Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

A HA! ĐÁNH BÙN SANG AO

Cái gì ở thềm lục địa của Việt Nam là của Việt Nam, thế là từ nhiều năm nay-từ khi Liên Xô chưa tan rã, đã có cái liên doanh VietXo-Petro. Cái tên này đến nay vẫn tồn tại vì cả hai nước Việt – Nga không ai muốn quên đi một thời hào hùng. Sau này doanh nghiệp của nước Nga liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam trong lãnh vực dầu khí, có một cái tên mới - Rosneft.

Rosneft đã tham gia vào dự án khái thác và sản xuất khí ngưng tụ quốc tế tại lô 06.1, trong đó Rosneft nắm giữ 35% cổ phần, Petro Việt Nam giữ 20%, còn lại là ONGC, một công ty của nhà nước Ấn độ, giữ 45%. Lô 06.1 nằm ngoài khơi 370 km trong bồn trũng Nam Côn Sơn. Cái liên doanh này như cái gai chọc vào mắt nhà cầm quyền Trung quốc. Vốn tính nhỏ nhen hay ghen tị nên người hàng xóm phương bắc quyết phá.

Làm sao phá? Thì đây, có rồi. Buộc Rosneft phải rút khỏi liên doanh. Rosneft phải nghe vì Rosneft đang có thương vụ lớn hơn ở Trung quốc. Đặt lên bàn cân, thì miếng bánh ở Trung quốc lớn hơn nên Rosneft bỏ miếng bánh ở biển Đông. Còn đối tác Ấn độ thì chớ có đụng vào!

Những tưởng Rosneft rút chân ra khỏi liên doanh thì Việt Nam kỳ này lúng túng to. Song người tính đâu bằng trời tính. Rosneft (một công ty của nhà nước Nga) lại chuyển vốn cho tập đoàn Zarubezhneft, cũng là của nhà nước Nga, đồng thời là công ty mẹ của Rosneft! 

A ha! Tưởng kỳ này sẽ chơi cho Việt Nam một cú sát ván, nào ngờ đây lại là cú “đánh bùn sang ao”! Vốn của ba anh - Nga, Ấn, Việt vẫn còn đó và quan trọng hơn là cái liên doanh vẫn ngang nhiên hoạt động trên biển Đông thuộc lãnh hải của Việt Nam. Thế mới chết chứ.

Trung quốc chẳng từ bỏ mưu đồ độc chiếm biển Đông, vì ở đó có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cũng như chưa từ bỏ những hành động gây khó cho Việt Nam. Song, lại chính những hành động ấy của Trung quốc đã đẩy Việt Nam sang phía cùng hợp tác với các công ty của Mỹ trong lãnh vực dầu khí. Việc hợp tác với các công ty Mỹ về dầu khí xin để trong một bài khác.

Người Việt chúng ta nói cho thiên hạ biết, chính Trung quốc đẩy chúng tôi đi tới chỗ hợp tác làm ăn với Mỹ chứ không phải chúng tôi muốn thế đâu nhé!./.

Hình trong bài: Dàn khoan dầu Sao Vàng Đại nguyệt.


Môi Trường ST.

AI ĐÃ CHỦ TRƯƠNG ĐẶT TÊN ĐƯỜNG CHO TRƯƠNG VĨNH KÝ???

Kể từ khi nổ súng tấn công Đà Nẵng vào năm 1858 đến năm 1954 thua trận tại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã thực hiện biết bao chính sách đàn áp cai trị đất nước ta, kể cả gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc đối với dân tộc ta. Trong quá trình xâm lược đó Pháp đã sử dụng một đám tay sai người Việt để cai trị đất nước ta, trong đó Trương Vĩnh Ký là người có học nhưng đã được Pháp tặng nhiều huân chương do trung thành với mưu đồ xâm lược của "mẫu quốc" Pháp. Cũng trong thời gian đó biết bao cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống Pháp của các văn thân, chí sĩ, những nhà khoa bảng của dân tộc Việt chúng ta như: Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực... họ đã nổi dậy kháng Pháp như theo như lời thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu đã từng kêu gọi người Việt đứng lên kháng chiến. Tiếp đến các phong trào Duy tân của các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp rồi phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, tiếp theo nữa là phong trào đấu tranh giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo và công cuộc kháng chiến 9 năm làm nên chiến thắng Điện biên Phủ đuổi Pháp ra khỏi đất nước Việt bằng Hiệp định Giơ ne vơ. Lớp lớp xương máu của người Việt đã đổ xuống gần 100 năm để chống lại ách xâm lược của thực dân Pháp.


Trương Vĩnh Ký lại có công với Pháp mà bằng chứng là bao năm theo Pháp, được Pháp ghi công bằng những tấm huân chương rành rành ra đó. Bây giờ, ai đã chủ trương đặt tên đường cho nhân vật này, ai dám đảo lộn hiện tượng lịch sử như thế, xương máu của các thế hệ người Việt đã đổ ra trong gần 100 năm đó là vì cái gì, Đảng và nhà nước có biết chuyện này không, tại sao để họ ngang nhiên đến vậy???

Môi Trường ST.

ĐÃ ĐẾN LÚC ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CẦN PHẢI LÊN TIẾNG!

Đây không chỉ là những hiện tượng đơn lẻ xuất hiện ở một hai tỉnh thành mà đây đã rõ ràng là một sự sắp đặt lớp lang, bài bản mang quy mô lớn có tính phổ cập. Bắt đầu từ những kẻ đã xét lại lịch sử mang danh khoa học lịch sử theo quan điểm "đổi mới cách nhìn về lịch sử", tiếp theo là những kẻ đã đầu độc nền giáo dục cách mạng XHCN mang danh "cải cách giáo dục" và những kẻ tiếp tay cho lũ phản bội. Nguy cơ bất ổn, lật đổ nền tảng tư tưởng không còn chỉ là tiềm ẩn mà giờ đây nó đã hiện hữu trên đất nước ta. 

Nhớ lại những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước ở Liên Xô. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi mà hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp thì Đảng CS Liên Xô cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Đến nay ở đất nước ta, tuy chưa xảy ra sự lật đổ chế độ nhưng mầm mống của nó cũng đã hiện hữu từ nhiều năm qua, thể hiện ở sự tự diễn biến tự chuyển hóa, suy thoái, biến chất đạo đức tư tưởng chính trị của một phận cán bộ Đảng viên, công chức nhà nước. 

Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.

GS.TS Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam". Bài viết đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của giới nghiên cứu, độc giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị cũng đăng tải không ít những thông tin, xuyên tạc giá trị lý luận và thực tiễn của bài viết, phủ nhận thành quả của sự nghiệp đổi mới, đi lên CNXH của Việt Nam.

Trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: "Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường XHCN. Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước TBCN già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?".

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh: "Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn".

Sinh thời V.I.Lênin đã từng nhận định: Chủ nghĩa cộng sản không bao giờ có thể bị sụp đổ bởi kẻ thù mà nó chỉ có thể bị sụp đổ bởi chính những người cộng sản. 

Đây chính là lời cảnh báo luôn luôn nóng hổi và không bao giờ lỗi thời. 

Đến đây thì tôi lại nhớ tới những vần thơ của Tố Hữu vẫn vang lên như mới hôm qua:

"... Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử

Cào chiến công, xé cả xác anh hùng

Ôi! nỗi đau này là nỗi đau chung

Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát?

Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát

Và cả bay quân cướp nước, giết người

Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi."


Yêu nước ST.


Phê phán, bác bỏ luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 

Công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn.

Giữa lúc căng thẳng gia tăng, chiến hạm Mỹ và Canada đi qua Eo biển Đài Loan

 Thông báo nêu rõ: 'Tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke, USS Dewey (DDG 105), đã đi qua Eo biển Đài Loan trong sự hợp tác với khinh hạm lớp Halifax của Hải quân Hoàng gia Canada (RCN), HMCS Winnipeg, vào ngày 14-15/10/2021.

Việc di chuyển của Dewey và Winnipeg qua Eo biển Đài Loan chứng minh cam kết của Mỹ và các đồng minh và đối tác của chúng tôi với một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở'.

Thời gian qua Trung Quốc và Mỹ đều gia tăng hoạt động quân sự tại khu vực, ở cả vùng biển gần vùng lãnh thổ Đài Loan và Biển Đông.

Động thái mới nhất này của Mỹ được cho sẽ làm gia tăng căng thẳng với Trung Quốc.

Nguyễn Hải PB

Cán bộ chủ trì, người đứng đầu phải vì quyền lợi người dân và đất nước, chứ đừng chỉ vì an toàn cho "cái ghế"…

 

Cán bộ chủ trì, người đứng đầu phải vì quyền lợi người dân và đất nước, chứ đừng chỉ vì an toàn cho "cái ghế"…

Người dân cần ở họ là những "chiến tướng" có tầm nhìn, có sách lược, có trách nhiệm với lợi ích chung, vì quyền lợi của người dân và của đất nước chứ đừng chỉ vì sự an toàn cho " cái ghế"…

 "Những ngày qua, tôi nhận tin nhắn ta thán của nhiều doanh nghiệp là Thủ tướng đã nêu tinh thần chỉ đạo "không ngăn sông cấm chợ" nhưng một số địa phương vẫn chưa tạo điều kiện cho người lao động đi làm trở lại, thậm chí khi công nhân đã có đủ thẻ xanh Covid, tiêm vaccine, rồi vẫn bắt buộc phải 3 tại chỗ. Địa phương khó khăn như vậy, doanh nghiệp biết phải thực hiện làm sao?".

Thực trạng này được chính Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nêu ra tại hội nghị trực tuyến chiều ngày 15/10 với các địa phương trong cả nước.

Đến cuộc họp sáng ngày 17/10, trên tư cách Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa chỉ ra: Vẫn còn một số nơi chưa làm theo đúng quy định chung, thực hiện khác nhau, tạo ách tắc, vướng mắc không cần thiết, gây phiền hà cho nhân dân.

Có thể thấy, đang có tình trạng "lệch pha" nhất định giữa thực hiện ở địa phương với chủ trương, chính sách ở Trung ương, kiểu "chỉ đạo một đường, làm một nẻo". Và rõ ràng là trước tình trạng đó, từ lãnh đạo Chính phủ và lãnh đạo các bộ ngành đều đang tỏ ra rất sốt ruột.

Thủ tướng quán triệt: Tinh thần chung là lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phòng chống dịch thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương. Các địa phương áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhưng không được quy định trái với quy định của Trung ương; nếu thực hiện các biện pháp cao hơn, sớm hơn quy định chung thì phải báo cáo cấp trên.

Trải qua 4 đợt bùng dịch, đặc biệt là đợt bùng dịch lần thứ 4 vẫn đang dai dẳng, chưa chấm dứt hoàn toàn, bản thân người viết hiểu áp lực với lãnh đạo địa phương là rất lớn. Chỉ cần một sự sao nhãng, chểnh mảng trong khâu nào đó có thể sẽ khiến thành quả của một quá trình chống dịch đổ sông, đổ bể.

Tuy nhiên, sự thận trọng này hoàn toàn khác với việc cố tình tạo ra những thủ tục, rào cản không cần thiết, làm khó doanh nghiệp và người dân. Chẳng hạn như thực trạng mà Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đã nêu ở trên (công nhân đã có đủ thẻ xanh Covid, tiêm vaccine, rồi vẫn bắt buộc phải 3 tại chỗ), vậy thì sự hợp tình ở đâu, hợp lý ở đâu? Xét về mọi khía cạnh đều không thấy được!

Sau những đợt giãn cách quy mô lớn, doanh nghiệp gắng gượng trở lại với hoạt động sản xuất kinh doanh. Họ đã bị tổn thương nặng nề vì dịch bệnh, chủ doanh nghiệp mệt mỏi với đủ thứ chi phí phải gánh gồng cùng nhiều nỗi lo toan.

Bản thân người lao động cũng vậy, sức chịu đựng của họ bị bào mòn qua từng ngày, từng tuần… Rất nhiều người không thể trụ vững đã phải bỏ cuộc và đưa gia đình về quê. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, chỉ tính từ tháng 7 đến 15/9 đã có khoảng 1,3 triệu lao động về quê tránh dịch. Hầu hết những lao động ấy đã bị cạn kiệt về tài chính, không đủ khả năng chi trả tiền nhà trọ, sinh hoạt phí và không kham nổi chi phí xét nghiệm.

Tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, các địa phương đều hiểu rằng, ở vào thời điểm này, những thủ tục, rào cản giấy tờ phát sinh mới có thể sẽ là những giọt nước tràn ly khiến làn sóng rời bỏ thành thị để trở về nông thôn mạnh mẽ hơn. Không thận trọng, sẽ khiến gãy chuỗi cung ứng lao động và doanh nghiệp khó mà hồi phục lại công suất sản xuất ngay sau khi dịch đã được kiểm soát.

Khi đó, ai mới là bên thiệt hại lớn nhất? Người dân, doanh nghiệp bị tổn thương đã đành, địa phương sẽ tụt lại phía sau, những kế hoạch phát triển kinh tế sẽ khó thực hiện được!

Nhiệm vụ chống dịch rất quan trọng, nhưng nhiệm vụ của lãnh đạo địa phương là vô cùng quan trọng. Người dân cần ở họ là những "chiến tướng" có tầm nhìn, có sách lược, có trách nhiệm với lợi ích chung, vì quyền lợi của người dân và của đất nước chứ đừng chỉ vì sự an toàn cho " cái ghế"…

 

“Đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phải tranh đấu đến cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc”

 

    Đây là lời của Hồ Chí Minh trong “Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai”, ngày 18 tháng 10 năm 1945, báo Cứu quốc, đăng số 71, ngày 19 tháng 10 năm 1945.

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Trước vận mệnh của chính quyền cách mạng được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”; trên cương vị Chủ tịch nước, với bộn bề lo lắng, nhưng Bác vẫn dành sự quan tâm ân cần, sâu sắc đến đồng bào các dân tộc miền núi và chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc, làm tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam.

    Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng to lớn, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn nhằm chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, chính đáng nhưng mang tính tự phát của quần chúng thành sự tự giác, có tổ chức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Chính sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Đoàn kết và xây dựng tinh thần đoàn kết đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ xây dựng tốt tinh thần đoàn kết gắn bó đồng chí, đồng đội, cấp trên với cấp dưới như ruột thịt, lúc thường cũng như lúc ra trận; đoàn kết quân với dân như cá với nước và đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung… đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, khi nào mà cấp uỷ, chỉ huy các cấp quan tâm chăm lo lãnh đạo xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, thì cơ quan, đơn vị đó luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và ngược lại. Do vậy, đặt ra yêu cầu với cấp uỷ, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

          Để đẩy mạnh phát triển bền vững toàn diện vùng DT&MN cùng với sự nghiệp phát triển chung của đất nước, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nêu rõ: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

          Bên cạnh đó, văn kiện cũng chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Triển khai các chương trình dự án phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn”.

          Trong xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy mạnh phát triển các vùng, văn kiện đã nêu ra những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, như: Với vùng trung du và miền núi phía Bắc cần “Phát huy các lợi thế về tài nguyên rừng, khoáng sản, các cửa khẩu, văn hóa dân tộc đặc sắc, đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ…”.           Đối với vùng Tây Nguyên, bên cạnh phát triển các thế mạnh của vùng cần đẩy mạnh “Phát triển nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên”.

          Đối với các vùng khác như: Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung hay vùng đồng bằng sông Cửu Long, dù văn kiện không nêu lên những vấn đề có liên quan cụ thể đến đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng cần đẩy mạnh hơn nữa phát huy các ưu thế của vùng để phát triển kinh tế - xã hội góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng nói chung, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, bởi đây là những vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống,

          So với các kỳ đại hội trước đây, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc được đề ra chỉ mang tính khát quát chung toàn bộ về vùng dân tộc và miền núi thì trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII, Đảng đã chủ trương chú trọng đến tính đặc thù của từng vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Đây được xem là điểm mới có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng nhằm đảm bảo phù hợp với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng cũng như từng dân tộc. Vấn đề này không chỉ giúp cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà còn khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thời gian qua, bởi từng vùng hay mỗi dân tộc đều có những đặc điểm khác nhau, nhất là các đặc điểm về bản sắc văn hóa truyền thống. Đồng thời, còn “Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung”.

 

Thành quả trong cuộc chiến chống dịch một lần nữa cho thấy sự ưu việt của chế độ

 

   Chúng ta đang sống những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời mình, khi phải đương đầu với một thử thách cam go của lịch sử, chiến đấu với một kẻ thù hiểm ác mà vô hình có mặt khắp nơi, đang từng giờ, từng phút cướp đi những người thân yêu nhất; cướp đi cuộc sống bình thường nhất của chúng ta!

   Chúng ta từng nghe nói đến đại hồng thủy thời tiền sử; đến trận dịch hạch nửa đầu thế kỷ XIV do vi khuẩn yerinia pestis gây ra ở cả châu Âu và châu Á làm cho dân số thế giới giảm tới gần 100 triệu người. Bệnh đậu mùa do virus variola vào năm 1520 đã gần như quét sạch châu Mỹ: từ 100 triệu chỉ sống sót chưa đầy 10 triệu người!

   Ở Việt Nam, Đại Nam thực lục chép: Năm 1820 (Minh Mệnh năm thứ nhất), dịch bệnh bùng phát tại các tỉnh Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường; sau đó lan dần ra phía bắc đến Bắc Thành. Theo báo cáo của Bộ Hộ, bệnh dịch phát ra từ mùa thu sang mùa đông, tổng cộng 206.835 người chết.

   Và bây giờ là lúc hồng thủy. Chưa từng có bệnh dịch nào rộng khắp, và hiểm nguy như Covid-19.

   Nhưng cũng chưa bao giờ, cả nước, cả thế giới chủ động, đoàn kết đứng lên chống dịch, ngăn chặn sự hoành hành của nó như bây giờ.

   Các chính phủ đã nhận ra một điều: các quốc gia ngày nay không thể đứng riêng rẽ. Lợi ích một dân tộc chỉ được bảo đảm khi đặt trong quan hệ lợi ích của một cộng đồng lớn hơn và của toàn nhân loại. Sự thắt chặt hợp tác giữa các quốc gia ngày nay, từ chia sẻ thông tin, công nghệ; từ tinh thần đến vật chất đã dệt nên tấm chăn ấm áp của tình nhân ái; dệt nên tấm lưới chắc bền đẩy lùi sự xâm nhập của đại dịch. Sự hợp tác quốc tế ấy, Việt Nam có những đóng góp tích cực. Và một lần nữa, như các cuộc kháng chiến trước đây, Việt Nam nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân thế giới.

   Có thể nói, kể từ đầu năm 2020, dân tộc ta lại bước vào một cuộc chiến mới.

   Dân ca Nghệ Tĩnh có câu: “Rằng qua cơn hoạn nạn mới hiểu tận lòng nhau”. Khi Tổ quốc lâm nguy, ta mới hiểu hơn chính mình, mới thấy Việt Nam là một kỳ diệu vô cùng; khiến ta ngỡ ngàng vì chính mình, khiến ta là ta mà mãi cứ yêu ta!

   Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX là lịch sử đấu tranh giành độc lập, lịch sử của những cuộc chiến tranh không chỉ giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm mà còn góp phần giải phóng nhân loại khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân, lịch sử chiến thắng của phẩm giá con người.

   Đó cũng là thời kỳ mà lịch sử dân tộc gắn với lịch sử Đảng quang vinh.

   Dưới sự lãnh đạo của Đảng mác-xít mang tư tưởng tiên tiến của thời đại, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mang nặng lòng yêu nước, thương dân, người kết tinh những giá trị văn hóa Việt Nam và thời đại, nhân dân ta đã làm nên một cuộc Cách mạng Tháng Tám thần kỳ, vừa đánh đuổi quân xâm lược; lật đổ chế độ phong kiến; đưa nước ta từ một nước nô lệ, dân nô lệ, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu; bước thẳng vào thế giới hiện đại bằng nền dân chủ nhân dân mà các nước khác phải trải qua hàng trăm năm.

   Cách mạng Tháng Tám không có nhiều sự đổ máu, vì ta biết chớp lấy thời cơ; vì tinh thần hòa hợp và nhân nghĩa; vì chung khát vọng; không phải chỉ là cuộc cách mạng của công nông mà là cuộc cách mạng của toàn dân tộc, trong đó có cả vua quan chế độ cũ. Câu nói của Bảo Đại “làm dân một nước độc lập, hơn làm vua một nước nô lệ”; Thượng thư Bùi Bằng Đoàn hồ hởi với cách mạng mùa thu Thính vũ thanh cảm ứng nghênh thu; nhiều tri huyện, tuần phủ, tổng đốc tình nguyện giao lại chính quyền cho nhân dân đã nói lên điều đó.

   Lòng yêu nước, vì nước, tinh thần đại nghĩa là một truyền thống của dân tộc, một bản chất của con người Việt Nam, trừ bọn việt gian bán nước. Yêu nước, thương người, chuộng nghĩa khí, kết đoàn là những điều được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và chính nó làm cho đất nước trường tồn, dân tộc luôn chiến thắng trong mọi cuộc chiến tranh, mọi thử thách lịch sử.

   Sức mạnh ấy của dân tộc càng tăng lên từ khi có Đảng, mà chúng ta thường gọi một cách kính ngưỡng, thân yêu là Đảng của Bác Hồ. Đảng ấy chỉ phấn đấu hy sinh vì lợi ích của dân, của nước, nguyện làm người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng đã tập hợp trong mình những người con ưu tú của dân tộc, tập hợp được những hiền tài để vạch đường đi cho dân tộc.

   Đảng đã đề ra đường lối cách mạng trong cương lĩnh và có những quyết sách sáng suốt cho từng thời kỳ. Nghị quyết T.Ư 8 năm 1941 là một sự chuyển hướng, một quyết sách đem lại thành công cho Cách mạng Tháng Tám. Nghị quyết T.Ư 15 năm 1959 đã soi sáng công cuộc giải phóng miền nam.

   Ở một phạm vi nhỏ hơn, như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (13/1/1981) không chỉ tạo ra một chuyển biến tích cực trong nông nghiệp, gắn tư liệu sản xuất với người lao động; mà còn mở đầu cho cuộc cách mạng quản lý...

   Cuối năm 2019, khi virus SARS-CoV-2 xuất hiện ở Vũ Hán (Trung Quốc), Việt Nam đã có những chuẩn bị chủ động phòng dịch. Và ngay khi dịch mới lây lan sang nước ta, ngày 29/1/2020, Ban Bí thư đã có Công văn chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của cả nước; người đứng đầu cấp ủy trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống dịch.

   Chính phủ, Quốc hội, toàn bộ hệ thống chính trị đã có những chủ trương, chính sách kiên quyết, sáng tạo, triển khai thực hiện hiệu quả. Với tinh thần cả nước chống dịch như chống giặc, mỗi người dân là một “chiến sĩ”; mỗi phường, xã, thôn, bản, tổ dân phố, mỗi gia đình là một “pháo đài” đã hình thành thế trận vững chắc từ trên xuống dưới, khóa chặt từng ổ dịch, bảo đảm đời sống nhân dân.

   Với tấm lòng luôn đau đáu vì dân, vì nước, đặt mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân là trên hết và trước hết, lãnh đạo Đảng, Nhà nước không chỉ thường xuyên chủ trì các cuộc họp mà còn lăn xả thị sát tại tâm dịch chỉ đạo sát sao, động viên, khích lệ lực lượng tuyến đầu chống dịch, kêu gọi người dân chung sức đồng lòng và chấn chỉnh kịp thời hạn chế, thiếu sót, để đất nước sớm trở về trạng thái bình thường mới.

   Trong bối cảnh đại dịch vẫn còn diễn biến rất phức tạp, tốc độ lây lan rất nhanh, gây tổn hại lớn về sức khỏe và tính mạng của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội và mọi mặt của đời sống, ngày 29/7/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài: Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng.

   Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý đông đảo cùng lực lượng vũ trang, dân phòng, tình nguyện viên... với tinh thần vì nhân dân quên mình, không quản ngại hy sinh, trở thành lũy thép ngăn chặn đại dịch, bảo vệ cuộc sống nhân dân. Hàng nghìn, hàng triệu gương sáng như “Bác sĩ 91” Trần Thanh Linh, Phó khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy, kiêm Phó Giám đốc Bệnh viện Hồi sức Covid-19 từng cứu sống bệnh nhân phi công người Anh (BN91), từng có mặt tại nhiều điểm nóng chống dịch của cả nước rồi TP Hồ Chí Minh trong những ngày “nước sôi lửa bỏng”, nhưng bầu nhiệt huyết vẫn sục sôi. Bác sĩ Vũ Thị Thanh Phương, Bệnh viện Tâm thần Hà Nội đã tiên phong nhận nhiệm vụ điều trị trong khu cách ly tại bệnh viện.

   Câu nói “Chúng ta khoác trên mình chiếc áo blouse trắng, trên ngực trái là biểu tượng của bông hoa hướng dương, là biết bao tâm huyết, kỳ vọng của các thế hệ đi trước đã gửi gắm lại. Vậy thì, đây chính là lúc để chúng ta hãy sống và làm việc như những đóa hoa luôn hướng về ánh nắng mặt trời, hướng về những điều tốt đẹp đang chờ ta phía trước” đã truyền cảm hứng và lan tỏa sức mạnh tinh thần cho đồng nghiệp, mọi người. Những bông hoa như vậy đang nở rộ khắp mọi miền, trên tất cả các mặt trận.

   Chính sách ngoại giao vaccine được thực hiện quyết liệt, bài bản, hiệu quả, tranh thủ các mối quan hệ song phương, đa phương, thông qua các tổ chức quốc tế để tăng cường tiếp cận vaccine cho người dân, với hàng chục triệu liều vaccine Covid-19 đã được tiếp nhận và số lượng lớn vaccine các nước cam kết viện trợ, chia sẻ. Và không chỉ dừng ở tiếp cận, nhập khẩu vaccine, Việt Nam đang thúc đẩy sâu hơn nữa, tích cực hơn nữa việc hợp tác chuyển giao công nghệ và sản xuất vaccine để phục vụ sản xuất lâu dài.

   Thành quả trong cuộc chiến chống dịch một lần nữa cho thấy sự ưu việt của chế độ, cho thấy sức mạnh vô địch của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.



   Trời thu nước Việt vẫn trong xanh như thuở khai sinh. Mây của ta, trời thắm của ta. Lúc này ta lại nghe vang lời Bác, trên dưới đồng lòng, kết thành một ngọn triều lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nhấn chìm tất cả mọi kẻ thù, dù thiên tai hay địch họa.../.

Phê phán, bác bỏ luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 

Công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn.

          Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. 

          Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội.

          Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái chúng ta đi theo con đường khác. Những luận điệu đen tối đó cho rằng đổi mới như vậy coi như đã xong, nay cần xem xét lại vì đã không còn động lực. Ý kiến khác đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi.

          Những luận điệu xuyên tạc, đơm đặt như vậy đã bị phủ định hoàn toàn bởi những lý do then chốt sau đây:

          Kiên định đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa

          Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

          Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

          Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

            Thành tựu đổi mới là bằng chứng thực tiễn sinh động nhất

          Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

          Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

          Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

          Tiếp tục phát huy mạnh mẽ động lực, nguồn lực của đổi mới

          Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

          Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

          Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

          Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

          Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

          Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

          Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.