Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

Thủ đoạn và phương thức của địch trong thực thi “diễn biến hòa bình”

 1. Thủ đoạn

Một là, thực hiện kiểu tuyên truyền dai dẳng với mọi loại công cụ.
Một chủ đề xuyên tạc, phủ nhận có thể được khai triển bằng nhiều hình thức tuyên truyền, lặp đi lặp lại không chán trên nhiều diễn đàn. Hằng ngày, hằng giờ chúng huy động cả một hệ thống các công cụ, sức mạnh công nghệ có trong tay, “đặc biệt là hệ thống truyền thông đại chúng với 402 báo, tạp chí, 61 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, 88 nhà xuất bản và hàng trăm trang web cùng nhiều hãng thông tấn, đài phát thanh và truyền hình hải ngoại”[1] để tuyên truyền chống phá CNXH.
Hai là, đưa nội dung dối trá, lừa bịp, trộn lẫn thật giả, chủ yếu là các thông tin tiêu cực, bóp méo sự thật kèm theo những ý kiến, quan điểm sai lệch, bình luận chủ quan. Họ coi những hạn chế khó tránh của sự nghiệp xây dựng XHCN trong thời kỳ quá độ là sai lầm của con đường XHCN ở Việt Nam từ đó tạo tâm lý bán tín, bán nghi trong xã hội.
Ba là, xâm nhập lực lượng từ bên ngoài vào kết hợp móc nối với các đối tượng chống đối trong nước để chống phá từ bên trong. Những năm qua, các tổ chức phản động người Việt lưu vong tăng cường đưa lực lượng xâm nhập vào nước ta trực tiếp kích động các hoạt động chống phá, tán phát truyền đơn, kích động quần chúng biểu tình, gây rối an ninh, trật tự hòng tạo thành điểm nóng chính trị - xã hội.
Bốn là, họ lợi dụng và khai thác triệt để những thời điểm nhạy cảm chính trị như các Đại hội Đảng, các cuộc bầu cử... để lôi kéo các phần tử chống đối, bất mãn, hoặc các đối tượng thoái hóa biến chất, kích động họ chống phá. 
2. Phương thức của địch trong DBHB
Thứ nhất, những nhà tư tưởng tư sản cố tuyên truyền các học thuyết “hội tụ” “xã hội hậu công nghiệp”, theo họ, CNTB và CNXH đều có mục đích chung là hướng đến xã hội “hài hoà về lợi ích”. Họ khuyên đừng nhắc đến vấn đề đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng, tính đảng, tính chính trị trong các vấn đề của đời sống xã hội, chỉ cần hợp tác cùng xây dựng “xã hội phúc lợi chung”.
Thực tế là, sự trưởng thành của bất kỳ giai cấp nào cũng đánh dấu bởi sự ra đời của một chính đảng đại diện cho giai cấp đó, giai cấp tư sản có đảng của giai cấp tư sản; giai cấp công nhân có đảng của giai cấp công nhân. Mỗi chính đảng đó không thể không có hệ tư tưởng dẫn đường, không có hệ tư tưởng “trung dung”. Kinh nghiệm chính trị hiện đại còn cho biết rằng, trong xã hội hiện nay, khi xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân thì đó là lúc hệ tư tưởng tư sản dưới nhiều màu sắc sẽ thay thế.
Bất kỳ đảng cầm quyền nào cũng đều “chính trị hoá” tất cả quan hệ xã hội, bởi suy cho cùng các hoạt động trong xã hội đều phục vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền, cụ thể hơn, nó lãnh đạo và quản lý xã hội thông qua chủ trương, đường lối, pháp luật…Những hành động nào trái ngược lợi ích giai cấp cầm quyền và pháp luật hiện hành đều bị nghiêm trị, điều này đúng trong tất cả chế độ xã hội. Việc giai cấp tư sản và những nhà tư tưởng của họ tuyên truyền cho tính phi tư tưởng, phi giai cấp, phi tính đảng là mị dân. Ai thiếu bản lĩnh, mơ hồ sẽ bị mắc lừa một cách tai hại.
Vận mệnh và tương lai của CNXH bên cạnh tính tất yếu khách quan, còn phụ thuộc vào việc chúng ta có kiên trì, giữ vững được nền tảng tư tưởng để xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội tư bản hay không. Việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của các nước theo định hướng XHCN không thể xa rời lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì lẽ đó, bảo vệ được chủ nghĩa  Mác - Lênin, giữ vững được định hướng XHCN trên các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng quyết định sự thành bại trong đấu tranh chống quan điểm phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Thực tế không thể phủ nhận là, khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng của nước ta. Đảng ta trên cơ sở khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và đã giành được những thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám 1945 thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc tiến vào kỷ nguyên độc lập gắn liền với CNXH; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH. Thành công to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế khiến cho vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhận thức về con đường xây dựng CNXH ngày một sáng tỏ hơn.
Bên cạnh những thành tựu vĩ đại đó, Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã từng phạm phải những sai lầm, khuyết điểm do chủ quan duy ý chí, giáo điều… Đảng ta đã nghiêm túc nhận ra và tự phê bình để sữa chữa khuyết điểm, tự chỉnh đốn đảng (NQTW 6 lần 2 khóa VIII; NQTW 4 khóa XI và NQTW 4 khóa XII) để tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến lên, đi theo con đường cách mạng XHCN chúng ta đã giành được độc lập dân tộc, đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH - là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Nhờ đó, chúng ta đạt được những thành tựu nổi bật: Các lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được mở rộng và củng cố, minh chứng gần nhất là ngày 07/6/2019, 192/193 nước nhất trí tín nhiệm bầu Việt Nam vào Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam đạt 2640 USD tính đến tháng 12/2018…
Chúng ta đang xây dựng đất nước theo định hướng XHCN trong điều kiện rất khó khăn: hậu quả chiến tranh, kẻ thù bao vây cấm vận, lực lượng thù địch không ngừng phá hoại…và chúng ta đã lần lượt vượt qua những thách thức của lịch sử. Trung thành, sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn trong từng giai đoạn cách mạng đã được khẳng định là nhân tố hàng đầu cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Kinh nghiệm thực tế đó giúp chúng ta có cơ sở vững chắc khẳng định: việc lựa chọn con đường XHCN để phát triển đất nước là có cơ sở khách quan, là nhu cầu bức thiết và là con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Khẳng định sự đúng đắn ấy với những thành tựu “tai nghe, mắt thấy” cũng là bằng chứng để phản bác với các quan điểm của chiến lược DBHB đang âm mưu phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. 
Thứ hai, các lực lượng thực hiện chiến lược DBHB là ráo riết phát triển lực lượng, nuôi ý định chống đối chế độ lâu dài. Trong những năm gần đây, các phần tử cốt cán gia tăng phát triển lực lượng hòng “trẻ hóa” nhân sự. Trước mắt, chúng tiến hành trẻ hóa đội ngũ để thay thế dần số già yếu hoặc chết. Loại đối tượng khá  trẻ như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định (cả 3 đối tượng này đều là Luật sư), Phạm Hồng Sơn (bác sĩ), Nguyễn Phương Anh (kỹ sư). Đáng chú ý là đối tượng rất trẻ như Nguyễn Tiến Trung,  là kỹ sư công nghệ thông tin, sinh năm 1983.
Thành phần xuất thân các đối tượng cơ hội chính trị đa dạng, phức tạp: có những đối tượng đã bị xử lý trong các vụ việc trước đây nay tiếp tục hoạt động chống đối; có nhân vật từng cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, sĩ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang, như Nguyễn Hộ, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương; hoặc từng là trí thức, văn nghệ sỹ cực đoan, quá khích như Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương…Tính chất chống đối chế độ ngày càng công khai, hằn học, cay độc và quyết liệt hơn. Trước đây các phần tử cơ hội chính trị chủ yếu hoạt động ngấm ngầm; hoạt động cá nhân hay các nhóm đơn lẻ. Những năm gần đây, chúng tỏ ra công khai, hung hăng hơn, thậm chí táo tợn hơn như công khai ra yêu sách, gây áp lực, đòi Đảng, Nhà nước cho ra  báo chí tư nhân, nhằm tuyên truyền, hợp thức hóa các đảng phái của chúng.
Thứ ba, liên kết tập hợp lực lượng chống đối, bao gồm tất cả mọi thành phần, tôn giáo, dân tộc. Hoạt động của chúng hiện nay là tập trung khoét sâu mâu thuẫn nội bộ làm mất uy tín của Đảng; lôi kéo, kích động số khiếu kiện dài ngày biểu tình, gây rối chính trị nhằm thực hiện cuộc “cách mạng màu” lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng theo ý đồ và sự chỉ đạo của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Các phần tử cơ hội chính trị dâng cao khẩu hiệu chống tham nhũng, đòi lại đất đai để lôi kéo, giành giật quần chúng. Một số lợi dụng các hội thảo, các công trình nghiên cứu khoa học, thẳng thừng đưa ra các luận điểm cách mạng giả hiệu, phản khoa học, phản động nhằm phủ định đường lối cách mạng của Đảng ta. Biên soạn, tán phát tài liệu xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước ta - đây là hoạt động trọng tâm nhất của chúng trong những năm gần đây và hiện nay.
Thứ tư, sử dụng triệt để các trang tin điện tử, blog tiếng Việt của các tổ chức, cá nhân hải ngoại để truyền bá, phát tán các thông tin xuyên tạc, chống chế độ. Trả lời phỏng vấn các đài báo nước ngoài, tham gia hội luận với bọn phản động lưu vong người Việt qua điện thoại, trao đổi trực tuyến trên mạng Intemet; trực tiếp gặp các chính khách và các nhân viên ngoại giao nước ngoài hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài để làm “nhân chứng sống" về “thực trạng nhân quyền Việt Nam”. Chúng cũng  triệt để khai thác những nội dung có tính chất trao đổi, góp ý trong các bài viết, hoặc đơn thư của một số đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo cao cấp để kích động, gây mâu thuẫn nội bộ ta, tác động làm thay đổi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước…
Thứ năm, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang là một trong những hướng tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch, chúng tập trung mũi nhọn đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, yêu cầu quân đội, công an phải đứng ngoài chính trị, đây là một “chiêu trò” không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm. Thủ đoạn trên đã được các nước đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện thành công ở Đông Âu, Liên Xô (cũ), để lại hậu quả vô cùng đau xót cho nhân loại tiến bộ và tương lai của CNXH.
Mục đích của họ là: phá vỡ nền tảng chính trị là then chốt; chống phá về kinh tế là biện pháp cơ bản, thường xuyên, lâu dài; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng yếu. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt và cực kỳ nguy hiểm, bởi khi quân đội, công an bị phi chính trị hóa thì chắc chắn sẽ suy yếu, không còn khả năng ngăn chặn các cuộc tiến công cả từ bên trong và bên ngoài của các thế lực thù địch, không giữ vững được sự ổn định chính trị; mất độc lập, tự chủ.
Tập trung cổ súy cho luận điệu “lực lượng vũ trang phi giai cấp” chúng đưa ra luận điểm quân đội, công an phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm; quân đội phải đứng ngoài chính trị, phi chính trị. Họ nhấn mạnh, quân đội và công an nên là hai lực lượng đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của các đảng phái nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước; việc tổ chức ra lực lượng vũ trang chỉ là để bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Bởi thế, quân đội, công an phải trung lập, đứng ngoài chính trị, không cần đặt và chịu sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái nào.
Như vậy, nhìn tổng thể các thủ đoạn và phương thức trên là "chuỗi liên kết" chặt chẽ và rất nguy hiểm đối với chúng ta. Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn và phương thức mà DBHB triển khai cũng là cách: biết người biết ta để đề cao cảnh giác góp phần làm thất bại âm mưu DBHB đối với chúng ta.

Thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch

 Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Bởi vậy, việc nắm chắc những thủ đoạn đó để có đối sách xử lý đúng đắn, kịp thời và hiệu quả là vấn đề hệ trọng, cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Với mục tiêu nhất quán chống phá cách mạng Việt Nam đến cùng, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc, nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế và Việt Nam, họ đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và vì thế càng nguy hiểm hơn.
Thứ nhấtthực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, nhưng thông qua mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị. Sự chuyển hướng này nhằm thực hiện kịch bản “dân chủ” ở nước ta; tác động vào chính sách ngoại giao của Việt Nam theo ý đồ của họ. Thông qua ngoại giao để tiếp cận hỗ trợ những phần tử “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây; tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam, cản trở các đối tác đang và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam. Đồng thời, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động mâu thuẫn quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ haităng cường hoạt động xâm nhập, móc nối nhằm đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, họ ra sức tranh thủ lợi dụng những phần tử thoái hóa, bất mãn, định kiến với chế độ ở trong nước, ngấm ngầm nhen nhóm, tổ chức xây dựng lực lượng, tổ chức chính trị; đồng thời coi đó là lực lượng nòng cốt, có tính quyết định cho việc chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Một mặt, họ sử dụng những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc, như: mua chuộc, lôi kéo, kích động tâm lý,… nhằm làm như trong nội bộ ta có phe này, phái nọ để từng bước phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức Đảng, Nhà nước và trong xã hội. Mặt khác, lợi dụng những kẻ bất mãn, thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, chống đối chính quyền và những bức xúc trong đời sống xã hội để tuyên truyền xuyên tạc hoặc thổi phồng những hạn chế, tiêu cực nhằm kích động nhân dân tụ tập, biểu tình, gây rối, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Họ âm mưu chia rẽ Đảng, chính quyền các cấp với lực lượng vũ trang và nhân dân; hỗ trợ, thúc đẩy các lực lượng đối lập hoạt động chống phá, hòng làm thay đổi nền tảng tư tưởng, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Họ thực hiện mưu đồ này một cách thường xuyên, nhưng tập trung vào thời điểm tổ chức đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước. Thủ đoạn thường dùng của họ là lôi kéo, mua chuộc những cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỷ luật hoặc có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để “góp ý, hiến kế với Đảng”, “thư ngỏ”, “thư khẩn”, “đối thoại”, “sáng kiến pháp luật”, “tham gia đấu tranh chống tham nhũng”,… từ đó thổi phồng khuyết điểm, những khó khăn, thiếu thốn, thiệt thòi về lợi ích so với đội ngũ cán bộ đương chức để kích động, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Ngoài ta, họ còn dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi hòng tạo ra các thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam bàng quan, thờ ơ với những vấn đề thời cuộc; lãnh cảm chính trị, không quan tâm đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng, v.v.
Thứ bađẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là mưu đồ “dân chủ hóa” truyền thông, tức là đưa “dân chủ” vào truyền thông của Nhà nước, thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của hệ thống truyền thông phi chính thống. Vì lĩnh vực này quan trọng, tác động lớn đến đời sống xã hội, lại khó kiểm soát, kiểm duyệt đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nên là một trong những mục tiêu trọng điểm để họ triệt để lợi dụng trong quá trình chống phá cách mạng nước ta. Để đạt được mục đích, họ đã sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại với một khối lượng lớn các đài phát thanh, loại hình sách, báo chí và các phương tiện thông tin tuyên truyền khác của phương Tây, của bọn phản động người Việt lưu vong để đưa tin, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Triệt để sử dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận và kích động đòi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, đòi lập báo chí tư nhân; lái báo chí, truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, hoạt động theo ý đồ của các thế lực thù địch. Tận dụng tối đa tiềm lực và sức mạnh của báo chí, truyền thông bên ngoài, mạng xã hội để “lấn át” báo chí, truyền thông trong nước; tiếp cận, mời chào, lôi kéo giới báo chí truyền thông Việt Nam, tác động “chuyển hóa” họ xa dần tôn chỉ, mục đích và định hướng báo chí của Đảng, chạy theo xu hướng thương mại; tự do, cổ vũ, khuyến khích việc lập các trang mạng, facebook, blog,… tràn lan, khó kiểm soát. Lợi dụng ưu thế của in-tơ-nét để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Điều đáng quan ngại, phần lớn số người sử dụng in-tơ-nét ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, nên những thông tin xấu độc dễ làm cho lớp trẻ nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng; bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của dân tộc và nhân dân, tiếp tay cho các thế lực thù địch, chống Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Họ đẩy mạnh việc làm giả các website, blog mạo danh các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng,… để lừa bịp dư luận, tạo độ tin cậy cho người đọc và thu hút người truy cập. Sau một thời gian, khi đã thu hút một số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, làm cho người đọc lúng túng trong việc tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Đặc biệt, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội, để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề nhạy cảm.
Thứ tưráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo để “chuyển hóa” Việt Nam. Đây là một “ngón đòn” thâm độc được họ tập trung thực hiện. Họ xác định giáo dục - đào tạo là một trong những mũi đột phá, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lái nền giáo dục Việt Nam đi theo quỹ đạo của phương Tây. Để thực hiện mưu đồ này, họ thực hiện chính sách hai mặt: (1). Mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận thành quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất của tình trạng này là do sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo của Đảng, sự yếu kém trong quản lý của Nhà nước ta. Đây là cái cớ để họ kêu gọi phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục Việt Nam bằng con đường mới “sáng sủa Tây học”. (2). Tiếp tục ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Họ tăng cường sử dụng các thủ đoạn “câu khách” như: tổ chức các hội thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học danh tiếng,... nhằm thu hút sinh viên Việt Nam du học tạo ra một “thế hệ cán bộ thân phương Tây”, để sau này nắm dần các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế - xã hội và thậm chí trong hệ thống chính trị. Nguy hiểm hơn, họ còn đòi loại bỏ các môn lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi chương trình đào tạo; giảng viên, sinh viên được tự do về tư tưởng, không bị chi phối hoặc phụ thuộc vào bất cứ hệ tư tưởng nào, qua đó phục vụ cho mưu đồ chính trị của họ.
Thứ nămtiếp tục gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho lực lượng vũ trang ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu, bị vô hiệu hóa. Trước đây họ đã sử dụng, hiện nay và thời gian tới thủ đoạn này càng được triệt để sử dụng với tần xuất và mưu mô ngày càng quyết liệt hơn, hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam. Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của lực lượng vũ trang. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang; đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Công an nhân dân, v.v.
Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa

 

Những cố gắng cao nhất của Việt Nam trong thực hiện quyền con người không phải để đối phó với các thế lực thù địch khi họ cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bản chất của vấn đề quyền con người mà Việt Nam đang phấn đấu là vì giá trị tiến bộ của nhân loại, vì quyền lợi chính đáng của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt.

Quyền con người và trách nhiệm công dân

Đối với các quốc gia, các tổ chức quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc (LHQ) được luật pháp quốc tế thừa nhận, không phải tất cả đã hiểu về tình hình thực tế thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Có nhiều người trong số này chưa từng được mắt thấy tai nghe, họ đã nhìn và đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam qua chiếc lăng kính méo mó.

Với những quốc gia, tổ chức đó, chúng ta luôn chủ trương đối thoại, trao đổi, giải thích trên quan điểm hướng đến sự đồng thuận. Cách giải quyết đó để các bên hiểu biết về nhau hơn, cùng nhận thức, thống nhất về cách tiếp cận để đạt đến chân lý và hướng đến giải quyết được một vấn đề nhất định, đồng thời bác bỏ các thông tin sai lệch.

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy.

Tại phiên đối thoại với Cao ủy nhân quyền LHQ, Khóa họp lần thứ 47 của Hội đồng Nhân quyền LHQ vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Lê Thị Tuyết Mai, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ) đã khẳng định, chủ trương nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; bày tỏ ủng hộ đối với công việc của Cao ủy Nhân quyền LHQ và các cơ chế nhân quyền LHQ, ủng hộ tiến hành đối thoại thực chất, mang tính xây dựng về các vấn đề nhân quyền.

Những tiến bộ về luật pháp của Việt Nam và thực tiễn không thể xuyên tạc

 

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

Ngăn chặn lạm quyền và làm giàu bất chính

 Dân gian có câu: “Tiền dùng đúng, tiền hiền như Phật. Bạc xài lầm, bạc ác hơn ma”. Nhu cầu kiếm tiền và làm giàu đúng pháp luật là nhu cầu chính đáng của công dân và được Đảng, Nhà nước khuyến khích. Tiếp nối tinh thần của các đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu mục tiêu phấn đấu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cho nên việc người dân giàu có là mục tiêu của Đảng ta, xã hội ta. Dân giàu bằng công sức, lao động chính đáng, đúng pháp luật là cái phúc; nhưng cán bộ giàu có thể là cái họa. Bởi vì, cán bộ có thể sử dụng vị trí công việc của mình, lạm dụng quyền lực của Đảng, Nhà nước trao cho mình để kiếm tiền, làm giàu bất chính cho bản thân.

Khi nền kinh tế phát triển nhanh, cùng với đó là các quy định của pháp luật chưa được hoàn thiện, sự phất lên quá nhanh, quá dễ dàng của một số quan chức tham nhũng và các doanh nghiệp thân tín đã thách thức các giá trị truyền thống, trong đó có các giá trị đạo đức và cả niềm tin. Không ít cán bộ, công chức coi đồng tiền là thước đo số 1 cho thành công, đẳng cấp, uy tín và hạnh phúc, là thứ bảo đảm cuộc sống sung túc dài lâu cho họ và con cháu họ.

Cách nghĩ này khiến cho khi có cơ hội, họ cố vơ vét thật nhiều tiền cho đầy túi tham. Để nói về loại tham quan này, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nhận xét: “Ăn của dân không từ cái gì”. Chẳng thế mà khi nói đến nhiều vị cán bộ to, người ta không nhắc tới tài năng, trí tuệ, những đóng góp cho công việc, cho đất nước, cho nhân dân, mà chỉ thấy khen giàu: Ông/bà ấy có biệt phủ lớn lắm, có nhiều nhà lắm, đi nước ngoài tiêu tiền khủng khiếp...

Khi dân “khen” cán bộ giàu là phải hết sức suy nghĩ... vì nguồn tiền làm giàu đó từ đâu? Những “quan cách mạng” đó là một mối họa lớn cho sự tồn vong của Đảng, Nhà nước XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 đã yêu cầu phải “lôi cổ những ông quan cách mạng này xuống”. Nếu không lôi họ xuống, để họ tiếp tục đục khoét, làm giàu bất chính một cách dễ dàng thì nhiều người trong xã hội sẽ học theo, cố chen chân để làm “quan cách mạng”, học thói làm giàu bất chính.

Theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, người ta sẽ coi vị trí “quan cách mạng” như một khoản đầu tư sinh lợi lớn. Nạn mua quan, bán chức vì thế sẽ ngày càng trầm trọng. Sau khi mua được chức rồi, những vị “quan cách mạng”-sẽ phải thu hồi lại vốn bằng cách bòn rút công quỹ, bòn rút cấp dưới, bòn rút nhân dân. Quyền lực của cơ quan công quyền nếu rơi vào tay của quan tham sẽ trở thành công cụ để hắn ta kiếm lợi cho bản thân.

Những năm gần đây, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) được đẩy lên cao trào, hàng loạt quan tham dù ở cấp nào cũng bị sa lưới, những khối tài sản tham nhũng khổng lồ được thu hồi. Kể cả những “quan cách mạng” đã nghỉ hưu vẫn bị lôi ra kỷ luật Đảng, xét xử, bỏ tù nếu bị phát hiện hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật. Hành động quyết liệt ấy đã cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội thấy trong PCTN không có vùng cấm, không có hạ cánh an toàn. Vì thế, những người đang có chức vụ phải thận trọng, giữ mình, còn kẻ có dã tâm muốn mua quan, bán chức sẽ phải chùn bước.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045 nước ta sẽ thành nước phát triển, thu nhập cao. Khoảng cách 24 năm để từ một nước đang phát triển, thu nhập trung bình thấp thành nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi sự nỗ lực tăng tốc phát triển kinh tế. Cùng với những đột phá về cơ chế, chính sách để phục vụ yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế, cũng cần hết sức quan tâm bồi đắp, gìn giữ đạo đức, nhân cách, văn hóa con người. Bởi khi tăng tốc phát triển kinh tế thì tiền của, vật chất sẽ sản sinh nhanh hơn, nhiều hơn, sự chi phối của đồng tiền đối với các mối quan hệ xã hội sẽ lớn hơn. Để có CNXH, chúng ta không chỉ cần xây dựng cơ sở vật chất, không chỉ là quan hệ sản xuất, mà còn cần con người. Do vậy, làm thế nào để ngăn chặn tiền của, vật chất, mặt trái của kinh tế thị trường làm thoái hóa con người; làm thế nào để xây dựng được con người không chỉ giàu có về tiền bạc, vật chất mà giàu có cả về trí lực, tâm lực và thể lực để tạo nên xã hội văn minh là vấn đề có tính chiến lược cần có giải pháp căn cơ.

HỒ QUANG PHƯƠNG (Báo Quân đội Nhân dân)

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.

Huyền Chi (Báo Công an Nhân dân)

TRƯỜNG TIỂU HỌC JUNKO- TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NHẬT

 

Ở thôn Nhị Dinh 1, xã Điện Phước, TX Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam có một ngôi trường nghe tên rất lạ: Trường Tiểu học Junko. Đó là tên của một người con gái Nhật Bản và gắn với nhiều câu chuyện cảm động xảy ra từ gần 30 năm trước đây.

Mùa hè năm 1993, người con gái Nhật Bản có tên Junko Takahashi tròn 20 tuổi, là sinh viên năm thứ 3 của Trường Đại học Minh Trị Thiên Hoàng, học ngành Quan hệ quốc tế. Tranh thủ thời gian nghỉ hè, cô cùng những người bạn lên đường sang Việt Nam tìm hiểu, nghiên cứu các tư liệu phục vụ cho bài luận văn với chủ đề “Sự phát triển kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu vực Đông Nam Á”. Khi đặt chân đến vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, Junko ấn tượng bởi cuộc sống của người dân nơi đây. Tuy nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng họ sống hiền hoà, chân chất, nghĩa tình. Từ những người nông dân lam lũ đến những em bé thơ ngây, ai cũng chào đón cô và những người bạn rất nhiệt tình bằng sự mộc mạc gần gũi theo cách của người dân quê nghèo khổ. Vừa đi, vừa chứng kiến, cô mang trong mình nỗi trăn trở về cuộc sống của người dân xứ Quảng Đà. Dọc đường bắt gặp những gì, Junko đều ghi vào cuốn sổ nhật ký của mình. Trong đó có trang Junko ghi rằng, khi tốt nghiệp ra trường, cô muốn tìm kiếm việc làm tại Việt Nam và dành số tiền lương để xây dựng một ngôi trường cho các em nhỏ học hành tử tế, đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, sau 1 tháng trở lại Nhật Bản, Junko đã qua đời vì một tai nạn giao thông. Cứ ngỡ rằng, những tâm nguyện của cô gái trẻ xứ hoa anh đào sẽ không thực hiện, thì may thay, bố cô là ông Horotaro Takahashi đã lật giở những trang nhật ký và biết được ước mơ của con gái mình. Thương con, ông Horotaro Takahashi quyết định sang Việt Nam thực hiện điều này. Ông bà Horotaro đã đầu tư 100.000 USD (tương đương 1 tỷ đồng) xây một ngôi trường 8 phòng, một nhà thi đấu, một công trình vệ sinh. Ngày 4/9/1995, ngôi trường hoàn thành và đưa vào sử dụng. Một nhóm sinh viên Trường Đại học Minh Trị Thiên Hoàng, nơi Junko học tập đã thành lập Hiệp hội Junko đứng ra quyên góp tiền của, vật dụng để đầu tư vào ngôi trường mà ông bà Horotaro xây dựng. Đến năm 2000, những người bạn của bố mẹ Junko tiếp tục quyên góp, xây thêm 5 phòng học trên tầng lầu, trị giá khoảng 200 triệu đồng .... Càng trân trọng hơn, từ đó đến nay, hằng năm ông bà Horotaro và sinh viên Hiệp hội Junko đều sang thăm trường từ 1-2 lần. Đặc biệt, Hiệp hội Junko năm nào cũng trao tặng hàng trăm suất học bổng cho trẻ em nghèo vượt khó của tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng. Trong đó, thường dành cho học sinh trường này từ 20-45 suất, trị giá mỗi suất 20 USD.


Sau chiến tranh, xã Điện Phước có Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám, ngày đó học sinh nhiều, đi lại khó khăn nên ngoài ngôi trường chính có một phân hiệu nằm cạnh Trường Tiểu học Junko bây giờ. Để ghi ơn người con gái Nhật Bản, ngôi trường cũ Hoàng Hoa Thám được đổi tên thành Trường Tiểu học Junko.

Cảm kích trước nghĩa cử của Junko và những người thân, bạn bè của cô, thầy trò nhà trường luôn ra sức thi đua học tập, giảng dạy thật tốt. Suốt chặng đường gần 30 năm hình thành và phát triển, ngôi trường đã đào tạo và nâng bước nhiều thế hệ học sinh. Trường Tiểu học Junko là ngôi trường thứ hai ở TX Điện Bàn được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia 1996-2000./.

VÌ SAO NGƯỜI DÂN NGA MANG THEO CỜ ĐỎ SAO VÀNG TRONG CÁC CUỘC DUYỆT BINH KỶ NIỆM?

 

Năm 1926, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi tới Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, một số thanh niên Việt Nam yêu nước đã được gửi sang Liên Xô để học tập. Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, một số thanh niên trong nhóm này đã quyết định tham gia quân đội Xô Viết chống lại sự xâm lược của Phát-xít Đức. Nhiều người đã anh dũng chiến đấu và ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Moscow năm 1941.

Đến nay, nhờ những nỗ lực của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga, các cơ quan chức năng và bạn bè Nga, đã xác định được tên, tuổi của bảy chiến sĩ Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu chống phát-xít trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; đó là các ông:

- Lê Phan Chăn (bí danh Lý Phú San), sinh ngày 01-6-1900 tại Tân Ước, Thanh Oai, Hà Đông (nay là TP Hà Nội);

- Đinh Trường Long (bí danh Lý Văn Minh), sinh năm 1910, tại xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa;

- Vương Thúc Thoại (bí danh Lý Thúc Chất), sinh năm 1910, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Vương Thúc Liên (bí danh Vương Thúc Tình), sinh năm 1903, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Hoàng Thế Tư (bí danh Lý Anh Tạo), sinh năm 1910, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Nguyễn Sinh Thân (bí danh Lý Nam Thanh), sinh năm 1908, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Ngô Chí Thông (bí danh Lý Chí Thông), sinh năm 1910 tại xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Trong đó, ba chiến sĩ: Lý Nam Thanh, Lý Anh Tạo và Lý Thúc Chất đã gan dạ chiến đấu, hi sinh trong các trận giao tranh ác liệt ở ngoại ô thủ đô Moscow.

Trong cuốn hồi ký của OMSBON, có đoạn:

"Tôi đã nhiều lần gặp những chiến sĩ người Việt khi đang hành quân hay ở trận địa tiền tiêu. Tôi được chứng kiến họ nhắm bắn chính xác vào quân thù. Các đồng ngũ cùng trung đoàn đều nói rằng đó là những con người dũng cảm. Đôi lần tôi chuyện trò cùng họ và tin chắc rằng các chiến sĩ người Việt này nói tiếng Nga thạo, thích hát những bài ca Nga. Những chiến sĩ tình nguyện người Việt này đã cùng đồng đội Nga chia sẻ mọi khó khăn gian khổ ngoài mặt trận. Nhiệm vụ chung của chúng tôi là đuổi phát-xít Đức khỏi Moscow và sau đó đánh bại hoàn toàn quân Hitler tàn ác.

Ngày 5 tháng 12 năm 1941, các đơn vị khác của Hồng quân ở ngoại ô Moscow chuyển sang thế phản công. Bọn Đức quốc xã hứng chịu thất bại nặng nề đầu tiên trên mặt trận Xô-viết. Hơn nửa triệu tên phát-xít bị tiêu diệt. Nhưng chiến thắng cũng là đắt giá với Hồng quân. Trung đoàn chúng tôi tổn thất nhiều đồng chí. Vào đầu năm 1942, khi chúng tôi đuổi hết bọn phát-xít Đức ra khỏi địa phận Moscow, ba chiến sĩ người Việt dũng cảm đã hy sinh.

Tôi nhớ về các bạn chiến đấu người Việt này khi chúng tôi chiếm được Berlin tháng 5 năm 1945, và khi nghe tin những người yêu nước Việt Nam giải phóng Sài Gòn vào tháng 5 năm 1975, rồi khi các phi công Liên Xô và Việt Nam cùng cất cánh bay lên không gian vũ trụ tháng 7 năm 1980. Khi đó tôi nghĩ rằng những đồng ngũ người Việt năm xưa của tôi hẳn sẽ rất vui mừng về điều này!".

Đó là lý do trong các cuộc duyệt binh kỷ niệm ngày chiến thắng, người dân Nga mang theo cờ đỏ sao vàng để tưởng nhớ đến những người hùng mang dòng máu Việt Nam./.

Nguồn: ST

EINSTEIN - NHÀ KHOA HỌC THIÊN TÀI

 

Albert Einstein thường đưa ra cách giải nghĩa giản dị mà sâu sắc về những khái niệm trừu tượng, phức tạp. Chẳng hạn, theo ông: “Giáo dục là cái còn lại ở con người sau khi người ấy quên mất mình đã học được cái gì ở nhà trường”. Khi được yêu cầu giải thích về Thuyết tương đối của mình, ông phân trần: "Bạn giơ tay trên bếp lò, một phút dài như một giờ. Bạn ngồi với một cô nàng xinh đẹp, một giờ chỉ như một phút. Ấy chính là sự tương đối!”

Vợ của Albert Einstein thường khuyên ông phải ăn vận cho chỉn chu hơn khi tới chỗ làm. Ông sẽ luôn phản bác lại rằng: “Tại sao nhỉ? Mọi người ở đó đều biết tôi mà”.

Khi Einstein tới dự một cuộc họp lớn, bà lại nài nỉ ông hãy mặc những bộ đồ đẹp đẽ hơn. Ông lại bảo: "Tại sao chứ? Ở đấy có ai biết tôi đâu!"

Einstein tiết lộ bí quyết hôn nhân hạnh phúc của ông rằng: “Khi cưới chúng tôi thoả thuận: tôi sẽ quyết định những vấn đề lớn còn vợ tôi những vấn đề nhỏ. Chúng tôi luôn tuân thủ nguyên tắc đó. Nó mang lại thành công cho cuộc hôn nhân. Chỉ lạ là trong suốt 50 năm qua chả có vấn đề nào là vấn đề lớn cả!”

Một hôm, hồi còn làm việc tại đại học Princeton, khi đang trên đường về, ông quên mất địa chỉ nhà mình. Tài xế taxi không nhận ra ông. Ông hỏi anh ta có biết nhà của Einstein không. Anh ta đáp rằng: "Ai mà không biết địa chỉ của Einstein chứ nhỉ? Ai ở Princeton này chả rõ. Ông muốn gặp ông ấy à?". Và Einstein nói: “Tôi là Einstein đây. Tôi quên địa chỉ nhà mình rồi, anh chở tôi về đó được không?”. Rồi tài xế chở ông về và còn chẳng lấy tiền cước xe.

Có lần, Einstein đi tàu hỏa từ Princeton và người soát vé đi xuống để bấm vé của các hành khách. Khi anh ta tới chỗ Einstein, ông tìm trong túi áo vest. Chẳng thể nào mò ra được tấm vé, ông chuyển sang túi quần. Không thấy, ông lại tìm trong cặp nhưng cũng không có luôn. Và rồi tiếp đến, ông tìm cả chiếc ghế bên cạnh mình. Vẫn chẳng thấy gì. Người soát vé nói: “Tiến sĩ Einstein, tôi biết ngài mà. Chúng tôi đều biết ngài. Tôi chắc rằng ngài đã mua vé rồi. Xin đừng lo lắng gì cả”. Einstein gật đầu một cách lịch sự. Người soát vé tiếp tục đi tới những hàng ghế phía sau. Lúc sắp sang toa khác, anh ta quay lại và thấy nhà vật lý vĩ đại của chúng ta vẫn đang loay hoay quỳ xuống tìm tấm vé. Anh ta vội vã đi tới và bảo:  “Thưa tiến sĩ Einstein, xin đừng lo mà, tôi biết ngài là ai mà. Không vấn đề gì đâu. Ngài không cần vé đâu. Tôi tin là ngài đã mua vé rồi”. Einstein nhìn anh ta và nói: "Chàng trai à, tôi cũng biết tôi là ai mà. Nhưng tôi quên béng mất mình đang đi đâu rồi”.

Khi Einstein gặp Charlie Chaplin, Einstein nói: "Tôi rất ngưỡng mộ nghệ thuật của ông, nhất là sự phổ quát trong ấy. Ông chẳng cần nói gì... Vậy mà cả thế giới vẫn hiểu được!". Charlie Chaplin đáp lời: “Đúng vậy. Nhưng danh tiếng của ông còn vĩ đại hơn mà. Cả thế giới ngưỡng mộ ông, dù chẳng ai hiểu được ông nói gì!"

Nguồn: ST

Ba bạn trẻ Việt Nam được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới vinh danh

 




Ba bạn trẻ Việt Nam được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) vinh danh là Đại sứ Trẻ về Sở hữu Trí tuệ (WIPO IP Youth Ambassadors) đầu tiên của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sáng 29/11/2021 tại Geneva; đó là: Đỗ Trọng Minh Đức (18 tuổi), Nguyễn Trần Khánh An (15 tuổi) và Nguyễn Hoàng Phúc (14 tuổi).



Họ có ý tưởng làm ra chiếc mũ cách ly di động, thay vì phải cách ly tập trung, cho những người đã bị nhiễm (F0) không cần phải cách ly tập trung (khi có triệu chứng nhẹ) và vẫn sinh hoạt, sản xuất bình thường trong điều kiện đảm bảo 5K và biến ý tưởng thành sản phẩm lưu hành trên thị trường có tên là VIHELM (tên viết tắt: Chiếc mũ do người Việt Nam sáng chế). Và chiếc mũ này có 2 dạng mềm và cứng với 5 lần cải tiến cũng phù hợp với những người bình thường chưa nhiễm Covid-19 và với tác dụng phòng tránh từ xa. Tiếng lành đồn xa và sản phẩm của họ đã được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới biết đến. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng kiểu dáng, các thông số kỹ thuật ... thì WIPO  (có trụ sở tại Geneva) đã quyết định trao cho họ danh hiệu Đại sứ suốt đời có tên: các Đại sứ trẻ về sở hữu trí tuệ của WIPO trong một sự kiện đặc biệt với sự có mặt của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Tổng giám đốc WIPO Daren Tang, tất cả các Phó TGĐ của WIPO và khoảng 50 Đại sứ, Đại biện các nước tại Geneva như Đại biện Mỹ, Đại sứ Nhật Bản, Đại sứ Australia, Đại sứ Israel .... Tại Trụ sở của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Trợ lý Tổng Giams đốc WHO đã đánh giá cao đóng góp của Việt Nam nói chung và 3 nhà sáng chế trẻ nói riêng trong việc cống hiến bản quyền để người dân ở các nước trên thế giới có thể  tiếp cận sản phẩm với giá phải chăng. WHO coi đây là một trong những đóng góp của Việt Nam vào nỗ lực chung của toàn cầu trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19.

Sự vinh danh này của WIPO và WHO sẽ là bước mở đầu, là sự khích lệ để các bạn trẻ này và rất nhiều bạn trẻ khác dấn thân và đưa tên Việt Nam tỏa sáng trên bản đồ sáng tạo và công nghệ trên thế giới./.

Xòe Thái được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

 Di sản Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại chiều ngày 15/12.

Vào 17 giờ 11 phút ngày 15/12, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 16 của UNESCO diễn ra tại Paris, Pháp, di sản Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đây là một trong 48 hồ sơ được xem xét trong kỳ họp này.

Theo Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam đáp ứng những tiêu chí để ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Xòe Thái được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Đầu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hà Nội (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN).

Việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, sự gắn kết cộng đồng, đề cao tôn trọng đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc khác nhau vì sự khoan dung, tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.

Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam thể hiện tình đoàn kết giữa các tộc người, tôn trọng thế giới quan tộc người theo mục tiêu của UNESCO; giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản các cộng đồng dân tộc không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Xòe Thái được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Giây phút Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại đầu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Hà Nội (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN).
 

Thay mặt Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch và cộng đồng thực hành Nghệ thuật Xòe Thái, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương và Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái Đỗ Đức Duy, đại diện cộng đồng và chính quyền các cấp đã phát biểu đáp từ và cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ các giá trị của Nghệ thuật Xòe Thái, cám ơn Hội đồng thẩm định, các thành viên của Ủy ban Liên Chính phủ, Ban thư ký đã làm việc tận tình để ghi danh di sản này của Việt Nam.

Xòe Thái được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Nghệ thuật Xòe Thái trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh: Thanh Hà).

Xòe là một loại hình vũ đạo của Việt Nam với những động tác biểu tượng cho các hoạt động của con người và được thực hành trong nghi lễ, văn hóa, đời sống, và công việc. Xòe được trình diễn trong các nghi lễ, đám cưới, lễ hội bản mường truyền thống và các hoạt động của cộng đồng.

Có 3 loại Xòe: Xòe nghi lễ, Xòe vòng và Xòe trình diễn. Xòe nghi lễ và Xòe trình diễn được gọi theo tên các đạo cụ sử dụng, như Xòe khăn, Xòe nón, Xòe quạt, Xòe sạp, Xòe nhạc, Xòe gậy, và Xòe hoa.

Xòe vòng phổ biến nhất, là màn đồng diễn mà người Xòe nối thành vòng tròn trong sự hòa đồng với tất cả mọi người. Các động tác múa cơ bản của Xòe là tay giơ lên cao, mở ra, hạ xuống, nắm lấy tay người bên cạnh cùng bước chân nhịp nhàng. Người hơi ưỡn ngực, lưng ngả về phía sau. Mặc dù các động tác múa đơn giản, nhưng biểu trưng cho khát vọng về sức khỏe và hòa hợp của cộng đồng. Những động tác múa uyển chuyển hòa với âm nhạc của các nhạc cụ như tính tẩu, kèn loa, khèn bè, trống, chiêng, chũm chọe, pí pặp, bẳng bu, mák hính. Những nhạc cụ cùng với bài hát, trang phục áo cóm, âm thanh phát ra từ trang sức bạc đeo quanh thắt lưng của người phụ nữ Thái. Xòe được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình, các đội văn nghệ, trường học. Xòe trở thành biểu tượng của lòng hiếu khách và như là một dấu ấn văn hóa quan trọng của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam.

Nguyễn Hằng

Bí thư Hà Nội: Làm quyết liệt hơn nữa, nếu không F0 sẽ tiếp tục tăng cao!

 Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh đến trách nhiệm người đứng đầu trên địa bàn trong công tác phòng, chống dịch và chỉ đạo phải làm quyết liệt hơn nữa nếu không số ca mắc sẽ tiếp tục tăng cao...

Thông điệp trên được Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng đưa ra tại Hội nghị triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, biên chế hành chính, sự nghiệp và phát động phong trào thi đua năm 2022, diễn ra ngày 14/12.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bí thư Hà Nội Đinh Tiến Dũng cho biết, năm 2021, tình hình trên địa bàn phức tạp chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đến nay, một số chỉ tiêu quan trọng của thành phố đã hoàn thành, Hà Nội đã giữ được các chỉ tiêu cán cân lớn, tăng trưởng GRDP đạt 2,92%.

Bí thư Hà Nội: Làm quyết liệt hơn nữa, nếu không F0 sẽ tiếp tục tăng cao! - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị (Ảnh: Lê Hải).

Trong bối cảnh phức tạp, thành phố đã phải thực hiện 4 đợt giãn cách xã hội, tuy nhiên, công tác an sinh xã hội luôn được bảo đảm, toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc một cách thực chất.

Theo Bí thư Đinh Tiến Dũng, năm 2022 là năm có ý nghĩa rất lớn, là năm bản lề của phát triển, vì vậy nhiệm vụ còn rất nặng nề, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đội ngũ lãnh đạo phải quyết liệt hơn nữa.

Về kế hoạch năm 2022, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh đến trách nhiệm người đứng đầu các sở, ngành, địa phương. Đặc biệt, người đứng đầu từng địa bàn phải chịu trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch, tiếp tục thực hiện tinh thần thích ứng an toàn, linh hoạt, phòng, chống hiệu quả dịch Covid-19.

Với từng lĩnh vực cụ thể, Bí thư Đinh Tiến Dũng đã phân tích rõ những điểm nghẽn hiện nay và gợi mở các biện pháp tháo gỡ.

Sau khi nêu ra một số bất cập trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay, nhất là về các trạm y tế… ông Dũng chỉ đạo, phải làm quyết liệt hơn nữa nếu không số ca mắc sẽ tiếp tục tăng cao; phát động hệ thống chính trị cơ sở, các đoàn thể tham gia giám sát việc điều trị F0, cách ly F1 tại nhà; căn cứ vào dân số và yêu cầu phòng chống dịch theo từng địa bàn để tăng cường thêm trạm y tế lưu động…

"Lãnh đạo UBND thành phố phải phân công nhiệm vụ cụ thể, đôn đốc thường xuyên, có kế hoạch thực hiện chi tiết…" - ông Dũng yêu cầu thêm.

Trước đó, trao đổi với báo chí sau cuộc họp được Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức về công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn, diễn ra vào ngày 13/12, người đứng đầu Đảng bộ TP Hà Nội cho biết, hiện thành phố đã triển khai 32 bệnh viện, cơ sở thu dung và 27 cơ sở thu dung theo mô hình trạm y tế lưu động với năng lực điều trị cho 100.000 ca bệnh.

Bên cạnh đó, Hà Nội cũng đã triển khai thi công xong hệ thống ô xy tại 25 bệnh viện với 3.200 đầu ra khí ô xy phục vụ người bệnh; tập huấn chuyên môn trực tuyến cho tất cả các xã, phường, thị trấn và triển khai ứng dụng phần mềm để quản lý, theo dõi, điều trị cho F0 tại nhà.

Tuy nhiên, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho rằng, tâm lý chủ quan vẫn còn phổ biến, biểu hiện là tình trạng tụ tập đông người, không thực hiện "5K" trong tổ chức lễ, đám; ăn uống ở hàng, quán... diễn ra nhiều nơi. Một số quận, huyện, phường, xã vẫn chưa triển khai điều trị F0 thể nhẹ hoặc không triệu chứng, cách ly F1 tại nhà.

Trước tình hình đó, Bí thư Thành ủy chỉ đạo cả hệ thống chính trị từ thành phố xuống cơ sở phải vào cuộc đồng bộ, tiếp tục làm thật tốt yêu cầu phân cấp, giao quyền cho quận, huyện, thị xã, phường, xã, thị trấn trong phòng, chống dịch bệnh; tập trung nâng cao năng lực y tế quận, huyện, thị xã và cơ sở; tiếp tục coi người dân là trung tâm, chủ thể.

Đồng thời, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội cũng đi đến thống nhất và yêu cầu Ban Cán sự đảng UBND thành phố chỉ đạo xây dựng kịch bản, phương án ứng phó khi số ca F0 tăng lên 2.000 và 3.000 ca/ngày; tiếp tục tiêm vaccine phòng Covid-19 cho các nhóm đối tượng theo kế hoạch… 

Nguyễn Trường