Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

Xét xử blogger chống phá Nhà nước Việt Nam

 Ngày 4-11, sẽ xét xử Bloger Phạm Thị Đoan Trang tội tuyên truyền chống Nhà nước

Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại Cầu Giấy, Hà Nội) sẽ bị xét xử phiên sơ thẩm về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo quyết định của TAND TP Hà Nội.

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là bà Chử Phương Ngọc, các Hội thẩm nhân dân là ông Trương Việt Toàn và bà Nguyễn Thị Thúy.


Trước đó, Phạm Thị Đoan Trang bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 7-10-2020. Thời điểm đó, bị cáo Trang đang ở tại địa chỉ phòng 6, số 372/36 đường Cách Mạng Tháng Tám, Quận 3, TP Hồ Chí Minh.


Phạm Thị Đoan Trang được biết đến là một Blogger và sở hữu trang Facebook có gần 70.000 lượt theo dõi.


Theo cáo trạng của VKSND TP Hà Nội, từ ngày 16-11-2017 đến 5-12-2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Phạm Thị Đoan Trang đã trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của nhà nước cũng như “phỉ báng chính quyền nhân dân”.


Theo cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền với luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền, thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Quá trình làm việc với cơ quan Công an, Phạm Thị Đoan Trang xác nhận, mình là tác giả của báo cáo nghiên cứu về luật tín ngưỡng, tôn giáo. Bị can Trang cùng nhóm tác giả viết báo cáo này bằng Tiếng Anh, sau đó dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang điện tử do mình lập ra.

                                           XT st

Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển

 60 năm về trước, chiếc tàu gỗ mật hiệu “Phương Đông 1” do thuyền trưởng Lê Văn Một, cùng chỉ huy là đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên và 11 chiến sĩ đã rời bến Ðồ Sơn (Hải Phòng), chở theo hơn 30 tấn vũ khí đã cập bến Vàm Lũng an toàn sau 5 ngày đêm vượt biển, mở ra con đường huyền thoại trên Biển Đông gắn với đoàn tàu không số.

THAM NHŨNG TIẾP TỤC ĐƯỢC KIỀM CHẾ, NGĂN CHẶN

 Chiều 23/10, báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 của Chính phủ, Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long cho biết, năm 2021, sự phối hợp đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, “không ngừng”, “không nghỉ”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tri ân những người con ưu tú của Tổ quốc

 Thanh niên xung phong là lực lượng do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo thành lập, đã nhiều lần góp công lớn trong các thời kỳ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc. Năm tháng trôi qua, những cựu thanh niên xung phong cuối cùng lần lượt ra đi, trong lòng mang nặng ước nguyện về một sự ghi nhận, tri ân tuổi xuân đã tận hiến cho dân tộc.

Những thách thức, nguy cơ

 

Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thách thức đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra ở trên, đến nay vẫn còn tồn tại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, có mặt còn gay gắt hơn, đang đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và hiển nhiên đây cũng là những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên.

Một là, nguy cơ phai nhạt lý tưởng, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc

Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn trong cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Vấn đề này có một số biểu hiện như: sự giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng của tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể; gia tăng sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, sự băng hoại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc...

Xuất hiện tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị". Một bộ phận cán bộ, đảng viên, phần lớn còn trẻ tuổi, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thậm chí, một số ít thanh niên bị lôi kéo, có những việc làm đi ngược lại truyền thống của Đoàn, trái với mục tiêu của Đảng, của dân tộc. Có những cán bộ, đảng viên không giữ vững bản lĩnh cách mạng, ý thức nhạy bén chính trị kém, bị tác động bởi luận điệu, thông tin sai trái, có những biểu hiện tiêu cực, tạo ra mặt trái của xã hội và tiếp tay cho sự chống phá xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.

Hai là, nguy cơ suy thoái về đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ từ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay trong cán bộ, đảng viên, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ… Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, gây phương hại to lớn tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ba là, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm vào cán bộ, đảng viên

Các thế lực thù địch thường tranh thủ, len lỏi vào cán bộ, đảng viên để thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước. Bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ[5]. Hiện nay, “diễn biến hòa bình” đã có những biểu hiện mới cả về chủ thể tiến hành, phương thức, nội dung, mục tiêu… đã phát triển đến đỉnh cao, với rất nhiều kịch bản khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.

Bốn là, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là nguy cơ thường trực và khó khắc phục

Toàn cầu hóa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với cán bộ, đảng viên trong công cuộc đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó thì hiện nay chúng ta đang thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.

Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6%/năm, (năm 2020, do ảnh hưởng dịch Covid-19, nhiều nước “tăng trưởng âm”, nhưng Việt Nam vẫn đạt GDP 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD)[6].

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế vẫn thấy: khoảng cách GDP của thế giới và của Việt Nam vẫn đang ngày càng doãng ra với tốc độ rất nhanh. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Và như vậy là cho dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt hậu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục. Điều này cũng chính là những thách thức, trở ngại và trách nhiệm lớn đặt lên vai cán bộ, đảng viên – là lực lượng làm việc chính, là chủ, là người đứng đầu các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp… làm nhiệm vụ chèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam ra biển lớn trên con đường hội nhập quốc tế.

Vượt qua những nguy cơ trên để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới có được, vẫn đang và sẽ là những thách thức thực sự, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết cao độ, cùng chung sức, đồng lòng với cả dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”

 

Công tác cán bộ luôn là vấn đề hệ trọng, quyết định, thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân. Điều này không có gì phải bàn cãi, nhưng thực tế không phải khi nào, ở đâu vấn đề nhân sự cũng “thấu tình, đạt lý”. Ngăn chặn những hạn chế, ngày càng làm tốt công tác cán bộ được xem như việc “đánh chìa khóa” để mở ra nhiều “cánh cửa” đầy hy vọng...

Trong so sánh ấy, mọi người đều có thể hiểu, nhìn nhận và đánh giá được vai trò của từng khâu, từng mắt xích trong dây chuyền của bộ máy. Và mỗi người đều có thể dễ mường tượng, hình dung ra việc khi mà dây chuyền bị trục trặc ở mắt xích, công đoạn nào đó thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của dây chuyền cụ thể nói riêng, đến cả bộ máy nói chung. Và từ đó, có thể suy ra rằng, khi cán bộ có vấn đề về năng lực, trình độ, tư cách, phẩm chất đạo đức... thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cả một tập thể, khiến tập thể đó không thể hoạt động bình thường, mà sẽ vấp phải những trục trặc, khó khăn về nhiều mặt khác nhau...Sự so sánh giản dị, dễ hiểu...“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được (1). Không chỉ so sánh hết sức giản dị, dễ hình dung nhưng khúc chiết, chuẩn mực, bao quát như vậy, tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ luôn khẳng định rõ rằng, cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề, mọi công việc thành hay bại đều do cán bộ.

Không chỉ so sánh giàu hình ảnh về vị trí, vai trò của cán bộ, cũng như công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến tầm quan trọng của việc đào tạo đội ngũ cán bộ, để dây chuyền, cũng như bộ máy có thể vận hành trơn tru, hiệu quả. Người đúc kết từ thực tiễn trở thành lý luận rằng: “Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc rất phát triển. Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm... Nơi nào có cán bộ tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy. Và cả vùng đó tỏa ra một bầu không khí hăng hái, vui vẻ” (2).

Rõ ràng, khi mà không đặt cái chung, vì tập thể lên trên hết với tinh thần khách quan, công tâm thì thật khó mà có đủ tâm, tầm, tài, trí để chọn lựa, bồi dưỡng, dìu dắt đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ kế cận “vừa hồng vừa chuyên”. Và ngược lại, nếu cán bộ tài đức, vì cái chung, vì sự phát triển của tập thể thì chắc chắn sẽ tạo ra được môi trường làm việc tốt, kích thích, phát huy tài năng, công sức, nâng cao hiệu quả làm việc của từng thành viên, nhờ đó mà tập thể có thể hoạt động tốt, tạo đà cho việc đạt được những thành tích quan trọng, đóng góp cụ thể vào sự phát triển chung.

Với việc lựa chọn, dìu dắt cán bộ kế cận, nói như Người rất dễ hiểu, nhưng trong thực tế việc thực hiện lại không hẳn đã dễ dàng. Mỗi thời kỳ, ở chỗ này, chỗ khác vẫn tồn tại hiện tượng khá phổ biến là việc chăm chút đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận không thật sự được quan tâm, thậm chí còn bị lơ là, xem nhẹ, thậm chí buông lỏng nên dẫn đến tình trạng nhiều nơi còn để xảy ra tình trạng “đứt gãy”, khủng hoảng đội ngũ cán bộ, dẫu cho khoảng trống ấy các thành viên trong tập thể đều dễ dàng nhìn ra. Bên cạnh đó, việc lựa chọn, đề bạt cán bộ cũng không hẳn dựa trên những tiêu chí khách quan, những tiêu chuẩn cứng, không dựa trên năng lực thực sự, nên vẫn xảy ra tình trạng ưu ái cất nhắc, đề bạt “con ông, cháu cha”, vẫn diễn ra tình trạng chạy chức, chạy quyền ngày càng ngang nhiên, tinh vi. Điều ấy dẫn đến sự tha hóa cán bộ, tình trạng tiêu cực, tham nhũng tràn lan, ảnh hưởng xấu đến cả dây chuyền và bộ máy, tới sự phát triển chung...

 

Nhận diện 5 “nạn đạo”

 

Cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay đang thu hút sự quan tâm của công luận. Chống tham nhũng chính là trận tuyến để qua đó vừa thanh lọc đội ngũ vừa thẩm xét, lựa chọn và cắt đặt nhân tài. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu loạt bài “Chống tham nhũng và chọn nhân tài”

Ngày 26.1.1946, trong tờ Quốc lệnh, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành, Người ghi rõ, tại Điều 8 của phần Phạt: “Ăn cắp của công sẽ bị xử tử”. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khóa VII (tháng 1.1994), Đảng ta cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ thứ ba: Tham nhũng và tệ quan liêu ở tầm mức quốc nạn. Ăn cắp của công, ăn trộm chức vụ, tham nhũng quyền lực đẻ ra vô vàn những cơn bệnh khác, không chỉ làm băng hoại cá nhân mà còn có nguy cơ làm tan tành thể chế.

Theo thiển ý người viết, tham nhũng (thực chất là ăn cắp, hay nói gọn là nạn đạo) có 5 loại:

Một là đạo chích: Đó là thói ăn cắp vặt, kẻ trộm trong làng xã, cơ quan, cộng đồng. Hở ra là trộm, từ chổi cùn cho tới rế rách, “thó” bất kể con cá lá rau, ở nơi thôn dã, phố phường hay vật dụng, tiền bạc, thậm chí cả thời gian ở chốn công đường... Nó làm cho cộng đồng bất an, cơ quan nặng nề vì bực mình, rồi nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau…

Hai là đạo vật: Chính là tệ trộm cắp, tham nhũng vật chất, tiền bạc... Nó đục khoét của công, biển thủ quốc khố, bòn rút mồ hôi, xương máu Nhân dân để bỏ túi cá nhân, vinh thân phì gia, bành trướng dòng họ, khiến muôn dân bị xâm hại, quốc gia khánh kiệt, quốc thể chênh vênh, xã hội rối ren. Cách nay 250 năm, Lê Quý Đôn từng răn rằng, trong năm nguy cơ làm mất nước, thì nguy cơ “tham nhũng tràn lan” kia, không thể không đứng hàng thứ tư đó sao! Quan lại càng giàu nhanh một cách khuất tất, trăm họ càng mau lầm than, rên xiết, đất nước càng chóng suy mạt, bại vong.

Ba là đạo danh: Đó là nạn biển thủ tên tuổi, công trình của người khác làm của mình: đạo văn, đạo nhạc... Rồi tệ mua bán bằng cấp, học vị, học hàm... Rộng ra là ăn cắp tri thức, danh tiếng, công trình khoa học... để chui sâu vào bộ máy, leo cao những phẩm trật quan trường. Lúc sự dối trá, giả hiệu lộng hành thì là khắc sự trung thực, ngay ngắn bị tiêu diệt! Nó làm cho thật giả hỗn mang, trắng đen lẫn lộn, nhân phẩm suy đồi, lòng tin bại hoại. Nhớ lại tháng 6.1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”. “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lao. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các loại cán bộ “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên”, “cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư...” đều là BẤT LIÊM “mà đi đến tội ác trộm cắp”. Tới mức nào đó, tệ ăn cắp đó khiến cho những bậc hiền nhân, thức giả khó còn chỗ hành đạo, thậm chí không còn chỗ dung thân…

Bốn là đạo vị: Đây là sự trộm cắp chức vụ trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Nhân dân và chúng ta thì gọi là, tham nhũng quyền lực. Từ “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” tới các thủ đoạn tham nhũng tuổi tác, bằng cấp để “lẻn” vào chốn quan trường, rồi mua phiếu bán danh, trộm cắp chức vụ bằng mọi quỷ kế. Khi các “chính trị gia” bắt tay một cách tăm tối với các doanh nhân thì nền chính trị không hủ bại, chính trường không bị “dắt mũi” mới là chuyện lạ! Từ dùng tiền để “cuỗm” quyền lực chính trị, rồi dùng chính trị để “cướp” lấy quyền lực kinh tế, lại dùng kinh tế để chui sâu leo cao vào chính trường, rắp đoạt lấy quyền lực chính trị cao hơn. Thì không nghi ngờ gì nữa, nó tác họa muôn dân, băm nhỏ lợi ích quốc gia, trộm cắp từng mảnh chính trị, kinh tế đất nước và lũng đoạn thể chế quốc gia. Tha hóa, thoái hóa quyền lực rất dễ tới nạn trộm cắp, buôn bán quyền lực, thậm chí lạm quyền, lộng quyền và thoán đoạt quyền lực. Nói gọn lại là, từ sở hữu quyền lực tới trộm cắp chức vụ hay đạo vị, buôn bán quyền lực là một bước chuyển hóa rất ngắn, chỉ trong gang tấc và hiểm họa khôn lường. Từ trộm cắp chức vụ tới buôn quan, bán tước, thoán đoạt quyền lực chỉ là một vệt trượt ngắn, rất ngắn nhưng hiểm họa chết người! Cụ Hồ nói: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị”, tức ăn trộm chức vụ. “Dìm người tài đức để giữ địa vị và danh tiếng của mình, chính là tội trộm cắp”. Nó “nguy hiểm hơn cả Việt gian, mật thám”. Nó làm cho nhân quần ly tán, nền chính trị rối loạn, thể chế suy đồi, quốc gia hỗn mang, đất nước tan vỡ, thậm chí diệt vong hoặc làm nô lệ cho giặc ngoại bang. Mua quan bán tước, buôn bán quyền lực dẫn tới nạn hoặc nhỏ thì “anh hùng nhất khoảnh”, lớn thì “cát cứ sứ quân”, “dòng họ hoành hành”, thậm chí cả sự ô nhục bán nước cầu vinh chỉ là bước “tự chuyển hóa” rất ngắn, thậm chí trong gang tấc mà thôi! Lịch sử cho thấy không ít sự nhãn tiền sinh tử ấy.

Năm là đạo tâm: Đó chính là nạn ăn cắp lòng tin. Nói mà không làm, làm ngược lời nói. Trên diễn đàn thì, rao giảng đạo lý, dạy dỗ chính liêm, nơi chính sự thì ức vạn tối tăm, phè phỡn phù hoa, xa xỉ... Nó khiến muôn dân ai còn dám tin cậy được nữa! Nếu không nói nó khiến trăm họ oán thán, nổi giận! “Khẩu Phật tâm xà”, “Miệng rao đạo lý, tay thì đạo vị, tay lấp nhân tâm”, đạo đức giả lộng hành! Thử hỏi, lúc ấy, muôn dân còn dám hy vọng gì ở họ về liêm chính, về quốc sỉ hay quốc thể được nữa? Ông cha ta nói: Mất niềm tin là mất hết! Nếu lòng tin nơi đồng sự với nhau, nơi muôn dân với cán bộ, với thể chế bị đánh cắp, thật không còn gì nguy hiểm hơn!

Khi lòng tin của con người với nhau, với thể chế đã bị đánh cắp thì xã tắc không bị suy tàn, quốc gia không bị tan hoang mới là chuyện lạ!

BẮT ĐỐI TƯỢNG ĐĂNG TIN XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN

Chiều 21/10, Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã khởi tố, bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Thiên Nghĩa (50 tuổi, HKTT tại TP Hồ Chí Minh) về hành vi “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, viễn thông".

Nguyễn Thiên Nghĩa sử dụng mạng xã hội Facebook có tài khoản Nghia Nguyen Thien để liên tục viết, đăng trên mạng xã hội hàng chục bài viết có nội dung bịa đặt, sai sự thật, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch bệnh của Nhà nước ta. Những bài viết của đối tượng này đã nhận được chia sẻ, bình luận của một số đối tượng xấu, gây dư luận không tốt và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. 

Đáng chú ý, ngoài những thông tin không có thật do Nghĩa tự nghĩ ra để viết đăng về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại TP Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác, đối tượng này còn liên tục xuyên tạc những phát biểu chỉ đạo của cán bộ lãnh đạo Nhà nước, Bộ Y tế... với những lời lẽ thô tục, vô văn hóa, mang tư tưởng hận thù, kích động chống đối công tác phòng, chống dịch bệnh của Nhà nước và chính quyền các cấp. Thậm chí đối tượng này còn dùng nhiều từ ngữ phản cảm để xúc phạm, bôi nhọ nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước qua nhiều thời kỳ... gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.

Nguyễn Thiên Nghĩa còn xuyên tạc, đả kích nhiều thông tin chính thống của các cơ quan báo chí đưa tin về những hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động, kêu gọi giúp đỡ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh, thông tin về việc nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng chống COVID-19 của Việt Nam, hay các hoạt động chi viện y, bác sĩ vào TP Hồ Chí Minh chống dịch...!
------------------------
Phạm Vông (theo Báo CAND)


Những thách thức, nguy cơ với đảng viên trong bối cảnh hội nhập

 


Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thách thức đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra ở trên, đến nay vẫn còn tồn tại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, có mặt còn gay gắt hơn, đang đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và hiển nhiên đây cũng là những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên.

Một là, nguy cơ phai nhạt lý tưởng, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc

Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn trong cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Vấn đề này có một số biểu hiện như: sự giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng của tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể; gia tăng sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, sự băng hoại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc...

Xuất hiện tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị". Một bộ phận cán bộ, đảng viên, phần lớn còn trẻ tuổi, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thậm chí, một số ít thanh niên bị lôi kéo, có những việc làm đi ngược lại truyền thống của Đoàn, trái với mục tiêu của Đảng, của dân tộc. Có những cán bộ, đảng viên không giữ vững bản lĩnh cách mạng, ý thức nhạy bén chính trị kém, bị tác động bởi luận điệu, thông tin sai trái, có những biểu hiện tiêu cực, tạo ra mặt trái của xã hội và tiếp tay cho sự chống phá xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.

Hai là, nguy cơ suy thoái về đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ từ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay trong cán bộ, đảng viên, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ… Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, gây phương hại to lớn tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ba là, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm vào cán bộ, đảng viên

Các thế lực thù địch thường tranh thủ, len lỏi vào cán bộ, đảng viên để thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước. Bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ[5]. Hiện nay, “diễn biến hòa bình” đã có những biểu hiện mới cả về chủ thể tiến hành, phương thức, nội dung, mục tiêu… đã phát triển đến đỉnh cao, với rất nhiều kịch bản khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.

Bốn là, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là nguy cơ thường trực và khó khắc phục

Toàn cầu hóa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với cán bộ, đảng viên trong công cuộc đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó thì hiện nay chúng ta đang thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.

Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6%/năm, (năm 2020, do ảnh hưởng dịch Covid-19, nhiều nước “tăng trưởng âm”, nhưng Việt Nam vẫn đạt GDP 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD)[6].

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế vẫn thấy: khoảng cách GDP của thế giới và của Việt Nam vẫn đang ngày càng doãng ra với tốc độ rất nhanh. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Và như vậy là cho dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt hậu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục. Điều này cũng chính là những thách thức, trở ngại và trách nhiệm lớn đặt lên vai cán bộ, đảng viên – là lực lượng làm việc chính, là chủ, là người đứng đầu các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp… làm nhiệm vụ chèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam ra biển lớn trên con đường hội nhập quốc tế.

Vượt qua những nguy cơ trên để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới có được, vẫn đang và sẽ là những thách thức thực sự, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết cao độ, cùng chung sức, đồng lòng với cả dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Những thời cơ, vận hội với đảng viên

 

Thực tiễn vận động, phát triển của những xu thế lớn trên thế giới, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển, hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho cán bộ, đảng viên trong quá trình học tập, công tác, phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ trên cương vị đảm nhiệm.

Có thể đề cập tới một số thời cơ, vận hội như:

Thứ nhất, cán bộ, đảng viên có cơ hội kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ

Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia, khu vực; tạo cơ hội hợp tác, giao lưu trong tìm kiếm, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, tạo nguồn lực phát triển kinh tế. Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động. Cán bộ, đảng viên của chúng ta có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, kinh nghiệm quản lý, nguồn vốn của thế giới, đặc biệt là những tri thức để phát triển nền kinh tế số, tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu. Qua đó, Việt Nam có cơ hội mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tham gia quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên có cơ hội tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại, tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và rõ ràng, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công thì phải đặt con người vào vị trí trung tâm, phải có con người đạo đức, trí tuệ với đầy đủ các phẩm chất cần có của con người xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến con người, coi con người là trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển và định hướng sự nghiệp xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với xây dựng nhân cách phát triển hài hoà, kế thừa truyền thống và hiện đại, vừa “hồng” vừa “chuyên” của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, những thành tựu mà Việt Nam đang có được trên con đường hội nhập quốc tế cũng là những thuận lợi, những tác động tích cực đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới đã lớn mạnh hơn nhiều cả về quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tình hình chính trị - xã hội, kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên; tính tự chủ được cải thiện; tích lũy và nâng cao năng lực quản trị nhà nước, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; uy tín, vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch sang chiều sâu, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Nguồn lao động dồi dào, có khả năng thích nghi tốt với những thay đổi khoa học và công nghệ. Kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, một số hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới quan trọng như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)... đòi hỏi phải cải cách thể chế kinh tế mạnh mẽ hơn nữa, tạo cơ hội mở rộng thị trường, đầu tư cho phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa. Khu vực tư nhân đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế đất nước. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đốỉ ngoại được quan tâm và có sự chuyển biến tích cực; tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh; vẫn còn cơ hội cơ cấu dân số vàng; thành quả xây dựng nông thôn mới được củng cố, đời sống mọi mặt của người dân không ngừng được cải thiện.[3]

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là phải tận dụng mọi thời cơ, vận hội, tiếp thu những tác động tích cực từ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam để tiếp tục đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao, phồn vinh với một vị thế cao hơn, xứng với truyền thống kiên cường của dân tộc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Cơ hội và thách thức...vấn đề vẫn luôn nóng?

 


Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996), trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp đó là hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kế thừa chủ trương hội nhập quốc tế của các Đại hội VIII, IX, X, XI và XII, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021), Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế…, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Có thể nói, hội nhập quốc tế là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất nước bước sang thời kỳ mới, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Bối cảnh toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ thực sự đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam nói chung và đối với cán bộ, đảng viên nói riêng. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là cần nhận diện rõ và trên cơ sở đó, có những chiến lược, sách lược hợp lý, tận dụng được những vận hội, khắc chế những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên. Đây là lực lượng chủ đạo đưa đất nước đi lên phồn vinh, hạnh phúc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập và phát triển.

Cơ hội và thách thức đối với cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

 

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu khách quan, đang lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa là một quá trình có tác động hai chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, đem lại cả thời cơ, vận hội phát triển lẫn thách thức, nguy cơ hiểm họa khó lường đối với các quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa liên quan chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng đối với quá trình hội nhập quốc tế của các nước nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Về thực chất, hội nhập quốc tế là tiến trình một quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác, chủ động hợp tác, liên kết sâu rộng với các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…) dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tuân thủ, tham gia xây dựng các “luật chơi” chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.

“Ngũ họa”, “Tứ tôn” và “Ngọn lửa” cháy lên!

 

Việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược... luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân nước nhà. Không một thời kỳ nào, một triều đại nào, một thời khắc nào, một người Việt Nam nào, hễ có lương tri, không nghĩ về chuyện trọng đại đó, trải suốt xưa nay!

Ấy là quốc sỉ đất nước, là liêm sỉ mỗi người Việt Nam ta! 

Nay, nhìn khắp trong bờ cõi nước non, nhãn tiền thấy bao sự nhiễu nhương đã bất chấp quốc gia cường nhược, đau lòng thấy lắm người vô liêm sỉ, cam tâm bỏ mặc dân tộc thịnh suy.

Kìa, trông lên, nào thì “trên có chính sách, dưới có đối sách” khiến cho đại cục đất nước như “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” làm rạn vỡ sự thống nhất chỉnh thể quốc gia; nào thì “đồ đệ đồng liêu”, “cả họ làm quan”, biến nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng” và họ là những “ông vua con, bà vua con” những mưu toan “anh hùng nhất khoảnh”, “rừng nào cọp ấy”, những “ông tướng, bà tướng”, cả những lũ “ruồi trên đầu hổ” tác yêu tác quái, làm muôn người, dù hiền lành nhất, cũng buộc nổi giận. Nọ trông xuống, đây thì đua nhau, mặc sức “làm quan thần tốc”, “nửa bước thành quan”, đó thì chạy vạy, luồn cúi “bố quan con bố cũng phải quan”, “chồng quan vợ cũng rắp lên quan”, dù đó chỉ là những kẻ “đổ bô”, “đuổi gà không đáng” hoặc phần đông là những hạng nhẹ thì “chữ chẳng hay, cày chẳng biết” hoặc một đống “bụt ốc, đầu rau”, “câu đương làm dấu chặt đứt ngón tay”... khiến cho nặng thêm bộ máy vốn đã cồng kềnh thân nặng, nhưng ngốn bồ thuế dân thì “như tằm ăn rỗi”, “đổ quán siêu đình”... đang làm ly tâm, những người bền lòng cố kết đổ mồ hôi, sôi giọt máu, chỉ vì quốc thái dân an.

Quả đang là mối lo “vạ trong tường vách”, đại họa “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, như người xưa từng lo ngại!

Lại nom sang phía trái, ở không ít nơi, nạn tham nhũng, nạn đạo chích tiền bạc của công nguy hơn chuột đào chân tường; nạn “đạo vị”, nói như Bác Hồ, là “ăn cắp chức vụ” hoành hành, thậm chí làm nhiễu loạn cả không ít chốn công quyền... khiến cho bao người hiền tài, không ít bậc trí giả đành “rũ áo khoanh tay” hoặc chịu thúc thủ, ngặt vì nỗi “nước xa không cứu được lửa gần”; lại ngặt nỗi “quan thì ở xa, bản nha ở gần”, “sấm sét chọn đánh vào... cột thu lôi”. Rồi, trông quẹo phía phải, những “sứ quân” xưa hiện về bằng “lợi ích nhóm” kéo kết nhau thành những “nhóm lợi ích” - nguồn cơn của những “liên minh tội phạm”, “liên minh ma quỷ” khuynh đảo nơi này, quấy phá chốn kia... đang “băm nhỏ” trăm mảnh lợi ích quốc gia, khiến cho muôn dân không ai không nổi giận, làm cho bè bạn, dù thành tâm nhất, cũng nản lòng. Bởi, “đục thì đánh chạm, chạm thì đánh khăng. Đòn đánh lý trưởng thì văng... cả làng”, vì cả sợ...

Quả đang là mối họa “tự bắn chân mình”, “buộc đá chân mình nhảy xuống giếng khơi”, thậm chí “tự thắt cổ mình”, như tiền nhân truyền báo! 

Đoái trông lên, lại ngó xuống những bệnh hoạn khôn lường ấy rải rác ở khắp nơi, những hậu họa chết người ấy trú ngụ ở không ít kẻ, lại đang có chiều hướng lây lan... bỗng nhớ “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo, khuyên răn, như rút tự ruột gan mình: Rằng, có năm nguy cơ sẽ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; và năm là, sỹ phu ngoảnh mặt.

Nhời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Lúc ấy, thử hỏi hối hận liệu có kịp không? Thật phải đáng lo xa! Nói như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Phải biết kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, chẳng khác gì chống họa ngoại xâm.

Xem thế, lại chạnh nhớ chuyện của hơn trăm năm trước, với nhời của cụ Nguyễn Khắc Niêm, trong “Tứ tôn châm”: “Tôn tộc đại quy. Tôn lộc đại nguy. Tôn tài đại thịnh. Tôn nịnh đại suy”. Nghĩa là: Đề cao nòi giống ắt đại hòa hợp. Coi trọng bổng lộc ắt đại nguy nan. Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh. Ưa thích xiểm nịnh, ắt đại suy vong.

Theo thiển ý, ấy là tư tưởng đau đáu, vì nước nhà tiến bộ. Nói rộng ra, “Tôn tộc đại quy” - đề cao sự đoàn kết dân tộc, mọi người phải quy về một mối quyết đặt Dân tộc, Tổ quốc, nòi giống lên trên hết. Có được điều đó thì vạn sự tất thành. “Tôn lộc đại nguy” không phải xem thường sự phát triển đất nước giàu có, vì dân giàu nước mới mạnh, mà “tôn lộc” ở đây muốn cảnh báo người làm quan nếu đặt lợi lộc của mình, mưu “lợi ích nhóm” để xâm hại lợi ích cộng đồng, phá vỡ lợi ích dân tộc, thì đó cũng là lúc nguy nan đang đến với đất nước. “Tôn tài đại thịnh” tức phải lấy “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nếu coi thường trí thức, nói như cụ bảng nhãn Lê Quý Đôn, thì “Sỹ phu ngoảnh mặt”. Nếu để họ đứng ra ngoài hành trình của đất nước, tất yếu đất nước suy vong. Nên cần thành thực trọng dụng tài năng, nói như Bác Hồ, “sao cho đối đãi với mọi người” thì việc họ toàn tâm phụng sự quốc gia, hỏi còn đáng lo gì nữa. Được thế, nhất định nước cường dân thịnh. “Tôn nịnh đại suy” - thời nào, ở đâu cũng nhan nhản người nịnh hót. Nếu chỉ thích nghe bọn xum xoe nịnh bợ, ắt biến phải thành trái, ắt biến người tốt thành người xấu... thì họa sát thân kia sẽ ở cận kề. Vì thế, phải đủ bản lĩnh, đủ trình độ, đủ độ tinh tế để nhận ra kẻ nịnh mà lánh xa, người trung để gần gũi, cộng sự.

Từ chủ động cảnh giới, ngăn chặn “ngũ họa” quốc vong tới thành tâm hành sự “tứ tôn” vì nước, phải chăng ấy là một thái độ sống, bản lĩnh hành động cần có của bất cứ ai, trong đại cuộc dọn sạch hủ bại, chấn hưng và phát triển đất nước, ngõ hầu cũng tôn vinh quốc sỉ, gìn giữ và phát huy liêm sỉ cá nhân lúc này?

Từ lâu, và đặc biệt, ngay chính lúc này đây, hôm 31-7-2017, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hạ quyết tâm, trong đại cuộc chống tham nhũng và hủ bại: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy... Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được...”. 

Cái Ngọn lửa Dân chủ - Đức trị và Pháp trị phải cháy lên! Và, càng không ai cản được, khi Lòng dân đã dậy sóng, đang giữ Lửa trong lò: “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”. Tất cả mỗi người, hãy giữ Lửa để rửa sạch “ngũ họa”, trên nền móng Dân là gốc Nước, Nước là nước Dân! 

Như thế, thiển nghĩ, chí ít việc khó hóa dễ, việc lớn hóa nhỏ, lo gì vạn sự hóa giải “ngũ họa” quốc vong kia chẳng thành!./.

“Lò đã nóng” và quyết tâm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

 

Thông điệp của Tổng Bí thư gửi tới chúng ta: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy…Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được…” là một hình tượng rất sống, rất hay và rất thực tế. Nó thể hiện sự kiên quyết không thể gì lay chuyển của ông Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hiện nay. 

Sử sách kể rằng, ở thành cổ đại Athen, khoảng 2500 năm về trước, nếu bất kỳ chính khách nào phạm vào một trong hai tội sau đây thì sẽ bị đuổi khỏi thành 10 năm; và cố nhiên, trong 10 năm đấy, thì không được tham gia vào chính sự. Đó là hai tội tham nhũng và tội hủ hóa trai gái. Điều đó cho thấy, phẩm hạnh một nhà chính trị, ngay từ thời cổ đại, rất được coi trọng; nó quyết định danh dự, uy tín của những chính trị gia và uy tín, sức mạnh của chế độ. Và, vì thế, đã đặt vấn đề chống tham nhũng quan trọng đến nhường nào, trong các đại sự chính trị.

Nom sang phía Đông, vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng, được xem trọng đặc biệt. Việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược… luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân nước nhà. 

Bảy trăm năm trước, bàn về việc chọn tướng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nói: Lấy của mà thử xem có giữ được sự trong sạch không. Bỗng nhớ đến “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo khuyên răn có 5 nguy cơ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; năm là, sỹ phu ngoảnh mặt. Nhời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Ăn cắp của công, ăn trộm chức vụ, tham nhũng quyền lực đẻ ra vô vàn những cơn bệnh khác, không chỉ làm băng hoại cá nhân mà còn có nguy cơ làm tan tành thể chế.

Nay, ở không ít nơi, nạn tham nhũng, nạn đạo chích tiền bạc của công nguy hơn chuột đào chân tường; nạn “đạo vị”, nói như Bác Hồ hơn 70 năm về trước là “ăn cắp chức vụ” hoành hành, thậm chí làm nhiễu loạn cả không ít chốn công quyền… khiến cho bao người hiền tài, không ít bậc trí giả đành “rũ áo khoanh tay” hoặc chịu thúc thủ, ngặt vì nỗi “nước xa không cứu được lửa gần”.

Ăn cắp hay nói bây giờ là tham nhũng về vật chất đó là sự ô nhục đã làm bại hoại quốc gia, làm nhục quốc thể, cá nhân thì táng tận liêm sỉ. Tham nhũng về chính trị, về quyền lực sẽ đẻ ra và dung dưỡng nhiều hủ bại có nguy cơ làm mục rỗng nhân tâm, phá nát lòng tin, làm băng hoại quốc gia. Quyền lực không phải của riêng ai, của nhân dân, nhân dân trao cho những người làm công bộc của dân. Mà nếu bằng mọi thủ đoạn, họ chiếm đoạt nó, biến quyền được giao đó thành quyền sở hữu, nó trở thành mục tiêu hoạt động của họ thì rất nguy hiểm, thậm chí chết cả dân tộc. Khi tiền liên kết với quyền thì tai họa khủng khiếp, khôn mà tiên lượng hậu họa. Bởi nó liên quan đến chế độ và rộng hơn là lòng dân, là sự sinh tử của dân tộc, là vị thế, sức mạnh và uy tín quốc gia.

Thế nên đặt vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Tham nhũng đã tích tụ từ rất lâu rồi, đủ phương diện, hình thái, đủ mức độ và vô cùng nguy hiểm về tính chất. Chúng ta, nếu không kiểm soát được, không khắc chế triệt để, thì mọi thứ chết người, theo đó, sẽ bung ra ngay. Những vụ đại án Trịnh Xuân Thanh, Trầm Bê… vừa qua là một minh chứng về sự nguy hiểm trong cuộc cấu kết giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Mầm mống của những “liên minh ma quỷ”, theo đó, mà mọc ra, mà phát tác và lũng đoạn. Vì vậy, vấn đề đặt ra là càng phát triển cơ chế thị trường, càng hội nhập quốc tế, càng phải kiểm soát quyền lực, càng phải đề cao thượng tôn pháp luật. Không thể làm khác, nếu không muốn thất bại. Từ cơ chế kiểm soát thì sẽ có cơ chế phát hiện, cơ chế khắc trị… và trị thật nghiêm, không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Nghĩa là dân chủ và pháp trị phải được thượng tôn!

Lâu nay, vấn đề mà Đảng ta đang rất suy tư là, làm thế nào để có cơ chế kiểm soát quyền lực tốt. Kỳ thực rường cột của nó, nói cụ thể, là ván đề quyền lực và trách nhiệm được thực thi và vận hành với bảo bối: dân chủ và pháp trị. Kiểm soát từ bên trong tới toàn dân kiểm soát; kiểm soát từ trên xuống và giám sát từ dưới lên, từ bên cạnh một cách công khai, minh bạch. Suy cho cùng là, quyền lực phải gắn với trách nhiệm một cách dân chủ và kỷ luật, theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Những vụ đại án trong năm 2017 vừa qua kỳ thực đã tích tụ từ lâu, bằng cơ chế kiểm tra, kiểm soát dân chủ và minh bạch trong nhiều năm qua, bây giờ mới bộc lộ ra. Vì thế, có thể nói, chống tham nhũng lúc này, cần tập trung làm tốt trước mắt, hai lĩnh vực rất căn bản, đó là gắn chặt đức trị và pháp trị. Đại hội lần thứ XII của Đảng quyết định rất quan trọng, lấy vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức là một trong bốn bộ phận cấu thành toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đây là một trong những vấn đề trong quy luật xây dựng Đảng kiểu mới chứ không phải đơn thuần mang tính lý thuyết. Trở đi trở lại, khi lời răn đạo lý chưa đủ mạnh, khi đạo đức chưa đủ lay chuyển thì ắt pháp lý phải ra tay, nhất định các đạo luật phải được toàn dụng.

Ngày xưa, các cụ nói: Sát nhất nhân vạn nhân kỵ. Đó là hạ sách. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói, xử một người đau lòng lắm, nhưng cũng phải kỷ luật thôi, vì nhiều người khác. Tôi nghĩ, chống tham nhũng không khác gì đứng giữa bầy sói. Khi những “con sói đói khát quyền lực”, “đói khát tiền bạc” lũng đoạn, hoành hoành, mà đạo đức chưa đủ thấu, đạo lý chưa đủ răn, liêm sỉ chưa đủ chuyển, thì dứt khoát kim đao phải tất được dụng thôi. Hợp với nhẽ thường. Đấy là nhân văn nhất, đấy là đạo đức nhất; đấy cũng là dân chủ và kỷ cương nhất.

Giờ, không phải bàn thêm về quyết tâm của Tổng Bí thư. Mà vấn đề cần nói hơn đó là, làm gì và thế nào để chuyển quyết tâm ấy thành quyết tâm và hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và đồng bào. Quan trọng nhất là, đó chính là sự quyết tâm và hành động của 11 triệu cán bộ, viên chức trong bộ máy, của gần bốn triệu đảng viên, của 116000 tổ chức Đảng, của 63 tỉnh thành kết tinh trực tiếp ở 63 người đứng đầu cấp ủy và những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong toàn thể hệ thống chính trị nước nhà… Và, cũng phải hỏi, còn có ai trong đội ngũ ấy nghễnh ngãng, thờ ơ, chiếu lệ cho phải phép, rồi “nghe ngóng tùy thời”, “chọc gậy xuống nước” hoặc “a dua chiếu lệ”, “hò voi bắn súng sậy” không?! Đấy chính là sự đồng lõa với sai trái, với tội phạm!

Có một dịp, vinh dự được trao đổi với Tổng Bí thư. Ông nói, cần phải giữ vững sự ổn định. Tôi thưa rằng, ổn định lúc này là phát triển, phát triển là đẳng cấp của ổn định, ổn định lúc này là phải hành động. Ông hỏi: Cụ thể như thế nào? Tôi thưa: Chúng ta cần lựa chọn một số việc mang tính chất đột phá, có khả năng làm rung động toàn bộ hệ thống: cải cách bộ máy và chống tham nhũng. Sao nữa? Phương châm là, đề cao dân chủ, cổ vũ đức trị và tôn vinh pháp trị. Đấy là cả một nghệ thuật chính trị. Và, để thực hiện nó, phải với bản lĩnh chính trị rất cao, một quyết tâm đến cùng, một lộ trình phù hợp và cổ vũ một lực lượng chính trị nhân dân đông đảo. Không có những điều đó, rất khó thành!

Thông điệp của Tổng Bí thư đã gửi: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy…Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được…” là sự kết tinh, thể hiện tầm nhìn, sự kiên định và cả tâm huyết của ông. Cái Ngọn lửa Dân chủ, Đức trị và Pháp trị phải cháy lên trong cái lò ấy! Và, càng tin rằng, không ai cản được, khi Lòng dân đã dậy sóng, đang làm Gió thổi lò, với quyết tâm: “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”.

Đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin

 

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh “điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

   Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

   Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

   Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương, cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

“Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”

 

Hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0), người phụ nữ của thời đại 4.0 được gán cho rất nhiều trọng trách nặng nề, vừa phải phát triển sự nghiệp vừa chăm lo cho tổ ấm gia đình mình. Do vậy, người phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn, rào cản của xã hội từ trong công việc, từ phía gia đình. Thế nhưng, với phẩm chất “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam luôn là phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp, thể hiện vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị thế của các chị trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, người phụ nữ Việt Nam đã đóng góp rất nhiều vào công cuộc dựng xây, bảo tồn, trau dồi, kế thừa, phát huy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp từ đời này sang đời khác. Dân gian Việt Nam thường truyền miệng “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Trong đó, người phụ nữ được xem là có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một nền tảng gia đình bền vững. Cuộc sống của thời đại mới 4.0, bên cạnh việc xây tổ ấm còn phải gánh vác rất nhiều trọng trách trong công việc.

Thời đại 4.0, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam được gói gọn trong 4 chữ: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”. Trong 4 phẩm chất ấy, có hai tiêu chí điển hình cho thế hệ phụ nữ trẻ, đó là “tự tin”, “tự trọng”, hai tiêu chí còn lại là “trung hậu”, “đảm đang” vốn là truyền thống quý báu của dân tộc được duy trì và gìn giữ cho đến tận ngày nay. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp đó đều có ở người phụ nữ hiện đại, chúng có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, phẩm chất này nhiều khi là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để dẫn đến phẩm chất khác. Tuy nhiên, để hài hòa giữa các phẩm chất, đòi hỏi người phụ nữ phải có sự khôn khéo, sắp xếp giữa việc nhà và việc nước.

“Tự tin” là phẩm chất mà người phụ nữ hiện đại không thể thiếu trong xã hội cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là một điểm mới đối lập với người phụ nữ truyền thống. Vượt qua những rào cản tâm lý, tư tưởng của người phụ nữ thời xưa, ngày nay, người phụ nữ, mặc dù chưa xóa bỏ hết được những tâm lý tự ti, thiếu tự tin nhưng đã phần nào có chỗ đứng, tiếng nói và có quyền bình đẳng hơn với nam giới trong công việc, cuộc sống. Ngày nay, rất nhiều nữ giữ vai trò quan trọng trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều nữ doanh nhân thành đạt giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp lớn đã được tôn vinh, trở thành điểm sáng về người phụ nữ tự tin trong thời hiện đại mới, thời đại nam - nữ bình quyền, phụ nữ ngày càng tự tin hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống gia đình và giao tiếp xã hội. Tuy nhiên, Người phụ nữ tự tin nhưng phải vẫn giữ được sự khiêm tốn, trân trọng giá trị và thành quả của người khác, luôn nỗ lực học hỏi, trau dồi, rèn luyện các kỹ năng sống, sức khỏe, duy trì và gìn giữ vẻ đẹp từ trong ra ngoài.

Trừ phẩm chất “tự tin”, “tự trọng” cũng là phẩm chất không thể thiếu của người phụ nữ Việt Nam. “Tự trọng” để biết dừng lại trước những điều xấu, biết chấp hành pháp luật, tự hình thành cho mình một thói quen ứng xử có văn hóa, giữ mình trước những cám dỗ thường ngày của thời đại 4.0 với nhiều cạm bẫy dễ sa vào như tham ô, hối lộ,... đối với những phụ nữ có chức quyền; dễ ăn gian, làm dối, chạy theo lợi nhuận,… đối với những phụ nữ lãnh đạo, điều hành các doanh nghiệp. Người phụ nữ tự trọng sẽ trân trọng các chuẩn mực đạo đức của xã hội, để không làm những việc trái với thuần phong mỹ tục, không chạy theo những hào nhoáng bề ngoài mà đánh mất giá trị ẩn sâu bên trong. Người phụ nữ tự trọng biết đặt đạo đức nghề nghiệp lên trước lợi ích của bản thân.

Đối lập với những phẩm chất “tự tin”, “tự trọng” được sinh ra trong thời đại mới, “trung hậu” là một trong những phẩm chất truyền thống quan trọng của người phụ nữ Việt Nam được truyền từ thế hệ phụ nữ này sang thế hệ phụ nữ khác từ xưa đến hiện nay. Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, sự thủy chung, tình nghĩa, nhân ái, son sắt, vị tha, bao dung được đề cao trong mọi thời kỳ. Tất cả những đức tính tốt đẹp đó được gói trọn trong phạm vi của hai từ: “Trung hậu”. Người phụ nữ trung hậu là người giàu tình cảm, dám đứng lên đấu tranh cho những điều thiện, cho những người bị ức hiếp. Trung hậu để không vô cảm, để dám lên tiếng vì một thế giới tốt đẹp hơn, sẵn sàng thứ tha, bao dung để khiến lòng mình thanh thản.

Trong 4 phẩm chất, dù ở thời đại nào thì phẩm chất “đảm đang” của người phụ nữ đều được coi trọng, và là một trong những đức tính quý báu được nhân loại đề cao. Người phụ nữ đảm đang là người biết hài hòa, cân bằng các yếu tố trong cuộc sống như công việc, tình cảm, sức khỏe, gia đình, biết nghỉ ngơi để lấy lại năng lượng chứ không lao đầu vào công việc ngày đêm. Người phụ nữ Việt Nam đảm đang khi biết khéo léo chia sẻ những khó khăn cùng chồng con, động viên họ cùng tham gia công việc gia đình, biết dùng lý trí và tình cảm hài hòa trong mọi vấn đề của cuộc sống.

Bốn phẩm chất vừa truyền thống vừa hiện đại của người phụ nữ Việt Nam thời đại 4.0 “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” đã tạo nên sự hài hòa giữa những tinh hoa của dân tộc cùng văn minh của nhân loại. Người phụ nữ vẫn mãi  phấn đấu, rèn luyện để hoàn thiện bản thân mình, tự tin mang lại hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình của mình và cho xã hội. Để làm được điều đó, ngoài nỗ lực tự thân, người phụ nữ rất cần đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của những người thân trong gia đình, sự ủng hộ của đồng nghiệp, các đoàn thể, cộng đồng xã hội./.

“Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”

 


    Đó là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11-9-1950.

    Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

    Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc quan tâm chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị; xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, là tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng vững chắc tạo sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.