Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

Quân đội và công an phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ

           Tối 20-12, tại Hà Nội, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức buổi gặp mặt nhân dịp Kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2021), 32 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2021).

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tới dự buổi gặp mặt. 

Cùng dự có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an; Thiếu tướng Lê Tấn Tới, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Quân đội và công an phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ
  Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại buổi gặp mặt

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định sự phối hợp giữa lực lượng quân đội và công an là truyền thống quý báu, tốt đẹp của Đảng và đất nước ta. Đánh giá cao những kết quả đạt được của hai lực lượng trong công tác giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân, Chủ tịch nước mong muốn hai lực lượng tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, giao phó.

Quân đội và công an phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ
 Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an tặng hoa chúc mừng Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

 

Quân đội và công an phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu 

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, công tác phối hợp chặt chẽ, hiệu quả Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội để quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao; khẳng định trong thời gian tới hai lực lượng quân đội và công an sẽ tiếp tục phát huy, đoàn kết gắn bó, đồng tâm hiệp lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguồn: QĐND.

Đảng lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị

 Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước trong từng giai đoạn. Nội dung lãnh đạo của Đảng gắn liền với phương thức lãnh đạo của Đảng. Nội dung lãnh đạo của Đảng là những quyết định của Đảng về đường lối, chủ trương, chính sách, bảo đảm tính định hướng chính trị cho tổ chức và hoạt động của toàn hệ thống chính trị.

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi nội dung lãnh đạo. Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; các hình thức lãnh đạo bao gồm ra nghị quyết xác định đ­ường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức học tập, triển khai thực hiện nghị quyết; giám sát, kiểm tra việc thực hiện; xây dựng quy chế làm việc...; các phương pháp được thực hiện thông qua việc tuyên truyền, giáo dục; vận động, thuyết phục; tổ chức; nêu gư­ơng...

Là đảng cầm quyền, Đảng thực hiện quyền lực chính trị của mình thông qua bộ máy nhà nước và bộ máy các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Trong ý nghĩa này, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị là những công cụ, phương tiện của Đảng, thông qua đó Đảng gián tiếp thực hiện quyền lực chính trị của mình. Việc xây dựng, thành lập tổ chức bộ máy cần tính đến các yếu tố biên chế, con người, số lượng lãnh đạo, mối quan hệ công tác, cơ cấu tổ chức bên trong, công tác thanh tra, kiểm tra, phân cấp, phân quyền trong quy định, quyết định thành lập, giải thể, tổ chức lại để bảo đảm mục tiêu của việc xây dựng, vận hành tổ chức trong hệ thống tổng thể quy hoạch mạng lưới cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị. Do đó, công tác lãnh đạo xây dựng, quản lý tổ chức bộ máy cũng cần xem xét tổng thể, toàn diện toàn bộ các yếu tố này.

Nội dung Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Ban hành đường lối, chủ trương, nghị quyết, kết luận của cấp ủy, tổ chức đảng về xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế. Lãnh đạo thể chế hóa, chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, kết luận... về xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế. Định hướng, chủ trương, cho ý kiến, quy định hoặc quyết định về tổ chức bộ máy đối với các tổ chức thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý, bao gồm: 1) Quan điểm, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy. 2) Thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể tổ chức bộ máy. 3) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của tổ chức bộ máy. 4) Tiêu chí thành lập, số lượng biên chế tối thiểu, số lượng đầu mối bên trong và số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa của một tổ chức. 5) Phân cấp quản lý tổ chức bộ máy. 6) Quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập. Định hướng, chủ trương, cho ý kiến quy định hoặc quyết định về biên chế: a) Quan điểm, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý biên chế. b) Xây dựng kế hoạch sử dụng biên chế cả nhiệm kỳ 5 năm và hằng năm. c) Quyết định tổng biên chế và phân bổ biên chế cho từng tổ chức. Kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật trong công tác lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế.

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị

 Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện việc lãnh đạo chính trị đối với xã hội.      


Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.          

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo Việt Nam

 Đội ngũ nhà giáo Việt Nam là lực lượng chủ yếu và trực tiếp làm nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy, rèn luyện học sinh của các nhà trường trên phạm vi cả nước. Có thể nói, đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quyết định chất lượng dạy học và đòi hỏi phải mất nhiều công phu xây dựng, bồi dưỡng. Trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của đất nước qua các giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ nhà giáo Việt Nam. Người luôn đặc biệt chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ trí thức quan trọng này.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của giáo dục là nhằm đào tạo ra những con người có đủ đức, đủ tài góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, giáo dục còn nhằm đào tạo ra những nhân tài cho đất nước, để cho Tổ quốc ta được sánh vai cùng cường quốc năm châu. Chính vì thế, Người đã nhiều lần khẳng định, nhiệm vụ giáo dục là hết sức vẻ vang và vô cùng cao quý. Song, để thực hiện được nhiệm vụ vẻ vang và vô cùng cao quý ấy thì trước hết phảicó đội ngũ các nhà giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có thầy giáo thì không có giáo dục, và không có giáo dục thì không có bất kỳ sự nghiệp cách mạng vẻ vang nào được thực hiện. Để khẳng định điều này, Người viết: "Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. ...Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hóa”1. Người còn nhấn mạnh rằng, đối với sự nghiệp phát triển đất nước, thì bất kể thời bình hay thời chiến, lúc nào cũng cần đến giáo dục, cần đến đào tạo cán bộ và phát huy vai trò của các nhà giáo. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo cán bộ, thì giáo dục là khâu mở đầu. Tuy khâu mở đầu sự nghiệp "trồng người" này rất bình dị, thường nhật, nhưng nó rất cao quý và vô cùng vẻ vang. Nói chuyện với Lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I (ngày 12-6-1956), Người khẳng định: "Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước mở đầu. Tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang. Không có tượng đồng bia đá, không có gì là oanh liệt, nhưng làm tròn nhiệm vụ là anh hùng, anh hùng tập thể"2.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định, người thầy giáo là người vẻ vang nhất trong xã hội. Bởi vì, xã hội ta, dân tộc ta rất "tôn sư trọng đạo". Bởi vì, nếu không có thầy giáo, không có giáo dục, thì không có những lớp người có đủ tài năng, trí tuệ để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nói chuyện với cán bộ, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ngày 21-10-1964), Người nhấn mạnh: "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được"3. Chính từ những lẽ đó, Người khẳng định: "Nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo, thì phải sửa chữa"4.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của nghề thầy giáo, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, không phải bất cứ ai cũng làm được thầy giáo và việc đưa người vào làm nghề thầy giáo phải tuyển chọn rất chặt chẽ, cẩn thận. Nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập (ngày 6-5-1950), Người nhấn mạnh: "Không phải ai cũng huấn luyện được”5, “lựa chọn người dạy và người đến học cho cẩn thận"6. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người nhắc nhở: "Các cơ quan cần phải rất chú ý đến việc huấn luyện cán bộ. Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó"7.

Trên cơ sở nền giáo dục chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn rất sâu sắc về giáo dục - đào tạo cán bộ. Theo Người, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo cán bộ có những yêu cầu đặc thù riêng đối với các nhà giáo. Một yêu cầu đặc biệt quan trọng đó là, các nhà giáo giảng dạy ở nhà trường đào tạo cán bộ ngành nào, thì phải có trình độ hiểu biết thực tiễn sâu sắc về ngành ấy. Đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, giáo viên giảng dạy môn chuyên ngành nào thì phải thành thạo nghề nghiệp của ngành ấy. Người còn chỉ thị cho cơ quan lãnh đạo các ngành chuyên môn phải "gom góp tài liệu", cử người tham gia giảng dạy nhất là huấn luyện thực hành, nhằm sao cho cán bộ học ngành nào "dần dần đi đến thành thạo công việc ngành ấy".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì mỗi nhà giáo phải học vấn chuyên ngành sâu, kỹ năng sư phạm giỏi, đạo đức nhà giáo tốt. Người luôn nhắc nhở các nhà giáo, chỉ thị cho "những người đi huấn luyện" là phải mẫu mực về mọi mặt. Ngay từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, Người đã xác định: "Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc"8. Theo Người, muốn trở thành nhà giáo mẫu mực, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ "trồng người" cao quý, thì mỗi nhà giáo phải không ngừng nỗ lực học tập, phải thực hiện tốt khẩu hiệu: "Học không biết chán, dạy không biết mỏi". Người nhắc nhở đội ngũ nhà giáo, những người làm công tác huấn luyện: "Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình"9. Đặc biệt, Người luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ nhà giáo phải yêu nghề, yêu trường, phải biết tự hào về nghề nhà giáo cao quý: "Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?"10. Người còn nhắc nhở đội ngũ nhà giáo phải mô phạm, phải gương mẫu về đạo đức, lối sống: "Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta... phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu hậu lạc'' nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng"11.

Người chẳng những quan tâm giáo dục, động viên, mà còn cùng với Đảng, Nhà nước ta đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với đội ngũ nhà giáo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, khi thực hiện chế độ giáo dục mới, Người đã chỉ thị: "Cần phải ưu đãi các giáo viên và khen thưởng những lớp tổ chức tốt"12. Lời dạy này của Người là định hướng tư tưởng quan trọng cho Ngành Giáo dục, đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng, thực hiện ngày càng tốt hơn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo Việt Nam bao gồm nhiều nội dung sâu sắc, có giá trị bền vững, có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết hiện nay. Để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà trong những năm tới, đội ngũ nhà giáo cần phải quán triệt sâu sắc hơn nữa tư tưởng quan trọng này của Người. Trên cơ sở đó, mỗi nhà giáo không ngừng nỗ lực tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao chất lượng toàn diện cả phẩm chất và năng lực, thật sự xứng đáng là "Thầy giáo tốt", Thầy giáo đúng nghĩa theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phản bác các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng XHCN

 Các thế lực thù địch, phản động tăng cường công kích, xuyên tạc, phủ nhận các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng qua các Đại hội với các luận điệu sau: 1) Xuyên tạc, bác bỏ định hướng XHCN của Việt Nam. Những nhóm này cho rằng phát triển KTTT thì không thể xây dựng CNXH, chủ trương gắn KTTT với định hướng XHCN là không có cơ sở, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa. 2) Nhiều luận điệu phê phán quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế diễn ra không thực chất, chưa đạt nhiều kết quả, chỉ mang tính hình thức, cơ cấu kinh tế nước ta đang tỏ ra lạc hậu so với các nước khác. 3) Phủ nhận những nỗ lực thực hiện PTBV, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường của đất nước, ra sức lôi kéo các cộng đồng dân tộc thiểu số, các nhóm dễ bị tổn thương để phản đối, kích động biểu tình, ngăn cản các chính sách PTBV của Đảng và Nhà nước ta. 4) Tranh thủ những ý kiến nghi ngại về khả năng thích ứng của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng để tìm cách chống phá, cản trở những nỗ lực hội nhập phục vụ phát triển mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Những quan điểm, luận điểm này bộc lộ dã tâm, mưu đồ xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng. Những lý lẽ đưa ra có thể thấy là những quan điểm, lập luận hết sức phiến diện và phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá. Thực tế cho thấy:


Thứ nhất, cần khẳng định KTTT là sản phẩm của nhân loại, được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Thực tiễn kể từ khi bắt đầu quá trình hội nhập, mở cửa nền kinh tế những năm 1990 và đặc biệt cho đến những năm gần đây Đảng và Nhà nước đẩy mạnh chủ trương phát triển KTTT định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từng bước được cải thiện, đạt mức tăng khá cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới trì trệ. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt gần 2.800USD trong năm 2019, tăng 28 lần so với mức GDP bình quân đầu người năm 1990 (khoảng gần 100 USD). Định hướng XHCN đã tiếp tục chứng minh tính đúng đắn và ưu việt của mình thông qua đại dịch Covid-19, Đảng và Nhà nước ta đã làm rất tốt mục tiêu kép vừa ra sức chống dịch, vừa duy trì phục hồi và phát triển kinh tế, qua đó giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ nền tảng chính trị tốt đẹp cũng như những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đã đạt được thời gian qua. Do vậy, điều quan trọng nhất là kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống con người phát triển và từng bước vươn lên ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới. Đối chiếu với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam, có thể thấy việc Đảng ta lựa chọn mô hình “KTTT định hướng XHCN” là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, thể hiện sự khoa học và sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển thời đại và yêu cầu phát triển đất nước đặt ra.

Thứ hai, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam, nhất là trong 5 năm trở lại đây, đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực và thực chất, thể hiện tính đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế. Quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong những kỳ Đại hội gần đây. Thành quả cho sự quyết tâm đó thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt mức 6,7% (cao hơn tốc độ tăng bình quân 5,9%/năm của giai đoạn 2011-2015), đạt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2016-2020. Cùng với đó, mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn, bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt gần 44,5%, cao hơn nhiều so với mức 33,6% của giai đoạn 2011-2015. Tỷ trọng giữa các ngành đã có sự chuyển biến đáng kể, theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông lâm thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp - xây dựng, duy trì tỷ trọng ngành dịch vụ luôn ở mức cao (dao động trong khoảng 40%) trong tổng cơ cấu GDP. Mặc dù còn một vài hạn chế, nhưng có thể khẳng định rằng những kết quả đối mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam thời gian qua là rất đáng ghi nhận, thể hiện sự đúng đắn trong tư duy, định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ ba, là một trong những quốc gia được dự báo sẽ chịu tác động tiêu cực nhất từ biến đổi khí hậu, PTBV đã trở thành nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, PTBV của Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực: Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,5%/năm giai đoạn 2016-2019, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ khoảng 75% năm 2015 lên 90% năm 2019, tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học xấp xỉ 100%, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (nhiệm kỳ 2016-2021) là khoảng 25%. Ngoài ra, hơn 99% các hộ gia đình Việt Nam đã được tiếp cận với điện năm 2019, tỷ lệ dân số sử dụng in-tơ-nét là xấp xỉ 66%. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII (2021) của Đảng khi đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đã trình bày 5 quan điểm phát triển: 1) Phát triển nhanh và bền vững. 2) Về thể chế phát triển. 3) Về nguồn lực con người. 4) Về xây dựng nền kinh tế, tự chủ. 5) Về sức mạnh tổng hợp quốc gia trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những thành tựu PTBV mà nước ta đã đạt được thời gian qua cho thấy, những chủ trương, định hướng của Đảng về PTBV đóng vai trò rất quan trọng, nó khẳng định đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước là đúng đắn. Đồng thời, là cơ sở vững chắc để củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, qua đó làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong tiến trình đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN của Đảng và nhân dân ta.

Thứ tư, hội nhập và liên kết kinh tế trong kỷ nguyên mới là xu hướng tất yếu, với các liên kết kinh tế khu vực và song phương đang và sẽ tiếp tục được thúc đẩy. Những năm qua, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh phát triển KTĐN, hội nhập kinh tế với thế giới cũng như tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới kinh tế, KTĐN Việt Nam đã từng bước khẳng định là một động lực phát triển quan trọng thiết yếu của nền kinh tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng từ mức khoảng 5 tỷ USD trong năm 1990 lên gần 30 tỷ USD năm 2000, lên khoảng 160 tỷ USD năm 2010 và lên khoảng 500 tỷ USD năm 2019, với cơ cấu hàng hóa chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm xuất khẩu thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến, mang hàm lượng giá trị gia tăng cao. Là một nước có độ mở kinh tế cao (khoảng 200% GDP), Việt Nam đã và đang tham gia 17 FTA, trong đó có 2 FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang thực hiện là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó mang lại nhiều kết quả tích cực đối với Việt Nam, đóng góp vào các mục tiêu về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu cũng như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tựu chung lại, những nỗ lực của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh mới, việc nước ta lựa chọn con đường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển KTĐN là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, góp phần nâng cao thực lực kinh tế và thực hiện khát vọng phát triển đất nước ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

Để đấu tranh với các thế lực sai trái, thù địch, tất cả mỗi người Việt Nam phải kiên định lập trường, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng Nhà nước nói chung và tư tưởng phát triển kinh tế nói riêng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, chuyên môn, tầm nhìn để chủ động tranh luận, đấu tranh với các quan điểm sai lầm của các đối tượng. Cần phân biệt rõ các đối tượng chính để có giải pháp, hình thức phù hợp. Đối với một số quần chúng nhân dân do hạn chế về nhận thức, ta nên kiên trì giải thích, giáo dục để họ hiểu. Đối với kiều bào ở xa đất nước nếu có người không phải chủ tâm mà do bị lôi kéo, nhận thông tin lệch chuẩn, cũng phải chú ý tiếp xúc, vận động để bà con luôn có được nguồn tin chính thức, chính xác, đồng tình, ủng hộ đối với phát triển quê hương. Đối với lực lượng thù địch, đối kháng, cần có lập luận chặt chẽ, minh chứng rõ ràng, ngôn ngữ sắc bén để phản bác, phải phân hóa đội ngũ của họ, cô lập kẻ xấu để tập trung đấu tranh. Cuối cùng cách bảo vệ đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta hiệu quả có thể nói gọn là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp cốt lõi sau: 1) Triển khai thành công trong thực tiễn các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế bền vững, hài hòa mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội đất nước. 2) Thực hành rộng rãi, kiên trì việc duy trì kỷ cương phép nước, phòng, chống tham nhũng, chống quan liêu, lãng phí mạnh mẽ, tích cực hội nhập quốc tế mọi mặt kể cả kinh tế, tạo thành quốc lực ngày càng vững mạnh, trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển, có uy tín trên thế giới. 3) Chủ động, sáng tạo trong giải thích, thông tin, truyền thông tất cả đường lối, chính sách của Đảng để mọi công dân thấu hiểu, tự giác nâng cao nhận thức, giác ngộ trước các thủ đoạn chống phá của thế lực xấu. 4) Tích cực đấu tranh dư luận bằng các biện pháp phù hợp, kể cả trên mặt trận tư tưởng văn hóa, các diễn đàn, trên sách báo, trên các phương tiện truyền thông.

THÓI GANH GHÉT, ĐỐ KỴ LÀ CĂN BỆNH CỐ HỮU


Sự ganh ghét, đố kỵ là một đặc tính tiêu cực trong tính cách của con người, nó hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Ngay từ xa xưa, sự ganh ghét, đố kỵ đã xuất hiện trong cuộc sống của con người, có rất nhiều câu chuyện trong văn hóa phương Đông và phương Tây phản ánh về vấn đề này; như truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” của văn hóa phương Tây, vì ganh ghét trước sắc đẹp của nàng Bạch Tuyết mà bà mẹ kế của nàng tìm đủ mọi thủ đoạn để hại nàng, nhưng rốt cục bà lại chết do chính những thủ đoạn của mình gây ra; hay trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” của nền văn hóa phương Đông, nhân vật Chu Du vì ghen tức Gia Cát Lượng tài trí hơn mình đã bao lần tìm cách hãm hại mà không được, cuối cùng vì uất hận hộc máu mồm mà chết. Đối với văn hóa Việt Nam, sự ganh ghét, đố kỵ thường xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ như: “Trâu buộc thì ghét trâu ăn/ Quan võ thì ghét quan văn dài quần”, “con gà tức nhau tiếng gáy”, “ghen ăn, tức ở”...Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp, tâm lý ganh ghét, đố kỵ càng trở nên phổ biến, thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực và mọi mặt đời sống xã hội. Người ta hay so sánh mình với những người khác, thấy họ có một vài mặt nào đó hơn mình thì thường cảm thấy trong lòng lo lắng, buồn bã, so bì, tị nạnh… rồi sinh ra bực bội, căm ghét, thấy mình bị xúc phạm, muốn trả thù… Đặc biệt, sự ganh ghét, đố kỵ đang tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên công tác tại các cơ quan, đơn vị; điều dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, địa vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại giấu kín trong lòng. Họ không công tâm nhìn nhận, đánh giá năng lực, hiệu quả công việc của người khác mà còn tìm mọi cách lôi kéo người có chung suy nghĩ để soi mói, nói xấu sau lưng và tìm cách cản trở đồng chí, đồng nghiệp. Ngoài ra, họ còn tỏ ra vui sướng trước thất bại của người khác; thậm chí họ lươn lẹo “quy chụp, biến báo” người tốt thành người xấu, tâng bốc mình lên để được cấp trên ưu ái mình…Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình…”, đây là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đang tồn tại trong tình hình hiện nay. Những biểu hiện suy thoái này làm nản lòng, nhụt chí và cản trở sự phấn đấu của cá nhân và tổ chức, làm xói mòn đạo đức, văn hóa trong ứng xử, gây hại cho tập thể. Đồng thời, làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng và củng cố sự đoàn kết, thống nhất và là nguyên nhân của sự nhen nhóm, bè phái, lợi ích nhóm, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…Để loại bỏ thói ganh ghét, đố kỵ trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết của cơ quan, đơn vị. Xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh, kết hợp hài hòa giữa phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ gìn tình yêu thương đồng chí, đồng đội. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, rà soát từ trong cấp ủy đến từng đảng viên, ai có biểu hiện ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình phải chấn chỉnh, chỉ rõ cho họ thấy để họ “tự soi”, “tự sửa”. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “mục đích của tự phê bình và phê bình để giúp nhau tiến bộ, sửa chữa sai lầm”, chứ không phải là để “bới lông tìm vết”, nên cách thức tiến hành phải có lý, có tình, có tính giáo dục cao. Đồng thời, tự phê bình và phê bình phải được làm thường xuyên, phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm, “phê bình việc chứ không phê bình người” để cùng tiến bộ. Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động vào thực tiễn công việc; trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, khen thưởng phải thật sự khách quan, dân chủ, công khai và đúng thực chất, không bao che, không ích kỷ, hẹp hòi, thành kiến cá nhân làm tổn hại đồng chí, đồng đội, hạn chế sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể cơ quan, đơn vị… Phát huy sự nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nói đi đôi với làm, đi đầu trong mọi việc. Thường xuyên động viên, khen thưởng kịp thời những nhân tố điển hình tiên tiến; ngăn chặn cái sai, cái xấu, kèn cựa địa vị, lợi ích nhóm…Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải nhận thức đúng và luôn rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân; nỗ lực học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tận tâm, tận lực với công việc, thấy đúng kiên trì bảo vệ, thấy sai kiên quyết đấu tranh./.

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG “TỰ CHUYỂN HÓA”, “TỰ DIỄN BIẾN” TRONG NỘI BỘ

 

Để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng trong nội bộ Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ đảng viên, nhất là đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức. Quán triệt tinh thần đổi mới của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII và Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng, cần tập trung đổi mới nội dung giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đồng thời, đổi mới nội dung tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ chính trị, quán triệt nghị quyết của Đảng cần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối, chính sách, nhiệm vụ của đất nước, bộ, ngành, địa phương và mỗi cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó xác định chính xác những nội dung, nhiệm vụ mà mỗi tổ chức, từng cá nhân cần nắm vững và thực hiện để góp phần thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và lấy nội dung nhiệm vụ chính trị làm cơ sở để đấu tranh với những nhận thức sai trái, mơ hồ, thiếu trách nhiệm trong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hai là, các cấp ủy đảng cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phát huy tính chủ động, tích cực tự tu dưỡng, tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là giải pháp trực tiếp quyết định đến nâng cao năng lực đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Ba là, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, đổi mới và tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường, chủ động nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh, chấn chỉnh các mặt hạn chế, yếu kém; đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên một cách thực chất; cụ thể, lượng hóa tiêu chí đánh giá phù hợp với từng loại hình tổ chức Đảng. Các cấp ủy, tổ chức Đảng và đảng viên cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, tầm quan trọng của đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng để từ đó đề ra các giải pháp xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với thực hiện các giải pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.

Bốn là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tăng cường kỷ luật, công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí và quản lý cán bộ, bảo đảm lựa chọn đúng người có đức, có tài vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo các cấp; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh, khoa học để cán bộ, đảng viên không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. Chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của các thế lực thù địch. 

Năm là, giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng mạnh về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực, chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn, phức tạp, lại chịu sự tác động của nhiều yếu tố tiêu cực, nếu mỗi cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, xa rời mục đích, lý tưởng, sa sút về phẩm chất đạo đức sẽ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của lợi ích cá nhân, bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, đi đến phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Vì vậy, muốn phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tự thân cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức, bản lĩnh vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” PHẢI NHÌN NHẬN CHÍNH XÁC

Khái niệm “tự diễn biến” dùng để chỉ quá trình tự vận động của sự vật, hiện tượng; là quá trình tự biến đổi bên trong của sự vật theo một chiều hướng nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng ta, “tự diễn biến” được hiểu là sự suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Thuật ngữ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đánh dấu bước chuyển trong tư duy của Đảng về sự nhận diện một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ chính trị ở nước ta.

Khái niệm “tự chuyển hóa” dùng để chỉ quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng sang một cấu trúc, một dạng tồn tại, một chất mới. Trong các văn kiện của Đảng ta, “tự chuyển hóa” được sử dụng theo nghĩa là sự biến đổi về lập trường, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, lối sống của cán bộ, đảng viên theo hướng đối lập với trạng thái ban đầu. Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu “tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu, sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”, là quá trình biến đổi về chất các quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một tổ chức và cá nhân. “Tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi về chất trong quan điểm, tư tưởng, phẩm chất và hành động của chủ thể. Đây là cấp độ cao hơn của quá trình “tự diễn biến” biểu hiện sự thay đổi về chất của quan điểm chính trị, đạo đức, lối sống khiến cho mỗi cá nhân không còn là chính mình, chẳng những đánh mất vai trò tiên phong, gương mẫu mà có khi trở thành phản bội, chống lại Đảng và Nhà nước, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù.

Theo nghĩa đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi từ bên trong của mỗi chủ thể theo chiều hướng xấu, từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ… nếu không ngăn chặn hiệu quả, khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến tha hóa, biến chất. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên thì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình tự vận động, thay đổi từ nhận thức đến hành động của chủ thể, từ lựa chọn chế độ XHCN sang lựa chọn chế độ tư bản chủ nghĩa. Quá trình này chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan là chủ yếu. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều dẫn đến các mục tiêu, kết quả như: phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Thực tế trong những năm qua cho thấy bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu thì  công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được giao. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn xảy ra, trong đó tập trung vào số đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước. Nhiều tổ chức, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nguyên nhân của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Sự chống phá quyết liệt, nhất là hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp'' Vấn đề đặt ra hiện nay là phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, củng cố niềm tin của đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức''

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị thường xuyên nhằm quán triệt, triển khai nghị quyết của Trung ương mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí''

Tổ quốc trên hết, nhân dân trên hết, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân phục vụ “Dù trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào, Quân đội cũng luôn là lực lượng đi đầu”

 

Tổ quốc trên hết, nhân dân trên hết, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân phục vụ “Dù trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào, Quân đội cũng luôn là lực lượng đi đầu”

Trong đợt dịch thứ tư, quân đội đã huy động trên 130.000 quân, riêng lực lượng cho công tác phòng, chống dịch ở biên giới khoảng 20.000 quân, còn lại ở TPHCM hơn 100.000 quân. Ở phiên thảo luận trước Quốc hội ngày 9/11, phát biểu tại điểm cầu TPHCM, đại biểu Quốc hội Phan Văn Xựng, Chính ủy Bộ Tư lệnh TPHCM cho biết, toàn quân đã quán triệt nhận thức sâu sắc tinh thần “chống dịch như chống giặc” hỗ trợ cho TPHCM và các tỉnh phía nam hơn 133.114 quân (triển khai 13 cơ sở điều trị bệnh nhân COVID-19 với 6.550 giường bệnh, thành lập 660 tổ quân y cơ động, 510 tổ vaccine, 1.125 tổ lấy mẫu xét nghiệm…).

Trong số này, lực lượng tại chỗ của quân đội ở phía nam từ các Quân khu 5, 7, 9 rất lớn, cộng thêm khoảng 20.000 chiến sĩ từ miền Bắc vào. Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín cho hay, trước khi vào tâm dịch, cán bộ, chiến sĩ đều được tập huấn về chuyên môn, xác định quyết tâm cao nhất, khắc phục mọi khó khăn, sát cánh cùng nhân dân đẩy lùi dịch bệnh.

Từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện đến tháng 8 năm 2021, toàn quân đã triển khai hơn 1.900 tổ, chốt chống dịch với trên 13.000 lượt người, kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới trên đất liền và trên biển, ngăn chặn xuất, nhập cảnh trái phép; phối hợp với địa phương tổ chức gần 5.000 tổ, chốt phòng dịch với sự tham gia của trên 22.000 cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ tại các địa bàn có dịch; triển khai 190 điểm cách ly phục vụ hơn 270.000 người; tổ chức 10 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm; chuyển đổi công năng một bệnh viện đa khoa quân dân y thành bệnh viện điều trị bệnh nhân mắc COVID-19; thành lập một trung tâm điều trị bệnh nhân mắc COVID-19 vừa và nặng với hàng nghìn bác sĩ, nhân viên quân y. Quân đội đã đóng góp 510 tỷ đồng ủng hộ Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19; điều động hàng nghìn ô tô vận chuyển vaccine đến các địa phương; khử khuẩn hàng nghìn khu vực, điểm có dịch.

Ngoài ra, việc triển khai lực lượng thành lập trung tâm cách ly cho người nhiễm, nghi nhiễm COVID-19, các hoạt động an sinh xã hội cũng được quân đội thực hiện nhanh chóng, hiệu quả tại tâm dịch TPHCM và các tỉnh phía nam. Quân đội đã gắn công tác phòng, chống dịch với việc quan tâm, chăm lo cuộc sống nhân dân, bảo đảm tốt an sinh xã hội; tổ chức lực lượng tuần tra, chốt chặn, tiếp tế lương thực, thực phẩm. Toàn quân sử dụng 6.162 chuyến xe tải, 3 chuyến tàu thủy, 156 chuyến máy bay, vận chuyển 25.457 tấn hàng hóa.

Tại TPHCM, chỉ trong một thời gian ngắn triển khai, hàng trăm xe thồ của bộ đội đã đưa nhu yếu phẩm hỗ trợ kịp thời đến từng ngõ ngách, giúp đỡ người dân gặp khó khăn do COVID-19. Nhiều hoạt động an sinh xã hội đặc biệt chưa từng có tiền lệ cũng được lực lượng quân đội triển khai gấp rút, hiệu quả như: “Gian hàng 0 đồng”, "Chuyến xe lưu động 0 đồng”, hỗ trợ gói an sinh cho nhân dân; thu hoạch và tiêu thụ nông sản giúp người dân tại các vùng bị cách ly, phong tỏa; hỗ trợ người dân lo công tác hậu sự cho người đã mất, tổ chức khâm liệm, hỏa táng người tử vong do COVID-19; tiếp nhận, bảo quản, bàn giao tro cốt cho gia đình có người thân chu đáo. Đây là nhiệm vụ chưa có trong tiền lệ nhưng cán bộ, chiến sĩ, dân quân đã nhận thức sâu sắc, coi người mất như người thân của mình, phục vụ với tinh thần tận tâm, tận tình, trân trọng. Hiện nay, quân đội đang phối hợp với các cơ quan chức năng bàn giao kỷ vật của người tử vong do COVID-19 cho gia đình…

Với việc xử lý thi hài, tro cốt nạn nhân tử vong do COVID-19, Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín cho biết các chiến sĩ được động viên tư tưởng để thực hiện trách nhiệm với tình cảm lớn nhất với nhân dân, thực hiện các phần việc cẩn trọng với tinh thần trách nhiệm và sự thôi thúc của trái tim. 

Đối mặt với đại dịch, ngay từ những ngày đầu, toàn quân luôn chủ động đề ra các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, ứng phó kịp thời, dẫn dắt các lực lượng xung kích thực hiện nhiệm vụ nơi tuyến đầu. Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín, niềm tin tạo thành sức mạnh đoàn kết, quân đội trở thành điểm tựa cho Đảng, cho dân, cho đất nước. Sự chủ động tham mưu chính xác, tham gia kịp thời ngay từ đầu và trên tuyến đầu của quân đội trong phòng, chống dịch đã góp phần tạo nên thành công ấn tượng của Việt Nam trước 3 đợt đầu của đại dịch. Các chiến sĩ ở mọi vị trí đã và đang phát huy bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường, bình tĩnh, không hoang mang, dao động, tự mỗi người đều ý thức bảo đảm tình trạng sức khỏe tốt nhất để hết mình phục vụ nhân dân.

Bên cạnh đó, các lực lượng biên phòng, hải quân, cảnh sát biển thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các quân khu, duy trì gần 2.000 tổ, chốt biên giới đường bộ, đường biển, đường sông và nội địa, ngày đêm tuần tra, kiểm soát chặt biên giới, khu cách ly, khu phong tỏa, khu điều trị nhằm ngăn chặn, không để F0 xâm nhập vào nội địa, lan ra cộng đồng.

Dọc các tuyến biên giới trên đất liền hay nơi đảo xa trong những ngày biển động, những bước chân tuần tra của bộ đội biên phòng, bộ đội hải quân và cảnh sát biển Việt Nam chưa một ngày ngơi nghỉ. Không chỉ là nơi núi rừng biên viễn, trong các khu cách ly, mà ở đâu có khó khăn là ở đó ngời sáng hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Dẫu ngày hay đêm, trời mưa hay nắng, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ nhiều tháng liền vẫn bám dân, bám bản, vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch và vượt mọi gian nan kiên trì bám chốt, ngăn chặn COVID-19 xâm nhập từ đường biên.

Thắp lên ngọn lửa niềm tin trong lòng nhân dân

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín, quân đội đã đồng hành cùng đất nước đi qua các cuộc kháng chiến và quân đội đang đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân viết tiếp những chiến công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc chiến với đại dịch COVID-19 này, những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính tiếp tục gác lại những nỗi niềm riêng tư, vượt mọi hiểm nguy, đến giữa màu đỏ của tâm dịch để hòa nhập cùng đồng bào, thực hiện “trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Đấy chính là nghĩa tình, là trách nhiệm của những người lính “Bộ đội Cụ Hồ”. Họ ở đâu cũng thế, trong hoàn cảnh nào cũng vậy, "Tổ quốc trên hết, nhân dân trên hết, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân phục vụ" đã, đang và sẽ trở thành máu thịt trong suy nghĩ và hành động của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam.

Không thể kể hết những hiểm nguy bộ đội ta đã gặp phải, không thể đong đếm được những hy sinh chiến sĩ ta đã cống hiến. Mặc dù phải làm việc liên tục trong môi trường tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm, khối lượng công việc nhiều, cường độ công việc cao, lực lượng mỏng, địa bàn rộng nhưng ánh mắt mỗi người đều rực lửa, đầy quyết tâm chống dịch, không một tiếng than thở. Những hình ảnh gian khó, chấp nhận hy sinh của cán bộ, chiến sĩ quân đội trên tuyến đầu đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho mỗi người dân Việt Nam xích lại gần nhau hơn và khát khao cống hiến.

Không một chút ồn ào, không một lời phàn nàn, trách cứ…, những người lính của chúng ta cứ lặng thầm làm việc, lặng thầm cống hiến, lặng thầm hy sinh. Họ đã để lại những cảm xúc yêu thương, trân trọng, lan toả lòng vị tha nhân ái. Những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” một lần nữa thắp lên ngọn lửa niềm tin trong lòng nhân dân. Nó giúp mỗi chúng ta vững tin hơn vào quân đội, vào sự lãnh đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước. Niềm tin tạo nên sức mạnh, tạo nên động lực để mọi người bên nhau, nắm tay nhau vượt qua những ngày khó khăn lịch sử.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín cho rằng giá trị của hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ ngời sáng, hiện hữu trong mỗi đơn vị quân đội tham gia phòng, chống dịch mà còn có giá trị lan tỏa, khơi dậy tinh thần dân tộc, ươm mầm và nảy nở những nghĩa cử cao đẹp trong xã hội. Có thể nói, chưa bao giờ sự tin tưởng, đồng lòng, quyết tâm của toàn dân lại dâng cao như lúc này. Cùng với hoạt động của quân đội là rất nhiều hoạt động thiện nguyện, ủng hộ, giúp đỡ những cá nhân và gia đình có hoàn cảnh khó khăn do tác động của dịch bệnh. Đúng như lời của Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Chương trình “Nghĩa tình quân dân” tối 19/12: “Nghĩa tình quân dân là giá trị nội lực, sức mạnh nội sinh quan trọng góp phần làm nên thắng lợi trong cuộc chiến bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước và vượt qua những thời khắc khó khăn của lịch sử như đại dịch COVID-19”.

Nhiều năm sau nữa, đất nước sẽ còn mãi nhắc tới giai đoạn lịch sử này. Và mỗi lần nhắc đến, hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam chắc chắn sẽ mãi còn sâu đậm trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

 

PHÒNG, CHỐNG NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong nhiệm kỳ là: "Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ''.

Cần nhận rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trước hết thuộc phạm trù ý thức, nhưng có cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nó. Vì vậy, để khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cần một hệ thống các giải pháp mang tính toàn diện, coi trọng cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cả lĩnh vực kinh tế - xã hội và pháp luật, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong xây dựng Đảng và trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, loại bỏ những yếu tổ chủ quan và khách quan sản sinh ra nó. Trong thời gian tới, để phòng, chống những biểu hiện tiêu cực trong cán bộ đảng viên, cần thực hiện đồng bộ những nhóm giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị giữ vai trò rất quan trọng. Bởi chỉ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng thì mới có sự kiên định trong mọi hoàn cảnh, nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, chuyển đổi kinh tế số và bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi mỗi đảng viên phải luôn tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ và kiến thức; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, nói không đi đôi với làm. Chính vì thế, cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống, lấy việc xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm, cốt lõi của phát triển văn hóa, chăm lo xây dựng con người một cách toàn diện, cụ thể, thiết thực, kiên quyết đấu tranh mọi hiện tượng tiêu cực làm tha hóa con người.

Thứ hai, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Kết luận 01-KL/TW về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" của Bộ Chính trị khóa XIII.

Để việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thời gian tới đạt hiệu quả thiết thực, cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần phải gắn với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm cụ thể, không chung chung. Nội dung học tập có thể chung, giống nhau, nhưng liên hệ và việc làm cần phải cụ thể, gắn với nhiệm vụ của từng người. Cấp ủy, tổ chức đảng phải hướng dẫn và tổ chức đăng ký làm theo Bác của mỗi cán bộ, đảng viên, phù hợp với công việc của họ, có kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng kịp thời… Cùng với tăng cường giáo dục nhận thức về những giá trị đạo đức, văn hóa cho cán bộ, đảng viên, công chức, cần nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, đổi mới, tăng cường công tác quản lý phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng. Cần xây dựng các tiêu chí, yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới để quản lý và giáo dục cán bộ, đảng viên. Phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách. Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Cần triển khai thật tốt các công việc như tăng cường kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đảng, điều lệ Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện những quy định về nêu gương, những điều đảng viên không được làm, việc thực hiện nhiệm vụ chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chủ trương cụ thể của các cấp ủy. Trong kiểm tra, giám sát, cần chú ý lắng nghe dư luận quần chúng, tiếp nhận ý kiến của mặt trận, đoàn thể nhân dân nhận xét, phê bình cán bộ, đảng viên theo định kỳ hoặc đột xuất để phát hiện, khắc phục những khuyết điểm khi mới manh nha. Coi trọng phát hiện các nhân tố tích cực, việc làm tốt, điển hình tốt để giúp cấp ủy tổng kết, rút ra những kinh nghiệm hay, bồi dưỡng và nhân rộng.

Thứ tư, những giải pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ về số lượng và đạt về chất lượng để tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều được điều chỉnh bằng các bộ luật và luật. Các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính thống nhất nội tại, rõ  ràng về thứ bậc, chính xác, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, có tính khả thi cao. Điều này sẽ góp phần hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên lợi dụng khe hở của luật pháp để trục lợi, suy thoái về đạo đức, lối sống. Việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý xã hội cũng góp phần phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, góp phần hạn chế những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra, nhất là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội. Xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đổi mới cơ chế quản lý, lành mạnh hóa môi trường sản xuất, kinh doanh, tạo cơ sở cho giáo dục, xây dựng đạo đức, lối sống mới. Thực hiện công bằng, dân chủ trong chính sách phân phối, chính sách tiền lương, trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công. Xóa bỏ cơ chế xin - cho, các hình thức đặc quyền đặc lợi đang có rất nhiều biến thể hiện nay để đảm bảo công bằng. Xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật và quản lý hành chính về văn hóa, xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về văn hóa, lối sống lành mạnh. Kiên quyết ngăn chặn, khắc phục, xử lý nghiêm mọi biểu hiện của thương mại hóa báo chí, giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, gây hậu quả xấu. Kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi, tiến tới quét sạch các tệ nạn xã hội.

Thứ năm, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục phát huy vai trò chủ thể, chủ động, tích cực làm tốt việc xây dựng và tổ chức thực hiện giám sát, phản biện xã hội hằng năm đối với cán bộ, đảng viên. Kết hợp liên thông ba nhiệm vụ: giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tăng giám sát vụ việc qua giám sát giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cử tri và nhân dân; công khai các chỉ số hài lòng, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; vấn đề báo chí dư luận đang quan tâm, nhân dân đang bức xúc, góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" đối với cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò của dư luận xã hội để giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những việc làm vì lợi ích chung của cộng đồng, hạn chế những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội.

Thứ sáu, hạn chế tối đa những tác động bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng hiện nay và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị đối với cách mạng nước ta hiện nay để nâng cao sức đề kháng, "miễn dịch" với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Tác động tiêu cực của xu hướng toàn cầu hóa trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức lối sống đã len lỏi vào đất nước ta và ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, như chủ nghĩa thực dụng kinh tế, lối sống cá nhân, hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân cực đoan… Vì vậy, cần có các biện pháp để khắc phục, hạn chế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Thứ bảy, phát huy vai trò tự giác, tích cực của cán bộ, đảng viên trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt nhiệm vụ này là trực tiếp góp phần khắc phục sự tự diễn biến trong cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm với nhân dân, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; thực hiện đúng nguyên tắc: Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng. Điều này thể hiện ở việc cán bộ, đảng viên tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động tiễn, tham gia vào các quá trình xây dựng, triển khai thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình và xã hội. Duy trì thực hiện các truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác. Cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm xây dựng cộng đồng, cơ quan mình trong sạch, vững mạnh. Xác định rõ trách nhiệm của cá nhân cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực công tác. Mọi công việc được làm đến nơi đến chốn, hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao./.

CÁC BIỂU HIỆN TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã có chiều hướng thuyên giảm. Đánh giá của đầu nhiệm kỳ là "chưa đạt được mục tiêu đề ra", "chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn", đến cuối nhiệm kỳ được đánh giá "đạt được kết quả toàn diện" tuy "còn diễn biến phức tạp". Báo cáo kết quả điều tra dư luận xã hội về "Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng" do Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện tháng 11/2020 cho thấy, đa số người được hỏi (trên 50%) cho rằng những vấn đề, hiện tượng xấu, tiêu cực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII đã giảm đi, đó là: Hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết trong chi bộ, đảng bộ, cấp ủy đảng (64%); Tham nhũng (58%); Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên và trong xã hội (58%); Kỷ cương, phép nước không nghiêm, "lệ to hơn luật" (56%); Quan liêu, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức (52%); Bè phái, cục bộ, địa phương chủ nghĩa (52%). Tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn còn hạn chế. Các biểu hiện tiêu cực diễn ra ở các cấp, ngành, các lĩnh vực, từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Nghị quyết Đại hội XIII đã thẳng thắn chỉ ra: "Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ;…Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Những hiện tượng tiêu cực đó đã gây bức xúc trong xã hội. Trong các tiêu cực, cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội quan tâm, bức xúc nhiều trước một số tình trạng tiêu cực sau:

Một là, lợi ích nhóm. Đây là biểu hiện có trong tất cả các lĩnh vực; trong đó đáng lo ngại nhất là quản lý nhà nước đối với kinh tế, quản lý con người, công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. "Lợi ích nhóm" làm cản trở quá trình cải cách tư pháp, hành chính, từng bước làm vô hiệu hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm chệch định hướng phát triển, tăng sự phân hoá trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tiềm ẩn sự mâu thuẫn trong xã hội. "Lợi ích nhóm" từng bước làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức, sai lệch các chuẩn mực xã hội, gây mâu thuẫn nội bộ, làm xói mòn lòng tin giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiêu cực trong công tác cán bộ. Các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ thường thấy là chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm... Biểu hiện là tình trạng đúng quy trình nhưng không chọn được những cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; hợp thức hóa quy trình bằng nhiều cách khác nhau diễn ra ngày càng nhiều. Tình trạng chạy chức, chạy quyền có phần tinh vi hơn, với nhiều thủ đoạn khác nhau, biểu hiện ngày càng phức tạp, khó nhận biết. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm theo hiệu ứng domino, bổ nhiệm tràn lan… gây bức xúc trong xã hội.

Ba là, tình trạng tham nhũng "vặt". Tình trạng này xuất hiện ở nhiều nơi, trong nhiều cơ quan, tổ chức và ở những vị trí khác nhau; xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính; quản lý trật tự giao thông, đô thị; y tế; giáo dục; hải quan; thuế; tuyển dụng, đề bạt, sắp xếp, bố trí, bổ nhiệm cán bộ công chức… và nó "biến tướng" dưới nhiều hình thức nên không dễ phát hiện, xử lý. Tham nhũng vặt tuy giá trị không lớn nhưng nó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho địa phương, đơn vị trong thu hút đầu tư; làm giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp… Đồng thời nó là nguyên nhân dẫn đến vi phạm nghiêm trọng đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức của Đảng nói chung.

Bốn là, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi...

Năm là, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... Những hành vi này tác động không nhỏ đến dư luận xã hội, gây phản cảm trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên, suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước./.

NHẬN DIỆN TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Để đấu tranh với những tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp; việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của “tiêu cực” là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của “tiêu cực” là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tiêu cực trong cán bộ, đảng viên là những thói hư, tật xấu, khuyết điểm, là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh, có tác dụng xấu của cán bộ, đảng viên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, uy tín của Đảng, có hại cho nhân dân, cản trở quá trình phát triển của xã hội. "Tiêu cực" có nội hàm rất rộng, với nhiều biểu hiện khác nhau cả trong nhận thức lẫn hành vi, với tính chất, mức độ khác nhau. Việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của "tiêu cực" là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của "tiêu cực" là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Chính những biểu hiện đó đã lật tẩy những tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên./.