơ-nét: về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, về Đảng và sự cầm quyền của Đảng, về thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về hệ thống chính trị và về đội ngũ cán bộ, đảng viên... Những luận điệu xuyên tạc công cuộc đổi mới, sự công kích Đảng, Nhà nước và đất nước ta từ nhiều phía, với nhiều thủ đoạn, ở nhiều mức độ và nhiều tính chất, cả bên trong lẫn bên ngoài, rất phức tạp. Theo đó, xuất hiện đủ loại thái độ và phương cách hành xử gây nên tình trạng trắng đen lẫn lộn, thật giả hỗn mang, rất khó nhận diện và rất nguy hiểm nhưng rất tinh vi. Có người, để ru ngủ và khiến không ít người lãng quên và mất cảnh giác, đã chỉ trích một cách ma mỵ rằng, chúng ta tưởng tượng ra cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chính trị hiện nay và thổi phồng sự cấp bách cuộc đấu tranh này(!). Không! Chúng ta cũng không tự dựng lên những kẻ thù tư tưởng, lý luận chính trị, như ai đó nói, để huyễn hoặc sự quan trọng của chúng ta hay để khuếch trương lên sự phức tạp những công việc này. Chúng ta xây dựng sự thống nhất xã hội về tư tưởng chứ không phải “đồng phục tư tưởng”(!), kiến tạo nền lý luận trung thành và độc lập, sáng tạo của Việt Nam chứ không phải thứ “lý luận nhập khẩu”, “đầu Ngô mình Sở”(!), như những ai đó bôi nhọ và công kích. Chúng ta càng không mơ hồ, ảo tưởng, tự ru ngủ mình về “sự thống nhất trong đa dạng” một cách cực đoan nào đó, như họ cổ xúy, rồi rơi vào sự chiết trung theo kiểu “vỗ vai cùng chung sống giữa các tư tưởng, các trào lưu”(!) hay “đã nguội tắt dần cuộc đấu tranh ý thức hệ”(!) giữa các hệ tư tưởng, các thể chế, quốc gia, dân tộc, biểu hiện tập trung giữa các tư tưởng gia ở những chế độ khác nhau... Chúng ta cũng càng không buông tay, thúc thủ, an bài, hoặc bi quan, yếm thế nào đó, rồi rơi vào “vũng lầy” của sự hoang mang, vô định, như những ai đó mong đợi hiện nay. Chúng ta hiểu rằng, bản chất của những sự thật về những hình thái vận động và đấu tranh tư tưởng, lý luận đó đang trở thành phổ biến một cách hết sức phức tạp có thể bị lừa phỉnh hoặc bị che lấp bởi những trào lưu mới mà những kẻ thù tư tưởng của chúng ta chưa bao giờ buông bỏ sự chống phá thâm hiểm, thậm chí kháng cự quyết liệt. Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta hiện nay đang đối mặt, thậm chí bị chi phối, bị cản trở và phải đối diện với tối thiểu chính những điều đó. Đó là những trở lực chết người trên con đường kiến tạo nền tư tưởng thống nhất, lý luận kiên định, độc lập và sáng tạo bảo đảm dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, dưới ngọn cờ của Đảng. Lịch sử phát triển của cách mạng nước ta ngày càng cho thấy, càng ở những khúc quanh hay bước ngoặt của nó như hiện nay, điều đó càng hiện diện, càng muôn vẻ, phức tạp và khôn lường nhất. Và, hiện nay, cuộc đấu tranh này hiện diện trên vũ đài lịch sử nước ta nói chung, trên địa hạt tư tưởng, lý luận chính trị nói riêng, khiến chúng ta không thể thể lảng tránh, chối bỏ, hay thúc thủ, bàng quan, càng không dung thứ bất cứ một sự ngụy tạo nào... nếu muốn bảo vệ tiếp tục phát triển độc lập, sáng tạo nền tảng tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng đủ sức dẫn dắt và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. Mơ hồ hay buông lỏng cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ thất bại. Bản chất của những kẻ chống phá chúng ta không bao giờ thay đổi. Và vì thế, cần thiết phải nói thêm rằng, hiện giờ, cuộc đấu tranh này càng nóng bỏng, mang ý nghĩa không khoan nhượng, thậm chí sinh tử hơn hết bao giờ. NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT TỬ CÓ Ý NGHĨA MẤT CÒN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY Nhìn toàn cục, hiện tại có thể hình dung 8 loại vấn đề cốt tử và chủ yếu mệnh hệ chung quanh vấn đề này, mà các phần tử chống phá tập trung mũi nhọn, bằng mọi thủ đoạn và hình thức đang ra sức công kích từ bên ngoài và gieo rắc mối hoài nghi, chia rẽ từ bên trong. Và, ở mức độ này hay tính chất khác, trong đội ngũ chúng ta có một số người “bị sập bẫy”, rồi phụ họa, thậm chí ủng hộ những biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn ấy. Thứ nhất, công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ. Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. Chung quanh vấn này, nổi bật mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng. Thứ hai, bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị. Đây là “tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ: nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. Trong rất nhiều phương diện chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng “lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là “khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,... Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta. Thứ ba, tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả, nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4- Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông thường. Thứ tư, chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Sức mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng. Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân tâm không ít bộ phận dân cư. Thứ năm, khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân. Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”. Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước. Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình. Thứ sáu, thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm. Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)... Thứ bảy, chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Đây là một đích ngắm của đủ loại mưu đồ, đủ giọng điệu, với các phương tiện hiện đại, có sức công phá lớn và hết sức nguy hiểm. Mục tiêu của chúng là thông qua “diễn biến hòa bình”, làm suy yếu Việt Nam từ bên ngoài, gây hằn thù trong các mối bang giao quốc tế của ta nhằm cô lập ta trong cộng đồng quốc tế. Kích động, chia rẽ các đối tác quốc tế với nhau, các đối tác quốc tế chiến lược với chúng ta... Nghĩa là, họ muốn thể chế của ta sụp đổ. Bằng nhiều “cây cầu” (truyền thông giả mạo, sách báo, núp sau các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo...), với thủ đoạn “mưa dầm thấm sâu”, “tổ mối đục ruỗng chân đê”... chúng dựng hư chuyện, thổi phồng hiện tượng riêng lẻ quy kết vô lối thành bản chất của Đảng, của chế độ... hòng hạ thấp, đánh sập vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ hà hơi tiếp sức cho những tổ chức đối lập trú ngụ ở ngoài biên giới quốc gia, âm mưu di trú quốc nội, gây bạo loạn, lật đổ chế độ. Thứ tám, các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng. Đó là chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền với vô vàn hình thức... đang thâm nhập từ bên ngoài cấu kết với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc, dưới nhiều biến thể, tồn tích rất lâu từ bên trong với âm mưu làm băng hoại nền tảng tư tưởng của chúng ta bằng đủ quy mô, tính chất và mức độ; làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa; làm rã rời sự cố kết đồng thuận toàn dân tộc ta; đánh sập vị thế, năng lực và uy tín cầm quyền của Đảng ta và cô lập nước ta trên trường quốc tế. Những trào lưu tư tưởng, lý luận đó thâm nhập vào nước ta bằng các con đường giao lưu tư tưởng, thông qua hội nhập quốc tế, bằng thủ đoạn kinh tế, văn hóa... hết sức tinh vi, biến ảo; và chúng thường trú ngụ và phát tác từ các phần tử thoái hóa, biến chất, nằm ở tất cả các cấp của hệ thống chính trị, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến hòa bình” công phá từ bên ngoài thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ rất nguy hiểm. Tất cả nhằm thủ tiêu Đảng, cô lập đất nước ta và chuyển hóa thể chế chính trị một cách nhanh nhất, ngắn nhất và nguy hiểm nhất. CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ VÀ LÀM NHƯ THẾ NÀO Vấn đề tư tưởng phải được giải quyết bắt đầu từ tư tưởng, trước khi bằng con đường tổ chức, pháp luật. Nhưng, không thể chỉ giải quyết triệt để những vấn đề tư tưởng, lý luận bằng chính vấn đề tư tưởng, lý luận một cách thuần túy, thậm chí rất suông. Trước hết, chúng ta phải có một cương lĩnh về hành động một cách có tư tưởng. Cương lĩnh hành động hiện nay chính là, khi tình hình đã khác trước, cần nhận diện đúng, phân định trúng và có đối sách phù hợp và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, không thể để tình trạng những người bàn về tư tưởng nhưng hành động phi tư tưởng, thậm chí trái tư tưởng, xỉ nhục tư tưởng. Kinh nghiệm đã và đang chỉ ra rằng, từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước chuyển ngắn, thậm chí rất ngắn, tới mức khôn lường, trở thành kẻ đối lập với nhân dân, với dân tộc, phản bội lại Đảng, phản bội thể chế. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, trong cuộc đấu tranh này, phải tự mình trở thành một nhà tư tưởng một cách ngang tầm và trong sạch. Tự mình phải làm công tác tư tưởng cho chính mình, và phải tự mình trong sạch; và trở nên đúng đắn, tự trọng và ngang tầm theo các quy định về nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012, của Ban Bí thư khóa XI, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Chúng ta có tối thiểu hơn 4 triệu “nhà tư tưởng” là đảng viên. Đó là hành động mang tính tư tưởng nhất. Chúng ta không ảo tưởng về điều đó, nếu đảng viên thực sự là đảng viên, lãnh đạo thực sự ngang tầm trọng trách lịch sử. Chỗ nào vắng cán bộ, đảng viên, chỗ đó trận địa tư tưởng bị bỏ trống. Vì thế, việc tổng rà soát, sàng lọc nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên là trọng sự rất cấp bách, không thể trì hoãn. Càng không thể giải quyết những lỗi lầm tư tưởng chính trị bằng thứ tư duy đã đẻ ra nó; những vấn đề bất thường của tư tưởng chính trị phải được giải quyết bằng những phương pháp bất thường, tức vấn đề tổ chức và cán bộ. Chấm dứt tình trạng: Người có tư tưởng thì không có quyền được quyết định, người được quyền quyết định lại không có tầm tư tưởng. Đó là cách làm tư tưởng cụ thể nhất, chứ không rơi vào đạo lý suông, tư tưởng chính trị suông. Chọn người xứng đáng và ngang tầm là nhân tố quyết định thành bại công việc này. Người đứng đầu các cấp trong bộ máy hệ thống chính trị phải là những người lĩnh nhiệm xứng đáng sứ mệnh công tác tư tưởng, lý luận của thế chế một cách gương mẫu và thật sự. Ai không làm tròn trọng trách đó thì nên từ chức hoặc không ngần ngại, buộc phải thay thế họ. Không thể để thảm họa: những ai nhúng chàm tư tưởng; đạo chích, đạo vị, đạo tâm... đi rao giảng về sự cao quý của tư tưởng, sự “soi đường cho quốc dân đi” của lý luận, sự trong sạch, liêm sỉ, liêm chính, nghĩa khí hay quốc sỉ của những người trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Đó là tình trạng “a dua tư tưởng, lý luận”, tầm thường hóa tư tưởng, lý luận, “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”. Nói cách khác, đó là kiểu làm tư tưởng, lý luận như “mang giấy bọc lửa”. Như thế, vô hình làm phương hại công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta; vô hình tiếp tay cho sự lan rộng của sự suy thoái tư tưởng chính trị, tệ hủ bại trong hành động thực tiễn phi tư tưởng, lý luận,... Như thế là, phản tư tưởng nhất, là sự hạ thấp, thậm chí hủy hoại nền móng tư tưởng, lý luận chính trị. Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, các địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác tự giác rèn luyện tầm nhìn chính trị chiến lược, trung thành với lý tưởng, khép mình vào kỷ luật, giữ trọn vẹn liêm sỉ, tự mình trong sạch; làm gương trước nhân dân, trước cấp dưới về hành động chính trị, về danh dự, về sự dũng cảm hành động theo lời nói, về trách nhiệm công việc, về phẩm hạnh chính trị và đạo đức... trong thực thi đường lối của Đảng, vì lợi ích tối cao của nhân dân, của dân tộc và của Đảng. Đồng thời, chủ động tổng kết thực tiễn, phát triển đường lối chính trị của Đảng, làm giàu kinh nghiệm tổ chức thực tiễn mang tính lý luận. Sống và làm việc trong nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa và tự chỉnh đốn mình. Hóa thân trong các phong trào hành động của nhân dân để dẫn dắt, qua đó để tổng kết kinh nghiệm, trau dồi khả năng và rèn dũa trình độ lý luận của chính mình nhằm phát triển phong trào. Lúc này, một bước tiến trong hành động có giá trị hơn một tá cương lĩnh, nói như C. Mác. Đó là con đường bảo vệ tư tưởng, phát triển lý luận của chúng ta một cách chủ động nhất, ngắn nhất và tự giác nhất. Tự chỉnh đốn mình đủ năng lực xử lý, nhất là đối thoại, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng và cầu thị với tất cả những ai quan tâm về công tác tư tưởng, với các trào lưu tư tưởng, lý luận từ mọi phía. Đó là hiện thân sinh động và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng, lý luận chính trị, của công tác tư tưởng, lý luận, phát triển đường lối chính trị của Đảng dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế hiện nay. Và, hơn hết bao giờ, phải chủ động hành động kiên quyết, vì sự sống còn đó. Cương lĩnh hành động hiện nay là, tiếp tục kiến tạo một đội ngũ chiến lược gia tư tưởng, lý luận hay tối thiểu là các cán bộ tư tưởng, lý luận cấp chiến lược ngang tầm trọng trách của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế. Vẫn là tiếp tục công việc về tổ chức và cán bộ, nếu được tiến hành hiệu quả, thì chính là giải pháp phát triển tư tưởng, lý luận hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng, lý luận ngày càng xác thực rằng, lý do tồn tại của tổ chức đảng, và các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng nhiều mặt của tất cả các đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp. Nói một cách hình ảnh, đã đến lúc, về mặt tổ chức bộ máy, không thể để tồn tại những ông “Đông Quách”, những “con thò lò sáu mặt”, “ăn cây táo rào cây xoan nâu” trong đội ngũ, trước hết trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và nguyên cấp này, trước hết trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Nếu để duy tồn, vô hình trung, tối thiểu đã làm phương hại theo kiểu “quả bí thối từ ruột thối ra”, thậm chí chặt cụt động lực của các nhà tư tưởng, lý luận; mặt khác sẽ thủ tiêu và tự thủ tiêu cả hai: cán bộ và bộ máy làm công tác tư tưởng, lý luận. Và, thậm chí làm băng hoại ngay cả bộ máy làm công tác tổ chức và kiểm tra, thanh tra và bảo vệ pháp luật vì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trực tiếp đối với công tác tư tưởng, lý luận, khi trận địa tư tưởng, lý luận bị xâm hại và bị chi phối bởi những tệ nạn đó. Cần thiết rà soát, sàng lọc, để tái kiến tạo đội ngũ và hệ thống các bộ máy này, để tư tưởng, lý luận có khả năng dẫn dắt và bảo đảm phát triển công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đúng hướng. Đó là phương lược và nghệ thuật hiện thời. Cần toàn dụng đức trị và pháp trị trên phương diện này. Đội ngũ chúng ta phải tự mình trở nên mạnh mẽ, dũng cảm và kiên quyết ngang tầm yêu cầu của lịch sử! Đó chính là hiện thân và hành động tư tưởng, lý luận nhất. Đó là phương sách xây kết hợp phòng, chống chủ động và hiệu quả nhất trên địa hạt tư tưởng, lý luận! Cương lĩnh hành động lúc này là, tổng soát xét, tiếp tục đổi mới toàn diện và căn bản hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và thể chế về công tác tư tưởng, lý luận chính trị. Tối thiểu có 3 loại công việc nổi bật: Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay? Theo đó, tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta. Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc. Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đó là những công việc cần kíp thực thi hiện nay đối với Đảng, và của chính công tác tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng. Không như thế không thể nói tới việc bảo vệ tư tưởng, lý luận, càng không thể nói tới việc phát triển độc lập hay sáng tạo đột phá về tư tưởng, lý luận, dù chỉ là một bước nhỏ! Con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta đi, không gì lay chuyển được. Công tác tư tưởng, lý luận tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử cầm nhịp thống nhất toàn dân tộc, “soi đường cho quốc dân đi” trên con đường ấy. Và, dù cho kẻ thù của chúng ta câu kết với những phần tử từ bên trong, điên cuồng công kích, phá hoại, Đảng ta đứng vững trên nền móng tư tưởng chính trị và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thâu hóa và góp phần phát triển tinh hoa tư tưởng, lý luận của nhân loại, với sự ủng hộ và bảo vệ của nhân dân, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ dưới ngọn cờ của Đảng, dân tộc ta nhất định vượt qua mọi trở lực, như 89 năm qua, tiếp tục tiến lên, nhịp bước cùng thời đại. Không gì cản nổi!./.

Sự tha hóa quyền lực và con dốc đặc quyền đặc lợi

Sự tha hóa quyền lực dẫn đến hiện tượng cán bộ từ đỉnh cao quyền lực dễ trượt dài trên con dốc chủ nghĩa cá nhân bởi những căn bệnh đặc quyền đặc lợi, vinh thân phì gia đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu non trẻ của nhà nước. Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, những căn bệnh ấy đã và đang xuất hiện trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã định vị những căn bệnh ấy trong các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị với biểu hiện thứ 9: “Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”. Nó cũng nằm trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, trong đó có biểu hiện thứ 8: “Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”. Soi vào thực tiễn vừa qua, đáng buồn thay có rất nhiều câu chuyện vi phạm. Vụ việc hàng loạt thí sinh là con các cán bộ lãnh đạo ở Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn sửa điểm thi để đỗ vào đại học gây bức xúc dư luận, mang bóng dáng một vụ tham nhũng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công bằng xã hội và tương lai đất nước. Rồi đây sự việc sẽ được điều tra, làm rõ nhưng chắc chắn không thể không có sự liên quan trách nhiệm của những cán bộ là cha mẹ của học sinh. Vụ án Trịnh Xuân Thanh được phát hiện từ lỗ hổng đặc quyền đặc lợi khi ông Thanh đi chiếc xe Lexus 570 biển xanh giả rồi lộ ra lỗ hổng chạy chức, chạy quyền để được quy hoạch, luân chuyển sai quy định mặc dù trước đó dính vào tham nhũng nghiêm trọng. Từ vụ việc này, hiệu ứng domino hé lộ hàng loạt sai phạm từ Bộ Công Thương với rất nhiều sai phạm trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp… Trong đó, ông Vũ Huy Hoàng đãtiếp nhận, bổ nhiệm và điều động con trai là ông Vũ Quang Hải tham gia Hội đồng quản trị và giữ chức Phó tổng giám đốc Tổng công ty Rượu-Bia-Nước giải khát Sài Gòn; vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng. Một báo cáo của Thanh tra Chính phủ năm 2018 còn cho biết, có năm ông Vũ Huy Hoàng đi công tác nước ngoài 163 ngày, chiếm hơn nửa thời gian làm việc trong năm khiến dư luận càng đặt dấu hỏi về trách nhiệm công bộc của ông đối với công việc. Năm 1987, dư luận chấn động trước bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” đăng trên Báo Quân đội nhân dân, phản ánh việc một vị cán bộ hàm tương đương bộ trưởng chiếm dụng diện tích nhà ở quá tiêu chuẩn. Thế nhưng về sau này, ngày càng nhiều những vụ việc cán bộ lãnh đạo giữ đặc quyền đặc lợi, thậm chí không chịu trả nhà công vụ, trả xe sau khi đã nghỉ hưu. Bức xúc nhất có lẽ phải kể đến hiện tượng lạm dụng đặc quyền đặc lợi để tham nhũng quyền lực, tham nhũng trong xin-cho các dự án đầu tư, biến cổ phần hóa thành “chia phần hóa”… Có rất nhiều trường hợp dựa vào "con ông cháu cha" hoặc các quan hệ để thăng tiến thần tốc, cướp đi cơ hội phát triển bình đẳng của bao nhiêu cán bộ, đảng viên chân chính. Những năm vừa qua, đã có nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận, như: Vụ hotgirl Quỳnh Anh ở Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa; vụ bổ nhiệm ông Vũ Minh Hoàng, 26 tuổi, quê ở Bắc Ninh đảm nhiệm chức vụ phó vụ trưởng khi ông này không làm việc tại Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, không nhận lương và đang đi du học tự túc tại Nhật Bản; vụ Lê Phước Hoài Bảo, sinh năm 1985 (con trai ông Lê Phước Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam) nhận được nhiều ưu ái, thăng tiến thần tốc sai quy định, trở thành giám đốc sở trẻ nhất nước; gần đây, vụ con gái của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang là Vương Mai Trinh (31 tuổi) được bổ nhiệm thần tốc đảm nhiệm chức vụ Phó chánh văn phòng Thành ủy Long Xuyên sai quy định nên Bộ Nội vụ đã yêu cầu hủy kết quả tuyển dụng… Bài học đắt giá từ lời cảnh báo của V.I.Lênin V.I.Lênin từng cảnh báo về 3 loại kẻ thù nguy hiểm đe dọa đến sự tồn vong của nước Nga Xô viết sau Cách mạng Tháng Mười là: Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, nạn mù chữ và nạn hối lộ. Thế mà những điều đó lại xảy ra đúng như ông tiên liệu. Sau Cách mạng Tháng Mười, chiến tranh và nạn đói đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền Xô viết non trẻ. "Rồi sẽ có bánh mì và sẽ có tất cả"-câu nói của Vasili trong bộ phim "Lênin trong Tháng Mười" trở thành câu nói thịnh hành một thời ở Liên Xô. Bộ phim dựa trên câu chuyện có thật. Năm 1918, chính quyền Xô viết gặp phải cuộc khủng hoảng lương thực. Tại một cuộc họp của UBND, Churuva, Ủy viên nhân dân phụ trách vấn đề lương thực, bất ngờ bị ngất xỉu vì đói! Là quan chức cao nhất phụ trách lương thực, ông có thể điều động hàng chục triệu tấn lương thực, nhưng bản thân lại bị đói. Ngay sau đó, Lênin kiến nghị xây dựng nhà ăn điều dưỡng để bảo đảm cho những đồng chí như Churuva. Nhà ăn điều dưỡng do Lênin khởi xướng về sau dần mở rộng thành cửa hàng cấp đặc biệt, rồi biến tướng trở thành nơi dành cho cán bộ đặc biệt cao cấp, nơi ê hề rượu Pháp, Scotland, thuốc lá thơm Mỹ, chocolate Thụy Sĩ, cà phê Italy, giày da của Áo, len dạ Anh... Báo chí đã nói công khai rằng, đối với những nhân vật thuộc tầng lớp trên thì chủ nghĩa cộng sản đã được xây xong từ lâu! Chỉ riêng Moscow đã có hơn 100 cửa hàng như vậy. Đó là nơi dành cho tầng lớp đặc quyền. Dưới thời Tổng Bí thư Brezhnev, con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, được thăng tiến thần tốc. Có chức ắt có quyền, có đặc quyền nên nạn mua quan bán chức ngày càng nở rộ. Nạn đặc quyền đặc lợi đã làm tổn hại nghiêm trọng thanh danh của chủ nghĩa xã hội (CNXH), tạo ra hố ngăn cách lớn trong xã hội. Người dân bình thường tự gọi mình là “chúng ta”, còn gọi những lãnh đạo cấp cao là “bọn họ”. Dưới thời Gorbachev, tầng lớp đặc quyền không chỉ tìm mọi cách nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ cá nhân, mà còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền cho con cháu đời sau. Họ nhận ra để hợp pháp hóa các đặc quyền thì chỉ có chế độ chủ nghĩa tư bản (CNTB) mới thích hợp nhất để hợp pháp hóa những lợi ích hiện có của họ. Thế là họ không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy xóa bỏ CNXH, đi theo con đường của CNTB. Họ lợi dụng sự hỗn loạn về thương mại hóa, thị trường hóa, kinh tế tự do hóa do Gorbachev tiến hành để làm một cuộc lật bài kinh tế, trực tiếp chiếm đoạt tài sản nhà nước thành tài sản riêng. Một bộ phận đó sau này trở thành những ông trùm tài chính mới. Một bộ phận khác không chỉ vơ vét mà còn tiếp tục nắm giữ những cương vị cao, kiểm soát quyền lực của nhà nước với 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống; 57,1% lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4 % trong số những quan chức của chính phủ mới. Không để bệnh đặc quyền đặc lợi băng hoại niềm tin Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Đặc quyền đặc lợi là quyền lợi đặc biệt chỉ dành riêng cho một người hay một nhóm, một tầng lớp nào đó được hưởng mà những người bình thường khác không thể có được”. Đặc quyền đặc lợi khoét sâu thêm khoảng cách “quan-dân”, hình thành các đẳng cấp xã hội, làm sâu thêm những bất công, làm giảm động lực phấn đấu của cán bộ, công chức, gia tăng tình trạng xin-cho, chạy chức, chạy quyền, nạn hối lộ, đút lót và nghiêm trọng nhất là suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; thậm chí khiến dân khinh, dân ghét lãnh đạo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhìn ra và cảnh báo những căn bệnh nguy hiểm từ sự tha hóa quyền lực nói trên. Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng đăng trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra các thói xấu cần phải lên án, như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người chỉ rõ: “Ǎn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô, các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”. Rồi hiện tượng con quan thì lại làm quan, "cài cắm" người nhà vào các vị trí lãnh đạo, ưu tiên tuyển dụng người thân, ghen ghét, đố kỵ người tài là một vấn nạn trong không ít cơ quan hành chính thời bấy giờ: “Kéo bè kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”, “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác”. Từ Đại hội VI khởi xướng sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã nhìn nhận rõ nguy cơ của bệnh đặc quyền đặc lợi và xác định: Trong tư tưởng cũng như hành động, phải triệt để chống tham nhũng, chống đặc quyền đặc lợi. Đại hội IX của Đảng chỉ ra: Cải cách cơ bản chế độ tiền lương, nâng cao đời sống người hưởng lương, chống đặc quyền đặc lợi. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Phát biểu tại một hội nghị về công tác dân vận gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc lại những bài học kinh nghiệm từ lịch sử dân tộc: “Sở dĩ triều Hậu Trần suy vong là do các vua quan Hậu Trần không thực hiện đúng chính sách "thân dân", "làm kế sâu rễ bền gốc"; họ chỉ lo cuộc sống xa hoa, quyền lợi ích kỷ của mình, bỏ "mặc dân khốn khổ", "muôn dân oán giận mà không biết, lòng người oán trách mà chẳng kinh". Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng thẳng thắn chỉ rõ, hiện nay: Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh. Do đó làm tổn thương thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng… Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vét của cải của Nhà nước, của tập thể, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội. Có lẽ đây là điều mất mát lớn nhất trong tình cảm của nhân dân, là điều người dân cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất... Thực tế đó cho chúng ta thấy, kiên quyết đấu tranh với những thói hư tật xấu ấy phải trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, phải trở thành một trong những việc cần làm ngay với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị hiện nay. Ngoài việc phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật những hành vi sai phạm thì trong Đảng, phải duy trì nghiêm các quy định về nêu gương, thực hiện những điều cấm đảng viên không được làm. Phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật và hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, không để tồn tại tham nhũng quyền lực, lợi ích nhóm và nạn đặc quyền đặc lợi… làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đưa họ trượt dài trên con dốc tha hóa.

Không được diễn giải lịch sử một cách tùy tiện

Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn, tình trạng diễn giải, suy đoán lịch sử một cách tùy tiện, vô căn cứ đang diễn ra với mức độ ngày càng tăng, gây bức xúc trong dư luận, tạo nhiều nguy cơ với hệ lụy khó lường. Đây là hiện tượng tiêu cực cần phải kịp thời ngăn chặn để bảo đảm niềm tin trong xã hội, lấy lại sự lành mạnh cho môi trường nghiên cứu học thuật và niềm tin của cộng đồng. Khi được độc giả hỏi về nguồn tư liệu, ông P.T.H viện dẫn bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng” của tác giả BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đăng trên tintucvietnam.vn có nội dung hầu như giống hoàn toàn. Đáng nói là ở bài viết “Hùng Vương là ai và lịch sử các Vua Hùng”, tác giả cho biết dẫn lại tư liệu từ cuốn sách Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần (NXB Giáo dục, H.1995) nhưng tìm đọc sẽ thấy, trong cuốn sách của mình, Nguyễn Khắc Thuần chỉ viết ngắn gọn: “1 - Hùng Dương (tức Lộc Tục). 2 - Hùng Hiền (tức Sùng Lãm). 3 - Hùng Lân. 4 - Hùng Việp. 5 - Hùng Hy. 6 - Hùng Huy. 7 - Hùng Chiêu. 8 - Hùng Vỹ. 9 - Hùng Định. 10 - Hùng Hy (3). 11 - Hùng Trinh. 12 - Hùng Võ. 13 - Hùng Việt. 14 - Hùng Anh. 15 - Hùng Triều. 16 - Hùng Tạo. 17 - Hùng Nghị. 18 - Hùng Duệ. 18 đời nối nhau trị vì 2622 năm (từ năm 2879 trước Công nguyên đến năm 258 trước Công nguyên). Đó là những con số rất khó thuyết phục người đọc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, với người Việt, số 9 là số thiêng, các bội số của số 9 (như 18, 36, 72, 99…) cũng là những số thiêng tương tự. Cho nên, con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều ngọc phả nói tới cũng chỉ là con số ước lệ, biểu tượng của một ý niệm thiêng liêng nào đó. Cũng trong cuốn sách, Nguyễn Khắc Thuần viết: “Tóm lại, nước Văn Lang là một thực thể có thật của lịch sử nước ta, nhưng Văn Lang chỉ tồn tại trước sau trong khoảng ba trăm năm và con số 18 đời Hùng Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử”. Như vậy, dù tác giả trên trang tintucvietnam.vn có bảo lưu rằng: “Con số 18 chỉ mang tính tượng trưng” thì vẫn có thể thấy hai tác giả P.T.H và BTV/Sức Khỏe Cộng Đồng đã “sáng tác” cho các vua Hùng tên húy, thứ tự chi theo bát quái, chua thêm năm can chi vào “năm sinh”, năm đầu và năm cuối “thời gian ở ngôi”. Thoạt nhìn có vẻ chính xác, tuy nhiên hai bài viết đều sai vì những chi tiết về các vua Hùng được nêu ra không hề có căn cứ kiểm chứng. Chưa kể, nếu đối chiếu lịch can chi với năm dương lịch sẽ thấy năm can chi được tính tương đương với năm dương lịch. Thực tế là cho đến tận bây giờ, chúng ta vẫn chưa tìm thấy tư liệu chữ viết thời Hùng Vương. Không biết hai tác giả nêu trên đã căn cứ vào đâu để khai thác những chi tiết rất cụ thể về năm sinh năm mất, năm ở ngôi, tên húy, tên hiệu, số đời truyền làm vua... của các vua Hùng độ xác tín ra sao? Hiện tượng “cụ thể hóa”, thậm chí dung tục hóa những điều chép trong sử sách hay các thông tin lưu truyền trong huyền thoại gần đây cũng có chiều hướng xuất hiện ngày một gia tăng trên nhiều diễn đàn, báo chí, nhất là vào những dịp kỷ niệm, tưởng niệm các sự kiện, nhân vật lịch sử. Ngày 4-4 vừa qua, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, người gắn liền với con đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã ra đi. Đồng đội và nhân dân tiếc thương ông, tưởng nhớ về ông với những kỷ niệm sâu sắc. Thế nhưng, nhân sự kiện này, blogger (người viết blog) D.P có số người theo dõi khá đông (từng được tung hô như một “hiện tượng viết sử trẻ” hay như là một người đã chuyển tải lịch sử đến giới trẻ bằng một góc nhìn mới mẻ và khác biệt (!) đã tranh thủ “múa bút” bất kể lô-gich, đúng - sai. Như người này tưởng tượng ra việc tướng Đồng Sỹ Nguyên “chỉ huy một đoàn quân với bom lượn ở trên đầu, xây nên một con đường mà Mỹ nhận định là không thể xây được, và tạo nên một con đường cứ bị san phẳng hôm qua thì vài ngày sau bỗng trở lại”. Cũng trong bài viết đó, người này còn đưa ra những nhận định ngô nghê và hồ đồ: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bên mình hai cánh tay trái và phải. Cánh tay phải của ông là tướng Hoàng Văn Thái, người đã ở cạnh ông và cùng ông lập nên các chiến lược quân sự lớn. Còn cánh tay trái của ông là tướng Lê Trọng Tấn, người sẽ ở trận tiền, thực hiện các chiến lược mà tướng Giáp đề ra”. Chưa kể trong bài viết còn có một số câu văn bị nhiều độc giả đánh giá là thiếu sự tôn trọng đúng mức với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí, đồng đội của ông. Lối “kể chuyện” sử như không hề đọc sử của người này còn có thể làm người chưa biết về Đại tướng Lê Trọng Tấn sẽ tiếp nhận thông tin không chính xác về ông, như D.P cho rằng ông là người “đã bắt”, “áp giải” các tướng De Castri (Đờ Cát-xtơ-ri) và Dương Văn Minh. Đọc bài viết nhiều người yêu thích, am hiểu lịch sử thực sự phẫn nộ vì cách viết bịa tạc, đầy xúc phạm như vậy. Việc “cụ thể hóa” tới mức dung tục các huyền sử không phải là cách tôn vinh tiền nhân mà trái lại, là hạ thấp giá trị của niềm tin trong xã hội, thậm chí là cả tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc. Vì thế, người viết cần luôn ý thức không thể viết một cách tùy hứng và tùy tiện về lịch sử, bởi sẽ gây hệ lụy khôn lường. Thế nhưng, hiện tượng đi ngược với yêu cầu này đang ngày càng nhiều, thậm chí ngang nhiên xuất hiện ở ngay cả những diễn đàn, những hội thảo khoa học. Như tại hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hóa dân tộc” (12-2018) một tác giả đã hồn nhiên trình bày quan điểm tối nghĩa khiến người nghe không thể hiểu nổi: “Thì ra sự chịu đựng bình đẳng cả địch và ta, cả chính nghĩa và phi nghĩa, cả thấp hèn và cao thượng”; “Đại tướng Võ Nguyên Giáp chịu đựng cả sự chịu đựng của dân tộc”, “chỉ có nhân loại là không chịu đựng vì đã thấy được một con người có mức độ” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn hóa dân tộc” - Hà Nội, 12-2018). Blogger D.P cũng xuất hiện tại hội thảo này, để đưa ra khái niệm “văn hóa quân sự “bóc múi bưởi”...”, rồi nhận định “có một trận Điện Biên Phủ năm 1975” khiến các chuyên gia nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự lắc đầu ngao ngán. Những thí dụ đã nêu chỉ là vài minh họa cho một xu hướng đáng báo động về tình trạng diễn đạt, xuyên tạc lịch sử sai lệch và tùy tiện đang diễn ra ở nhiều nơi. Điều đáng lo ngại là ở đây không chỉ còn là những ý kiến cá nhân trong một cộng đồng hẹp, mà những quan điểm lệch lạc như vậy đang được trình bày trên một số trang báo chính thống, tại một số hội thảo khoa học, được phát tán trên mạng xã hội với độ lan truyền nhanh chóng. Có thể thấy, nếu không kịp thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả, những “tri thức” méo mó về lịch sử như vậy sẽ có nguy cơ “đầu độc” công chúng, nhất là giới trẻ. Lịch sử là câu chuyện của quá khứ, đòi hỏi việc xem xét, đánh giá chuẩn xác. Những người làm công tác nghiên cứu hoặc viết về lịch sử vì vậy cần phải được trang bị kiến thức đầy đủ cùng khả năng diễn đạt chính xác, khoa học. Bất cứ luận điểm nào về một vấn đề, một sự kiện, một nhân vật lịch sử… đều cần chứng minh bằng sử liệu. Chỉ với sự tuân thủ các nguyên tắc đó, nội dung viết về lịch sử mới thuyết phục được người đọc, mang lại tri thức lịch sử lành mạnh và hữu ích cho công chúng. Tất nhiên, theo dòng thời gian, lịch sử có thể được điều chỉnh hoặc bổ sung thông tin nếu có thêm tư liệu mới dẫn đến nhận thức mới. Song dẫu vậy, không thể chấp nhận và đồng tình với cách “viết lại” lịch sử tùy tiện thiếu phương pháp nghiên cứu, phản khoa học và sự thật lịch sử như trên. Chưa kể cách thức làm việc cẩu thả, vô trách nhiệm cùng động cơ không trong sáng của một số cá nhân trong việc lợi dụng lịch sử để đánh bóng tên tuổi và để “câu like” đã dẫn đến tình trạng nhiễu loạn, dung tục hóa lịch sử gây hoang mang, mất lòng tin ở nhiều người. Để những hiện tượng này xuất hiện trên các diễn đàn chính thống, trước hết có phần trách nhiệm của những “người gác cổng” là biên tập, chuyên gia thẩm định ở các cơ quan báo chí, hội nghị, hội thảo. Người đọc duyệt, xử lý tin, bài cần phải không ngừng nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, tỉnh táo trước quan điểm, ý kiến “khác lạ”, chủ động sàng lọc ngay từ đầu vào các thông tin thiếu cơ sở, chưa được kiểm chứng, thậm chí bắt nguồn từ động cơ xấu. Trước vấn đề liên quan đến lịch sử còn nhiều tranh cãi, người có trách nhiệm cần kiểm tra nguồn tư liệu được dẫn ra, xem xét kỹ các quan điểm đánh giá,… để bảo đảm tính chân thực của các chi tiết, tính chính xác, khoa học của các nhận định. Nếu còn vấn đề chưa sáng tỏ có thể tham khảo ý kiến thẩm định của các chuyên gia. Đối với các trang mạng xã hội, sự tự do trên mạng có thể dẫn đến sự tùy tiện, dễ dãi trong việc phát ngôn, nêu quan điểm, nhưng hiện nay chúng ta đã có khung pháp luật để xử lý nghiêm cá nhân, tổ chức đưa thông tin sai trái, trong đó bao gồm cả hành vi xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ nhân vật lịch sử. Chúng ta tôn trọng quyền bày tỏ ý kiến chính đáng của mỗi cá nhân nhưng cần phải coi việc đưa các thông tin xuyên tạc lịch sử, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoài nghi và muốn xét lại lịch sử là một xu hướng tiêu cực, không bao giờ được cộng đồng nghề nghiệp và công chúng chấp nhận. Để đề phòng, ngăn chặn thông tin sai lạc và đánh giá tiêu cực, xuyên tạc về lịch sử, đã đến lúc cần có sự phối hợp vào cuộc của các cấp, các ngành liên quan trong công tác tuyên truyền, như: tích cực truyền bá thông tin chính xác, không ngừng nâng cao hiểu biết của công chúng về truyền thống dân tộc, về sự kiện, nhân vật lịch sử để mỗi người tự nâng cao “sức đề kháng”, tham gia bảo vệ sự thật lịch sử, bài trừ những xu hướng, quan điểm sai trái. Đó là cách thức quan trọng giúp bảo vệ sự lành mạnh của môi trường thông tin cũng như sự chính xác của lịch sử.

Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với quan điểm sai trái, thù địch

Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng. 1. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù địch, các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh: từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức của chúng ta… Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là một khó khăn, một thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả. 2. Muốn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Nhìn nhận thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta hiện còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục còn nhiều hạn chế. Nhiều bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. Ở không ít bài, việc luận giải tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch còn có biểu hiện “gượng ép”, phê phán, phản bác lấy được, theo kiểu “hàng tôm hàng cá”. Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài viết đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh; đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và cả lệch lạc, chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa mà không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả. 3. Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì mà là một quá trình: xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác gắn chặt với quá trình đấu tranh, gắn với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác cũng đồng thời phải là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả. "Cần đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc chủ trương đường lối, quan điểm của Đảng ta" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng "Cần đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc chủ trương đường lối, quan điểm của Đảng ta" - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(1). Đồng thời, cần phải thực hiện hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện; trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm sau: Trước hết, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Yêu cầu cơ bản là phải nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đấu tranh, phản bác. Trong đó, cần làm rõ những giá trị bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thời gian qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác lý luận, việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong thời kỳ đổi mới đã có những bước phát triển, “góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước”(2). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, bất cập của công tác lý luận nói chung; trong đó, có công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị còn lạc hậu”(3). Biểu hiện cụ thể là chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng; chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là một số vấn đề về đảng cầm quyền, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Nhìn chung, lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn. Những hạn chế đó đã được lý giải là do công cuộc đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp, rất “hóc búa” về lý luận và thực tiễn, không có sẵn trong hệ thống kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chúng ta có nhiều thuận lợi song phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức… Song, có lẽ là do chúng ta chưa thực sự coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; ở nhiều nơi, công tác nghiên cứu lý luận còn hình thức, hời hợt, sao chép, thiếu tính chiến lược; tổng kết thực tiễn qua loa, chiếu lệ. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ thực tiễn của đời sống xã hội phong phú, sinh động, không ngừng biến động và để phát triển lý luận. Đồng thời, cần quan tâm nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ. Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong sự vận động của thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ; nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung, phát triển và hoàn thiện đặt ra yêu cầu phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng, lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và điểm đến của nghiên cứu lý luận; nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển lý luận phải dựa chắc trên cơ sở hiện thực. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, cực đoan, phiến diện, bảo thủ, trì trệ, hời hợt, đại khái trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Thứ hai, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Nhìn chung, hiện nay chúng ta đã có được đội ngũ cán bộ lý luận có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, được đào tạo về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy nhiên, có một thực tế là: đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, bất cập, hẫng hụt, số cán bộ trẻ chưa thay thế được cán bộ nhiều tuổi; số cán bộ có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư tăng lên, nhưng chất lượng khoa học chưa tăng nhiều, trình độ lý luận chưa thể nói là đã cao. Không ít cán bộ lý luận có học hàm, học vị, nhưng chưa tương xứng với học hàm, học vị đó, rất khó khăn khi viết một bài đấu tranh lý luận. Trong khi đó, sự hiểu biết về lý luận của nhiều cán bộ, đảng viên, của không ít cán bộ nghiên cứu lý luận còn hạn chế; nhiều ấn phẩm, công trình của các nhà nghiên cứu khoa học, của giới lý luận không rõ cái mới, thiếu những điểm nhấn thể hiện tính sáng tạo, còn nặng về “tổ hợp” những vấn đề lý luận đã được nói nhiều, thiếu thực tiễn nên sức thuyết phục và giá trị chưa cao. Việc bố trí đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều bất cập, số giảng viên lý luận chính trị có học hàm, học vị tập trung chủ yếu ở các học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở một số trường, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị mỏng và hạn chế về trình độ lý luận; việc bổ sung lực lượng rất khó khăn. Thực tế cho thấy, chỉ khi có được đội ngũ cán bộ lý luận vững mạnh cả về phẩm chất chính trị, cả về trình độ lý luận, thực sự xứng tầm thì công tác nghiên cứu lý luận và đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch mới có sự “đột phá” mạnh mẽ. Vấn đề cấp thiết là phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng những cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo điều kiện để đội ngũ này tự học, tự bồi dưỡng lý luận, gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, để có thể tạo ra được đội ngũ cán bộ lý luận xứng tầm. Đảng ta xác định: “Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”(4). Theo đó, mỗi cơ quan khoa học, cơ sở nghiên cứu cần chủ động hơn trong việc xây dựng, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu lý luận; khắc phục tình trạng thụ động, ngồi chờ theo kiểu “ăn sẵn”, thiếu sự đầu tư thỏa đáng. Bồi dưỡng toàn diện, đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho cán bộ lý luận trình độ, khả năng nắm chắc “ta” và “địch”; phải nắm chắc các quan điểm sai trái, thù địch - đối tượng đấu tranh trực tiếp. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mỗi bài viết cần có nội dung đấu tranh cụ thể, dùng đủ lý luận, luận cứ và đúng bút pháp đấu tranh để “đánh đúng” và “đánh trúng” vấn đề; để phản bác, phê phán một cách có hiệu quả, làm suy giảm và mất hiệu lực, làm giảm ảnh hưởng và tác động xấu của quan điểm sai trái, thù địch. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. Tăng cường đưa các nhà khoa học, lý luận ra nước ngoài học tập, bồi dưỡng, tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi chuyên gia, học thuật, tiếp cận thông tin, hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học nước ngoài; trong đó, cần chuẩn bị tốt về nhận thức chính trị, chuyên môn, phong cách, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận trong hợp tác quốc tế về lý luận. Thứ ba, xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Xây dựng cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh có nhiều việc phải làm, song quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan nghiên cứu lý luận với đội ngũ cán bộ lý luận. Có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh mới có cán bộ lý luận mạnh; cán bộ lý luận mạnh lại là “cốt vật chất” bảo đảm cho cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh. Không thể có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh, nếu không có được đội ngũ cán bộ lý luận mạnh; đội ngũ cán bộ lý luận mạnh chỉ có thể phát huy tốt sức mạnh và trình độ lý luận của mình trong một môi trường làm việc thuận lợi của cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Trong tình hình hiện nay, cần kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; nghiên cứu rà soát, sắp xếp các cơ quan khoa học (các học viện, viện nghiên cứu, trường đại học...) theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đảm bảo phù hợp, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chú ý đặc thù khoa học của từng cơ quan. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động lý luận, thực hiện tốt dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học chính trị, trong công tác lý luận; tiếp tục “đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng”(5). Xây dựng cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa công tác nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo, giảng dạy lý luận, giữa cán bộ lý luận và cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; phối hợp giữa các cơ quan lý luận với nhau; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn.

Các thuyết âm mưu về Covid-19 vẫn tràn lan trên YouTube

 


Một nghiên cứu cho thấy nhiều video trên YouTube vẫn chứa các thông tin sai lệch liên quan đến đại dịch Covid-19. Nghiên cứu đã đánh giá các video hiển thị trên trang chủ YouTube sau khi nhập từ khóa “Coronavirus” và “Covid-19” vào thanh công cụ tìm kiếm. Trong số 69 video được phân tích trong nghiên cứu, khoảng một phần tư (27,5%) có chứa thông tin sai lệch về Covid-19, những video này đã có tổng cộng hơn 62 triệu lượt xem.

Các video sẽ bị cho là “không có căn cứ” nếu chúng chứa một hoặc nhiều tuyên bố sai lệch về sự lây lan, các triệu chứng, biện pháp phòng ngừa và phương pháp điều trị Covid-19. Một số thông tin sai lệch được truyền bá trên cáo video này bao gồm thuyết âm mưu cho rằng Covid-19 chỉ khiến suy giảm hệ miễn dịch, ảnh hưởng chủ yếu đến bệnh nhân ung thư, người già hay các công ty dược phẩm đã có cách chữa trị nhưng họ sẽ không bán nó để họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn từ đại dịch. Nghiên cứu cũng cho thấy các video liên quan đến Covid-19 do các tổ chức uy tín và chính phủ với nhiều thông tin hữu ích nhưng lại có rất ít lượt xem.

“Mặc dù YouTube là một công cụ giáo dục mạnh mẽ mà các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể tận dụng để phổ biến thông tin và tác động đến hành vi của mọi người nhưng nếu sử dụng không đúng cách, nó có thể gây ra tác dụng ngược”. YouTube đã thông báo nền tảng này đã tăng cường các nỗ lực kiểm tra thông tin, chủ yếu nhắm tới các thông tin sai lệch về Covid-19.

Bất chấp những nỗ lực ngăn chặn tin giả về Covid-19, nhiều video thuyết âm mưu mới về Covid-19 vẫn làm mưa làm gió trên cả Facebook và YouTube, đạt nhiều triệu lượt xem, bình luận và chia sẻ; gây tác động xấu đến đời sống xã hội. Người dùng mạng xã hội, Facebooker và YouTube cần hết sức cảnh giác.

Nhiều tài khoản bị Facebook xóa đo đăng bài có thông tin sai lệch

 


Các thông tin sai lệch và thuyết âm mưu về vaccine COVID đã tăng nhanh trên các nền tảng mạng xã hội trong suốt đại dịch. Facebook từ lâu vẫn bị các nhà làm luật và chuyên gia nghiên cứu chỉ trích vì không ngăn chặn hiệu quả việc lan truyền các thông tin sai lệch về vaccine ngừa COVID-19 trên nền tảng của mình. Hiện mạng xã hội lớn nhất hành tinh này đang có hơn 35.000 nhân viên phụ trách xử lý các thông tin sai lệch được lan truyền trên nền tảng này.

Trong nỗ lực ngăn chặn các thông tin sai lệnh liên quan dịch COVID-19, Facebook cho biết đã bắt đầu dán nhãn các bài đăng tải về vaccine ngừa căn bệnh nguy hiểm này. Trong nhãn dán cho các bài đăng tải sẽ bao gồm những "thông tin đáng tin cậy" từ Tổ chức Y tế Thế giới về vaccine. Cũng theo Facebook, công ty này đã xóa bỏ hơn 12 triệu bài đăng có nội dung về dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 và vaccine ngừa căn bệnh này mà bị giới chuyên gia dán nhãn là thông tin sai lệch.

Hiện trên Facebook và Instagram vẫn có rất nhiều tài khoản và nhóm đăng tải những thông tin sai sự thật về việc tiêm vaccine ngừa COVID-19 và những thông tin này có thể dễ dàng được tìm thấy thông qua việc tìm kiếm bằng từ khóa. Việc đăng tải thông tin cũng như truy cập mạng xã hội tiếp cận thông tin nếu không tỉnh táo, bản lĩnh ai cũng có nguy cơ trở thành chủ thể của tài khoản bị xóa.