Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

 

KHÔNG LẠM DỤNG NGÔN NGỮ NƯỚC NGOÀI
LÀM MẤT SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

 

luôn trân trọng và giữ gìn tiếng Việt. Người khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương trong việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc cả lúc nói và lúc viết. Bảo vệ và phát triển tiếng Việt theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải dựa vào bản thân tiếng Việt “để phát triển nó là chính, vay mượn là phụ”.
Từ khi đất nước mở cửa, hội nhập, dẫu quan niệm, phương châm xử thế “Ta về ta tắm ao ta...” không hẳn lúc nào cũng đúng, cũng phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng những ai yêu văn hóa Việt, quý trọng những giá trị tinh túy, tiêu biểu đã làm nên cốt cách, tâm hồn Việt, thì cũng chẳng bao giờ ủng hộ, cổ vũ cho những thái độ, hành vi, lối sống sùng ngoại, lai căng. Bởi sùng ngoại, lai căng không chỉ là biểu hiện của tâm lý tự ti, không tự tin vào những giá trị, bản chất tốt đẹp của dân tộc, cộng đồng và con người mình, mà còn chạy theo một cách sống, cách cư xử hời hợt, hào nhoáng, giả tạo và có phần phù phiếm.
Có một thời gian, truyền thông từng lên tiếng phê phán những ông bố, bà mẹ hiện đang sinh sống trên đất Việt mà lại đặt tên con “nửa Tây, nửa ta” chẳng giống ai, đại loại như: A-lếch Hạ, Giôn-xơn Trần, Ku-mi Tấn... Cũng có một dạo, dư luận tỏ ra khó chịu vì những cái tên cửa hàng, doanh nghiệp Việt đã được “ngoại hóa”, kiểu như Cuhamubasacu, Xunhakhavahopha... Mới thoạt nghe, ai cũng tưởng tên có nguồn gốc từ... Nhật Bản; nhưng khi “luận ra” mới biết đó là: “Cửa hàng mua bán sách cũ”, “Xuất nhập khẩu văn hóa phẩm”.

Tranh minh họa việc lạm dụng từ ngữ nước ngoài trong giao tiếp
Căn bệnh “sùng ngoại” tiếp tục có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Khi các bạn trẻ hay có thói quen đan xen, gài cắm những từ ngữ có nguồn gốc nước ngoài vào trong giao tiếp hàng ngày. Ví dụ như trường hợp một nhân viên bán vế máy bay đã quen giao tiếp với khách quốc tế, nên đã nói chuyện với một vị khách Việt như sau: “Nếu có tình huống “delay” (hoãn chuyến), cháu sẽ “confirm” (xác nhận) vào giấy công tác cho bác”. Ông khách chẳng hiểu gì. Hỏi lại thì phiền, có khi bị đánh giá “nhà quê”, nên đành im lặng trong băn khoăn… Ấy là chưa nói đến một bộ phận sinh viên trẻ, trong ngôn ngữ giao tiếp hay có sự pha trộn thái quá, với “essays” (tiểu luận), “difficult” (khó), “try again” (cố gắng làm lại), “complete” (hoàn thành), “send” (gửi), “contact” (liên lạc)… Tình trạng này nếu không khắc phục kịp thời sẽ tạo thành “thói quen ngôn ngữ” có hại, nhất là tư duy sẽ mất sự rõ ràng, chính xác, khó tường minh vấn đề khi diễn đạt, vì ngôn ngữ là phương tiện đắc lực nhất của tư duy. “Ngôn ngữ và tư duy như hai mặt của một tờ giấy” là vì vậy.
Hơn nữa, tiếng Việt với các đặc thù: Tính biểu trưng cao, tính cân xứng hài hòa, tính biểu cảm lớn, tính linh hoạt, tính khái quát, thường cấu trúc chủ động với nhiều động từ, nên nếu lạm dụng tiếng Anh thường cấu trúc bị động nhiều danh từ, thì cấu trúc lời văn dễ bị phá vỡ làm phương hại đến sắc thái ý nghĩa. Có nhà nghiên cứu gọi trường hợp này là “chấn thương ngôn ngữ”. Không chỉ ở nước ta mà ở hầu hết các nước tiên tiến đều phải bàn đến giải pháp khắc phục, như ở Pháp, mỗi bộ đều có bộ phận chuyên dịch các thuật ngữ chuyên ngành để làm sao khi sử dụng ngôn từ sẽ thuần Pháp nhất. Từ thực trạng trên, để phòng, chống lai căng, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ trong việc giữ gìn sự trong sáng, phát triển và làm giàu tiếng Việt.

Bác Hồ có 30 năm sống ở nước ngoài, đi qua 40 nước, sử dụng 29 ngôn ngữ, thông thạo 12 ngôn ngữ chính, thế mà vẫn dùng tiếng Việt một cách chuẩn mực, tinh tế, trong sáng, ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu, đậm đà hương vị ca dao, dân ca, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ. Bác Hồ tránh vay mượn tiếng nước ngoài vô nguyên tắc, vì Bác đã khẳng định: “Tiếng Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để lòe thiên hạ”. Nhưng khi cần Người vẫn dùng, như đi thăm Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Lào… trong các bài diễn văn có pha một vài từ, thường là khẩu hiệu hay cụm từ nói về tình đoàn kết hữu nghị anh em trong ngôn ngữ nước chủ nhà, để làm gần gũi hơn tình cảm bạn bè, phá bỏ khoảng cách các nghi thức ngoại giao, cùng nhau hòa trong không khí thân mật gắn nối và gắn kết thật chân tình, Bác đã mượn tiếng nước bạn rất có chủ định vào mục đích ngoại giao văn hóa.

Không những vậy, Bác Hồ rất có ý thức quảng bá tiếng Việt ra thế giới. Những năm đầu viết báo tiếng Pháp, các danh từ chỉ người Việt đều được tác giả viết bằng chữ Việt. Trên Báo Le Paria số 4 (1-7-1922), bản tiếng Pháp bài "Thù ghét chủng tộc", hai chữ “con gái” bằng tiếng Việt. Trên Báo L’Humanité (17-8-1922), bài tiếng Pháp “Dưới sự bảo hộ của…”, các chữ “nhà quê”, “quan lớn”, “lính lệ” viết bằng tiếng Việt. Trong truyện "Vi hành", chữ “dân” viết bằng tiếng Việt. Đặc biệt, hai chữ “nhà quê” đều viết bằng tiếng Việt trong tất cả các văn bản tiếng Pháp. Dĩ nhiên, mục đích chủ yếu là chính trị, nhưng từ góc độ ngôn từ cũng cho thấy biết bao sắc thái tình cảm trong cách dùng tiếng mẹ đẻ như vậy. Trong truyện “Đồng tâm nhất trí” (Báo L’Humanité (29-9-1922) có giới thiệu thể thơ lục bát Việt bằng cách cho in nguyên bài ca dao tiếng Việt “Con mèo mà trèo cây cau”, in hoa những chỗ gieo vần... Những ví dụ như vậy cần được phân tích sâu trong môi trường học đường để thấy giá trị, ý nghĩa tiếng Việt trong sự đối sánh với ngôn ngữ nước ngoài.

Hai là, giải pháp giáo dục

Học ngoại ngữ là trổ ra một cửa sổ mới đón gió văn hóa từ bên ngoài bầu trời thế giới. Làm chủ thêm một ngôn ngữ để thêm hiểu bạn bè và cũng hiểu ta hơn. Đây cũng là phương tiện rất cần thiết trong việc làm giàu văn hóa tri thức dân tộc và cá nhân, nhưng có một nguyên lý rất được chú ý là phải giỏi tiếng mẹ đẻ thì mới giỏi được ngoại ngữ. Cho nên bài học giáo dục đầu tiên chống lai căng ngôn ngữ là tăng cường tình yêu tiếng Việt “đẹp và rất giàu” trong mỗi bài giảng ở nhà trường. Phải làm rõ cho người học thấy tiếng ta đẹp, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm… ra sao. Có hiểu mới yêu. Có yêu mới trân trọng, quý mến. Thực tế cho thấy, hiện tượng ngôn ngữ lai căng xảy ra nhiều ở giới trẻ. Tại sao vậy? Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản, trong giao tiếp thể hiện rõ mình nhất. Mà người trẻ thì luôn thích mới, thích khẳng định cá tính, nhất là chưa đủ tri thức về tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài để có một bản lĩnh ứng xử văn hóa lịch lãm. Ngôn ngữ lai căng là ngôn ngữ giả. Không một trí thức chân chính nào lại đi dùng kiến thức giả. Lai căng ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, để ngăn chặn nó phải có sự tham gia của toàn xã hội mà trước nhất là tế bào gia đình, nhà trường, các cơ quan đoàn thể…

Ba là, coi trọng văn hóa làm gương

Ngôn ngữ là của chung nhưng các tầng lớp như chính khách, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo… khi phát ngôn có ảnh hưởng nhất định đến xã hội, nhất là với giới trẻ. Với các nhà văn là “nghệ sĩ ngôn từ” thì cách dùng tiếng mẹ đẻ trong sáng, dễ hiểu, giản dị của họ là bài học cho bạn đọc. Như V. Huy-gô - đại văn hào Pháp, là tác giả của bao kiệt tác vẫn xung phong làm từ điển tiếng Pháp, tự nhận hoàn chỉnh một mục từ. Điều ấy cho thấy, mỗi nhà văn đồng thời là một nhà từ điển học. Dĩ nhiên, vẫn có thể dùng ngôn ngữ nước ngoài về hướng đi, cách viết, câu chữ… nhưng phải với mục đích nghệ thuật làm trong sáng và giàu có thêm tiếng Việt. Các nhà báo làm mẫu cho bạn đọc trên ngôn từ chính xác, biểu cảm. Các nhà giáo làm mẫu cho học trò bằng lời nói chuẩn mực, tinh tế…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1 nhận xét: