Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng.
1. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp,
nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời
cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm
sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối
tượng khác nhau.
Những quan điểm này của các thế lực thù địch,
các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người
trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém
mà nảy sinh những quan điểm sai trái đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa
gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn
hóa, quốc phòng, an ninh: từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại;
từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện;
từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện
tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến
những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức của chúng ta… Điều đó đã và
đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa
sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhiều người trong số họ còn có trình độ học
vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là một khó khăn, một thách thức đối
với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai
trái, thù địch một cách có hiệu quả.
2. Muốn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai
trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự
sắc bén. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ,
nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai
trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan
điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục.
Nhìn nhận thực tế, lý luận đấu tranh, phản
bác của chúng ta hiện còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục còn nhiều hạn chế.
Nhiều bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng,
chống chế độ mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các
quan điểm sai trái, thù địch. Ở không ít bài, việc luận giải tính chất sai
trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch còn có biểu hiện
“gượng ép”, phê phán, phản bác lấy được, theo kiểu “hàng tôm hàng cá”. Một số
công trình khoa học, tác phẩm, bài viết đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn
xã hội và thực tế đấu tranh; đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối,
quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và cả lệch lạc,
chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công
trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa mà không phân
tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu
tranh, phản bác kém hiệu quả.
3. Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản
bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, cấp thiết
và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì mà là một
quá trình: xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác gắn chặt với quá
trình đấu tranh, gắn với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”,
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để
đấu tranh phản bác cũng đồng thời phải là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào
thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện lý luận chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.
Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để
đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh
đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó
chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam,
nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì
lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Đồng thời, cần phải thực hiện hệ thống giải pháp
đồng bộ, toàn diện; trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Trước hết, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn. Yêu cầu cơ bản là phải nắm chắc hơn, sâu sắc hơn
những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng
sáng tạo vào thực tiễn đấu tranh, phản bác. Trong đó, cần làm rõ những giá trị
bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu
sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thời gian qua, thực hiện các nghị quyết của
Đảng về công tác lý luận, việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn trong thời kỳ đổi mới đã có những bước phát triển, “góp phần quan trọng
trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương
của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đạt được, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, bất cập của
công tác lý luận nói chung; trong đó, có công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu
của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính
trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị còn
lạc hậu”. Biểu hiện cụ thể là chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu
cầu của cách mạng; chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc
đổi mới, đặc biệt là một số vấn đề về đảng cầm quyền, chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Nhìn chung, lý luận còn lạc hậu, tính
dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn.
Những hạn chế đó đã được lý giải là do công
cuộc đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức
tạp, rất “hóc búa” về lý luận và thực tiễn, không có sẵn trong hệ thống kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng,
phức tạp, khó lường, chúng ta có nhiều thuận lợi song phải đối mặt với nhiều
nguy cơ, thách thức… Song, có lẽ là do chúng ta chưa thực sự coi trọng công
tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; ở nhiều nơi, công tác nghiên cứu lý
luận còn hình thức, hời hợt, sao chép, thiếu tính chiến lược; tổng kết thực tiễn
qua loa, chiếu lệ.
Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay,
chúng ta cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với
phương pháp thực sự khoa học. Nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ thực tiễn của đời sống xã hội
phong phú, sinh động, không ngừng biến động và để phát triển lý luận. Đồng thời,
cần quan tâm nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm
khách quan biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ.
Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
đang diễn ra trong sự vận động của thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức
tạp, khó lường. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ;
nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung, phát triển và hoàn thiện đặt ra yêu cầu
phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương
pháp thực sự khoa học. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững
trên lập trường cách mạng, lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện
việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn.
Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; lấy thực tiễn
làm điểm xuất phát và điểm đến của nghiên cứu lý luận; nghiên cứu lý luận, vận
dụng và phát triển lý luận phải dựa chắc trên cơ sở hiện thực. Kiên quyết khắc
phục mọi biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, cực đoan, phiến diện, bảo thủ,
trì trệ, hời hợt, đại khái trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.
Thứ hai, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ
nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi,
có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong xây dựng lý luận sắc
bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch hiện
nay. Nhìn chung, hiện nay chúng ta đã có được đội ngũ cán bộ lý luận có bản
lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, được đào tạo về
chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy nhiên, có một thực tế là: đội ngũ
cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, bất cập, hẫng hụt, số cán bộ trẻ chưa thay thế
được cán bộ nhiều tuổi; số cán bộ có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo
sư, giáo sư tăng lên, nhưng chất lượng khoa học chưa tăng nhiều, trình độ lý luận
chưa thể nói là đã cao. Không ít cán bộ lý luận có học hàm, học vị, nhưng chưa
tương xứng với học hàm, học vị đó, rất khó khăn khi viết một bài đấu tranh lý
luận.
Trong khi đó, sự hiểu biết về lý luận của
nhiều cán bộ, đảng viên, của không ít cán bộ nghiên cứu lý luận còn hạn chế;
nhiều ấn phẩm, công trình của các nhà nghiên cứu khoa học, của giới lý luận
không rõ cái mới, thiếu những điểm nhấn thể hiện tính sáng tạo, còn
nặng về “tổ hợp” những vấn đề lý luận đã được nói nhiều, thiếu thực tiễn
nên sức thuyết phục và giá trị chưa cao. Việc bố trí đội ngũ cán bộ lý luận còn
nhiều bất cập, số giảng viên lý luận chính trị có học hàm, học vị tập trung chủ
yếu ở các học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học lớn ở Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh. Ở một số trường, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị mỏng và
hạn chế về trình độ lý luận; việc bổ sung lực lượng rất khó khăn.
Thực tế cho thấy, chỉ khi có được đội
ngũ cán bộ lý luận vững mạnh cả về phẩm chất chính trị, cả về trình độ lý luận,
thực sự xứng tầm thì công tác nghiên cứu lý luận và đấu tranh, phản bác có hiệu
quả các quan điểm sai trái, thù địch mới có sự “đột phá” mạnh mẽ. Vấn đề cấp
thiết là phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng những cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi,
có trình độ cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo điều kiện để đội ngũ này
tự học, tự bồi dưỡng lý luận, gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, để có thể tạo
ra được đội ngũ cán bộ lý luận xứng tầm.
Đảng ta xác định: “Đầu tư thích đáng cho việc
xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu
ngành”.
Theo đó, mỗi cơ quan khoa học, cơ sở nghiên
cứu cần chủ động hơn trong việc xây dựng, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu lý luận;
khắc phục tình trạng thụ động, ngồi chờ theo kiểu “ăn sẵn”, thiếu sự đầu tư thỏa
đáng. Bồi dưỡng toàn diện, đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho cán bộ lý luận trình độ,
khả năng nắm chắc “ta” và “địch”; phải nắm chắc các quan điểm sai trái, thù địch
- đối tượng đấu tranh trực tiếp. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch, mỗi bài viết cần có nội dung đấu tranh cụ thể, dùng
đủ lý luận, luận cứ và đúng bút pháp đấu tranh để “đánh đúng” và
“đánh trúng” vấn đề; để phản bác, phê phán một cách có hiệu quả,
làm suy giảm và mất hiệu lực, làm giảm ảnh hưởng và tác động xấu
của quan điểm sai trái, thù địch.
Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý
luận phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí
Minh, phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục
tình trạng xa rời thực tiễn. Tăng cường đưa các nhà khoa học, lý luận ra nước
ngoài học tập, bồi dưỡng, tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi chuyên gia, học
thuật, tiếp cận thông tin, hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học nước
ngoài; trong đó, cần chuẩn bị tốt về nhận thức chính trị, chuyên môn, phong
cách, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận trong hợp tác quốc tế về lý luận.
Thứ ba, xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý
luận thực sự vững mạnh. Xây dựng cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh có nhiều việc
phải làm, song quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa cơ
quan nghiên cứu lý luận với đội ngũ cán bộ lý luận. Có cơ quan nghiên cứu lý luận
mạnh mới có cán bộ lý luận mạnh; cán bộ lý luận mạnh lại là “cốt vật chất” bảo
đảm cho cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh. Không thể có cơ quan nghiên cứu lý luận
mạnh, nếu không có được đội ngũ cán bộ lý luận mạnh; đội ngũ cán bộ lý luận mạnh
chỉ có thể phát huy tốt sức mạnh và trình độ lý luận của mình trong một môi trường
làm việc thuận lợi của cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh.
Trong tình hình hiện nay, cần kiện toàn hệ
thống các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; nghiên cứu rà soát, sắp xếp các
cơ quan khoa học (các học viện, viện nghiên cứu, trường đại học...) theo tinh
thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về “Một
số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị,
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đảm bảo phù hợp, tinh gọn, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả, chú ý đặc thù khoa học của từng cơ quan.
Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động lý luận, thực
hiện tốt dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học chính trị,
trong công tác lý luận; tiếp tục “đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động,
nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng”.
Xây dựng cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa
công tác nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo, giảng dạy lý luận, giữa cán bộ
lý luận và cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; phối hợp giữa các cơ quan lý luận
với nhau; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan chỉ đạo đấu tranh chống “diễn
biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữa các
cơ quan lý luận với các cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham
mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn./.