Thứ Tư, 19 tháng 1, 2022

Đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự

Các thế lực chống phá tìm cách đánh tráo bản chất các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó kêu gọi Nhà nước Việt Nam cần “huỷ bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự”.

Pháp luật là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội loài người, phản ánh ý chí của Nhà nước, giai cấp thống trị. Sự xuất hiện của Nhà nước hay nói cách khác là giai cấp cầm quyền cũng chính là nguyên nhân cho sự ra đời của pháp luật, hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật dựa trên ý kiến tổng hợp, đóng góp của người dân, từ đó đưa ra các qui định chung điều chỉnh, quản lý xã hội.

Như vậy, pháp luật ra đời gắn liền với lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của những người dân trong xã hội đó. Pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mang lại lợi ích chung cho toàn dân tộc.

Thế nhưng, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số người dân, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước tìm cách tác động, hướng lái, tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ một số điều trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm thay đổi bản chất, giá trị; bình luận sai lệch một số điều luật và sự điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trước khi diễn ra phiên tòa phúc thẩm xét xử các đối tượng Cấn Thị Thêu (SN 1962, thường trú tại Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội); Trịnh Bá Tư (SN 1989, trú tại Đại Đồng, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 BLHS, các đối tượng phản động, chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ điều luật này.

Không chỉ riêng Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, mà một số đối tượng như Phạm Chí Dũng (SN 1966, quê Đồng Tháp, thường trú tại phường 1, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Công Em (SN 1971, cư trú tại Mỹ Thạnh, Giồng Trôm, Bến Tre), Nguyễn Tường Thụy (SN 1950, cư trú tại Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội), Nguyễn Thị Cẩm Thúy (SN 1976, thường trú tại Cam Thành Bắc, Cam Lâm, Khánh Hòa)… cũng đã vi phạm quy định của điều luật trên và cơ quan chức năng đã và đang tiến hành các biện pháp tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để xử lý hành vi phạm tội.

Chính vì những “tổn thất” trong hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, các đối tượng chống đối trong, ngoài nước ra sức đòi yêu sách với đề nghị xóa bỏ Điều 117, BLHS.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này.

Điều 117, BLHS quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung từ Điều 88 BLHS năm 1999 với một số điểm mới về tên điều luật, nội dung điều luật theo hướng qui định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi khách quan của tội này. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLHS nói chung, Điều 88 của BLHS cũ nói riêng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, các mặt khách quan trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trước đó, Điều 88 BLHS năm 1999 cũng là điều luật mà các đối tượng chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, yêu cầu xóa bỏ.

Sau khi điều luật này được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo Điều 117, BLHS 2015 thì các phần tử chống đối cũng không từ bỏ âm mưu, mà tiếp tục “bài ca” kêu gọi xóa bỏ nhằm đạt được âm mưu, ý đồ chống phá Nhà nước với mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Liên quan đến hoạt động kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, BLHS là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”. Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS với nội dung qui kết rằng: “Điều 117 vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”.

Đặc biệt, khi “nghe tin” phiên tòa xét xử các bị cáo Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang sắp diễn ra, số thành phần bất mãn, chống đối chính trị trong, ngoài nước lại tiếp tục kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS với luận điệu “Điều 117 là hạn chế và cản trở quyền công dân qui định tại điều 25 Hiến pháp…”. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các đối tượng chống phá Nhà nước không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xóa bỏ Điều 117, BLHS để đạt được các mục tiêu, ý đồ phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao các đối tượng phản động, chống phá lại kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS?

Kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, các đối tượng phản động, chống phá nhằm tác động trực tiếp đến nền tư pháp Việt Nam. Các lập luận, quan điểm xóa bỏ Điều 117, BLHS nhằm tạo ra kẽ hở về mặt pháp lý cho các phần tử phản động, chống phá có thời cơ để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Có thể nói rằng, muốn có cơ hội cho hoạt động tuyên truyền, tán phát các tài liệu chống phá Nhà nước mà không bị các cơ chế pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên các đối tượng cần phải kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS cũng là lý do để tuyên truyền, xuyên tạc, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, can thiệp vào quyền “tự do ngôn luận” nói lên tiếng nói của công dân.

Các hoạt động kêu gọi xóa bỏ điều luật nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chống phá nhà nước tuyên truyền, can thiệp vào các lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội của Việt Nam trong vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những mục tiêu mà các đối tượng phản động, chống đối đặt ra là có thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, BLHS nói riêng, BLHS nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, BLHS đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, không thể cho rằng Điều 117, BLHS là “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, bởi lẽ trên thực tế ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ và đó cũng là quyền cơ bản của công dân theo qui định của Hiến pháp. Tuy nhiên, ở đây cần phải hiểu rằng, quyền tự do ngôn luận luôn gắn với nghĩa vụ của công dân, gắn với chế độ chính trị của từng quốc gia, do đó cần phải hiểu đúng các qui định về vấn đề này.

Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các giới hạn, quy định riêng về các quyền tự do ngôn luận để phù hợp với đặc thù của chế độ xã hội, tình hình chính trị, văn hóa của các quốc gia đó. Bàn về vấn đề này, năm 1993, Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna (Áo), đại diện các quốc gia đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”…

Các lập luận, viện dẫn các thông tin cho rằng Điều 117, BLHS “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” là hoàn toàn không có cơ sở, thiếu căn cứ để ràng buộc. Rõ ràng, đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống đối nhằm hướng đến mục đích, ý đồ xâm phạm an ninh quốc gia, đe dọa đến sự tồn tại của chế độ, của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật

Trước hết cần thấy, tự do báo chí là quyền tự do cơ bản, thiêng liêng, biểu hiện cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội. Mặt khác cũng cần hiểu tự do báo chí không phải là tự do chung chung, tự do vô bờ bến, tự do không có giới hạn mà bao giờ nó cũng phải gắn và nằm trong khuôn khổ pháp luật.Vấn đề có tính nguyên tắc trong tư tưởng lập pháp được mọi quốc gia thừa nhận, vận dụng, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật là tự do luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ.
Mối quan hệ phổ biến này nhằm mục tiêu chính đáng, khoa học, khách quan, bảo đảm cho tự do của mỗi người không làm mất đi hay ảnh hưởng tiêu cực đến tự do của người khác và của cộng đồng, xã hội. Do vậy, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và bao gồm cả những quy tắc đạo đức xã hội. Trong khuôn khổ, quy tắc ấy, tự do báo chí được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; báo chí sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, tạo môi trường thông tin lành mạnh, là phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu tốt đẹp cho con người.
Nằm ngoài điều đó, báo chí sẽ trở thành tự do vô chính phủ, trở thành công cụ chính trị chống phá lẫn nhau giữa các đảng phái, giai cấp, nhà nước, giữa các quốc gia, dân tộc, tác động tiêu cực đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Như vậy, tự do báo chí không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật.
Thực tế,tự do báo chí ở phương Tây mà một số người ca ngợi, cổ súy có phải là thứ tự do không giới hạn, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật? Theo Hiến pháp Hoa Kỳ (năm 1791) thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo nhiều văn bản pháp luật khác, ví dụ đạo luật năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền.
Ngay trong Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ: “Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực”.
Hay như ở Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí thuộc thẩm quyền của các tiểu bang. Thí dụ, Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: “Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp”.
Ðức còn có lực lượng của các cơ quan nhà nước theo dõi sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự… Như vậy, tự do báo chí ở phương Tây hay bất cứ quốc gia nào cũng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Hiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí như vậy sẽ giúp nhìn nhận, đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.
Thực tiễn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng đã liên tục phát triển. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn coi đây là một chiêu bài để chống phá Việt Nam.
Thủ đoạn của quan điểm, luận điệu này thể hiện ở chỗ: 
Một là: Lợi dụng vào vấn đề tự do báo chí, những điểm khác nhau trong quy định của luật pháp Việt Nam và các nước để xuyên tạc.Từ đó nhằmlàm mất niềm tin vào nền báo chí, những thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà báo chí chuyển tải.
Hai là: Cố tình đánh đồng hiện tượng để quy kết thành bản chất. Lấy sự việc số đối tượng tự xưng là “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do”, blocger… vi phạm pháp luật hình sự để quy kết thành bản chất là Việt Nam không có tự do báo chí.
Ba là: Kích động, cổ súy, bảo trợ cho những đối tượng lợi dụng tự do báo chí nói trên để chống phá Việt Nam. (4). Lợi dụng vấn đề tự do báo chí để công kích, lấy đó như một cái cớ để tổ chức phản động và tổ chức khác vốn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam báo cáo, suy diễn, xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh đất nước, con người, tình hình Việt Nam, từ đó gây sức ép lên nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao của Việt Nam.
Đằng sau quan điểm, luận điệu xuyên tạc Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam; cố tình ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây. Do đó, vấn đề “tự do báo chí” cần được hiểu đúng và nhận diện rõ âm mưu, ý đồ xấu để lên án, đấu tranh.

Đánh lận bản chất "tự do báo chí"

Trong năm vừa qua, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại quận Cầu Giấy, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ngoài ra, đối tượng này cũng thường xuyên trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang dư luận.

TAND cấp cao tại Hà Nội cũng đã có kế hoạch mở phiên tòa phúc thẩm xét xử Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm (trú tại Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, BLHS năm 2015.

Theo hồ sơ vụ án, do có tư tưởng tiêu cực, bất mãn, các đối tượng trên sử dụng tài khoản Facebook cá nhân phát trực tiếp nhiều video có nội dung nhằm chống Nhà nước, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân.

Các video trên sau khi đăng tải được nhiều đối tượng có tư tưởng chống chế độ, Nhà nước theo dõi, bình luận, bôi nhọ, phỉ báng, kích động chống chính quyền; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Vừa qua, Công an Lâm Đồng phối hợp với Công an TPHCM đã thi hành quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Đoàn Quang Viên (SN 1982, HKTT tại Đinh Văn, Lâm Hà, Lâm Đồng; cư trú tại phường Bến Thành, quận 1, TPHCM) về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Điểm chung của những đối tượng trên là đều lấy danh nghĩa “tự do báo chí, ngôn luận”, “dân chủ, nhân quyền” để làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Đảng, Nhà nước hoặc nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Đứng ra bênh vực, bảo vệ cho những nhân vật mà họ gọi là “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà báo không lề”, một số tổ chức, hội nhóm phản động rêu rao xuyên tạc chính quyền Việt Nam đã “đàn ápbáo chí”, “tấn công vào nền tự do báo chí và hoạt động báo chí độc lập”...

Một số tổ chức có quan điểm, tư tưởng chống phá Việt Nam như Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ngôi nhà tự do (Freedom House), Đài Á châu tự do (RFA)... đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”, vi phạm quyền con người, quyền tự do ngôn luận đã được nêu trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.Từ đó, họ lên tiếng đòi “phải trả tự do ngay lập tức cho những “nhà báo tự do” đang bị giam giữ”.

Cần khẳng định rằng, các cá nhân nêu trên là những đối tượng có hoạt động lợi dụng vấn đề tự do báo chí, ngôn luận để có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam, đã hoặc đang bị điều tra, xét xử. Một số tổ chức quốc tế đứng ra kêu gọi, bảo vệ, bẻ lái vụ việc nói trên, núp bóng “tự do báo chí”, “bảo vệ nhân quyền”… để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất vụ việc nhằm chống phá, chính trị hóa các vụ việc hình sự nói trên. 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc quanh chuyện làm CCCD gắn chíp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng, Nhà nước luôn coi trọng việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, quản lý dân cư và đảm bảo cuộc sống cho người dân.
Đặc biệt, 2 dự án: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân (CCCD) chính là chủ trương lớn nhằm góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số và tạo nền tảng hình thành công dân số trên không gian mạng.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những thông tin gây nhiễu loạn, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ cong” vấn đề đảm bảo an ninh con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực hiện. Bằng những luận điệu không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng cực đoan, chống đối đã cố tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu cũng bị định vị”, “thẻ căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ, Bộ Công an thu thập dữ liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị.
Thậm chí, các đối tượng còn ngụy tạo rằng “vì chỉ tiêu thiếu tính thực tế mà chính quyền ép dân làm căn cước công dân gắn chíp điện tử, làm lây lan dịch bệnh COVID-19 nhưng vẫn bao biện chối trách nhiệm”.
Rõ ràng, những thông tin “tung hỏa mù” này mặc dù đánh trực diện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: an ninh chính trị, kinh tế, sức khỏe… nhưng tựu trung lại đều nhằm chĩa mũi nhọn công kích vào vấn đề an ninh con người đã được Đảng ta nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trên thực tế, với việc ứng dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, thẻ CCCD gắn chíp điện tử của Việt Nam ra đời không những giúp thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi phương thức quản lý con người từ thủ công sang hiện đại, mà còn đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ các yếu tố an ninh an toàn và có khả năng bảo mật thông tin ở mức độ rất cao. Đồng thời, sử dụng thẻ CCCD gắn chíp có thể phòng ngừa các loại giấy tờ giả mạo, giảm chi phí việc công chứng nhiều loại giấy tờ truyền thống, tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện các dịch vụ trực tuyến của Chính phủ điện tử.
Hơn nữa, mức độ an toàn, bảo mật của chíp rất cao và việc đối sánh sinh trắc học có thể thực hiện ngay trên chíp nên thông tin định danh của công dân được lưu trên thẻ là không thể thay đổi, hạn chế tối đa giả mạo. Mặt khác, chíp điện tử được sử dụng gắn trên thẻ CCCD không có khả năng định vị, thông tin lưu trữ trên chíp cần phải có công cụ chuyên dụng để đọc và thông tin mới được mã hóa.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Dữ liệu là tài nguyên, nhưng khác với tài nguyên truyền thống, tài nguyên dữ liệu càng được khai thác nhiều thì không bị mất đi, mà ngược lại càng tạo nên giá trị gia tăng”. Hiện, Bộ Công an đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai các ứng dụng, tiện ích trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và thẻ CCCD gắn chíp điện tử để phục vụ hiệu quả, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Nhất là trở thành trung tâm liên kết, thống nhất toàn bộ dữ liệu quốc gia, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự và đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Đặc biệt, với tình hình chống dịch cấp bách, thẻ CCCD gắn chíp điện tử đã được tích hợp nhiều tiện ích quan trọng góp phần đảm bảo an ninh trên nhiều mặt an ninh sức khỏe, an ninh kinh tế, an ninh cá nhân và an ninh cộng đồng; tích hợp thông tin thẻ xanh tiêm chủng; giấy đi đường; xét nghiệm; thông tin về hưởng chế độ, chính sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ…
Từ đầu năm 2021 đến nay, với tinh thần khẩn trương, cấp bách, lực lượng Công an cả nước đã ngày, đêm phấn đấu đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Không những thế, trong thời điểm vô cùng khó khăn do chịu ảnh hưởng của làn sóng dịch COVID-19 lần 4 bùng phát, lực lượng Công an không quản ngại khó khăn, gian khổ, cùng với nhiều cách làm hay, sáng tạo, sâu sát, quyết liệt, an toàn, hiệu quả và sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy, chính quyền và quần chúng nhân dân đã góp phần tạo nên sự thành công bước đầu của hai Dự án.
Có thể khẳng định, đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị, mà còn là danh dự của lực lượng CAND, vì thực hiện mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc cho người dân.

Kích động phá hoại

Trong nước, số đối tượng xấu, thành phần bất mãn, thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước, những đối tượng cơ hội chính trị, bắt đầu ra rả hùa theo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn phản động, lên mạng xã hội chỉ trích, chê bai Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lực lượng vũ trang tham gia chống dịch, nói xấu chính quyền, chế độ XHCN ở Việt Nam, kéo theo hàng loạt phần tử khác trong và ngoài nước vào bình luận, với lời lẽ chửi bới xúc phạm cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công cuộc phòng chống dịch tại Việt Nam, làm cho người dân thêm hoang mang, không tin tưởng vào Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam trong công cuộc chống dịch và lãnh đạo đất nước, bi quan về tình hình kinh tế, về đời sống xã hội của nhân dân trong tương lai, tạo ra bức tranh đen tối về xã hội Việt Nam hiện thời và sắp tới.

Trước những âm mựu, thủ đoạn nguy hiểm của bọn phản động và phần tử xấu như trên, nhất là thời điểm cả nước đang bị dịch Covid-19 hoành hành, khó khăn càng thêm khó khăn, mọi người đang phải vất vả chống dịch, nhận định trong thời gian tới các thế lực thù địch càng đẩy mạnh các hoạt động chống phá đất nước nhằm tiến tới kích động người dân xuống đường biểu tình, gây rối.

Mỗi người sử dụng mạng xã hội cần nêu cao ý thức chia sẻ những thông tin tích cực, chính thống, không chia sẻ những thông tin không rõ nguồn gốc, thông tin bịa đặt, sai trái, đặc biệt là cảnh giác trước sự kích động biểu tình, kêu gọi hành động "ba sạch": (phá sạch, đốt sạch, giết sạch) của bọn phản động.

Khi phát hiện hoặc nghe thông tin liên quan, cần báo ngay cho cơ quan công an địa phương và những ngành chức năng, để kịp thời ngăn chặn, không để xảy ra đột biến, bất ngờ gây nguy hại cho tính mạng và tài sản nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị tại địa phương và an ninh đất nước được giữ vững, giúp Đảng, Nhà nước an tâm đẩy lùi dịch Covid-19, đảm bảo cuộc sống bình an cho nhân dân, từng bước khắc phục nền kinh tế, đưa đất nước phát triển tốt hơn.

Tung tin sai sự thật

Để minh họa cho những luận điệu xuyên tạc này, chúng cắt ghép hình ảnh, thông tin, dựng ra những câu chuyện, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, cho rằng Việt Nam đang bế tắc, bất lực chống dịch; phủ nhận những nỗ lực và kết quả của Việt Nam trong phòng chống dịch Covid-19, sâu xa hơn làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta.

Lợi dụng tình hình dịch diễn biến phức tạp ở Việt Nam, chúng nắm bắt như một miếng mồi ngon để thực hiện ý đồ đen tối của chúng. Mục đích là lôi kéo, kích động người dân đi vào con đường chống chính quyền. Chúng lợi dụng sự lan tỏa nhanh của mạng xã hội, đăng tải thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh, về kinh tế của đất nước, làm cho người dân càng thêm hoang mang lo lắng, trước viễn cảnh đen tối phía trước.

Thủ đoạn nổi bật gần đây nhất, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành triển khai cái gọi là "chiến dịch truyền thông về thảm họa dịch Covid-19 tại Việt Nam" nhằm tác động tâm lý lo sợ cho nhân dân. Chúng soạn thảo tán phát hàng chục nghìn đầu tài liệu, video clip, phát động chiến dịch xuyên tạc công tác phòng chống dịch của Đảng và Nhà nước ta, đề ra "kế hoạch hành động khẩn cấp" xuyên tạc chính sách hỗ trợ người lao động, kích động người dân "lên tiếng" đòi tham gia các quyền lợi "xuống đường" tụ tập gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, gây bất ổn cho xã hội, làm ngòi nổ để tập hợp lực lượng, tập dợt biểu tình chống phá Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, nhiều cá nhân và tổ chức phản động trong và ngoài nước, lợi dụng từ thiện nhân đạo, để tiếp cận, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động tham gia các tổ chức phản động, tập dợt, huấn luyện tham gia gây rối an ninh trật tự.

Nguy hiểm nhất vẫn là tổ chức khủng bố Việt Tân, lợi dụng tình hình dịch bệnh ở Việt Nam chúng đẩy cao cái gọi là sự "phẫn uất" của người dân để kích động biểu tình, đưa người xâm nhập vào VN, chỉ đạo, kích động số công nhân ở các khu công nghiệp gây rối về ANTT rồi quay phim, chụp hình phát tán trên mạng, thổi phồng sự phức tạp hơn tình hình, hướng tới gây rối quy mô hơn. Tổ chức khủng bố "Việt Nam quốc gia lâm thời" phát động lời kêu gọi "ba sạch" (đốt sạch, phá sạch, giết sạch) tại các khu cách ly ở các tỉnh phía Nam, hứa hẹn cung cấp vũ khí (súng, đạn, lựu đạn) cho người dân để chống lại cơ quan chức năng.

Tính riêng trong quý III của năm 2021 vừa qua (trong thời điểm dịch diễn biến phức tạp tại TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam) cơ quan chức năng đã phát hiện 28.000 thông tin gốc có nội dung xấu độc hại trên mạng xã hội, tăng 200% so với 6 tháng đầu năm, phát hiện hàng trăm hội nhóm kín trên không gian mạng liên quan đến công nhân tại các khu công nghiệp, người dân ở khu cách ly, phong tỏa chia sẻ những thông tin xấu, độc hại kêu gọi biểu tình.

Các thế lực thù địch lợi dụng công tác phòng chống dịch Covid-19 liên tục xuyên tạc, nói xấu ta

Các thế lực thù địch với Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Chúng luôn triệt để lợi dụng những thời điểm đất nước có những sự kiện diễn ra để khoét sâu làm phức tạp thêm tình hình.

Mặc dù Việt Nam vừa qua được đánh giá là một trong những quốc gia phòng chống covid khá tốt ở từng giai đoạn, có những biện pháp quyết liệt từng thời điểm, từng vùng, đã góp phần cơ bản khống chế được dịch bệnh, hạn chế được sự lây lan, bảo vệ tối đa tính mạng của người dân, đưa cuộc sống người dân sớm ổn định trở lại.

Tuy nhiên, mấy tháng qua, trong khi Việt Nam từng giờ phải vất vả khống chế dịch bệnh thì trên không gian mạng, các thế lực thù địch, bọn phản động với bản chất chống phá đất nước, chúng cũng rất quyết liệt, ra sức tìm mọi cách để xuyên tạc, nói xấu công tác phòng chống dịch của chúng ta.

Nhiều tổ chức phản động như Việt Tân, Chân trời mới... một số trang như RFA, VOA, Dân làm báo, truyền thông hải ngoại, một số cá nhân chống phá đất nước như Nguyễn Văn Đài, Trương Quốc Huy, Thanh Hiếu Bùi... đăng tải rất nhiều nội dung lên án, phê phán biện pháp cách thức, các quyết sách phòng chống dịch của Việt Nam, tạo viễn cảnh đen tối, bi đát nhất về tình hình dịch tại Việt Nam; xuyên tạc chiến lược đưa bộ đội, công an tham gia hỗ trợ chính quyền các địa phương phía Nam chống dịch, chúng tung tin rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đang điều động lực lượng vũ trang để đàn áp người dân".

Mặt khác, cho rằng chính quyền Việt Nam không quan tâm đến cuộc sống người dân, để người dân khốn khổ, bỏ mặc người dân không hỗ trợ lúc giãn cách, để người dân đùm túm về quê giữa lúc dịch còn phức tạp; từ quỹ vắc-xin chúng quy kết rằng "tham nhũng là bản chất chế độ cộng sản"; việc điều động thay đổi lãnh đạo phòng chống dịch chúng cho rằng "đây việc đấu đá nội bộ"; thổi phồng những hạn chế về hỗ trợ người dân trong thời gian giãn cách xã hội, lợi dụng chính sách tiêm vắc xin của một số cán bộ, qua đó gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, bịa đặt ra những vấn đề để cho rằng chính quyền đang "lúng túng" trong điều hành chống dịch của Đảng và chính quyền, cho rằng đây là chính sách sai lầm của lãnh đạo Việt Nam. 

 

Phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực thực thi và bảo vệ pháp luật

Những năm gần đây, nhiều loại tội phạm mới phát sinh, diễn biến phức tạp, có tính chất, mức độ tinh vi, xảo quyệt hơn. Thông thường, những kẻ phạm tội có xu hướng tìm mọi cách móc nối, câu kết, mua chuộc quan chức, nhất là những người liên quan đến thực thi các nhiệm vụ nhạy cảm, như: Điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... nhằm tìm kiếm sự đồng lõa, bao che, giấu giếm hành tung phạm tội. Trong khi đó, cán bộ, công chức trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được Nhà nước, pháp luật trao những quyền hạn rất lớn, nếu họ thiếu bản lĩnh và bị cám dỗ bởi tiền bạc, vật chất thì sẽ sa vào tình trạng: “Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”. 

Theo Báo cáo công tác năm 2021 của Viện trưởng Viện KSND Tối cao gửi Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, năm 2021, cơ quan điều tra của viện này đã thụ lý điều tra 46 vụ/61 bị can, trong đó có 24 vụ/30 bị can về tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp. Viện KSND Tối cao nhận định, tuy số vụ án tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp không nhiều, nhưng tính chất, mức độ và hậu quả rất nghiêm trọng. Bởi vì, chủ thể của loại tội phạm này là những người thực thi nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ pháp luật nhưng họ đã có hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và nền pháp chế XHCN. Một trong những căn nguyên sâu xa làm mọt ruỗng thể chế chính trị, từ đó có thể dẫn tới nguy cơ chuyển hóa bản chất chế độ pháp chế XHCN ưu việt ở nước ta.

Muốn phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực thực thi và bảo vệ pháp luật, việc cần kíp hiện nay là phải tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, thi hành án; đồng thời sớm hoàn thiện thể chế pháp luật, nhất là thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

Cùng với đó, cần chú trọng xây dựng cơ chế và duy trì thực chất hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, tố giác hành vi tiêu cực trong hoạt động tư pháp, bảo đảm nguyên tắc bất cứ cán bộ, công chức nào nắm giữ và thực thi quyền lực bảo vệ pháp luật cũng phải chịu sự điều chỉnh, răn đe, trừng trị nếu vi phạm pháp luật.

Tuy vậy, mọi cơ chế, chính sách dù có hoàn thiện đến đâu mà người thực thi lòng dạ không trong sáng, lại bị lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm thao túng thì cơ chế, chính sách cũng khó phát huy hiệu lực, hiệu quả. Do đó, vấn đề căn cốt vẫn là giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức công vụ, phẩm chất liêm chính cho đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực nội chính để bảo đảm cho những quy định của luật pháp được triển khai, thi hành chính xác, công bằng, nghiêm minh trong cuộc sống, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước trong xã hội và làm cho mọi người có cuộc sống yên lành, hạnh phúc.

 

CÂU HỎI LỚN?

 

Ông Trần Hướng Dương, Cục Phó Cục Nghệ thuật biểu diễn trả lời báo chí khi được hỏi về làn sóng dư luận dữ dội phản ứng khi trao giải cho Minh Béo (một kẻ từng phạm tội ấu dâm) như sau:  “Việc vi phạm đã lâu, việc gây ảnh hưởng chỉ còn trong quá khứ thôi. Mình cứ bới quá khứ lên thì không hay”.

(Xem thêm tại: https://thanhnien.vn/minh-beo-nhan-giai-kich-noi-toan-quoc-cuc-pho-cuc-nghe-thuat-bieu-dien-noi-gi-post1422707.html)

Đây là nhận thức của một lãnh đạo cấp Cục sao? Lại còn là cơ quan chức năng quản lý về văn hóa, nghệ thuật, cơ quan đang thực hiện chủ trương của Đảng về "VĂN HÓA SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI"?! Xin nhắc ông Cục Phó Cục NTBD rằng: LÒ ĐÃ NÓNG LÊN RỒI THÌ CỦI TƯƠI VÀO CŨNG CHÁY! 

Là một người Việt Nam, là một người dân, công chúng thưởng thức nghệ thuật chúng tôi cần những "nghệ sỹ" có vừa có tài năng nhưng cần có ĐẠO ĐỨC vì đây là những người có "tầm ảnh hưởng xã hội", con, cháu, người thân của chúng tôi sẽ xem, sẽ học theo, làm theo, thần tượng đó! Chúng tôi có quyền bày tỏ phản ứng không đồng tình với sự việc trao giải cho một kẻ tai tiếng, từng phạm tội ẤU DÂM, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý xã hội, ảnh hưởng xấu đến tâm tư, tình cảm của đông đảo công chúng! 

Các cơ quan chức năng, trực tiếp là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch, Cục NTBD không thể bỏ ngoài tai dư luận xã hội và làn sóng phản ứng dữ dội của công chúng! Càng không thể để hình ảnh của cơ quan quản lý nhà nước xấu đi, làm giảm sút lòng tin, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước.

CUỐI CÙNG xin đặt một câu hỏi giả định: Ví dụ nếu con, cháu, chắt của các vị bị những tên tội phạm ấu dâm xâm hại, hãm hiếp... Sau khi chịu án phạt tù, hắn quay lại showbiz và đi thi, các vị có còn trao giải Bạc cho hắn, các vị có thể rao giảng đức vị tha, nhân quyền, rằng không đánh kẻ chạy lại, không bới móc quá khứ... NỮA KHÔNG?!

NHÂN VĂN HAY LÀ LỐ BỊCH?

 

Adam Johnson, cựu cầu thủ Sunderland và Manchester City, đã và đang bị “biến mất” như chưa từng tồn tại trong bản đồ bóng đá Anh Quốc. Vào năm 2019, khi anh này ra tù, anh được “đặc cách” di chuyển vào ban đêm để tránh tai mắt của người hâm mộ, sự phản ứng tiêu cực của giới truyền thông. Premier League và Championship xác nhận rằng không còn bất cứ mối liên hệ nào với anh. Các giải đấu cấp thấp hơn cũng có cam kết ngầm rằng Adam Johnson sẽ không thể xuất hiện thêm trên cỏ nước Anh thêm một lần nào nữa.


Một cái tên khác cũng khá nổi tiếng là Gylfi Sigurdsson cũng “thân bại danh liệt” vì vướng cáo buộc ấu dâm. Vụ việc của Gylfi Sigurdsson vẫn đang được tiếp tục điều tra làm rõ. Nhưng báo chí Iceland đã đưa nói Gylfi Sigurdsson là “nỗi ô nhục quốc gia”, một số đơn vị đưa tin rằng cánh cửa đội tuyển Iceland đã khép lại vĩnh viễn với Gylfi Sigurdsson.  


Đó là ví dụ về cái giá phải trả cho các tội danh liên quan đến xâm hại trẻ em.


Tội phạm ấu dâm có lẽ là một trong những loại tội phạm bị xã hội lên án nhiều nhất. Thực tế, Minh Béo không vi phạm pháp luật tại Việt Nam và không phải chịu những án phạt của pháp luật Việt Nam. Nhưng điều này không có nghĩa và Minh Béo vô can và các cơ quan quản lý nghệ thuật Việt Nam dễ dãi bỏ qua. 


Đằng sau mỗi bản án, đều là một cuộc đời muốn làm lại. Nhưng làm lại cuộc đời không có nghĩa rũ bỏ quá khứ, tẩy trắng và coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Việc trao giải thưởng cao ở cấp độ quốc gia cho một diễn viên từng phạm tội ấu dâm là một cú tát với khán giả và cho cả việc quản lý văn hóa. 


Đừng quên rằng, mới chỉ 6 tháng trước thôi, diễn viên Minh Béo từng vướng nghi án gạ tình, đổi tình lấy vị thế sân khấu với một nghệ sĩ trẻ. Trong cáo buộc ấy, nghệ sĩ trẻ này cho biết có nhiều người cũng ở vào trong tình cảnh như anh mà họ chấp nhận. Sau mỗi bản án, thường người phạm tội sẽ có thời gian thử thách, liệu trao giải cấp quốc gia cho một nghệ sĩ vướng bê bối trong thời gian ngắn như vậy liệu có nên không? Và liệu cơ quan quản lý có vào cuộc xác minh vụ việc trả lại nghệ thuật đích thực trên sân khấu hay không? 


Dường như khâu quản lý nghệ sĩ của chúng ta đang bị thả trôi và xa rời quần chúng. Không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian gần đây, nhiều người nhìn sang showbiz nước bạn như Hàn, Trung, Đài… mà thầm mong rằng giá như chúng ta học được ở họ một khía cạnh nào đấy. Showbiz của một quốc gia đóng góp vào một phần vào bộ mặt của quốc gia ấy, phản ánh việc quản lý hành chính - xã hội, khuếch đại quyền lực mềm, làm văn hóa của mỗi quốc gia thêm giàu mạnh. Phát ngôn sốc, kích động người dân, thù hằn dân tộc, phân biệt vùng miền, phát ngôn sai sự thực… mà họ vẫn đường hoàng trở lại. 


Mỗi giải thưởng cấp quốc gia đều là nền tảng để xét các danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú và Nghệ sĩ Nhân dân - hai danh hiệu đại diện cho nền nghệ thuật Việt Nam, đại diện cho văn hóa Việt Nam. Việc trao tặng giải thưởng dễ dãi bất chấp tội danh đáng lên án thực sự rất khó có thể chấp nhận dù viện dẫn lý do gì. 


Đúng là người Việt có câu “đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Người Việt vốn dễ tha thứ và luôn để một cánh cửa cho những ai lầm đường lạc lối. Nhưng tha thứ chứ không phải rũ bỏ sạch bóng mọi tội lỗi. Minh Béo đã được quay trở lại Việt Nam, có một nhà hát kịch nhỏ, pháp luật cũng không thể cấm Minh Béo hoạt động kịch nói. Nhưng đứng trên sân khấu quốc gia, nhận giải thưởng quốc gia trong khi vừa mới dính bê bối gạ tình cách đây 6 tháng là một điều hoàn toàn lố bịch và phản cảm. Khiến cho phần đông khán giả cảm thấy bức xúc, giống như không phải sân khấu hài, nhưng vẫn khiến cho người ta cười. Nhưng ở đây là những nụ cười rất tréo ngoe.

 

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực trong tình hình hiện nay

Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực. Tiêu cực thường được sử dụng dưới dạng: Hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh; nảy sinh tiêu cực; đấu tranh chống tiêu cực... Tiêu cực có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân. Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. Để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với vai trò tiền phong, thì phòng và chống các biểu hiện tiêu cực là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền. Theo đó, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

 

LIÊN HỢP QUỐC CẢM ỚN SỰ CỐNG HIẾN CỦA TRUNG TÁ ĐỖ ANH

 

  Tại lễ tang, lễ viếng Trung tá Đỗ Anh, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) Caitlin Wiesen vô cùng thương tiếc sự ra đi đột ngột của chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam.

“Thay mặt Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình Trung tá Đỗ Anh trước sự ra đi của người con, người cha, người chồng thân yêu của gia đình”, bà Caitlin Wiesen viết trong sổ tang.

 Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, tất cả chúng ta sẽ luôn nhớ tới mong muốn của Trung tá Đỗ Anh được đóng góp cho hòa bình thế giới thông qua việc tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình tại LHQ.

 Đại tá Bea Walcot, Tùy viên Quốc phòng Vương quốc Anh tại Việt Nam cũng ghi sổ tang niềm xót xa, tiếc thương vô bờ bến đến gia quyến liệt sĩ Đỗ Anh.

“Thay mặt Đoàn Tùy viên Quốc phòng các nước tại Việt Nam, chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất trước sự ra đi của một liệt sĩ quả cảm, người đã dành trọn cuộc đời phụng sự Tổ quốc”, Đại tá Walcot bày tỏ.

  Trước đó, ông Jean Pierre Lacroix, Phó Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc phụ trách hoạt động Gìn giữ Hòa bình đã có thư chia buồn tới Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam tại Liên Hợp Quốc

“Tôi vô cùng thương tiếc khi được biết Thiếu tá Đỗ Anh, một quân nhân anh dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh ngày 6 tháng 1 năm 2022 khi đang thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA)”, ông Jean Pierre Lacroix chia sẻ nỗi mất mát.

  Phó Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc phụ trách hoạt động Gìn giữ Hòa bình đã xin phép được thông qua phái đoàn đại diện Việt Nam tại Liên Hợp Quốc cũng như Đại sứ Đặng Đình Quý gửi đến Chính phủ Việt Nam và tang quyến lời chia buồn sâu sắc đối với sự mất mát to lớn này cũng như sự trân trọng của cá nhân ông Lacroix dành cho những đóng góp của Thiếu tá Đỗ Anh đối với sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Cộng hòa Trung Phi.

“Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những hỗ trợ quý báu mà Chính phủ Việt Nam đã dành cho các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”, ông Jean Pierre Lacroix nêu rõ.

  Như Sputnik nhấn  mạnh, Việt Nam luôn được đánh giá cao về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Từ tháng 6/2014 đến nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã cử 250 lượt cán bộ, nhân viên đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc bao gồm 61 lượt sĩ quan làm nhiệm vụ độc lập. Trong đó có 4 sĩ quan trúng tuyển vào làm việc tại Cục Hoạt động hòa bình, trụ sở Liên Hợp Quốc tại New York, Mỹ và Sở Chỉ huy Phái bộ Cộng hòa Trung Phi và 189 y, bác sĩ của các Bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Phái bộ Nam Sudan.

  Hiện Bộ Quốc phòng Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để sớm triển khai được đội Công binh với biên chế 184 người và 7 sĩ quan độc lập tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, dự kiến vào quý 1/2022 tại Abyei (UNISFA).

  Một Việt Nam anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ anh dũng

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng với những nét chữ rất đẹp và trang nghiêm lưu lại trong sổ tang, bày tỏ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân vô cùng thương tiếc đồng chí Trung tá Đỗ Anh.

Vô cùng thương tiếc Trung tá Đỗ Anh, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, sự hy sinh của đồng chí Trung tá Đỗ Anh đã góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  

“Trong niềm tiếc thương, xin gửi tới gia đình và thân quyến của đồng chí lời chia sẻ về sự hy sinh, mất mát không gì bù đắp nổi. Xin dâng nén tâm nhang tiễn biệt đồng chí Trung tá Đỗ Anh về nơi an nghỉ cuối cùng”, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam lưu bút trong sổ tang.

  Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam bày tỏ, sự hy sinh của đồng chí Đỗ Anh thể hiện tinh thần anh dũng của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đồng chí hy sinh khi tuổi đời còn trẻ, để lại niềm tự hào, sự tiếc thương vô hạn cho gia đình, đồng chí đồng đội, người thân và bạn bè.

“Tấm gương hy sinh vì nhiệm vụ quốc tế cao cả của đồng chí đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng và ngoại giao quốc phòng Việt Nam nói chung, là niềm cổ vũ lớn lao để cán bộ, chiến sĩ tiếp tục tham gia làm nhiệm vụ quốc tế và hoàn thành nhiệm vụ được giao”, Trung tướng Phùng Sĩ Tấn xúc động viết.

  🎈Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang chia sẻ, Bộ Ngoại giao trân trọng và biết ơn những đóng góp vô cùng ý nghĩa của đồng chí đối với lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định của thế giới và của đất nước. Qua đó, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

“Đồng chí và gia đình và tất cả chúng ta tự hào về những đóng góp đó”, Thứ trưởng Ngoại giao Đặng Hoàng Giang nêu rõ.

  🎈Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Nguyễn Phương Nga bày tỏ rằng, mãi mãi ghi nhớ đóng góp của liệt sĩ, Trung tá Đỗ Anh, người đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

  🌼Trung tá Đỗ Anh hy sinh ‘không phải hoạt động tác chiến’

Là cấp trên chỉ huy, nhưng cũng là một trong những người đồng đội hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ, khó khăn, nguy hiểm của công tác gìn giữ hòa bình LHQ, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam đã có những chia sẻ hết sức sâu sắc.

Tướng Hoàng Kim Phụng khẳng định, đồng chí Đỗ Anh là một cán bộ xuất sắc, được huấn luyện, đào tạo rất cơ bản và đã có thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Phái bộ LHQ ở Cộng hòa Trung Phi.

“Đồng chí Đỗ Anh còn rất trẻ, đã hết mình, hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ, được Liên Hợp Quốc đánh giá rất cao. Sự mất mát của đồng chí là một tổn thất rất to lớn, nhất là khi chúng ta đang triển khai thêm các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình”, Thiếu tướng Phụng bày tỏ.

Theo tướng Phụng, cống hiến của đồng chí Đỗ Anh là đóng góp to lớn của đất nước Việt Nam đối với mục tiêu lớn của Liên Hiệp Quốc là duy trì nền hòa bình, ổn định hòa bình ở các nước châu Phi sau những xung đột, sau những quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh truyền thống cũng như khắc phục hậu quả của các xung đột phi truyền thống.

Đồng chí Hoàng Kim Phụng bổ sung thêm rằng, tại Phái bộ Liên Hợp Quốc ở Cộng hòa Trung Phi nơi Trung tá Đỗ Anh làm nhiệm vụ có rất nhiều khó khăn, trong đó phải kể đến khó khăn về khí hậu, thời tiết, dịch bệnh tràn lan.

Tướng Phụng nhấn mạnh, ở khu vực đó không còn chiến sự nữa, bởi đã có các thỏa ước hòa bình giữa các phe phái.

“Nhưng những sự thù hận và xung đột nhỏ lẻ, kể cả xung đột vũ trang vẫn còn. Trung tá Đỗ Anh hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ mang tính nhân đạo của Liên Hợp Quốc chứ không phải hoạt động tác chiến”, Cục trưởng Hoàng Kim Phụng khẳng định.

Cục trưởng Cục Gìn giữ Hòa bình Việt Nam cho rằng, đây có thể nói là tổn thất lớn nhất trong 8 năm qua, kể từ khi Việt Nam tham gia các lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

“Sự mất mát này là tổn thất của Quân đội, của Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, của gia đình, đồng thời cũng là một sự tổn thất của đất nước khi chúng ta đang có những người con ưu tú tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình mang tính nhân đạo, nhân văn cao cả”, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng xúc động bày tỏ.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TRUNG KIÊN, HIẾN DÂNG TRỌN CUỘC ĐỜI CHO CÁCH MẠNG!

     Kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản, Võ Nguyên Giáp đã giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng khi mới 14 tuổi (1925). Mười lăm năm sau, người chiến sĩ cách mạng ấy được kết nạp vào Đảng và được Trung ương cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (1940) khởi đầu quá trình phát huy tài năng, đức độ, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng củaĐảng và dân tộc.

Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng với phương pháp sáng tạo, hiệu quả cao; được Hồ Chí Minh ủy quyền công bố Sắc lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944). Thông qua hoạt động thực tiễn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng vào xây dựng, chuẩn bị lực lượng chính trị, quân sự vững mạnh, bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công đảm nhiệm các trọng trách: Tổng tư lệnh Quân đội, Tổng Chính ủy, Tổng Quân ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, v.v. Đại tướng đã đóng góp quan trọng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, trưởng thành về mọi mặt, là Quân đội anh hùng, bách chiến, bách thắng, tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Tên tuổi, sự nghiệp của nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị lỗi lạc - Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gắn liền với Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khi đất nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới, dù ở cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Thủ tướng Chính phủ, hay đã nghỉ hưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết của người cán bộ, đảng viên, có nhiều đóng góp quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước, nhất là trong phát triển khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền; mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và thế giới, v.v. Đặc biệt, Đại tướng dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ tiến hành nghiên cứu, tổng kết các công trình khoa học về: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng, nghệ thuật quân sự, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy… thể hiện tinh thần sống ngày nào cũng là vì nước, vì dân ngày đó của mình. Những công trình này là tài sản vô giá, cẩm nang quý báu đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội ta trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Môi Trường ST.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh "cổ trấn" của Hà Nội

 

Giữa không gian trầm mặc của những gian nhà cổ kính, cụ ông râu tóc bạc trắng cùng người vợ thảo hiền và cháu gái đang quây quần gói bánh chưng hay đi sắm cành đào đón Tết.

Anh Nguyễn Minh Tiến (sống ở Hà Nội) từng có dịp ghé thăm làng cổ Đường Lâm và nhanh chóng bị thu hút bởi những gian nhà cổ kính, nhuốm màu thời gian. Tranh thủ đợt nghỉ lễ Tết dương lịch vừa qua, anh quyết định trở lại nơi đây để thực hiện bộ ảnh về Tết cổ truyền miền Bắc.

Để có những bức hình chân thực, giàu cảm xúc nhất, anh Tiến cũng dành nhiều thời gian để làm quen, trò chuyện, tâm sự với các cụ già ở Đường Lâm. Các cụ ông, cụ bà trong trang phục truyền thống luôn nở nụ cười thân thiện, hiếu khách, hỗ trợ du khách thực hiện các bộ ảnh tái hiện không khí Tết xưa.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 1

Những ngôi nhà cổ kính mang đậm nét đặc trưng ở làng cổ Đường Lâm được trang trí câu đối đỏ, cành đào, chậu hoa,... tràn ngập không khí Tết.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 2

Ở Đường Lâm vẫn còn một số giếng cổ, là nơi sinh hoạt mang đậm nét văn hóa làng quê Bắc Bộ. Vào dịp Tết, bà con quanh làng thường tới giếng cổ để lấy nước vo gạo, rửa lá dong,... chuẩn bị gói bánh chưng.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 3

Hình ảnh các cụ già ngồi bên hiên nhà cùng cháu nhỏ gói bánh chưng giữa không gian nhuốm màu thời gian của những ngôi nhà trăm năm tuổi lay động người xem. 

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 4

Cuối năm cũng là thời điểm nhiều du khách ghé thăm Đường Lâm để có cơ hội trải nghiệm và cảm nhận không khí Tết cổ truyền miền Bắc.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 5

Không gian trầm mặc, cổ kính càng thêm nổi bật bởi màu xanh của lá dong, bánh chưng với màu vàng của quả bưởi hay màu đỏ của gấc,...

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 6

Các cụ già hiếu khách luôn nở nụ cười tươi, nhiệt tình hỗ trợ du khách và các nhiếp ảnh gia hoàn thành bộ ảnh tái hiện không khí Tết xưa.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 7

Nồi bánh chưng tỏa khói trắng nghi ngút.

Nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 45km, làng cổ Đường Lâm là điểm đến nổi tiếng được đông đảo du khách thập phương yêu thích. Nơi đây còn được gọi là "đất hai vua" vì là quê hương của Ngô Quyền và Phùng Hưng. Năm 2006, Đường Lâm vinh dự trở thành làng cổ đầu tiên ở nước ta và đã được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 8

Tới Đường Lâm, du khách được "đắm mình" trong khung cảnh làng quê mộc mạc, yên bình, gợi nhắc lại những kỷ niệm thuở xưa vốn chỉ còn tìm thấy trong ký ức.

Mỗi dịp Tết đến Xuân về, người dân trong làng từ trẻ em đến người già lại tất bật trang trí nhà cửa, chuẩn bị nguyên vật liệu để gói bánh chưng, làm các món ăn truyền thống để đón chào năm mới.

Đây cũng là thời điểm du khách thập phương ghé thăm làng rất đông. Họ thích thú chụp hình, ghi lại những khoảnh khắc mang đậm không khí Tết cổ truyền ở làng quê miền Bắc, gợi nhắc về kỷ niệm tuổi thơ một cách thân thuộc, gần gũi. 

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 9

Trải qua bao thăng trầm, cổng Mông Phụ vẫn còn rất nguyên vẹn, thấm đậm hồn quê xứ Đoài. 

Có nhiều lối vào làng cổ Đường Lâm nhưng cổng làng Mông Phụ vẫn mang nhiều dấu ấn nhất. Đây là cổng làng cổ duy nhất còn sót lại ở khu vực Bắc Bộ, được xây dựng vào năm 1833 với kiến trúc vòm và lớp đá ong. Cạnh cổng làng là cây đa hơn 300 năm tuổi, tạo nên khung cảnh thực sự thanh bình và cổ kính. 

Tết xưa ở ngôi làng được mệnh danh cổ trấn của Hà Nội - 10

Làng cổ Đường Lâm lưu giữ những nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ xưa với cây đa, bến nước, sân đình… hay những ngôi nhà cổ có kiến trúc độc đáo xây dựng bằng đá ong và cột gỗ lim.

Khi xưa, người dân trong làng đã đào những lớp đá ong dưới lòng đất để xây nhà, tạo nên những gian nhà cổ kính, bền vững theo thời gian như ngày nay. Khắp các con đường, ngõ ngách đều được lát gạch sạch sẽ. Hai bên là những bức tường đá ong màu vàng sậm, trở thành nét đẹp đặc trưng riêng khó tìm thấy ở nơi đâu. 

Ảnh: Nguyễn Minh Tiến

 

BÓC TRẦN ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

 

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

Thực chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, hòng phá vỡ tính tổ chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”

Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”

Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)

Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi quốc gia.

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.

Ở một diễn biến khác, những kẻ thủ ác lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào “trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua. Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

Quân đội hùng mạnh - đất nước mới hùng cường

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh ư nông”- quân gửi trong dân.

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ. Các vấn đề xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước?

Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.

Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.

Hiện thực về sự cống hiến lớn lao

Không có chuyện cán bộ, chiến sĩ quân đội đang “vô công rồi nghề”, “đông mà không mạnh” như những kẻ hiềm khích, chống đối, chống phá cố tình tô vẽ, thêu dệt. Mỗi công dân Việt Nam cần có trách nhiệm nâng cao nhận thức, cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc ấy.

Hãy ngước nhìn lên bầu trời xanh của Tổ quốc. Chắc chắn rồi, sự bình yên ấy không tự nhiên có được, mà là kết quả của sự phòng vệ quốc gia từ xa, từ sớm. Ở nhiều nơi trên đất nước này vẫn có sự hiện diện của tổ chức, đơn vị quân đội luôn “dõi mắt canh trời”, trực SSCĐ 24/24 giờ, với các loại vũ khí có khả năng đánh chặn mọi nguy cơ và các mối đe dọa trong mọi tình huống; sóng radar giăng từng tấc không khí để kịp thời phát hiện bất cứ mục tiêu nào dù là nhỏ nhất xâm phạm chủ quyền bầu trời quốc gia.

Và như vậy, chắc chắn sẽ có hàng nghìn ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ dõi lên bầu trời canh giữ bình yên, hay miệt mài thao tác vũ khí trang bị để bảo vệ, vận hành sự bình yên đó.

Hãy hình dung về 3/4 diện tích đất nước thân yêu-biển, đảo của chúng ta dẫu còn nhiều “giông bão”, nhưng chủ quyền thiêng liêng luôn được giữ vững kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà. Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ vẫn trung kiên ngày đêm thực hiện nhiệm vụ nơi đảo xa, trên những con tàu, nhà dàn DK giữa mênh mông biển lớn.

Tất cả những người lính Cụ Hồ đều đối diện với các thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần, nhưng luôn không hề nao núng, thoái thác nhiệm vụ. Hãy thử đặt mình vào vị trí của những người đang ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”, để thêm trân trọng những đóng góp của những chiến sĩ hải quân một lòng trung hiếu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền Tổ quốc.

Hãy nhìn vào thực tế về một đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt. Sau mấy chục năm hòa bình lập lại, vẫn còn đó không ít bom, mìn, vũ khí tồn đọng, có thể cướp đi sự sống của người dân và hãy khắc ghi sự đóng góp của lực lượng công binh can trường đối mặt với tử thần, tái tạo sự bình an, mang đến môi trường sống an toàn cho hôm nay, mai sau.

Hãy nhìn vào nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam để thấy sự nguy hại đáng sợ của vũ khí hóa học mà kẻ đi xâm lược nhẫn tâm gieo rắc lên lãnh thổ Việt Nam, để thấm ngấm đầy đủ hơn đóng góp của cán bộ, chiến sĩ hóa học đang ngày đêm đối diện với thứ kẻ thù vô hình, xua đi hiểm họa, lấy lại những điều kiện sống cần thiết, tốt đẹp cho nhân dân...

Lại phải nói rõ hơn về trí tuệ của người lính Cụ Hồ đóng góp vào cấu hình môi trường sống hiện hữu. Khi chúng ta cảm nhận về một con đường, một cây cầu, một công trình dân sinh... chỉ nhận thấy tác dụng bảo đảm giao thông, phục vụ dân sinh, kết nối giữa các vùng miền để thông thương hàng hóa. Thế nhưng, sự thật không chỉ có thế.

Khi biến cố xảy ra, khi khởi mào chiến sự, kẻ thù gây hấn, thì lập tức những công trình ấy chuyển hóa phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các nhà máy, xí nghiệp đều có tính lưỡng dụng đến mức tối ưu; các làng xã văn hóa đều bảo đảm các yếu tố, thành tố cấu thành nên khu vực phòng thủ... Những giá trị mang lại ấy là thành quả của trí tuệ Việt Nam, là sản phẩm của nền quốc phòng toàn dân, mà người lính Cụ Hồ là chủ thể tiến hành công tác tham mưu, kiến tạo.

Đó là thành quả vô cùng to lớn, kết nên từ lịch sử chiến tranh và quá trình xây dựng, BVTQ mà QĐND Việt Nam giữ vai trò nòng cốt.

Trong đó, việc kiến tạo nên lực lượng 3 thứ quân; bồi đắp cho mỗi người dân lý tưởng, bản lĩnh, kiến thức quân sự cơ bản... để có thể trở thành người chiến sĩ quả cảm bảo vệ chủ quyền đất nước, thì quả là "phép màu thần kỳ" được kết nên từ một khối lượng công việc đồ sộ mà ngay trong thời bình lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang dày công vun đắp./.

 

TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO NHÂN DÂN LÀ BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG ĐỂ ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI

ÂM MƯU PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

                                                      

Đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Có thể thấy, trong thời gian qua, các thế lực thù địch sử dụng âm mưu, thủ đoạn chống phá rất tinh vi, thâm độc; hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp; mục đích không thay đổi; hậu quả khó lường. Với tinh thần cảnh giác của người dân, cùng với các biện pháp nghiệp vụ kiên quyết của lực lượng chức năng, chúng ta đã phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hành động nguy hiểm đó, nhưng các thế lực thù địch không dễ từ bỏ, chúng vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cần triển khai một cách có hệ thống, đồng bộ các giải pháp, phù hợp và có tính khả thi cao. Trong đó, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào theo đạo về đường lối, chính sách nói chung, đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước nói riêng. Đồng thời, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh, nhận diện, vạch mặt những kẻ có mưu đồ đen tối nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, đề cao truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, ly khai,… coi đó là yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc…/.