Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

 

KHI “KẺ CẮP” LẠI “LA LÀNG”!

 

Nguyên Anh, kẻ bồi bút “có tiếng” với nhiều luận điệu xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, nói xấu lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Gần đây, với những thủ đoạn tương tự, y lại tiếp tục đưa ra luận điệu bịa đặt, bóp méo trắng trợn trên Quyenduocbiet với tiêu đề: “Luận điệu tuyên truyền bịp bợm xảo trá của bọn tuyên giáo”, hòng gây sự hoài nghi, tâm lý hoang mang trong dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Với tâm địa đen tối, bản chất tráo trở, y không ngại “đổi trắng thay đen” với suy nghĩ “độc hại” rằng: càng bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc sự thật bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Y cho rằng: “giải phóng nước Việt, đưa nước Việt ra khỏi sự đô hộ của Thực Dân Pháp là một sự lừa bịp…”. Sự bịa đặt của y nhằm đánh tráo khái niệm, hòng lừa bịp người dân. Bởi vì, người dân bình thường, ai cũng rõ nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên đập tan chính quyền thực dân, phong kiến, những kẻ tay sai, bán nước hại dân, để đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Hành vi của y thật sự bỉ ổi, vô sỉ khi đã cố tình bác bỏ sự hy sinh của hàng triệu người dân Việt Nam cho độc lập, tự do; y cố tình phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bản chất đen tối, phản động của Nguyên Anh còn lộ rõ khi y tự cho mình nói thay cho nhân dân, nhưng thực chất không bao giờ y đứng về phía nhân dân, mà chỉ lợi dụng từ “dân” để trục lợi cho mình và đồng bọn, bởi chưa bao giờ một người dân Việt Nam chân chính lại nghĩ rằng: “Hồ Chí Minh là độc tài, quân phiệt…” như lời của Nguyên Anh. Rõ ràng, chỉ có những kẻ tay sai bán nước, hại dân mới có những phát ngôn vô liêm sỉ như vậy. Với mỗi người dân Việt Nam trong tiềm thức đều có chung tình cảm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên gọi thân thương Bác Hồ – vị lãnh tụ tài ba, lỗi lạc – Người Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – Người đã cống hiến trọn một đời mình cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Không những thế, Nguyên Anh còn xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cho rằng “hồ đã dựng lên nước VNDCCH với sự ranh ma của mình…” và “hồ mang nặng tâm lý nô lệ và lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng”… Rõ ràng Nguyên Anh đã cố tình xuyên tạc bản chất các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ta khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc chỉ là cuộc chiến nhằm đem lại lợi ích của Đảng và một số người Cộng sản. Sự thật cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giầu mạnh, văn minh, có vị thế, uy tín trên trường quốc tế sao lại “nhằm thực hiện ý đồ của người khác”?.

Đến đây, Nguyên Anh, “kẻ ăn cắp” lại “la làng” đã lộ rõ bản chất phản động hại nước, hại dân. Những luận điệu la lối, xuyên tạc, bóp méo sự thật của y không ngoài mục đích bôi nhọ, muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Y muốn dùng “mưu hèn, kế bẩn” để “đầu độc”, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân và độc lập, tự do của dân tộc. Đây chính là sự thâm hiểm, độc hại của Nguyên Anh và đồng bọn. Vì vậy, chúng ta cần cẩn trọng và kiên quyết vạch trần và đấu tranh, loại bỏ./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SAU VỤ CÁC TƯỚNG LĨNH CẢNH SÁT BIỂN BỊ XỬ LÝ KỶ LUẬT

 Sau khi sự việc 11 tướng Cảnh sát biển bị xử lý kỷ luật vì hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng xảy ra, nhiều đối tượng đã thêu dệt, móc nối để xuyên tạc, công kích Việt Nam và chính sách ngoại giao cuả nước ta. Ngày 4/10 vừa qua, Nguyễn Ngọc Chu đã đăng tải bài viết “Nhìn Thẳng Vào Sự Thât: Không Thể Đi Theo Đường Cũ”. Đối tượng đã cố tình đưa ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc với mục đích công kích lãnh đạo Nhà Nước, gây hoang mang dư luận.

Trong bài của mình Nguyễn Ngọc Chu đã đưa ra những thông tin bịa đặt, hoàn toàn sai sự thật. Lợi dụng sự việc, đối tượng đã cố tình dẫn dắt câu chuyện theo hướng sai lệch, cho rằng việc làm các tướng lĩnh biến chất để quy chụp về thực trạng của Bộ Quốc phòng: “Không phải một tướng, mà những 11 tướng cảnh sát biển của Bộ Quốc phòng tham nhũng phải kỷ luật, thì theo cách sử dụng phép toán xác suất của người nông dân, có thể đánh giá được tình trạng toàn bộ cán bộ của Bộ Quốc phòng.”

Thậm chí, đối tượng này còn móc nối sai phạm của các cá nhân để cho đặt điều về vấn đề “Biển đảo”, cho rằng chúng ta “cố tình nhân nhượng”, để nước khác “tự do xâm chiếm, công kích”. Để rồi từ đó, Nguyễn Ngọc Chu đánh vào tâm lý của người dân, cho rằng lãnh đạo Việt Nam “thiếu trách nhiệm”, “toàn bộ bộ khung của ngôi nhà quản trị quốc gia, đâu đâu cũng bị mối mọt khiến cho chủ quyền biển, đảo từng bước bị xâm lấn.”

Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng, những sai phạm của 11 tướng lĩnh Cảnh sát biển là trong lĩnh vực kinh tế chứ không liên quan đến vấn đề chính trị hay ngoại giao với bất kỳ một quốc gia nào. Từ đó không thể đánh đồng với việc quy trình đào tạo chọn lọc vấn đề, chất lượng cán bộ ngày càng giảm sút theo như lời của Nguyễn Ngọc Chu.

Trên thực tế, 11 tướng lĩnh Cảnh sát biển Việt Nam đã sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật. Các cá nhân này cũng đã có nhiều sai phạm trong phòng chống buôn lậu, giữ gìn an ninh trên biển.

Như vậy, những sai phạm của các cá nhân thuộc lực lượng Cảnh sát biển đã gây ra hậu quả rất nghiệm trọng, thiệt hại lớn về tiền, tài sản và ngân sách của Nhà nước. Xét về nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì những hình thức kỷ luật do Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra hoàn toàn phù hợp, đúng người đúng tội.

Điều đó cho thấy, mưu đồ sâu xa của Nguyễn Ngọc Chu là lợi dụng sai phạm kinh tế của một số cán bộ biến chất để quy chụp rằng chính sách, đường lối ngoại giao của chúng ta là sai trái, nhún nhường. Đó là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà những kẻ chống phá vẫn luôn rắp tâm thực hiện để chia rẽ mỗi quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước trên thế giới, làm cho chúng ta rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.

Phải hiểu rằng nếu có sự bao che ở đây thì sẽ không có chuyện Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra những hình thức kỷ luật đối với 11 tướng lĩnh từ mức khiển trách đến khai trừ Đảng. Bởi vì chúng ta dám “Nhìn thẳng vào sự thật, không bi quan, không tô hồng” nên mới đưa ra những chế tài xử lý mạnh đối với các trường hợp vi phạm. Tuyệt đối không bao che, cổ xuý cho những hành vi vi phạm, cố tình làm trái với các nguyên tắc Nhà nước. Như vậy, việc khiển trách, kỷ luận nghiêm những cán bộ là “bao che”, là “không dám nhìn thẳng vào sự thật” hay sao.

“Nhìn Thẳng Vào Sự Thât: Không Thể Đi Theo Đường Cũ” là một bài viết thể hiện rõ thủ đoạn âm mưu chống phá của Nguyễn Ngọc Chu. Nếu là một người dân thực sự yêu nước, mong muốn đất nước phát triển như đối tượng tự tô hồng bản thân thì ý đã không bao giờ làm như vậy. Đó chỉ là những lời ngụy biện cho dã tâm phá hoại đất nước mà thôi.

 

Bản đồ thịt lợn

“Theo dõi” để nhận thông báo khi tác giả có bài viết mới× Ngồi cạnh tôi trong đám cưới, bỗng Quang nói: “Em có miếng đất trên Ba Vì, muốn xây dựng trại nuôi lợn công nghệ cao, bác ủng hộ em nhé”. Nguyễn Thanh Quang là kỹ sư cơ khí được đào tạo ở Liên Xô cũ, người bạn trẻ nhưng thân thiết của tôi. Thấy Quang nói thế, tôi vui vẻ nhận lời vì rất muốn cùng anh xây dựng mô hình nuôi lợn mới. Nói là làm ngay, bảy năm trước, Quang một mình lên sống trên mảnh đất ấy và xây dựng trại lợn về sau rất nổi tiếng. Sáng kiến mà tôi giúp Quang là cách mạng hóa việc sản xuất thức ăn nuôi lợn. Để có một cân lợn hơi cần bốn cân thức ăn. Vì vậy, giá thành thức ăn chăn nuôi quyết định giá thịt lợn. Trong thức ăn, phần protein là đắt nhất. Thức ăn hỗn hợp nuôi lợn thường lấy nguồn protein từ khô dầu đậu đỗ và bột cá. Toàn những nguyên liệu quá đắt. Tôi và Quang đã mạnh dạn thay hai thứ này bằng ốc bươu vàng và giun quế. Ốc do nông dân bắt ngoài ruộng để bỏ đi, mang đến bán cho Quang, giun anh tự nuôi tại trại. Mô hình thành công và nổi tiếng với thịt lợn sạch, nhiều đoàn nông dân đến học hỏi. Quang còn mạnh dạn xây thêm một trạm chế biến và sản xuất pa-tê, xúc xích lợn. Mấy tháng gần đây, Quang kêu trời vì giá thức ăn tinh để chăn nuôi như cám gạo, cám mỳ, ngô... tăng cao quá làm giá lợn hơi đầu ra chao đảo. Vậy mà kỳ lạ, giá lợn hơi trên thị trường lại đang giảm một cách thảm hại. Có lúc, giá một cân lợn hơi chỉ còn 28.000 đồng. Mức giá này chỉ bằng khoảng 60% vào thời điểm giữa năm 2020, cũng là thời điểm đang có dịch Covid. Bà con chăn nuôi đang lỗ khoảng một triệu đồng mỗi con lợn trên dưới 100 cân. Vì sao như vậy? Một mặt do giao thông vẫn chưa hoàn toàn thông suốt, giá thức ăn chăn nuôi đến từng xã, huyện vẫn bị đẩy lên. Mặt khác do có thông tin đang ứ thừa bốn triệu đầu lợn trong dân, thế là dẫn đến chuyện nhiều nông dân bán vội lợn bất chấp giá đang quá thấp. Giá bán lợn của nông dân giảm đột ngột, nhưng ở nhiều nơi, người tiêu dùng vẫn phải mua thịt lợn với giá không thấp, khoảng 100.000 đồng một cân. Tuần này, giá thịt lợn ở chợ Hà Nội đã giảm khoảng 10% nhưng vẫn chênh lệch khá lớn với sức giảm của giá lợn hơi. Giá thịt lợn từ người chăn nuôi đến mâm cơm người tiêu dùng đang cao hơn ít nhất là ba lần. Nhưng như chúng ta chứng kiến vài năm qua, giá thịt lợn năm nào cũng phập phù. Năm thì đắt kỷ lục, năm thì giảm mạnh. Tới đây, khi thấy giá bán lợn hơi giảm mạnh, hàng triệu nông dân sẽ không thả nuôi thêm lợn nữa. Sau vài tháng, có thể đợt Tết Nguyên đán sắp tới, biết đâu nguồn cung giảm, giá lại tăng cao. Thịt lợn là mặt hàng khá đặc biệt, không giống với giá thịt bò. Lợn đến tháng xuất chuồng là phải bán, vì càng nuôi càng lỗ. Quang cho biết con lợn đến khi xuất chuồng vẫn ăn một ngày từng ấy thức ăn nhưng chững cân, không tăng thịt nữa, nuôi thêm một ngày là lỗ ít nhất vài chục nghìn đồng một con. Còn người nuôi bò có nuôi thêm một thời gian cũng không sao. Có lẽ vì lợn ăn cám còn bò ăn cỏ. Nguyên nhân chênh lệch giá lợn hơi và thịt lợn trên thị trường còn do mạng lưới phân phối, không loại trừ việc người mua, vận chuyển, giết mổ đến bán lẻ, ở mỗi khâu trung gian vẫn có thể tùy tiện nâng lên vài ba giá. Làm cách nào để ổn định thị trường thịt lợn? Tôi nghe nhiều giải pháp được nêu nhưng thấy đều chưa thuận. Nào là, Chính phủ nên xây kho lạnh dự trữ thịt lợn, nhưng thịt lợn khác với lúa gạo, và có phải các doanh nghiệp từ trước tới nay không trữ thịt lợn đông lạnh đâu. Nào là, nông dân không bán thịt mà bán cho "sở giao dịch thịt lợn" tờ cam kết rằng sẽ bán sau ba tháng cho ai mua tờ giấy này, cũng không ổn vì không ai mua tờ giấy chưa chuẩn hóa gì về chất lượng thịt, chưa kể các rối rắm về thủ tục. Nào là, phải tuyên truyền người dân chuyển từ ăn thịt lợn sang các thịt khác. Cách này rất không ổn khi muốn thay cả một tập quán. Nào là, áp giá trần, giá sàn với thịt lợn, càng không ổn vì rất phi thị trường... Tôi đồng ý với Bộ trưởng Lê Minh Hoan, rằng chúng ta có một nền nông nghiệp mù mờ. Việc nuôi trồng, phân phối, kinh doanh thường dựa trên thông tin loáng thoáng, "nhiều điểm mù mờ gặp nhau nên rất khó dự báo". Để hết mù mờ, tôi và kỹ sư Quang cùng kiến nghị vài giải pháp. Thứ nhất, đẩy mạnh công nghệ hóa quản lý nông nghiệp, dự báo kịp thời nhu cầu tiêu thụ thịt lợn từng vùng miền, từ đó đưa ra dự báo số lượng lợn thịt cần nuôi ở từng địa phương. Tôi nghĩ công nghệ số hôm nay có thể giải quyết chuyện này không khó bằng một bản đồ thịt lợn - giống như bản đồ Covid. Nông dân bây giờ hầu hết đều có điện thoại thông minh. Mỗi hộ có thể báo với ngành nông nghiệp địa phương con số lợn nuôi của mình, địa phương tập hợp và ước lượng được sản lượng thu hoạch từng thời điểm qua một app... Tất cả người tham gia thị trường thịt lợn nhìn vào bản đồ mà tự điều tiết được công việc của mình. Thứ hai, ngành nông nghiệp xây dựng quy hoạch và khuyến khích phát triển các vùng trồng ngô, đậu tương để không bị động về nguồn thức ăn nuôi lợn vào nhập khẩu. Vấn đề này ta đã nói đến nhiều năm nhưng đâu vẫn hoàn đấy, do lại liên quan đến vấn đề khác là không cải thiện được năng suất của cây ngắn ngày như sắn, đỗ tương, ngô... Kinh nghiệm này chỉ cần học ngay của Thái Lan gần chúng ta. Thứ ba, Việt Nam cần đầu tư đủ tầm cho các nhà khoa học để khẩn trương sản xuất được vaccine phòng chống dịch tả lợn Châu Phi. Một nguyên nhân khiến thị trường thịt lợn biến động thời gian qua là hậu quả tàn phá của đại dịch này. Cả nước đã phải tiêu hủy 5,5 triệu lợn nhiễm bệnh trên tổng đàn khoảng 25 triệu con - hơn 1/5 đàn lợn quốc gia. Hàng nghìn người chăn nuôi nhỏ lẻ thậm chí không còn khả năng tái đàn vì phải xây dựng lại chuồng trại và dịch vẫn có thể tái đi tái lại khi chúng ta chưa có vaccine đặc hiệu. Nhà nước có thể hạn chế nhập khẩu thịt lợn khi giá trị trường xuống thấp, đồng thời kỷ luật nghiêm những kẻ thao túng thị trường, tiêu thụ lợn bệnh, lợn chết. Người tiêu dùng có thể mắc bệnh nguy hiểm khi ăn phải thịt bẩn, nhưng tôi hiếm khi thấy người bán bị xử lý.

 

 

THÀNH QUẢ CHỐNG DỊCH COVID-19

CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Khi làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam, trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, đó là việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam như bài đăng“Corona dung tha hay đảng ta “thiên tài” của Lê Thiên trên baotiengdan. Rõ ràng, bài viết là những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong cuộc chiến với COVID-19, đồng thời vẽ nên một bức tranh với những gam màu tối về Việt Nam trong đại dịch, sâu xa hơn là nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

Với góc nhìn thiển cận, thiếu thiện chí Lê Thiên đang cố tình không thừa nhận những thành quả trong phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam. Ngoài việc xuyên tạc, bóp méo các chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch y còn rêu rao luận điệu cho rằng “Việt Nam thoát dịch là nhờ yếu tố khách quan, chứ chẳng ai tài ba gì”. Tuy nhiên, thưc tế nhìn lại toàn bộ quá trình phòng, chống dịch COVID-19 của nước ta sẽ thấy, rõ ràng đây là luận điệu sai trái, phiến diện, một chiều. Trước hết, cần khẳng định khi dịch COVID-19 xuất hiện, Việt Nam đã là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao. Tuy nhiên, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, với tinh thần chủ động, Đảng và Chính phủ đã xác định “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Chính phủ ta trong hơn một năm qua. Chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Với những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, công tác phòng, chống dịch đã được đưa lên mức độ cao nhất, với những biện pháp quyết liệt, phù hợp như: Tập trung tổ chức tốt việc khoanh vùng, dập dịch; truy vết người tiếp xúc với nguồn bệnh trong phạm vi phù hợp; kiểm soát chặt chẽ người bên trong các khu vực phong tỏa, cách ly những người lây nhiễm và tiếp xúc gần một cách hiệu quả. Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chỉ thị về công tác phòng, chống dịch như: Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19… Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ tư hiện nay, công tác chỉ đạo phòng, chống dịch luôn được Chính phủ chỉ đạo sát sao, liên tục hằng ngày, hằng tuần, nhất là đối với những địa phương có diễn biến phức tạp. Đồng thời, bằng tinh thần “tương thân tương ái”, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, mọi nguồn lực, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bệnh viện và nhiều địa phương trong cả nước như: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nội… đã chủ động chia sẻ kinh nghiệm, tăng cường lực lượng, phương tiện trang bị hỗ trợ các địa bàn tâm dịch nâng cao hiệu quả, năng lực phòng, chống dịch COVID-19, đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, làm tiền đề vững chắc cho việc kiểm soát dịch COVID-19 trong thời gian tới. Như vậy, nhìn lại kết quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận. Ông Jean Noel poirier, Cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam đánh giá cao hiệu quả của Việt Nam trong phòng chống COVID-19: “Có 2 lý do, lý do thứ nhất là chính sách phòng chống COVID-19 của Việt Nam rất xuất sắc và rất đúng. Thứ hai là người dân Việt Nam đã thực hiện và đồng tình với các quy định của Nhà nước, của Chính phủ”. Đây là minh chứng rõ ràng nhất đập tan lối suy diễn hồ đồ, vô căn cứ của kẻ có động cơ đen tối, thấp hèn và tâm địa xấu xa như Lê Thiên.

Sự thật đã được sáng tỏ, thế nhưng Lê Thiên vẫn tiếp tục xuyên tạc công tác lãnh đạo, chỉ đạo với những chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Chính phủ để ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch là “đì dân, dìm dân” nhằm vẽ nên một bức tranh đen tối về một Việt Nam tang thương trong dịch bệnh. Mục đích nguy hiểm của y là đánh lạc hướng, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD COVID-19 ở nước ta. Sâu xa hơn chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ đạo, hành động quyết liệt phòng, chống dịch, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khỏe nhân dân với phương châm có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đồng thời, với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, ngay trong các đợt phòng chống đại dịch COVID-19, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng để giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Hiện nay Việt Nam đang trải qua làn sóng dịch lần thứ 4 với biến chủng Delta lây lan nhanh trên diện rộng và phức tạp. Đảng và Nhà nước đã ngay lập tức ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể chăm lo cho người dân. Đầu tháng 7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68 với gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng cho người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và tháng 8/2021, Chính phủ có Quyết định xuất hơn 130.000 tấn gạo cho 24 tỉnh, thành phố để hỗ trợ người dân gặp khó khăn. Nhiều đoàn xe cứu trợ từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung, Tây nguyên vào các tỉnh, thành phía Nam… Như vậy, người dân chưa bao giờ bị đơn độc, cô lập trong cuộc chiến vốn khốc liệt, nguy hiểm này. Đặc biệt, trong điều kiện khan hiếm vắc xin phòng chống COVID-19 trên toàn thế giới, nhưng Đảng và Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân, là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine ngừa COVID-19 đại trà cho toàn dân, coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều đó đã khẳng định quan điểm, tư tưởng, mục đích của Đảng và Nhà nước ta thực sự là vì dân chứ không phải bỏ mặc người dân như luận điệu Lê Thiên tuyên truyền, xuyên tạc. Có thể khẳng định rằng chỉ những ai đang sống ở một đất nước mà không ai bị bỏ lại phía sau bởi sự nỗ lực hết sức từ Chính phủ đến chính quyền địa phương, đoàn thể, tổ chức, cơ quan, đơn vị và cả cá nhân hảo tâm thì mới thấu hiểu hết những việc làm đầy ý nghĩa nhân văn, những ứng xử có trách nhiệm cao, sự hy sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của cộng đồng trong cuộc chiến chống COVID-19. Điều đó càng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào bản chất tốt đẹp, nhân văn của chế độ ta và đập tan mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật, làm sai lệch bản chất vấn đề như một thứ “biến chủng Delta” của Lê Thiên.

Bởi vậy, dẫu có bôi nhọ và xuyên tạc đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, khi mà nhiều quốc gia, tổ chức uy tín trên thế giới đã và đang đánh giá cao Việt Nam trong xử lý đại dịch COVID-19. Điều đó khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, phòng chống dịch COVID-19 nói riêng./.

30 NĂM LIÊN XÔ SỤP ĐỔ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM!

KHI ĐẢNG CỘNG SẢN TỰ XÓA BỎ CHÍNH MÌNH

Chỉ còn ít ngày nữa là đến thời điểm tròn 30 năm Liên bang Xô viết sụp đổ, đánh dấu bằng buổi tối mùa đông lạnh giá 25-12-1991, lá cờ đỏ búa liềm từ đỉnh tháp Kremli sau 74 năm tung bay đã phải hạ xuống, thay vào đó là lá cờ ba sắc. Sự kiện được coi là cơn địa - chính trị chấn động thế kỷ XX này đã làm thay đổi sâu sắc thời đại chúng ta đang sống và để lại rất nhiều bài học đắt giá về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhân dịp này, Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài “30 năm Liên Xô sụp đổ và bài học cho Việt Nam” hi vọng góp phần phân tích, rút ra những điều thiết thực để tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên định thực hiện thắng lợi con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trước khi thực hiện loạt bài này ít lâu, chúng tôi có dịp đến công tác tại Liên bang Nga và một vài nước thuộc Liên Xô. Trong chuyến đi ấy, có cảm xúc rất đặc biệt khi đến những địa danh như Điện Kremli, nơi lá cờ Liên bang Xô viết bị hạ xuống hay trước tòa nhà Duma Quốc gia Nga, nơi xe tăng từng xuất hiện cho thấy sự nguy hiểm của “phi chính trị hóa” quân đội.

Khi ấy, một câu hỏi cứ văng vẳng trong chúng tôi: Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin sáng lập, từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, xây dựng thành công Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên lại tan rã? Vì sao một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, đánh bại phát-xít Đức trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và đóng góp to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm với bao trang sử vẻ vang?

Chúng tôi đã tìm thấy phần nào câu trả lời chính từ những nhà báo tiền bối ở Báo Quân đội nhân dân.

Ngày 22-4-1990, hơn một năm trước ngày Liên Xô sụp đổ hoàn toàn, Thiếu tướng Trần Công Mân, Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân trong bài viết “Cuộc chiến đấu chưa kết thúc” đã đưa ra cảnh báo chính xác khi xuất hiện trào lưu ở Liên Xô và nhiều nước XHCN, nhiều người né tránh, không nhắc đến Đảng Cộng sản, đến CNXH. Nêu ra và cũng tự trả lời, ông khẳng định niềm tin mãnh liệt vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của CNXH.

Không riêng ông, những nhà lãnh đạo lớn của đất nước ta từ ngày đó đã nhìn thấy “tử huyệt” dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và nhìn rõ Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta cần phải làm gì.

Tháng 4-1992, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) đã có bài viết hết sức sâu sắc với tựa đề “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?” đăng trên Tạp chí Cộng sản. Đồng chí chỉ ra 5 nguyên nhân chủ yếu: Không xác lập đúng đắn sự lãnh đạo của Đảng, buông lơi công tác xây dựng Đảng; phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê nin là nền tảng tư tưởng của Đảng; Coi nhẹ hoặc phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ; xa rời quần chúng, mất uy tín nghiêm trọng trước nhân dân, không được nhân dân ủng hộ; Từ bỏ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thổi lên ngọn lửa kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi.

Thật ra, sai lầm, sự chệch hướng đã diễn ra từ khá lâu. Nguyên nhân đến từ sự thay đổi lãnh đạo và đường hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, được đánh dấu bằng Đại hội XX tháng 2-1956. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev đã trình bày một báo cáo bí mật mang tên "Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó", trong đó quy chụp, thêu dệt rất nhiều vấn đề và hạn chế hệ thống Đảng và Nhà nước Xô viết cho lãnh tụ quá cố Joseph Stalin.

Đồng thời, trong báo cáo chính trị chính thức của một Đại hội Đảng sau này cũng đề ra những sách lược mới nhằm "chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình" và "quá độ hòa bình" với chủ nghĩa tư bản. Đây là một sự đảo ngược 180 độ trong quan điểm và chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô so với chính họ trước đây, hay còn gọi là "xét lại".

Các nhà phân tích cao cấp của CIA trong báo cáo mang mã hiệu SRS-1 thực hiện không lâu sau sự kiện Đại hội XX đã cho rằng, ekip của Nikita Khrushchev hành động như vậy là để đập bỏ hoàn toàn di sản của thời đại Stalin, nhằm xây dựng một hệ thống mới của riêng họ. Trong những kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, ekip của Tổng Bí thư Khrushchev tiếp tục sa đà trên con đường xét lại, đến Đại hội XXII năm 1961, họ còn xác định "nguy cơ chủ nghĩa tư bản hồi phục ở Liên Xô đã không còn", "Liên Xô sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong 20 năm", xây dựng "đảng toàn dân", "nhà nước toàn dân".

Đây thực chất đều là những tính toán không có cơ sở và là sự đoạn tuyệt với học thuyết Marxist-Leninist chính thống về Đảng. Đó là một cuộc khủng hoảng đường lối chưa từng có trong lịch sử cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Nikita Khrushchev buộc phải từ chức Tổng Bí thư vào năm 1964, nhưng sự hỗn loạn mà ekip của ông ta tạo ra đã được gieo mầm. Những cán bộ trẻ tuổi của Đảng Cộng sản Liên Xô vào những năm ấy như Mikhail Gorbachev, Alexander Yakovlev, Eduard Shevardnadze... đều đã bị tác động rất mạnh và có những chuyển biến về tư duy, quan điểm bởi cuộc xét lại của Khrushchev.

Lịch sử sau này định danh họ là "những đứa con của Đại hội XX". Chính những nhân vật này, khoảng 30 năm sau, khi trở thành những rường cột của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đã một lần nữa tiếp tục cuộc cải tổ mà Nikita Khrushchev năm xưa còn dang dở. Cuộc cải tổ ở Liên Xô từ năm 1987 trở đi đã ngày càng xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội Marx-Lenin, kết cục tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô, tan rã Liên bang Xô viết là điều tất yếu.

Mikhail Gorbachev, người nắm giữ cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1985 đã chính thức phát động công cuộc cải tổ. Ban đầu, sự nghiệp này nhận được sự hưởng ứng và đồng thuận rất lớn trong đảng và trong xã hội sau khi Liên Xô đã phải trải qua một thập kỷ trì trệ.

Tuy nhiên, Mikhai Gorbachev cũng như nhiều "đứa con của Đại hội XX" khác, những cải cách của ông ta dần rời xa những vấn đề mang tính chất nguyên tắc. Từ năm 1987, ekip Gorbachev không ngừng sử dụng các thủ thuật chính trị để nhằm làm chia sẽ đảng, cô lập hóa nhóm người chống đối lại những cải tổ của họ.

Tại Đại hội Đại biểu Nhân dân bất thường lần thứ III giữa tháng 3-1990, họ đã thông qua nghị quyết mang tên Thiết lập chức vị tổng thống và sửa đổi bổ sung Hiến pháp Liên Xô. 7 điều trong Hiến pháp Liên Xô bị sửa đổi, trong đó nghiêm trọng nhất là Điều 6.

Từ "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và là hạt nhân của chế độ chính trị, nhà nước và xã hội Liên Xô" bị sửa thành "Đảng Cộng sản Liên Xô, các chính đảng khác và công đoàn, đoàn thanh niên, đoàn thể xã hội và phong trào quần chúng khác, thông qua đại biểu của mình bầu vào Xô viết đại biểu nhân dân và các hình thức khác tham gia vạch ra chính sách của nhà nước Xô viết, công việc quản lý nhà nước và xã hội".

Thay đổi này đồng nghĩa với hành động thủ tiêu địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với nhà nước và xã hội về mặt luật pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng chính trị trong nước.

Xét trên lập trường của chủ nghĩa Lenin, đây là sự phản bội quyết định nhất. Trước đó, tháng 2-1986, sau hơn một năm Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ 27. Sau đó không lâu, Gorbachev đưa ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa tính công khai, dư luận đa nguyên hóa” và lấy đó làm bước đột phá mở ra cơ chế cải cách.

Trong báo cáo đọc tại phiên họp Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19, Gorbachev đưa ra phương châm chủ yếu của cải tổ thể chế chính trị Liên Xô không chỉ là đề xướng vấn đề dân chủ hóa tình công khai và dư luận đa nguyên hóa. Mà là phải loại bỏ vấn đề Đảng Cộng sản Liên Xô là hạt nhân của thể chế chính trị Liên Xô. Là vấn đề phải chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ trong tay Đảng Cộng sản sang Xô-viết.

Thể chế đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện, ý thức hệ đa nguyên chính thức trở thành phương châm chỉ đạo của Đảng khi Đại hội đại biểu lần thứ 28 (Đại hội cuối cùng trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô trước khi Liên Xô tan rã) thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới Xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo”.

Từ đây, hàng loạt các tổ chức chống phá được thành lập, phát triển và thực hiện cuộc đấu tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô. “Sửa đổi Hiến pháp chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ và giải tán” - Kusov, Phó chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Nga.

Được sự cổ vũ của phương châm dân chủ hóa tính công khai và thể chế đa nguyên, đa đảng của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa và khuynh hướng ly khai ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ. Tổ chức Đảng ở các nước này cũng ngày càng xa rời trung ương.

Từ năm 1989, Đảng Cộng sản của một số nước cộng hòa như Latvia, Litva, Estonia… đã yêu cầu tách khỏi hoặc độc lập với Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngày 7 tháng 12 năm 1989, Đảng Cộng sản Litva đã tách khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô và từ bỏ yêu sách của mình để có một "vai trò lãnh đạo" hiến pháp trong chính trị. Lần đầu tiên ở Liên Xô, Đảng Cộng sản cầm quyền của Litva chính thức độc lập khỏi sự kiểm soát của Moscow.

Và cũng chỉ một năm sau Đảng Cộng sản đã mất quyền lực hoàn toàn trong các cuộc bầu cử quốc hội đa đảng, Vytautas Landsbergis trở thành tổng thống phi Cộng sản đầu tiên của Litva kể từ khi bị sáp nhập vào Liên Xô.

Về sau, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tự giải tán trước sự thúc ép của Gorbachev. Kết quả là các tòa nhà làm việc, trung tâm chính trị xã hội, cơ sở nghiên cứu cùng nhiều công trình khác của Đảng Cộng sản Liên Xô đều bị nhà cầm quyền Nga niêm phong và tịch thu.

Tổ chức đảng ở Nga và các nước cộng hòa Liên Xô nhanh chóng bị giải tán hoặc bị cấm hoạt động. Đảng Cộng sản Liên Xô với gần 20 triệu đảng viên đã đánh mất địa vị cầm quyền sau 74 năm. Điều đáng nói là các đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô dường như đã “buông xuôi” , không hề tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ tổ chức đảng của mình.

Mất đảng tất yếu dẫn đến mất nước. Ngày 25-12-1991, Gorbachev đến Phủ Tổng thống ở Điện Kremli chuẩn bị đơn từ chức. 19 giờ, Gorbachev lên Đài truyền hình trung ương và Đài CNN (Mỹ) đọc thư gửi nhân dân Liên Xô và toàn thế giới, tuyên bố từ chức, ngừng mọi hoạt động của mình với chức vụ Tổng thống Liên Xô. Liên bang Xô - viết chính thức tan rã.

30 năm sau cơn địa chấn chính trị lớn nhất thế kỷ XX ấy, tháng 5 vừa qua, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".

Tổng Bí thư nhận định: “…Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác”.

Song trên cơ sở phân tích toàn diện các khía cạnh lý luận và thực tiễn, Tổng Bí thư khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Bài học xương máu từ sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô sau 30 năm nhìn lại càng cho thấy, nhân dân không hề từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà sự phản bội mang tính chất quyết định của một số nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã tước đoạt đi chế độ xã hội chủ nghĩa ở đất nước này. Việc sửa đổi điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1990 cũng do chính lực lượng này chủ trì, không một thế lực thù địch bên ngoài nào có khả năng thực hiện được điều này.

GS, TS Phạm Quang Minh, nguyên Hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng chỉ rõ rằng không thể có sự cáo chung của Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Bởi theo ông: “Cho đến nay, mẫu hình kinh tế-chính trị đổi mới ở Việt Nam là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Từ góc độ chính trị, thể chế chính trị được xây dựng trên nguyên tắc dân chủ tập trung dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Quá trình dân chủ hóa đang từng bước được thực hiện một cách tiệm tiến với các biểu hiện như thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng, đấu tranh với các biểu hiện diễn biến và tự diễn biến, tham nhũng, thực hiện các cuộc chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm trong quốc hội, hình thành các tổ chức hội nghề nghiệp bảo vệ quyền lợi của nhân dân”.

GS, TS. Lưu Văn Sùng, nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh rút ra bài học: Xác định kiên định và tiếp tục thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, vì đây là nhân tố tiên quyết để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình thực hiện cải tổ, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã quyết định xóa bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực chất, đó không chỉ là sự tước quyền lãnh đạo của Đảng về mặt pháp lý, thừa nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo điều kiện cho các lực lượng chính trị khác vươn lên đoạt quyền, mà còn là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Vẫn theo GS, TS. Lưu Văn Sùng, cùng với đó, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì tất yếu phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ là nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là cơ sở để xây dựng hệ tư tưởng của toàn xã hội và nhờ đó mới có thể thực hiện được mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Ngược lại, nếu từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu dẫn đến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tiếp nhận hệ tư tưởng tư sản, như Goóc-ba-chốp đã thực hiện trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây.

Phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội nói chung, nhất là đối với lực lượng vũ trang (quân đội và công an). Đảng phải lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và trực tiếp lực lượng vũ trang.

Bởi vì, nếu lực lượng vũ trang bị trung lập hóa, chỉ có trách nhiệm bảo vệ độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia, không phụ thuộc vào đảng phái nào, thì thực chất là tước quyền lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Cách thức này đã được áp dụng ở Liên Xô thời kỳ cải tổ.

Trong hội nhập quốc tế, nhưng độc lập về chính trị, giữ vững chủ quyền quốc gia, tiếp tục thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn gần 30 năm qua đã chứng minh đó là quan điểm đúng đắn. Thực tiễn cũng cho thấy, việc thực hiện công cuộc cải tổ của Liên Xô trước đây có sự chi phối và sao chép tư tưởng chính trị từ bên ngoài, vì vậy đã gây nên sự sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Công cuộc đổi mới cần có những bước đi thích hợp để bảo đảm vừa đổi mới, vừa ổn định. Đổi mới phải bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, sau đó đến đổi mới về chính trị. Công cuộc cải tổ của Liên Xô trước đây đã thực hiện một cách cấp thời, thiếu trình tự, cụ thể là: ban đầu đổi mới doanh nghiệp, rồi đến 100 ngày thực hiện tư nhân hóa, áp dụng nền dân chủ tư sản vào xã hội Xô-viết,... Kết cục, dẫn đến hỗn loạn và sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa” – GS, TS Lưu Văn Sùng phân tích.














Yêu nước ST.

 

Trò hề của đám vong quốc ở Đức

Hôm 21/9 nhóm Hề Dzân chủ của đám vong quốc hủi nô, gồm Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa và Bùi Thanh Hiếu tổ chức một buổi Livestream với chủ đề “Biểu tình cho tự do báo chí Việt Nam” ngay trước cửa trụ sở của Facebook ở Berlin.Buổi biểu diễn của Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa và Bùi Thanh Hiếu đã “rất thành công” khi có tới 7 người đứng xem và thậm chí thi thoảng cũng có đôi ba tiếng vỗ tay lộp độp, lộp độp cho những hành vi biểu cảm của những kẻ lạc loài, kèm theo đó là vài đồng bạc lẻ ném xuống đất.Theo dõi “cuộc biểu tình rầm rộ” này trên Facebook, ai cũng biết đám này diễn hài “Biểu tình cho tự do báo chí Việt Nam” chỉ để vu khống “chính quyền Việt Nam can thiệp vào mạng xã hội, xóa các bài viết mà bọn họ tung ra, vi phạm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận”, hòng kiếm sống qua ngày nơi xứ người mà thôi.

Không hề cảm tính, những ai đã và đang sử dụng Facebook tại Việt Nam thời gian qua đều thấy một thực tế sinh động là mọi đối tượng ở Việt Nam, từ già tới trẻ, từ nam giới đến phụ nữ, từ trí thức tơi tầng lớp bình dân, thậm chí cả người thu nhập thấp đều có thể sử dụng Facebook với nhiều mục đích khác nhau mà không gặp bất cứ một trở ngại nào từ phía nhà nước.

Người ta cũng dễ dàng nhận ra, không gian chính trị trên Facebook ở Việt Nam là vô cùng đa dạng, phong phú. Ai cũng có thể biểu đạt thái độ chính trị hay gần hơn là cảm xúc của mình đối với nhà nước và các vấn đề xã hội. Vì thế, chúng ta cũng dễ dàng tìm thấy những bài viết tích cực cũng như thiêu cực trên mạng. Khen cũng có mà chê cũng nhiều, bao gồm cả những bài viết tiêu cực phản ánh mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Thực tế đó nói lên điều gì nếu không phải là người dân và các cơ quan báo chí đang thực sự thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình trên mạng Facebook?

Không chỉ có người dân “tự làm báo” mà ngay cả các cơ quan báo chí trong và ngoài nước đều có các phiên bản điện tử online đều được nhà nước tạo mọi điều kiện tốt nhất để thực hiện tiêu chí mục đích đề ra. Cũng trên Faceboook, người dân được khuyến khích thực hiện quyền tự do ngôn luận bằng cách tham gia viết bài, bình luận các vấn đề nóng, sự kiện kinh tế, xã hội, chính trị trong nước, được tự do đóng góp ý kiến, thể hiện quan điểm tích cực, xây dựng trên mạng xã hội. Thực tế này trái ngược hoàn toàn với những gì đám vong quốc đang diễn trò trước trụ sở Facebook tại Đức.

Trong cái gọi là “biểu tình cho tự do báo chí Việt Nam” nói trên, Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa, Bùi Thanh Hiếu tố cáo Facebook đã xóa các bài viết, video của chúng và coi đó là hành vi “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và vu khống nhà nước Việt Nam đứng sau câu chuyện này.

Công bằng mà nói, chuyện xóa bài viết hoặc áp dụng một số hình thức hạn chế quyền của các chủ tài khoản Facebook là có chuyện có thật, xảy ra ở khắp nơi trên thế giới mà Facebook đang có mặt, kể cả ở Đức.

Facebook có những quy định riêng và ai sửu dụng Facebook sẽ phải tuân thủ luật chơi của nó, tương tự như Nguyễn Văn Đài sống ở Đức thì phải tuân thủ luật pháp của Đức vậy. Không chấp nhận quy định (luật chơi) của họ thì mời cút. Tiếp nữa Facebook dù có luật chơi của họ, nhưng hoạt động trên quốc gia nào thì vẫn phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó. Từ đây có thể hiểu, Faceebook xóa bài viết của đám cặn bã chính trị nói trên là có lý do.

Không khó để thấy, gần như 100% các bài viết, thông tin, clip trên trang “Nguyễn Văn Đài và bạn bè” là những bài viết vi phạm những quy tắc tiêu chuẩn cộng đồng do Facebook đặt ra. Đó là những bài viết có nội dung xuyên tạc, video cắt ghép sai sự thật, ngôn ngữ kích động hận thù,… Điển hình mới đây, Nguyễn Văn Đài đã đăng tải 2 video bôi nhọ hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính qua lời kêu gọi Ủng hộ quỹ máy tính và họp trực tuyến về công tác phòng, chống dịch Covid-19. Hay Bùi Thanh Hiếu đã từng đăng bài viết đồn đoán xuyên tạc về người kế vị Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Với những thông tin độc hại như vậy thì Facebook không thể khoanh tay đứng nhìn nền tảng xã hội mà họ xây dựng bị vấy bẩn được. Với tinh thần trách nhiệm cao, họ đã nỗ lực loại bỏ những bài viết, video nguy hại đó. Chính vì vậy, những kẻ luôn mang trong mình âm mưu chính trị đen tối mới nảy sinh hằn học, nhào nặn ra kịch bản “chính quyền Việt Nam bắt tay với FB”, “vi phạm tự do báo, tự do ngôn luận”.

Từ việc xác định nguyên nhân dẫn đến các bài viết bị xóa, chúng ta tháy rõ ràng, buổi biểu tình của 3 đối tượng trên chỉ là “Trò hề chính trị bẩn thỉu” và nó lý giải vì sao chỉ tập hợp được 7 chú vượn núi đứng xem làm hàng.

 

 

KHÔNG LẠM DỤNG NGÔN NGỮ NƯỚC NGOÀI
LÀM MẤT SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

 

luôn trân trọng và giữ gìn tiếng Việt. Người khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương trong việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc cả lúc nói và lúc viết. Bảo vệ và phát triển tiếng Việt theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải dựa vào bản thân tiếng Việt “để phát triển nó là chính, vay mượn là phụ”.
Từ khi đất nước mở cửa, hội nhập, dẫu quan niệm, phương châm xử thế “Ta về ta tắm ao ta...” không hẳn lúc nào cũng đúng, cũng phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng những ai yêu văn hóa Việt, quý trọng những giá trị tinh túy, tiêu biểu đã làm nên cốt cách, tâm hồn Việt, thì cũng chẳng bao giờ ủng hộ, cổ vũ cho những thái độ, hành vi, lối sống sùng ngoại, lai căng. Bởi sùng ngoại, lai căng không chỉ là biểu hiện của tâm lý tự ti, không tự tin vào những giá trị, bản chất tốt đẹp của dân tộc, cộng đồng và con người mình, mà còn chạy theo một cách sống, cách cư xử hời hợt, hào nhoáng, giả tạo và có phần phù phiếm.
Có một thời gian, truyền thông từng lên tiếng phê phán những ông bố, bà mẹ hiện đang sinh sống trên đất Việt mà lại đặt tên con “nửa Tây, nửa ta” chẳng giống ai, đại loại như: A-lếch Hạ, Giôn-xơn Trần, Ku-mi Tấn... Cũng có một dạo, dư luận tỏ ra khó chịu vì những cái tên cửa hàng, doanh nghiệp Việt đã được “ngoại hóa”, kiểu như Cuhamubasacu, Xunhakhavahopha... Mới thoạt nghe, ai cũng tưởng tên có nguồn gốc từ... Nhật Bản; nhưng khi “luận ra” mới biết đó là: “Cửa hàng mua bán sách cũ”, “Xuất nhập khẩu văn hóa phẩm”.

Tranh minh họa việc lạm dụng từ ngữ nước ngoài trong giao tiếp
Căn bệnh “sùng ngoại” tiếp tục có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Khi các bạn trẻ hay có thói quen đan xen, gài cắm những từ ngữ có nguồn gốc nước ngoài vào trong giao tiếp hàng ngày. Ví dụ như trường hợp một nhân viên bán vế máy bay đã quen giao tiếp với khách quốc tế, nên đã nói chuyện với một vị khách Việt như sau: “Nếu có tình huống “delay” (hoãn chuyến), cháu sẽ “confirm” (xác nhận) vào giấy công tác cho bác”. Ông khách chẳng hiểu gì. Hỏi lại thì phiền, có khi bị đánh giá “nhà quê”, nên đành im lặng trong băn khoăn… Ấy là chưa nói đến một bộ phận sinh viên trẻ, trong ngôn ngữ giao tiếp hay có sự pha trộn thái quá, với “essays” (tiểu luận), “difficult” (khó), “try again” (cố gắng làm lại), “complete” (hoàn thành), “send” (gửi), “contact” (liên lạc)… Tình trạng này nếu không khắc phục kịp thời sẽ tạo thành “thói quen ngôn ngữ” có hại, nhất là tư duy sẽ mất sự rõ ràng, chính xác, khó tường minh vấn đề khi diễn đạt, vì ngôn ngữ là phương tiện đắc lực nhất của tư duy. “Ngôn ngữ và tư duy như hai mặt của một tờ giấy” là vì vậy.
Hơn nữa, tiếng Việt với các đặc thù: Tính biểu trưng cao, tính cân xứng hài hòa, tính biểu cảm lớn, tính linh hoạt, tính khái quát, thường cấu trúc chủ động với nhiều động từ, nên nếu lạm dụng tiếng Anh thường cấu trúc bị động nhiều danh từ, thì cấu trúc lời văn dễ bị phá vỡ làm phương hại đến sắc thái ý nghĩa. Có nhà nghiên cứu gọi trường hợp này là “chấn thương ngôn ngữ”. Không chỉ ở nước ta mà ở hầu hết các nước tiên tiến đều phải bàn đến giải pháp khắc phục, như ở Pháp, mỗi bộ đều có bộ phận chuyên dịch các thuật ngữ chuyên ngành để làm sao khi sử dụng ngôn từ sẽ thuần Pháp nhất. Từ thực trạng trên, để phòng, chống lai căng, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ trong việc giữ gìn sự trong sáng, phát triển và làm giàu tiếng Việt.

Bác Hồ có 30 năm sống ở nước ngoài, đi qua 40 nước, sử dụng 29 ngôn ngữ, thông thạo 12 ngôn ngữ chính, thế mà vẫn dùng tiếng Việt một cách chuẩn mực, tinh tế, trong sáng, ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu, đậm đà hương vị ca dao, dân ca, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ. Bác Hồ tránh vay mượn tiếng nước ngoài vô nguyên tắc, vì Bác đã khẳng định: “Tiếng Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để lòe thiên hạ”. Nhưng khi cần Người vẫn dùng, như đi thăm Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Lào… trong các bài diễn văn có pha một vài từ, thường là khẩu hiệu hay cụm từ nói về tình đoàn kết hữu nghị anh em trong ngôn ngữ nước chủ nhà, để làm gần gũi hơn tình cảm bạn bè, phá bỏ khoảng cách các nghi thức ngoại giao, cùng nhau hòa trong không khí thân mật gắn nối và gắn kết thật chân tình, Bác đã mượn tiếng nước bạn rất có chủ định vào mục đích ngoại giao văn hóa.

Không những vậy, Bác Hồ rất có ý thức quảng bá tiếng Việt ra thế giới. Những năm đầu viết báo tiếng Pháp, các danh từ chỉ người Việt đều được tác giả viết bằng chữ Việt. Trên Báo Le Paria số 4 (1-7-1922), bản tiếng Pháp bài "Thù ghét chủng tộc", hai chữ “con gái” bằng tiếng Việt. Trên Báo L’Humanité (17-8-1922), bài tiếng Pháp “Dưới sự bảo hộ của…”, các chữ “nhà quê”, “quan lớn”, “lính lệ” viết bằng tiếng Việt. Trong truyện "Vi hành", chữ “dân” viết bằng tiếng Việt. Đặc biệt, hai chữ “nhà quê” đều viết bằng tiếng Việt trong tất cả các văn bản tiếng Pháp. Dĩ nhiên, mục đích chủ yếu là chính trị, nhưng từ góc độ ngôn từ cũng cho thấy biết bao sắc thái tình cảm trong cách dùng tiếng mẹ đẻ như vậy. Trong truyện “Đồng tâm nhất trí” (Báo L’Humanité (29-9-1922) có giới thiệu thể thơ lục bát Việt bằng cách cho in nguyên bài ca dao tiếng Việt “Con mèo mà trèo cây cau”, in hoa những chỗ gieo vần... Những ví dụ như vậy cần được phân tích sâu trong môi trường học đường để thấy giá trị, ý nghĩa tiếng Việt trong sự đối sánh với ngôn ngữ nước ngoài.

Hai là, giải pháp giáo dục

Học ngoại ngữ là trổ ra một cửa sổ mới đón gió văn hóa từ bên ngoài bầu trời thế giới. Làm chủ thêm một ngôn ngữ để thêm hiểu bạn bè và cũng hiểu ta hơn. Đây cũng là phương tiện rất cần thiết trong việc làm giàu văn hóa tri thức dân tộc và cá nhân, nhưng có một nguyên lý rất được chú ý là phải giỏi tiếng mẹ đẻ thì mới giỏi được ngoại ngữ. Cho nên bài học giáo dục đầu tiên chống lai căng ngôn ngữ là tăng cường tình yêu tiếng Việt “đẹp và rất giàu” trong mỗi bài giảng ở nhà trường. Phải làm rõ cho người học thấy tiếng ta đẹp, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm… ra sao. Có hiểu mới yêu. Có yêu mới trân trọng, quý mến. Thực tế cho thấy, hiện tượng ngôn ngữ lai căng xảy ra nhiều ở giới trẻ. Tại sao vậy? Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản, trong giao tiếp thể hiện rõ mình nhất. Mà người trẻ thì luôn thích mới, thích khẳng định cá tính, nhất là chưa đủ tri thức về tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài để có một bản lĩnh ứng xử văn hóa lịch lãm. Ngôn ngữ lai căng là ngôn ngữ giả. Không một trí thức chân chính nào lại đi dùng kiến thức giả. Lai căng ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, để ngăn chặn nó phải có sự tham gia của toàn xã hội mà trước nhất là tế bào gia đình, nhà trường, các cơ quan đoàn thể…

Ba là, coi trọng văn hóa làm gương

Ngôn ngữ là của chung nhưng các tầng lớp như chính khách, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo… khi phát ngôn có ảnh hưởng nhất định đến xã hội, nhất là với giới trẻ. Với các nhà văn là “nghệ sĩ ngôn từ” thì cách dùng tiếng mẹ đẻ trong sáng, dễ hiểu, giản dị của họ là bài học cho bạn đọc. Như V. Huy-gô - đại văn hào Pháp, là tác giả của bao kiệt tác vẫn xung phong làm từ điển tiếng Pháp, tự nhận hoàn chỉnh một mục từ. Điều ấy cho thấy, mỗi nhà văn đồng thời là một nhà từ điển học. Dĩ nhiên, vẫn có thể dùng ngôn ngữ nước ngoài về hướng đi, cách viết, câu chữ… nhưng phải với mục đích nghệ thuật làm trong sáng và giàu có thêm tiếng Việt. Các nhà báo làm mẫu cho bạn đọc trên ngôn từ chính xác, biểu cảm. Các nhà giáo làm mẫu cho học trò bằng lời nói chuẩn mực, tinh tế…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” TRONG NỘI BỘ

 

V.I. Lênin từng dạy “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. Để ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, chúng ta phải xác định rõ các mức độ biểu hiện, các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những mức độ biểu hiện đó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc “tự soi”; trên cơ sở đó đề ra các biện pháp khắc phục.

Trong giai đoạn hiện nay, việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem như là nội dung, yêu cầu quan trọng trong vấn đề tự bảo vệ, nhằm ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự suy thoái” . Bởi vì, có khắc phục hiệu quả tình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái mới làm cho mỗi đảng viên và tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hơn, có sức đề kháng cao hơn trước các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người. Do vậy, yêu cầu đặt ra là, mỗi cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ lấy mình; phải nâng cao trình độ năng lực, lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị. Không ai có thể làm thay sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của từng cán bộ, đảng viên.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nhưng nó có phát triển đến mức nào, có làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta được hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào khả năng đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, khả năng tự bảo vệ và sức mạnh của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, không thế lực nào có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phải tập trung nâng cao khả năng tự bảo vệ, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ với xây dựng, xây dựng phải gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích phát triển tốt hơn. Không để vì một lý do nào đó rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu lý tưởng, đi ngược lại con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng

 

Một trong những điểm nhấn của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII là “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

CẦN NHẬN RÕ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG

Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

Nhân đây, cần nói thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.

Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).

Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).

Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).

Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.

Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

Cần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.

Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

Hội nghị Trung ươpng 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái”.

Xuất phát từ những lời dạy của Hồ Chí Minh và các giải pháp Trung ương nêu ra, xin nhấn mạnh, làm rõ mấy điểm như sau:

Thứ nhất, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và XIII đều đề cập công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Vấn đề đặt ra là phải xem lại chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này đến đâu? Như thế nào? Cái gì làm tốt, cái gì chưa tốt, nguyên nhân, giải pháp? Phải chăng công tác giáo dục chính trị tư tưởng vẫn chưa thật sự thấm sâu vào tim, óc của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy đảng các cấp và cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện nhiệm vụ này chưa thấu.

Trong những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, có một điều rất quan trọng thể hiện tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, xuyên suốt trong lãnh đạo của Đảng. Đó là “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(9).

Nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu và xuyên suốt là phải xem xét lại việc giáo dục chính trị tư tưởng để có biện pháp ráo riết, triệt để khắc phục những gì làm chưa được, chưa tốt. Bởi vì, có được giáo dục chính trị tư tưởng một cách thật sự mà cụ thể là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới chống được chủ nghĩa cá nhân, làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình.

Không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên xem nhẹ, coi thường việc học tập chính trị tư tưởng. Họ không hiểu rằng nhận thức sai thì hành động sai; nhận thức lệch lạc, méo mó thì hành động lệch lạc, méo mó. Hiểu không thấu thì làm không đúng. Vấn đề là học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.

Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu lại, nhấn mạnh việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng và rất cần thiết được Hồ Chí Minh bàn tới rất sớm, sâu sắc, toàn diện. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII đã đề cập. Muốn nhân dân, báo chí, công luận thực hiện được vai trò giám sát thì điều quan trọng nhất là xây đắp, vun bồi nền dân chủ. Phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Đây là cốt lõi của giải pháp hoàn thiện tính khoa học của bộ máy và cơ chế.

Dân giám sát là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội XIII. Muốn thực hiện tốt điều này, không gì tốt hơn học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu thấu rằng “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(10). Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, khuyến khích, tạo điều kiện cho quần chúng nói. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(11). Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát là tốt nhất, đó là kiểm soát từ dưới lên. Người viết: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất”(12).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, phải có “cái lồng nhốt” quyền lực. “Cái lồng” đó là vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, cấp ủy. Nhưng nhất định phải dựa vào “cái lồng nhân dân” với nội dung cốt tủy là dân chủ thật sự.

Cơ chế, bộ máy, trong đó có khía cạnh tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì hàng đầu, xuyên suốt là giải thích, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục. Nhưng không phải là không xử phạt. Nếu không xử phạt thì mất hết kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Theo Hồ Chí Minh, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(13).

Thứ ba, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng, vì “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Mặt khác, tính xấu của môt người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

Bộ máy, cơ chế dù hoàn thiện đến đâu mà con người hư hỏng thì sẽ phá tan bộ máy. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách, phương pháp của các đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới quần chúng nhân dân và xã hội. Công cuộc đổi mới thuận lợi hay khó khăn, thành công nhiều hay ít đều do cán bộ tốt hay kém.

Hy vọng và tin tưởng rằng, nếu nhận thức và hành động đúng thì khía cạnh nhỏ sẽ đem lại kết quả lớn trong việc quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.

PGS.TS. Bùi Đình Phong

__

(1) (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.6, tr.292, 127.

(2) (4) (7) (8) (9) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.290, 295, 610, 610, 290, 328.

(3) (10) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.546-547, 668, 526.

(5) (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.609, 610.

(10) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668, 526.

Tuyengiao.vn