Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

Những vẫn đề đặt ra đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay

 


Một là, nhận thức rõ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay.

Thực tế đang đặt ra một thách thức lớn cho tư duy về sứ mệnh lịch sử và vận mệnh của chủ nghĩa xã hội. Sản xuất vật chất vẫn là yếu tố quyết định nhất với tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại. Thực tiễn sản xuất công nghiệp hiện đại đang diễn ra theo xu thế xã hội hóa cả về bề rộng và chiều sâu. Thông qua vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình sản xuất với công nghệ hiện đại, năng suất, chất lượng cao và đảm bảo cho phát triển bền vững, sứ mệnh lịch sử của họ với xã hội hiện đại ngày càng rõ ràng hơn so với thế kỷ XIX. Thực tế cho thấy, nhờ nắm giữ những ưu thế trong kinh tế thị trường như vốn, công nghệ, thị trường độc quyền và kinh nghiệm quản lý, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản còn nhiều tiềm năng phát triển và cỏ khả năng duy trì sự thống trị của mình.

Hơn lúc nào hết, cần có một tư duy khoa học, để thấy được đúng triển vọng của chủ nghĩa xã hội, của sứ mệnh lịch sử. Tránh tư duy “tả khuynh”, ấu trĩ nhưng cũng cần tránh tư duy “hữu khuynh”, bi quan về hiện thực. Cái nhìn biện chứng về lịch sử là rất phù hợp khi nhận định vấn đề này. (quá trình phát triển của lịch sử xã hội).

Cần nhận thức rõ rằng, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển và chưa bao giờ từ bỏ việc chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào công nhân. Chủ nghĩa xã hội hiện thực tuy đã đạt nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong cải cách, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn phía trước. “Dư chấn của cơn địa chấn chính trị” dẫn đến sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô vẫn tồn tại

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn đang được hiện thực hóa qua những biểu hiện cơ bản sau: Định hướng xã hội chủ nghĩa của nhiều nước trên thế giới hiện nay; lực lượng sản xuất xã hội hóa đang úng dụng nhiều thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại; mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc ở từng quốc gia tư bản chủ nghĩa và trên toàn cầu, những tiến bộ xã hội đạt được từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân chống bất công, bất bình đẳng trong chế độ tư bản chủ nghĩa; cuộc đấu tranh vì một toàn cầu hóa khác, vì sự phát triển nhanh, nhân bản và bền vững, giờ đây trở thành một nội dung hữu cơ khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Hai là, cần khẳng định nội dung hàng đầu của đấu tranh giai cấp ở các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa và giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như khẳng định của chủ nghĩa Mác-Lênin, cái cốt vật chất cho chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn theo hướng ngày càng hiện đại. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bắt đầu từ nền đại công nghiệp. Hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của các nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ từ đó mới có một lực lượng sản xuất hiện đại, mới có cơ sở vật chất cho quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng lối sống mới và định hình hệ giá trị của giai cấp công nhân trong đời sống xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất hiện đại, vai trò to lớn của cách mạng khoa học - công nghệ, hướng tới kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0, cụ thể hơn là xu thế đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa trong cơ chế thị trường đang là một thực tế ở rất nhiều quốc gia. Xu thế này là bước tiến lớn của văn minh nhân loại, song nếu không xác định được một mô hình và cách thức công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp thì lại bộc lộ nguy cơ tụt hậu cả về công nghệ và nguồn nhân lực của nhiều quốc gia đang phát triển. Tính thực dụng của kinh tế thị trường khiến cho người ta có thể vì lợi ích ngắn hạn mà bỏ qua những yêu cầu khách quan về xã hội và môi trường trong phát triển.

Lịch sử còn xác nhận rằng, chất lượng, quy mô và tốc độ công nghiệp hóa còn tùy thuộc vào chế độ chính trị, tư duy của giai cấp lãnh đạo. Những quốc gia hiện nay chưa công nghiệp hóa xong, không chi lạc hậu về kinh tế mà còn phải đối diện với khá nhiều vấn đề về chế độ và thể chế chính trị. Con đường phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa quốc gia dân tộc cực đoan, bất công và bất bình đẳng xã hội từ mặt trái của kinh tế thị trường, những bất bình đẳng của toàn cầu hóa... đang là những cản trở đối với quá trình công nghiệp hóa và tiến bộ xã hội.

Với chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó có thể đưa ra được và thực hiện được một kiểu công nghiệp hỏa mới, toàn diện, nhân bản và bền vững. Theo đó, với các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa còn là một điều kiện chính trị quan trọng để thực hiện đầy đủ các nội dung của sứ mệnh lịch sử.

 

Một số kinh nghiệm chống địch lợi dụng tôn giáo ở nước ta

 


Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng, để thực hiện tốt cần thực hiện tốt các kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

 

Thực hiện công tác dân tộc phải toàn diện trên các lĩnh vực

 


Đảng ta xác định, phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Từ góc độ lập pháp

Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội, có nhiệm vụ và quyền hạn:Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực BĐG do Quốc hội và Ủy ban TV Quốc hội giao. Thẩm tra việc lồng gép ván đề BĐG trong các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình quốc hội, Ủy ban TV Quốc hội. Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban TV quốc hội thuộc lĩnh vực BĐG. Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của ccs cơ quan hữu quan và các chính sách, biện pháp để giải quyết các vấn đề BĐG

Chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới

- Bộ Lao động TB và Xã hội. Vụ BĐG (thành lập 2008), có nhiệm vụ: Xây dựng các chiến lược, chương trình, kế hoạch dài hạn và hang năm; xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luậtvề BĐG; xây dựng các chính sách nhằm xóa bỏ, phân biệt đối xử về giới trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội như lao động, giáo dục, văn hóa, y tế, gia đình; theo dõi và đánh giá các chiến lược liên quan đến giới; tổ chức các hoạt động khảo sát, truyền thong và nâng cao nhận thức; xây dựng các báo cáo về BĐG.

- Bộ văn hóa thể thao và du lịch. Vụ gia đình, có nhiệm vụ: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về công tác gia đình và phòng chống bạo lực gia đình; xây dựng tiêu chí gia dình văn hóa.

-Một số bộ và cơ quan ngang bộ khác, trên cơ sở phối hợp với Bộ LĐTB và XH, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BĐG trong phạm vi bộ, ngành mình.

-Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện phân công quản lý nhà nước về BĐG. Để thực hiện chức năng này, mỗi bộ ngành phân công đơn vị chủ trì công tác BĐG, trong khi các dịa phương giao nhiệm vụ này cho Sở LĐTB và XH hoặc cơ quan tương ứng ở cấp thấy hơn, xuống đến cấp huyện, cấp xã.

Các cơ quan tham mưu về vấn đề bình đẳng giới

-Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (thành lập năm 1993), có nhiệm vụ: Nghiên cứu, đề xuất với TTCP phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề liên ngành, liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ; Giúp TTCP phối hợp giuwac các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến và vạn động nhan dân thực hiện chủ trương, chính sách của Dangt và pháp luật của nhà nước liên quan đến sự tiên bộ của phụ nữ; Giúp TTCP đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phối hợp thực hiện các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ; báo cáo TTCP theo định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu về tình hình hoạt động của ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ.

- Dưới ủy ban quốc gia có hàng loạt các ban vì sự tiến bộ của phujnuwx đã dược thành lập ở 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan trực thuộc chính phủ, 63 tỉnh, thành phố.

     - Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (thành lập năm 1993), có nhiệm vụ: Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà ước về BĐG; tuyên truyền vận động nhân dân, hội viên, đoàn vien thực hiện BĐG; tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu BĐG; phối hợp với các cơ quan, tỏ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND, phụ nữ dủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị; thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về BĐG; đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay

 


Đây là mâu thuẫn cơ bản, nổi bật xuyên suốt thời đại quá độ mang tính toàn cầu. Biểu hiện mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay thể hiện chủ yếu trên 2 mặt: Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ cùng các thế lực phản động quốc tế tăng cường cấu kết chống phá hòng xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại bằng nhiều thủ đoạn, đặc biệt là thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với cuộc đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới nhằm giữ vững và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và chủ nghĩa tư bản ra sức tận dụng quá trình toàn cầu hóa để thực hiện các mục tiêu chiến lược đối lập nhau. Đó là: chủ nghĩa tư bản sử dụng lợi thế về vốn, công nghệ, thông qua các hình thức đầu tư, hợp tác, viện trợ, chuyển giao công nghệ...thực hiện mưu đồ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... cũng ra sức tận dụng toàn cầu hóa để thực hiện “rút ngắn” quá trình phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Từ đó dẫn tới hình thức mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là vừa hợp tác vừa đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa để giữ vững con đường phát triển.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Về thực hiện nội dung kinh tế của sứ mệnh lịch sử

Các nước này đều đang trong tiến trình cải cách, đổi mới, công nghiệp hóa theo mô hình mới và đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế - xã hội theo hướng kinh tế thị trường có vai trò quản lý của Nhà nước. Bước đầu đã khẳng định được vai trò cùng mối quan hệ giữa phát triển giai cấp công nhân, đẩy mạnh công nghiệp hóa và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Một trong những vấn đề lớn ở nhiều nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay là sự nghiệp công nghiệp hóa vẫn chưa hoàn thành, công nhân còn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động, trình độ xã hội hóa lao động chưa cao, vì vậy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chưa đủ điều kiện vật chất để hoàn thành.

Về thực hiện nội dung chính trị của sứ mệnh lịch sử

Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, quyền lực chính trị đã thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực thi thông qua nhà nước. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố.

Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và phát triển khối đoàn kết toàn dân tộc, giữ gìn và phát huy chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay vẫn là những nhiệm vụ câp bách và đứng trước nhiều thử thách phức tạp.

Vthực hiện nội dung văn hóa - tư tưởng của sứ mệnh lịch sử

Hệ giá trị của giai cấp công nhân bước đầu được khẳng định là hệ giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội và con người đã có được những thành tựu căn bản làm cơ sở cho trình độ phát triển mới.

Tuy vậy, cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị, sự khẳng định hệ giá trị của giai cấp công nhân còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp, bị cạnh tranh bởi các tàn dư của ý thức hệ tư sản, phong kiến, những biểu hiện của “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhìn chung, quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay đạt được chủ yếu về nội dung chính trị-xã hội, tuy rất cơ bản nhưng cần phải tiếp tục được hoàn thiện và phát triển thêm về kinh tế, văn hóa - tư tưởng.

Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng, thực hiện tốt công tác tôn giáo

 


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” .Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc

 


Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể: Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư). Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu. Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ. Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước. Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Luật pháp và chính sách có lồng gép vấn đề BĐG

 


* Bộ luật lao động năm 2012 (2012)

- Điều 4: “Bảo đảm nguyên tắc BĐG; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao dộng nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao dộng chưa thành niên”

-Chương X: bàn về những quy định riêng đối với lao động nữ; nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ; bảo vệ thai sản đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản; bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con omms, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai; công viecj không được sử dụng lao động nữ

- Liên quan đến tuổi nghỉ hưu, Bộ luật lao dọng năm 2012 quy định “người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiemr xã hội theo quy dịnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”. Bộ luật này cũng quy định “người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với quy định”

- Một điểm mới trong Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012 là quy định lao động là người giúp việc gia đình. Những quy dịnh cụ thể về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình; nghĩa vụ của người lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình; những hành vi nghiêm cấm đối với người sử dụng lao dộng giúp việc…được xem là một bước tiến trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao động giúp việc gia đình là phụ nữ.

* Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015

- Lần đầu tiên trong Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định về tỷ lệ nữ trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu quốc họi và đại biểu HĐND ít nhất là 35%. Quy định này là một bước cụ thể hóa quy định và là một bước tiến so với quy định được ban hành trong Luật bầu cử đại biểuHĐND năm 2003

* Luật đất đai năm 2013 (hiệu lực 1/7/2014)

- Điều 4 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật nay”. Tại khoản 2 Điều 5 về “Người sử dụng đất” gồm “hộ gia đình cá nhân trong nước”. Như vậy Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có hộ gia đình, các nhân, không phân biệt nam hay nữ.

- Quy định tại khoản 4 điều 98 “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn lienf với đất là tài sản chung của vợ, chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ tê của vợ, hoặc chồng thì dduwpowcj cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

- Quy định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ghi cả tên vợ và chòng là cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc quyết định sử dụng, quản lý tài sản đất đai, đồng thời tạo quyền cho phụ nữ trong việc đồng sở hữu tài sản gồm đất đai và sở hữu nhà ở.

* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Mở rộng phạm vi các văn bản cần lồng gép vấn đề BĐG đến nghị định, quyết định của TTCP, thông tư của bộ trưởng, cơ quan ngang bộ; các luật, pháp lệnh, nghị quyết của quốc hội…

Các giai đoạn thời đại ngày nay

 


Từ nhận thức mới về thời đại ngày nay của Đảng ta, có thể chia thời đại ngày nay thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Từ 1917 đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (1945)

Đây là giai đoạn đột phá thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước Nga, một nước tư bản chủ nghĩa ở trình độ phát triển trung bình, khai sinh ra chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa, mở đầu của thời đại mới, thời đại ngày nay.

Giai đoạn 2: Từ sau năm 1945 đến đầu những năm 1970.

Đây là giai đoạn mở rộng và phát triển chủ nghĩa xã hội, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Giai đoạn này còn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc. Hàng trăm nước đã giành được độc lập dân tộc. Hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa tư bản sụp đổ. Tuy nhiên ở cuối giai đoạn này đã xuất hiện sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các Đảng Cộng sản và công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Giai đoạn 3: Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980.

Đây là giai đoạn nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng, dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.

Giai đoạn 4: giai đoạn hiện nay.

Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, song đang có dấu hiệu hồi phục để tạo ra bước phát triển mới. Nhiều Đảng Cộng sản đang tự tổ chức lại và phục hồi những ảnh hưởng tích cực của mình trong xã hội. Sức sống và xu hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội không mất đi. Chủ nghĩa xã hội vẫn là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử trong thời đại ngày nay.

 Tồn tại và phát triển của một số mô hình XHCN và một số traog lưu XHCN trên thế giới hiện nay. Một số mô hình XHCN: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào(Trung Quốc: Đại hội XIX: Sau hơn 30 năm cải cách mở cửa, ĐCSTQ đã chỉ ra “3 cái một”, bao gồm: xác lập được một chế độ XHCN đặc sắc Trung Quốc; hình thành nên một lý luận CNXH đặc sắc Trung Quốc, gồm: Lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “3 đại diện” của Giang Trạch Dân, quan điểm phát triển khoa học hài hòa của Hồ Cẩm Đào và tư tưởng 4 đại diện của Tập Cận Bình; mở ra con đường xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc, gồm 5 con đường nhỏ: CN hóa kiểu mới, hiện đại hóa nông ngiệp, đô thị hóa nông thôn, phát triển chính trị nvà tự chủ sáng tạo đặc sắc Trung Quốc). Một số trào lưu XHCN trên thế giới hiện nay.Trào lưu xã hội dân chủ (chủ nghĩa xã hội dân chủ hoặc: Xây dựng CNXH bằng dân chủ- các nước: Châu âu: Ốt trâylya, Cana đa…nhất là các nước bacư âu: Thuy Điển, Đan Mạch, Na uy, Phận Lan ) (không chủ trương đánh đổ CNTB mà chỉ tiến hành cải cách nhằm từng bước hạn chế bất công, nâng cao tính chất dân chủ của xã hội tư bản bằng phương pháp đấu tranh nghị trường. Trào lưu XHCN thế kỷ XXI ở khu vực Mỹ La tinh (hay “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI) như Đảng Lao động B ra xin, Đảng xã hội ChiLê, Mạt trận giải phóng dân tộc San dino, Đảng phong trào nền cộng hòa thứ năm của Vênêxuêla, Đảng phong trào tiến lên CNXH ở Bôlivia…

 

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay

 


Các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay đều là những nước đã trải qua nhiều cuộc cách mạng công nghiệp. Một số nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản... đang bước vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Lực lượng sản xuất của những nước này có trình độ xã hội hóa rất cao và giai cấp công nhân cũng rất phát triển cả về lượng và chất. Theo đó, cơ sở kinh tế - xã hội của sứ mệnh này vẫn ngày càng được thực tế làm rõ.

Xét về tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, yếu tố quy định cơ bản nhất là mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn tồn tại và tiếp tục bộc lộ qua các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội theo chu kỳ với mức độ ngày càng nặng nề hơn. Chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục điều chnh cả về thể chế chính trị và quan hệ sản xuất để khắc phục khủng hoảng. Dân chủ hóa và xã hội hóa là hướng điều chỉnh cơ bản. Song xu hướng đó lại khiến cho chủ nghĩa tư bản đang tiệm tiến đến giới hạn “không còn là nó”. Một cách khách quan, chủ nghĩa tư bản đang tự phủ định bằng cách làm chín muồi những điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Xét về thực hiện các nội dung của sứ mệnh lịch sử, có thể khẳng định rằng:

Về nội dung kinh tế, công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao đang thực hiện khá hiệu quả. Chính ở các nước này, lực lượng sản xuất đang đạt được trình độ xã hội hóa cao nhất, tỷ lệ lao động công nghiệp đông đảo nhất, năng suất lao động công nghiệp cao nhất, công nghệ hiện đại nhất. Thực tế đó khiến cho chủ nghĩa tư bản một mặt có được “nhiều tiềm năng phát triển”, nhưng mặt khác cũng là biểu hiện tập trung nhất cho việc hình thành những nhân tố tự phủ định.

Vthực hiện nội dung chính trị - xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cũng đang được triển khai theo nhiều quy mô độ khác nhau trong các nước tư bản chủ nghĩa. Tổ chức của công nhân - công đoàn hiện là một thế lực chính trị trong chính trường ở nhiều quốc gia. Thông qua tổ chức và hoạt động của các đảng cộng sản, đảng dân chủ xã hội cánh tả, phong trào công nhân và các tổ chức tiến bộ trên thế giới vẫn đang đấu tranh chống chế độ tư bản áp bức, bất công, chống chủ nghĩa đế quốc và sự áp đặt, can thiệp của các nước lớn vì độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc, vì tiến bộ và chủ nghĩa xã hội. Tuy đa dạng về biện pháp, hình thức tổ chúc tùy theo sự quy định của hoàn cảnh cụ thể, nhưng điểm chung của các phong trào hành động này là vì một thế giới công bằng hơn, nhân bản hơn và bền vững hơn. Mục tiêu đấu tranh trực diện là chống “chủ nghĩa tự do mới” - biểu hiện hiện đại của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Hoạt động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì dân chủ, dân sinh và tiến bộ xã hội tuy trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành, nhưng cũng đã đạt được nhiều thành quả mà tiêu biểu là kinh tế thị trường xã hội và nhà nước phúc lợi xã hội.

Về thực hiện nội dung văn hóa, tư tưởng - đây là lĩnh vực diễn ra gay gắt, quyết liệt và phong phú nhất trong xã hội phương Tây hiện nay. Cuộc cạnh tranh giữa hai hệ giá trị giữa tư bản và lao động diễn ra trên cả hai phương diện tư tưởng và lối sống. Hệ giá trị của những người lao động với các lý tưởng như dân chủ, công bằng, bình đẳng, phát triển bền vững... là ngọn cờ tập hợp các lực lượng trong xã hội. Phong trào công nhân là một thế lực vừa hiện hữu, vừa “hóa thân” vào các phong tào xã hội khác đã tạo ra khả năng kiềm chế chính trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh giữa hai hệ giá trị của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cá nhân tuy đang diễn ra quyết liệt và phức tạp nhưng nhân loại ngày càng hướng tới những giá trị tương đồng với hệ giá trị của giai cấp công nhân.

Nhìn chung, quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay chủ yếu là một quá trình tiệm tiến chính trị - xã hội. Lịch sử sẽ lựa chọn thời điểm và cách thức cho một chuyển hóa về chất của tiến bộ xã hội thông qua những tiến hóa trong lòng chủ nghĩa tư bản.

Công tác tôn giáo của Đảng là công tác vận động quần chúng

 


Công tác tôn giáo của Đảng là công tác vận động quần chúng,bởi vì: Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và CNMLN; Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ

Thực hiện tốt công tác dân tộc là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam

 


Thứ nhất, từ tình hình dân tộc trên thế giới hiện nay, độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia vẫn là xu thế của thế giới. Mỗi quốc gia dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng khẳng định giá trị dân tộc như quyền tự quyết định chế độ xã hội, kinh tế, đường lối phát triển đất nước, khẳng định sự bình đẳng giữa các quốc gia trong sinh hoạt quốc tế. Lợi ích quốc gia được các nước đặt lên hàng đầu trong các hoạt động đối ngoại. Chính phủ các nước đều coi trọng việc xác lập, bảo vệ và củng cố các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội tích cực, cố gắng tạo lập sự hài hoà lãnh thổ, vùng miền, sắc tộc nhằm hướng tới sự đồng thuận, gắn kết quốc gia. Về mặt đối ngoại, ranh giới ý thức hệ, tôn giáo, lý tưởng cùng chung chế độ xã hội không còn nhiều ý nghĩa mà thay vào đó là các điểm tương đồng về lợi ích quốc gia dân tộc và được xem là cơ sở để lựa chọn và xây dựng các mối quan hệ song phương, đa phương. Lợi ích quốc gia dân tộc đôi khi được đánh đổi bằng các cuộc chiến tranh xâm lược hay các cuộc đàn áp đối phương.

 Trên thế giới hiện nay, do không giải quyết tốt vấn đề dân tộc cho nên xung đột dân tộc, sắc tộc, ly khai dân tộc, CN dân tộc cực đoan, dân tộc cường quyền gia tăng; ( Nửa cuối thế kỷ 20 có 300 cuộc xung đột, bạo loạn dân tộc; trong 160 DTTS/180 (4000- 8000 tộc người) có 1/3 nước có xung đột dân tộc. Hàng năm có 1-3 xung đột dân tộc mới (thế kỷ 21 là thế kỷ xung đột sắc tộc và tôn giáo)…, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, chính trị các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt nam.

Thứ hai, xuất phát từ những hạn chế, yếu kém của công tác dân tộc hiện nay, nhất là vấn đề an ninh phi truyền thống, trong đó nổi bật là trình độ, mức sống đồng bào DTTS rất thấp với các điều kiện ăn ở, sinh hoạt khó khăn, so sánh, có khoảng cách quá xa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội so với dân tộc Kinh và so với từng dân tộc thiểu số với nhau. Điều đó mang đến nhiều hệ luỵ trong giải quyết mối quan  hệ giữa Đảng, Nhà nước ta với DTTS, dẫn đến niềm tin vào Đảng, vào chế độ  XHCN của đồng bào DTTS giảm sút, làm cho mâu thuẫn DTTS với dân tộc Kinh; mâu thuẫn dân tộc thiểu số với nhau và mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc thiểu số ngày càng tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến mối đại đoàn kết toàn dân.

Thứ ba, các thế lực thù địch lợi dụng “dân tộc’, “tôn giáo” ‘dân chủ”, “nhân quyền” tuyên truyền, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng. Lợi dụng đời sống đồng bào DTTS khó khăn; trình độ học vấn thấp; so sánh mức sống người Kinh với DTTS, các DTTS với nhau; lợi dụng những hạnchế, yếu kém trong quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước nói xấu, kích động chia rẽ, xây dựng lực lượng từ bên trong; khi lực lượng bên trong mạnh sẽ nổi dạy từ bên trong, kết hợp với can thiệp bên ngoài để lạt đổ chính quyền.

TRƯỜNG SA TÔI YÊU

⭐MAI TAO VỀ!🌾


Mai tao về mày ở lại Trường Sa

Bãi cát nhỏ mày nằm nghe sóng vỗ

Ngắm chiều giông thèm một cơn mưa đổ

Biển thầm thì khúc ca tráng Trường Sa.

                       

Mai tao về chân bước ngõ nhỏ qua

Nơi xóm nhỏ Mẹ già đang ngóng đợi

Bóng chiều xiên trên mắt xa vời vợi

Biết tin mày Mẹ chắc khóc mày ơi.

                      

Nơi trường làng cây phượng vẫn sóng đôi

Lời ước hẹn năm nào em gái nhỏ

Nay tao về biết nói gì lần đó

Mày không về nằm lại mãi Trường Sa.

                     

Rồi biết bao mùa xuân sẽ đi qua

Nỗi nhớ mong tràn đầy trên mắt mẹ

Vai ba lô bước xuống tàu lặng lẽ

Mai mày về cùng tao nhé Bạn ơi.

TK-ST

🌟H.H

MỸ KHUYÊN CÔNG DÂN CÂN NHẮC RỜI KHỎI UKRAINE!

         Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken mới đây đã bác bỏ lời kêu gọi áp đặt ngay các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga, cho rằng động thái như vậy có thể làm giảm khả năng của phương Tây trong ngăn chặn cuộc tấn công có thể xảy ra của Nga đối với Ukraine, Al Jazeera đưa tin.
   Việc Nga tăng cường quân đội gần biên giới với Ukraine đã khiến các nước phương Tây lo ngại rằng Moscow đang lên kế hoạch tấn công nước láng giềng. Phương Tây đe dọa áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt nếu Nga tấn công Ukraine, trong khi Moscow khẳng định không hề có kế hoạch như vậy.
     Trong một cuộc phỏng vấn với CNN ngày 23/1 (giờ địa phương), Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết “các biện pháp trừng phạt kinh tế được áp dụng nhằm mục đích ngăn chặn cuộc tấn công của Nga, nếu áp dụng ngay bây giờ, các biện pháp đó sẽ mất tác dụng”.
   Tuy nhiên, Ngoại trưởng Mỹ cũng nhấn mạnh rằng bất kỳ “hành động điều quân nào đến biên giới một cách hung hãn” cũng sẽ dẫn đến một phản ứng quyết liệt.
     Bộ Ngoại giao Mỹ cùng ngày thông báo các gia đình nhân viên ngoại giao tại Đại sứ quán ở Ukraine đủ điều kiện có thể rời khỏi đây, cho biết rằng tất cả công dân Mỹ nên cân nhắc rời khỏi nước này “do lo ngại về mối đe dọa từ hành động quân sự của Nga”.
         Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy mới đây bày tỏ rằng ông ủng hộ việc áp các biện pháp trừng phạt “trong thời gian sớm nhất”.
   Cuối tuần trước, chuyến hàng đầu tiên trong gói hỗ trợ an ninh 200 triệu USD của Mỹ cho Ukraine đã đến Kiev, Đại sứ quán Mỹ cho biết.
   Ngoài ra, Bộ Ngoại giao Nga ngày 23/1 đã bác bỏ tuyên bố của Anh rằng Điện Kremlin đang tìm cách thay thế chính phủ Ukraine bằng một chính quyền “bù nhìn” thân Moscow./.
Ảnh: Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken.
Môi Trường ST.

Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

 


Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững tại New York (Mỹ) từ ngày 25- 27/9/2015, có 193 quốc gia thành viên đã thong qua chương trình nghị sự toàn cầu về phát triển đến năm 2030 với 17 mục tiêu phát triển bền vững như một lộ trình để phát triển đói nghèo, chống bất bình đẳng và chống biến đổi khí hậu trong 15 năm tới. Bình đẳng và bình đẳng giới được đặt ra như một ưu tiên lớn. Vấn đề giới dược lồng ghép vào tất cả các mục tiêu, trong dó có một mục tiêu riêng vè bình dẳng giới (mục tiêu 5): Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái. Mục tiêu 5 gồm 6 chỉ tiêu cụ thể: Chấm dứt phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái. Xóa bỏ mọi hình thức bạo lực đối với tất cả phụ nữ và trẻ em gái. Xóa bỏ các tập tục có hại.Công nhận việc chăm sóc và việc nhà không được trả công và khuyến khích chia sẻ trách nhiệm trong gia đình. Đảm bảo phụ nữ tham gia đầy đủ, hiệu quả và có các cơ hội bình đẳng để năm giữ các vị trí lãnh đạo ở tất cả các cấp ra quyết định về chính trị, kinh tế và trong cuộc sống. Đảm bảo tiếp cận phổ quát với ác dịch vụ chăm sóc sức khỏe và quyền tình dục, sinh sản.

Xét từ góc độ chính trị - xã hội trong nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


 Thể chế kinh tế  và chính trị của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hóa đã có nhiều điều chỉnh, các phương thức quản lý mới, các biện pháp điều hòa mâu thuẫn, xung đột xã hội của giai cấp tư sản đang tác động hai mặt vào giai cấp công nhân. Một bộ phận công nhân đã tham gia vào sở hữu một lượng tư liệu sản xuất của xã hội thông qua chế độ cổ phần hóa. Về mặt hình thức, họ không còn là “vô sản” nữa và có thể được “trung lưu hóa” về mức sống, nhưng về thực chất, ở các nước tư bản, do không chiếm được tỷ lệ sở hữu cao nên quá trình sản xuất và phân chia lợi nhuận vẫn bị phụ thuộc vào những cổ đông lớn. Việc làm và lao động vẫn là nhân tố quyết định mức thu nhập, đời sống của công nhân hiện đại. Quyền định đoạt quá trình sản xuất, quyền quyết định cơ chế phân phối lợi nhuận vẫn thuộc về giai câp tư sản.

 Vấn đề đoàn kết và thống nhất giai cấp công nhân cần có cách tiếp cận mới. Do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0... cơ cấu giai cấp và phương thức sinh hoạt của công nhân có nhiều biển đổi. Công nhân hiện đại có cơ cấu nghề nghiệp đa dạng, trình độ công nghệ và giác ngộ chính trị khác nhau. Phong trào công nhân thế giới cũng đang bị chi phối bởi nhiều tổ chức chính trị - xã hội khá phức tạp. Nền kinh tế nhiều thành phần trong các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong công nhân. Theo đó, tổ chức và phối hợp hành động trong phong trào công nhân cũng cần có các hình thức phù hợp, linh hoạt và sáng tạo hơn.

 Mối quan hệ giữa lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích quốc gia dân tộc đang xuất hiện những tình huống mới. Toàn cầu hóa vừa liên kết về mặt lực lượng sản xuất, lại vừa chia rẽ người lao động trong quan hệ sản xuất do họ gắn bó về lợi ích với các doanh nghiệp tư bản, các tập đoàn xuyên quốc gia. Lợi ích của công nhân vừa gắn bó với lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa phụ thuộc vào thành phần kinh tế, tác động của thị trường sức lao động và biến động của kinh tế toàn cầu. Thực tế đó tạo ra những quan hệ phức tạp, đan xen các dạng lợi ích và khách quan đặt ra nhu cầu về những hình thức tập hợp lực lượng mới.

Độc quyền khoa học khí hậu và những băn khoăn về thâm hụt văn hoá sinh thái

 Một nghiên cứu gần đây cho thấy 78% nguồn tài trợ cho các nghiên cứu khoa học về khí hậu toàn cầu chảy về các tổ chức tại châu Âu và Bắc Mỹ.

Trong năm 2020-2021, thế giới phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Nhưng đối với Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, Covid-19 không phải là khó khăn duy nhất mà họ gặp phải.

rong khi các nhà khoa học khí hậu có thể dự đoán cơn bão nhiệt đới và bắt đầu các biện pháp giảm thiểu, hiện tượng nước biển ấm lên đã thúc đẩy các cơn bão, khiến cường độ của chúng tăng lên khoảng 12-15%. 

Các tác động của biến đổi khí hậu thường xuyên được bàn luận tại các cuộc hội thảo, đàm phán quốc tế về khí hậu như COP26 và được các nước giàu hơn ở Bắc bán cầu khẳng định như một điều gì đó sẽ tiếp tục xảy ra tồi tệ hơn trong tương lai.

Ở Việt Nam, các tỉnh miền Trung hàng năm phải hứng chịu thảm họa lũ lụt, các cơn bão và lở đất gây tổn hại các công trình, gây thiệt hại về con người và kinh tế. Với các công nghệ của mình, Việt Nam phải vật lộn để giảm thiểu những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu, của thiên tai.

Những quốc gia như Việt Nam đang phải đối mặt với những cơn bão mạnh hơn xảy ra hàng năm. Dù chúng ta có chủ động chuẩn bị đến đâu, các cơn bão vẫn tàn phá, phá hủy cả tài sản và mạng sống của con người.

Trong khi đó, với nguồn lực khổng lồ, các nước phương Tây, Mỹ và Vương quốc Anh từ lâu đã giữ vị trí hàng đầu toàn cầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học khí hậu này, từ đó, họ sẽ hỗ trợ các quốc gia kém phát triển hơn.

Châu Âu và Mỹ đang độc quyền về khoa học khí hậu

Trong một bài viết gần đây đăng trên Tạp chí Carbon Brief, tác giả Ayesha Tandon phát hiện ra rằng chỉ có 7,3% trong số hơn 1.300 tác giả từ 100 bài báo về khí hậu được trích dẫn nhiều nhất đến từ châu Á. Không ai trong số những tác giả đó là người Việt Nam.

Khi Ayesha cho tôi xem những phát hiện của cô ấy và hỏi ý kiến của tôi, tôi không quá ngạc nhiên. Dù chúng ta có muốn thừa nhận hay không, thì những người đại diện cho chuyên môn về khoa học khí hậu hầu hết đến từ các nước phát triển hơn.

Cơ sở hạ tầng tiên tiến và nguồn tài nguyên dồi dào đã giúp phương Tây thiết lập thẩm quyền của mình đối với các vấn đề khí hậu.

Các nước đang phát triển thường sẽ gửi những gì tốt nhất và sáng giá nhất của họ để nhận được kinh nghiệm từ các nước phát triển hơn, vì các chuyên gia hàng đầu cần cả sự đào tạo và sự công nhận toàn cầu để thu thập nguồn lực đối phó với biến đổi khí hậu.

Trong khi các khoảng cách trong đào tạo có thể được giải quyết bằng việc di cư học thuật, các nhà khoa học từ các nước kém phát triển hơn hiếm khi nhận được sự công nhận trên toàn cầu.

Một bài báo mới trên Tạp chí Khí hậu và Phát triển (Climate and Development journal) cho thấy, 78% nguồn tài trợ khoa học khí hậu toàn cầu trong giai đoạn 1990-2020 được rót cho các tổ chức châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, chỉ 3,8% kinh phí được chi cho các chủ đề liên quan đến châu Phi.

Điều này xảy ra bất chấp thực tế là châu Phi là lục địa dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu và là lục địa đóng góp tỉ lệ phát thải khí nhà kính thấp nhất trong lịch sử, với chỉ 3%.

Trên toàn cầu, báo cáo Cảnh quan Toàn cầu về Tài chính Khí hậu 2021 chỉ ra rằng tài chính khí hậu tập trung ở châu Âu, Bắc Mỹ và các khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, báo cáo cho thấy khoảng 73% nguồn tài chính khí hậu toàn cầu (khoảng 479 tỷ USD) được tài trợ từ các nguồn lực trong nước, điều này cho thấy hầu hết các quốc gia vẫn dựa vào chính mình để chống lại biến đổi khí hậu.

Trong khi đó, tài chính khí hậu quốc tế tăng từ 13 tỷ USD trong giai đoạn 2017-2018 lên 153 tỷ USD. Tuy nhiên, do nguồn tiền được phân bổ cho nhiều quốc gia, nên nguồn lực cuối cùng không đủ đáng kể.

Vào cuối năm 2019, tôi và các đồng nghiệp đã gặp “bộ ba bất khả tri về tăng trưởng công nghiệp bền vững” ở Kitakyushu, Nhật Bản - một trong những thành phố định hướng tăng trưởng xanh hàng đầu trên toàn thế giới.

Phản ứng của thành phố Kitakyushu đối với các vấn đề môi trường tương tự như phản ứng ở Tây Âu: cơ sở hạ tầng công nghệ tiên tiến, can thiệp chính trị và việc sử dụng các chuyên gia hàng đầu.

Bất chấp quy chế về tăng trưởng xanh nghiêm ngặt và việc sử dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến, nhiều vấn đề về ô nhiễm không khí không thể giải quyết được do các yếu tố văn hóa - xã hội: sự bành trướng đô thị, nhu cầu đi lại tăng cao, các công ty lớn thuê các công ty nhỏ hơn gia công sản xuất mà không kiểm tra và thực thi nghiêm ngặt các tiêu chí về phát thải.

Ví dụ về thành phố Kitakyushu nâng cao tầm quan trọng của việc hiểu văn hóa khu vực tư nhân và cư dân trong việc thúc đẩy phát triển xanh. Nó chỉ ra rằng việc nhân rộng mô hình phương Tây có thể vẫn không hiệu quả ở các quốc gia phương Đông.

Nền văn hóa thâm hụt sinh thái

Kitakyushu không chỉ cho thấy lý do tại sao các mô hình phương Tây không phải lúc nào cũng có thể áp dụng trên toàn cầu, mà còn cho thấy thái độ văn hóa đối với biến đổi khí hậu có thể thay đổi như thế nào, ngay cả ở những địa điểm mà mọi người phải đối mặt với những rủi ro gia tăng và tức thời hơn.

Chúng ta đã phải chịu đựng những điều kiện khí hậu khủng khiếp, và xã hội lại không ưu tiên thiên nhiên hay môi trường.

“Văn hóa thâm hụt sinh thái” này, ưu tiên trả chi phí thấp hơn cái giá thực tế của thiệt hại môi trường, cho thấy lý do tại sao chúng ta cần thúc đẩy tiếng nói của các nhà khoa học khí hậu phi phương Tây. Nếu các nghiên cứu không được tài trợ và thúc đẩy, các giá trị cũng như khoa học của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng.

St

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta

 


Đây là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ. Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân.

Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH. Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.

Các dân tộc ở Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau


 Xuất phát từ quan điểm CN MLN, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc. Theo Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin: Các dân tộc bình đẳng, giúp nhau. Trong cương lĩnh dân tộc của Lê nin xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu cách mạng XHCN, các tộc người trong quốc gia dân tộc hay các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, tự quyết, đoàn kết tương trợ giúp nhau, cùng nhau phát triển . Đó là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt đó là dân tộc thiểu số hay đa số, trình độ phát triển cao hay thấp. Quyền đó phải được pháp luật bảo vệ và thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, do quá trình hình thành và điều kiện tự nhiên, các dân tộc có quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên khác nhau dẫn tới  trình độ khác nhau, để các dân tộc có trình độ phát triển như nhau đáp ứng được quyền bình đẳng, quyền tự quyết của mình, đòi hỏi phải phải trải qua một thời gian dài, với những chủ trương, chính sách phù hợp của cách mạng XHCN. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Vận dụng sáng tạo quan điểm CNMLN, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc chỉ có thể được thực hiện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Thực hiện nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các tộc người. Phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù của từng dân tộc, từng vùng miền. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số. Đảng ta từ khi thành lập và trong xuốt quá trình lãnh đạo luôn xác định: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Điều đó  được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng năm 1930, với  mục tiêu của cách mạng Việt nam là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân quyền và tiến lên XHCN. Kế thừa, phát huy, phát triển văn kiện đầu tiên của Đảng ở văn kiện nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng tiếp theo đều thể hiện rõ là thực hiện vấn đề dân tộc là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài. Như vậy để cách mạng XHCN của chúng ta thành công phải thực hiện tốt  vấn đề dân tộc, phải giải phóng dân tộc,  muốn giải phóng dân tộc phải giải phóng con người. Vì vậy phải là một quá trình lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. 

VỤ VIỆC Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC NHỮNG NGÀY QUA

 

Tình hình là đoạn biên giới này 2 bên đều bị sụt lở đất nên đều phải thi công tu bổ, sửa chữa. Chuyện chả có gì khi đến đoạn giáp nhau là xảy ra tranh chấp.

Bên Trung Quốc phản đối Việt Nam tu bổ chỗ đó, đòi giữ nguyên hiện trạng. Nhưng Việt Nam kệ, đất nhà tôi, trên văn bản có ghi rõ, tôi cứ sửa, anh phản đối kệ anh.

Sau khi bắt loa, căng băng-rôn đề nghị không xong, lính Trung Quốc ném đá vào xe ủi, xe xúc của Việt Nam. Bên Việt Nam cũng đáp trả ném lại vào máy móc bên Trung Quốc. Tuyệt nhiên, hai bên né không ném vào người, tránh gây đổ máu.

Giờ thì phía Việt Nam đã cơ bản hoàn thành tu bổ, xây kè mới, bên Trung Quốc chỉ còn biết đứng ngó, chả làm gì nữa./.

Nguồn: canhco.net

TẠI SAO TRÒ BỊ ĐIỂM KÉM?

 

Học kỳ 1 năm học này sắp kết thúc trong hoàn cảnh đại dịch COVID-19 đang hoành hành gây ra vô vàn khó khăn cho việc tổ chức dạy và học của các nhà trường. Hẳn là sau khi biết điểm thi cuối kỳ của các con, bên cạnh nhiều bậc cha mẹ hoan hỉ với điểm số của con mình thì chắc cũng không ít cha mẹ lòng trĩu nặng vì con thua kém bạn bè.


Có người thày ở Singapore nhắn nhủ trong một bức thư gửi phụ huynh học sinh của mình rằng: "Hãy nhớ rằng trong số các em làm bài thi sẽ có một em là nghệ sĩ và không cần phải hiểu môn toán. Sẽ có một doanh nhân không quan tâm đến lịch sử hay văn học Anh. Sẽ có một nhạc sĩ mà điểm môn hóa sẽ chẳng thành vấn đề. Sẽ có một vận động viên mà thể lực quan trọng hơn môn vật lý .... Nếu con của quý vị đạt điểm số cao, điều đó thật tuyệt vời. Nhưng nếu con không đạt được thì làm ơn đừng lấy đi sự tự tin và phẩm giá của con. Hãy nói với con rằng: Không sao đâu, đó chỉ là một bài thi. Con được nuôi dạy cho những điều to lớn hơn thế nhiều".

Chúng ta mong rằng các thày, cô giáo vượt qua những áp lực từ phía cha mẹ học sinh và khắc phục được căn bệnh thành tích để bảo đảm thật sự đúng đắn, khách quan khi cho điểm, đánh giá kết quả học tập của học sinh, giúp cho các cấp quản lý giáo dục nắm được thực trạng chất lượng dạy học, trên cơ sở đó đưa ra được những quyết sách phù hợp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo./.