Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

Thủ tướng Phạm Minh Chính: An ninh, an toàn Biển Đông là lợi ích chung

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính: An ninh, an toàn Biển Đông là lợi ích chung

Duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông là lợi ích chung.

Tối qua (27/10), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tham dự Hội nghị Cấp cao Đông Á EAS lần thứ 16, cùng lãnh đạo các nước ASEAN và các Đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nga, Hoa Kỳ và Tổng Thư ký ASEAN. Tham gia Hội nghị còn có Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới.

Các nhà lãnh đạo nhất trí cần đẩy mạnh hợp tác đa phương, khu vực và quốc tế trong giải quyết các thách thức nổi lên, ứng phó hiệu quả COVID-19, duy trì và thúc đẩy liên kết kinh tế, trao đổi thương mại và đầu tư, khôi phục và ổn định chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, hướng tới phục hồi toàn diện và bền vững. Các nước nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác; kiềm chế không có hoạt động làm gia tăng căng thẳng và phức tạp tình hình, không quân sự hoá, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước UNCLOS 1982. Các nước kêu gọi ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các nước đẩy mạnh hợp tác nâng cao năng lực y tế, tạo thuận lợi cho tiếp cận đầy đủ, kịp thời vaccine và thuốc điều trị COVID-19, nâng cao năng lực cảnh báo sớm. Nhấn mạnh các nỗ lực đẩy nhanh phục hồi kinh tế với người dân và doanh nghiệp là trung tâm và là chủ thể, Thủ tướng đề nghị ASEAN và các Đối tác tăng cường cơ hội tiếp cận và mở rộng thị trường của nhau, xuất khẩu và chuyển giao công nghệ số, công nghệ xanh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy phục hồi đồng đều, bền vững và bao trùm, gắn kết với chống biến đổi khí hậu, phát triển xanh, chuyển đổi số.

Thủ tướng kêu gọi các quốc gia đề cao tinh thần trách nhiệm, hành xử phản ánh đúng cam kết, tôn trọng lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác đa phương, thượng tôn pháp luật. Duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông là lợi ích chung và cần có sự chung tay đóng góp của tất cả các nước. Theo đó, các quốc gia cần tự kiềm chế, tránh các hành động đơn phương có thể làm phức tạp tình hình, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, theo luật pháp quốc tế, dựa trên UNCLOS 1982. Thủ tướng kêu gọi nỗ lực thực hiện đầy đủ DOC, thúc đẩy đàm phán xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, thực chất phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Kết thúc Hội nghị, các nhà lãnh đạo đã thông qua các Tuyên bố Hội nghị Cấp cao Đông Á về Hợp tác sức khỏe tinh thần, Phục hồi bền vững, Tăng trưởng kinh tế thông qua phục hồi du lịch.

 

Covid tối 28-10: Hà Nội thêm 33 ca mắc mới, 11 ca trong cộng đồng

 

Tối 28-10, Sở Y tế Hà Nội cho biết, trong ngày thành phố ghi nhận 33 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 11 ca trong cộng đồng, 11 ca trong khu cách ly, 11 ca trong khu phong tỏa.

CẢNH BÁO: Phát hiện thêm biến chủng A.30 có thể kháng vắc xin Covid-19

 

Nhóm nhà khoa học từ Đức xác định, biến chủng A.30 lần đầu phát hiện ở châu Phi có nguy cơ chống lại kháng thể sinh ra bởi một số loại vắc xin Covid-19

Mạo danh đại tá Công an, đối tượng nữ lừa đảo chiếm đoạt gần 20 tỉ đồng trên khắp cả nước


          Ngày 28/10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, cho biết đơn vị vừa ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Mai Thị Lan, SN 1977, trú tại phường Giảng Võ, quận Ba Đình để điều tra, làm rõ về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

          Trước đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm tiếp nhận đơn tố giác của vợ chồng anh Phạm Quang V. và chị Vương H. (trú tại phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm) về việc bà Mai Thị Lan đã 4 lần vay với tổng số tiền 1 tỷ đồng, nhưng mới trả được 88 triệu và có dấu hiệu bỏ trốn.

Đối tượng Mai Thị Lan.

          Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an quận Bắc Từ Liêm đã xác định, đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng anh V. và chị H. là Mai Thị Lan (SN 1977, tạm trú tại Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội).

          Bên cạnh đó, cơ quan chức năng xác định, Lan cũng là đối tượng chính trong một đường dây chuyên giả danh công an và mạo nhận là có mối quan hệ với các lãnh đạo cấp cao để xây dựng lòng tin và thực hiện thành công hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại trên toàn quốc.

          Tại cơ quan Công an, đối tượng Lan khai báo thành khẩn các phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội của mình. Qua điều tra xác định, Lan đặt làm giả 3 quyển số tiết kiệm trên mạng Internet, mỗi quyển số ghi số tiền tiết kiệm 200 tỷ đồng.

          Đối tượng cũng thường xuyên chia sẻ những hình ảnh, thông tin liên quan đến việc mình là đại tá Công an, chồng là Nhà báo để tạo niềm tin ở các bị hại khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

          Tiếp cận các bị hại, đối tượng Lan thường khoe khoang các quyển sổ tiết kiệm để chứng minh sự giàu có của mình và chia sẻ những hình ảnh, công việc, các mối quan hệ với lãnh đạo cấp cao của nữ đại tá Công an để chứng minh hơn nữa sự quyền lực của bản thân trước các bị hại để đặt vấn đề vay tiền, hùn vốn làm ăn chung hoặc xin việc hộ các bị hại.

          Bằng phương thức thủ đoạn trên, đối tượng khai nhận đã tạo niềm tin và lừa đảo chiểm đoạt tài sản của anh Phạm Quang V. và chị Vương H. số tiền gần 1 tỷ đồng; vợ chồng anh chị V.T.T và Đ.T.N.H (Thanh Hóa); chị Q.L.T – nhân viên bán vé máy bay; ông N.Q.H luật sư giải quyết việc ly hôn cho chị Lan với tổng số tiền 4 tỷ 143 triệu đồng.

          Điều tra mở rộng vụ án, ngoài các bị hại trên, Lan còn cầm tiền của 7 người ở Bắc Ninh với tổng số tiền hơn 12 tỷ đồng để đi xin việc hộ các bị hại nhưng tại cơ quan điều tra Lan thừa nhận số tiền đó đã chi dùng hết cho mục đích cá nhân của Lan.

          Đối tượng Mai Thị Lan đã sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối trong đó có việc mạo danh là đại tá Công an để thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

          Tính đến ngày 28/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã xác định đối tượng Lan lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền gần 20 tỷ đồng của nhiều bị hại trên phạm vi toàn quốc.

          Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm vẫn tiếp tục điều tra mở rộng vụ án, củng cố hồ sơ tài liệu để truy tố đối tượng theo quy định pháp luật.

 

Chặn luồng gió độc "Diễn biến hòa bình" ở Vĩnh Phúc: Mũi thọc sâu trên “không gian mạng”

Không chỉ đánh phá trực diện trên các điểm nóng kinh tế xã hội, các dự án ở nhiều địa phương, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị thời gian qua đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền. Ở Vĩnh Phúc, chúng đã tạo ra những "điểm nóng" trên không gian mạng, từ đó kích động, lôi kéo người dân.

Trung ương ban hành quy định mới về 19 điều đảng viên không được làm

 

          Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW (ngày 1/11/2011).

Toàn cảnh Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.      

        Quy định ban hành trên cơ sở đánh giá kết quả 10 năm thực hiện Quy định số 47. Theo đó, Trung ương nhận định, Quy định 47-QĐ/TW đã góp phần khắc phục những hạn chế yếu kém trong thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và việc giáo dục rèn luyện, tu dưỡng, phẩm chất, đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương của đảng viên; chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ.

          Đồng thời quy định có căn cứ, cơ sở để xem xét, xử lý các vi phạm của cán bộ, đảng viên; tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

          Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy, Quy định số 47-QĐ/TW đã bộc lộ một số nội dung hạn chế như chưa bao quát đầy đủ các nội dung không được làm, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của đời sống xã hội và đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

          Một số nội dung chưa cập nhật, bổ sung kịp thời nhiều quy định mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy chuẩn về đạo đức, lối sống, có điểm không còn phù hợp nên khi áp dụng còn vướng mắc. Quy định còn có những nội dung trùng lặp, chưa thật logic, khó thực hiện khi áp dụng trong thực tiễn… Từ thực tiễn đó, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương đã thống nhất ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm.

          Tại Quy định số 37-QĐ/TW, Trung ương kế thừa cơ bản nội dung còn phù hợp, bổ sung một số nội dung đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, XIII. Với mục đích ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tha hóa quyền lực đã xảy ra trong một bộ phận đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu cấp ủy các cấp trong hoạt động công vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ…

          Quy định mới tiếp thu, cập nhật chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, về trách nhiệm nêu gương và chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan; những vấn đề mới từ thực tiễn, có tính điển hình, cốt lõi về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực để cụ thể hóa thành các quy định; phù hợp với vai trò lãnh đạo của Đảng và nhiệm vụ của đảng viên trong giai đoạn cách mạng mới.

          Quy định số 37-QĐ/TW giữ nguyên 19 điều. Trong đó, bổ sung, sửa đổi, làm rõ nội hàm, nội dung một số điều.

          Cụ thể, Trung ương bổ sung một số hành vi nghiêm cấm, trong đó, không được sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định.

          Quy định mới nghiêm cấm các hành vi đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý; hành vi chạy chức chạy quyền, tham ô hay thờ ơ, vô cảm với các hành vi sai trái trong xã hội...

          Trong quy định mới, Trung ương nhấn mạnh, đảng viên không được phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng…

          Qua thực tế công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã bổ sung nội dung cấm đảng viên "can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác".

          Bên cạnh đó, Quy định mới nhấn mạnh đảng viên không được "lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

          Quy định mới được xác định có tính pháp quy cao, được xây dựng theo nhóm hành vi với các điều khoản chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, rõ nội hàm, rõ hành vi, bảo đảm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật khi đảng viên vi phạm.

          Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm có hiệu lực kể từ ngày 25/10/2021.

 


ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHÒNG VÀ CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

 

   

   Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội, nhất là sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội... Trong khi đó, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

   Thế giới có thể đổi thay, nhưng hơn bao giờ hết, thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải: “Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định (là vững vàng, không dao động, thay đổi lập trường, ý chí trước mọi trở ngại) chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường luố đổi mới” - coi đó là một nguyên tắc cơ bản để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Cụ thể là, toàn Đảng nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải:

   1) Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo; để mỗi người không chỉ nói, viết và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.

   2) Thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phòng và chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo lức, lối sống như phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào xu thế khách quan của lịch sử và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chạy theo lối sống thực dụng, vị kỷ… Đồng thời, chủ động phòng, chống và đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước… bằng những việc làm cụ thể phù hợp chức năng, nhiệm vụ mình đảm nhiệm.

   Tuy nhiên, trong thực tế, đã có “không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” như văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhận định. Không chỉ có vậy, bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị đó đã thật sai lầm khi:

   Một là, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX chứ không phải là ở thế kỷ XXI - thời đại của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của nền kinh tế tri thức; chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương Tây, nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam; đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng mà chỉ giữ lại “học thuyết Hồ Chí Minh”, chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc mà bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội... Đây là những nhận thức sai lầm của những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, nên đã không thấy hoặc cố tình không thấy rằng, Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, là “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Nhân thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi mới về tư duy lý luận và nhận thức, đã ngày càng khẳng định sức sống, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin; tăng cường tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, bảo thủ cũng như loại bỏ những nhận thức ấu trĩ, giáo điều, duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội,v.v.. để vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam.

   Hai là, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh như: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa. Thậm chí, có người muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng của Người để “hạ bệ thần tượng”; lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin và phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn trong tư tưởng của Người, nhằm phá hoại và làm thay đổi nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Những quan niệm sai lầm này cho thấy sự thiển cận của những người không hiểu và cố tình không hiểu rằng, chỉ khi tìm thấy và lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại, để lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển phồn vinh. Hệ thống quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 91 xây dựng và phát triển.

   Ba là, đề cao “cực đoan” tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ mà không cần chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Đây là quan điểm sai trái, bởi, thực tế lịch sử đã chứng minh, Hồ Chí Minh là người lựa chọn, tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, song điều đó không có nghĩa cách mạng Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ… Loại ý kiến đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh này thực chất là xuyên tạc và nhằm hạ thấp sự cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người, bởi chỉnh thể làm nên hệ tư tưởng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải chỉ duy nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh.

   Bốn là, “hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ ra. Những người dao động về nền tảng tư tưởng, ý thức hệ của Đảng này không hiểu được rằng: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”, nhất là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”. Những biểu hiện suy thoái này có thể dẫn đến sự phản bội lại mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó cần phải được nhận thức, cảnh giác sâu sắc trong toàn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

   Vì vậy, để kiên định và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là một nhiệm vụ trọng yếu để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, toàn Đảng cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

   Thứ nhất, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh đều phải kiên định, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước theo Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; coi đó “là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay” gắn với Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để triển khai nghiên cứu lý luận” gắn và Quy định số 285-QĐ/TW ngày 25/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, nhà nước; tạo môi trường khuyến khích sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị và tôn trọng, tiếp thu và sử dụng kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Tăng cường và đổi mới việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, để không chỉ nhận thức sâu sắc mà quan trọng hơn là bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, gắn với tổng kết thực tiễn và vận dụng vào thực tiễn, phù hợp điều kiện của Việt Nam.

   Thứ hai, chú trọng công tác tư tưởng, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; triển khai toàn diện, sâu rộng Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam; trước hết, trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị… Đồng thời, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội. Trong đó, việc đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về giá trị, những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với Việt Nam và xu thế thời đại; việc phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng và các kênh thông tin khác gắn với nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu và tính hấp dẫn của công tác tư tưởng trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội có vai trò quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

   Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị về chương trình, giáo trình, nội dung và phương pháp giảng dạy trong hệ thống các trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo lý luận chính trị phù hợp với đối tượng và cấp học, có tính liên thông để khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, chưa bám sát thực tiễn gắn với việc nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học các bộ môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ, “góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ”.

   Thứ tư, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, với các hình thức đa dạng, phong phú để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tăng cường thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chủ động xây dựng kế hoạch, luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc và tạo sự thống nhất trong phối hợp giữa các cơ quan, ngành có liên quan trên cả ba lĩnh vực lý luận chính trị, tư tưởng - văn hóa và văn học - nghệ thuật. Trong đó, các cơ quan thông tấn, báo chí từ Trung ương đến địa phương tiếp tục xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”; phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Thông qua đó, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận diện và kiên quyết phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ rõ và vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

   Thứ tư, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn từ cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ thuộc tất cả các chuyên ngành: triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học; tư tưởng Hồ Chí Minh; lịch sử Đảng; xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; chính trị học và một số bộ môn khác nghiên cứu chuyên sâu về đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng. Trong đó, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo và trình độ lý luận cao, am hiểu tình hình thế giới và trong nước, có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn; gắn lý luận với thực tiễn, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn tốt để không chỉ chứng minh tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

   Thứ năm, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt để có đủ năng lực nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy… Thông qua đó, giúp mỗi người không chỉ hiểu đúng, sâu sắc và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng vào quá trình công tác và thực tiễn cuộc sống để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó mà còn góp phần trong tuyên truyền và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh với các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội để thống nhất cao về ý chí, hành động, siết chặt đội ngũ, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng./.


CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

    Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại..

     Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước đúng đắn khi được đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin và khẳng định: 1) “Hỡi đồng bào bị đọa đầy, đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”; 2) “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; 3) Cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”; 4) “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”; 5) “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” và Người đã nỗ lực hoạt động, xúc tiến, chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930.

   Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

   Trước Đại hội VII của Đảng, văn kiện các kỳ Đại hội và Điều lệ Đảng đều khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Song từ quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiến trình cách mạng Việt Nam.

   Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi. Tư tưởng của Người được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam; tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông, phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc; đã nỗ lực xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, với một Đảng phụng sự và liêm chính, Chính phủ liêm kiết và sáng tạo, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại...; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

   Vì thế, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991); trong đó, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng: cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991 không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

   Cùng với thời gian, Đảng đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng của Người được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực và khẳng định tại Đại hội IX rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

   Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 91 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt

 

Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua, có thể khẳng định rằng, những kết quả toàn diện, đồng bộ, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ đã góp phần quan trọng làm cho Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; trong sạch, vững mạnh hơn; củng cố, tăng cường hơn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã chứng tỏ, ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, giành được hết thắng lợi này đến thành công khác. Đảng ta luôn nhận thức rõ, xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực, lập trường, quan điểm vững vàng, bình tĩnh, sáng suốt, không bi quan, không chủ quan, tự mãn. Chỉnh đốn Đảng nhằm khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Thực tế cho thấy, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Có được những thành tựu đó là do từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xem đây là nhiệm vụ then chốt, quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng.

Vì vậy, hơn bao giờ hết, trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nếu Đảng không vững mạnh, trong sạch thì niềm tin trong dân sẽ giảm dần. Để chăm lo thế nước, vun đắp lòng dân, để Đảng xứng đáng “là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, Đảng ta phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới./.

Cần vạch trần, loại bỏ những xuyên tạc, bóp méo sự thật

 

Sau khi Chính phủ tổ chức Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19 thì trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những ý kiến thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật về những nghĩa cử cao đẹp, hành động đúng đắn, nhân văn trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 của nhân dân ta. Trước hết, cần nhận thấy, Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này không chỉ thể hiện tinh thần nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo sức khỏe của nhân dân; mà còn phản ánh rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng. 

Việt Nam đã, đang và sẽ chống dịch COVID-19 hiệu quả bằng nguồn lực Việt Nam, cách làm Việt Nam, truyền thống Việt Nam. Điều này là thực tế đã được cả thế giới ghi nhận và các thế lực thù địch, phản động dù muốn cũng không thể phủ nhận được. Vì vậy,  một số ý kiến phiến diện, một chiều, thiếu thiện chí trên mạng xã hội không chỉ xa rời truyền thống đoàn kết tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mà con đi ngược lại quyền lợi của đại bộ phận nhân dân.

Trong khi Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19 nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của cộng đồng xã hội, nếu thực sự xuất phát từ tinh thần xây dựng, thì mỗi chúng ta sẽ đều chung vui cùng dân tộc. Nhưng đâu đó vẫn còn những cá nhân khó chịu trước thành quả của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ đưa ra những ý kiến thiếu khách quan, “chọc gậy bánh xe” nhằm phá vỡ sự đồng thuận xã hội trong việc tham gia đóng góp xây dựng Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19.Có một điều cần khẳng định, dù núp dưới bất kỳ luận điệu nào, những cá nhân, tổ chức cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật về những nghĩa cử cao đẹp, hành động đúng đắn, nhân văn trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 đều là những ý kiến lạc lõng, phiến diện. Những ý kiến đó cần bị vạch trần và loại bỏ khỏi đời sống xã hội./.

CƠ QUAN BÁO CHÍ PHẢI LÀ “PHÁO ĐÀI” CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG VỮNG CHẮC!

Sáng 27/10, tại Hà Nội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Vụ Báo chí – Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Báo chí với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương dự và chỉ đạo Hội thảo.

Tham dự Hội thảo có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; Hội đồng Lý luận Trung ương; Ban Chỉ đạo 35 Trung ương; lãnh đạo ban tuyên giáo các tỉnh, thành phố; lãnh đạo các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương; các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa…

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, trong đó đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả đồng bộ của ngành Tuyên giáo và các cơ quan chức năng, tạo thành thế trận ngày càng hoàn thiện; trong đó hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí là lực lượng tiên phong đi đầu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái trên cả 3 phương diện: nhận diện, tuyên truyền và trực tiếp đấu tranh, xử lý.

Vì vậy mỗi cơ quan báo chí phải là “pháo đài” chính trị tư tưởng vững chắc trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, thế hệ trẻ có sức đề kháng, sức miễn dịch tốt trước các thông tin xấu độc, tự giác tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. 

Trong đó, tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, điều phối, hướng dẫn của Thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong tổ chức thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), gắn với việc tổ chức thực hiện Kết luận số 53-KL/TW, ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Đồng chí mong muốn hội thảo sẽ đề xuất nhiều kiến nghị, giải pháp trong công tác này.

Gần 50 tham luận được gửi đến và các ý kiến trình bày tại hội thảo đã phân tích, làm rõ nhiều nội dung lý luận về báo chí với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với các cơ quan báo chí trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của các cơ quan báo chí.

Một số tham luận đi sâu phân tích yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh hiện nay. Từ đó khẳng định công tác này là nhiệm vụ khách quan và việc ban hành Nghị quyết 35-NQ/TW xuất phát từ yêu cầu khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

Từ góc độ thực tiễn, một số tham luận tập trung vào vấn đề nhận diện âm mưu, thủ đoạn, đối tượng, nội dung và phương thức chống phá của các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay; chỉ ra chủ thể, nội dung, phương thức tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Những yêu cầu đối với cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của cơ quan báo chí trong tình hình mới.

Hội thảo cũng thống nhất nhiều giải pháp để báo chí làm tốt nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, kết hợp giữa “xây” và “chống”. Các cơ quan báo chí tăng tin bài, thời lượng các thông tin chính thống, tích cực, chủ động để lấn át các thông tin xấu độc trên không gian mạng. Cần quan tâm nâng cao chất lượng và đa dạng hơn nữa cả nội dung và hình thức chuyên trang, chuyên mục và áp dụng các tiện ích đa phương tiện để chuyển tải hấp dẫn nội dung tuyên truyền, giáo dục nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII. 

Hệ thống các cơ quan báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, đồng thời tích cực đào tạo phóng viên có kiến thức sâu sắc về nền tảng tư tưởng của Đảng, có nhận thức đúng đắn trong việc nhận biết, đấu tranh các quan điểm sai trái. 

Mỗi nhà báo phải đổi mới phương pháp, tư duy, cách viết để nâng cao hiệu quả các tác phẩm báo chí về đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt là trau dồi kiến thức để cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn trong mỗi tác phẩm báo chí nhằm đấu tranh, phản bác có sức thuyết phục trước các luận điểm phi khoa học, sai trái…

Môi Trường ST.

Việt Nam luôn bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 

Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”.

Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

Trong những năm vừa qua, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và càng khẳng định Việt Nam luôn bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo./.