Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư. 

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”.

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

Sức sống của Cương lĩnh thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.

Một đảng có mất dân chủ không?

Hãng nghiên cứu và phân tích Economist Intelligence Unit (EIU-có trụ sở chính tại Vương quốc Anh) mới đây đã công bố báo cáo chỉ số dân chủ năm 2021, trong đó xếp Việt Nam vào "nhóm nước phi dân chủ, độc tài".

EIU đưa ra những tiêu chí rất mù mờ, cho rằng đa nguyên, đa đảng là dân chủ, còn một đảng, nhất nguyên là mất dân chủ, độc tài, là rất thiếu căn cứ. Thực tiễn các quốc gia trên thế giới cho thấy, vấn đề một đảng hay đa đảng không nói lên được đất nước đó có dân chủ hay mất dân chủ. Có những quốc gia rất nhiều đảng phái nhưng vẫn là quốc gia dân chủ thấp, quyền con người không được bảo đảm, lợi ích chỉ nằm trong tay một bộ phận giàu có. Ngược lại, một số quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng lại là quốc gia mà người dân luôn cảm thấy hạnh phúc. Đại dịch Covid-19 đang phơi bày tất cả mặt trái, những bất công của chế độ tư bản chủ nghĩa khi mà cuộc khủng hoảng diễn ra cả về kinh tế, chính trị và y tế, xã hội. Đời sống của đa số người lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng, trong khi số lượng tỷ phú đô-la lại tăng mạnh, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn.

Điều này đang làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột, làn sóng biểu tình, bãi công diễn ra mạnh mẽ ở những nước tự cho mình là tự do, dân chủ. Nếu thực sự khách quan để đưa ra được một báo cáo có tính thuyết phục, có giá trị cho nhân loại, EIU cần khảo sát, chấm điểm ở các tiêu chí như: Bản chất của đảng lãnh đạo chính trị đó là gì? Cách mạng hay không cách mạng? Mục tiêu cầm quyền của đảng đó ra sao? Đảng đó có vì nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân hay không?...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được các cơ quan báo chí đăng tải tháng 5-2021, khi phân tích về các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt, đã chỉ rõ: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”.

Ở khía cạnh khác, EIU có lẽ chưa hiểu thực tế về Việt Nam hoặc đang bị thế lực nào đó làm cho họ có cái nhìn thiếu công bằng. Họ hoàn toàn phớt lờ một sự thật, đối với dân tộc Việt Nam, việc duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền nhưng đó lại là nguyện vọng chính đáng, là sự lựa chọn của cả dân tộc, nó phù hợp với thực tế, hoàn cảnh Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, ở Việt Nam, trong suốt những năm thực dân đô hộ, nhiều tổ chức, đảng phái giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc nhưng rồi đều bế tắc, thất bại. Họ thiếu cái gì trong đó? Thiếu đội tiền phong lãnh đạo, thiếu lực lượng, thiếu lý luận soi đường... Các nhà nghiên cứu luận giải, chủ nghĩa tư bản Pháp với giai cấp tư sản thống trị xâm lược Việt Nam thì cho dù các ngọn cờ của phong kiến, nông dân hay trí thức... tiến hành phong trào giải phóng dân tộc sẽ khó có thể thành công, bởi họ không đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của thời đại. Lực lượng tiến bộ nhất của thời đại đó phải là giai cấp công nhân; và giai cấp tư sản chỉ có thể bị đánh đổ bởi giai cấp công nhân.

Là một sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, trong bối cảnh ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hội tụ trong mình đầy đủ các yếu tố để lãnh trọn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thành công, giải phóng dân tộc, đưa đất nước tiến lên con đường XHCN, xây dựng đất nước ngày một phồn vinh.

Chỉ nói riêng về bản chất dân chủ của thể chế chính trị Việt Nam qua hơn 92 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thấy rõ: Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng đất nước; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân được xác định là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Trên thực tế, Đảng ta luôn nhận thức rất rõ vấn đề thực hành dân chủ, dân chủ ngay chính trong nội bộ Đảng và thực hiện tốt nhất quyền dân chủ thuộc về nhân dân. Đảng luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.

Để đội ngũ đảng viên và tổ chức đảng hoàn thành sứ mệnh cao cả, Đảng đã thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự thanh lọc chính đội ngũ cán bộ yếu kém của mình. Đảng cũng không bao giờ giấu giếm khuyết điểm mà sẵn sàng thừa nhận, chỉ ra thiếu sót, yếu kém của mình để sửa chữa. Đảng ta cũng không bao giờ tự mãn, dừng lại, say sưa với chiến thắng mà quên đi hay không nhận thấy những nguy cơ làm hư hỏng chính mình. Thực tiễn việc xử lý hàng loạt tổ chức đảng và đảng viên có sai phạm, cùng việc ban hành những quy chế, quy định khắt khe của Đảng để mọi đảng viên phải rèn luyện, phấn đấu, tự răn mình bao năm qua đã chứng minh điều đó.

Một mũi tên hướng nhiều đích

Hãng nghiên cứu và phân tích Economist Intelligence Unit (EIU-có trụ sở chính tại Vương quốc Anh) mới đây đã công bố báo cáo chỉ số dân chủ năm 2021, trong đó xếp Việt Nam vào "nhóm nước phi dân chủ, độc tài".

“Té nước theo mưa” sau đó vài ngày, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-có trụ sở tại Hoa Kỳ) cũng đưa ra báo cáo cho rằng, chính quyền Việt Nam sách nhiễu và giam giữ nhiều "nhà hoạt động" trong hai thập kỷ qua. Chỉ chờ có thế, một số báo, đài nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam lại dồn dập đưa ra cái gọi là "phân tích", "luận giải", "góc nhìn"... Thật nực cười, hành động của họ gợi nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn "Thầy bói xem voi"! 

Đầu tiên phải khẳng định, báo cáo của EIU là sai lầm và bịa đặt, đúng như đánh giá của nhiều chuyên gia nghiên cứu chính trị: “Họ chỉ thấy cây mà... cố tình không thấy rừng”. Báo cáo cũng tiếp tục ca ngợi cái gọi là thành tích “dân chủ phương Tây” trong khi hầu hết các giá trị “dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN)” bị bỏ qua. Các nước một đảng lãnh đạo hoặc Đảng Cộng sản lãnh đạo, các nước XHCN hoặc theo thiên hướng XHCN đều bị báo cáo này xếp vào nhóm điểm số dân chủ rất thấp mà điển hình như: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba...

Điều này không khó hiểu bởi bảng xếp hạng mà tổ chức này đưa ra dựa trên các tiêu chí rất thiếu tính thuyết phục, với mục đích chính trị là chủ đạo như tiêu chí: Tỷ lệ tham gia chính trị, quyền tự do cá nhân với thể chế đa nguyên, đa đảng là cốt lõi... Còn báo cáo của Tổ chức Theo dõi nhân quyền cho rằng, các “nhà hoạt động” bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu và giam giữ nhiều. Họ là những người “bất đồng chính kiến”, “tù nhân chính trị”, “đấu tranh vì dân chủ”... Tên tuổi những cá nhân đó vẫn khá quen thuộc, như: Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương... Thực tế ai cũng biết rằng, những cá nhân này đã vi phạm pháp luật Việt Nam và bị xử lý theo chế tài pháp luật Việt Nam một cách công bằng.

Nghiên cứu báo cáo chỉ số dân chủ mà EIU đưa ra thấy rõ, những kết quả khảo sát theo các hạng mục nêu trên không có nguồn trích dẫn và không được kiểm chứng rõ ràng. Mục đích của họ không chỉ chống phá Việt Nam mà còn nhằm phá hoại các nước XHCN và một số nước có phong trào cánh tả hiện nay. Và đương nhiên, nó phục vụ cho mưu đồ của các nước phương Tây là không phải bàn cãi. Chỉ cần xem động thái của truyền thông phương Tây khi các báo cáo này xuất hiện có thể thấy, họ như “bắt được vàng”, tiền hô hậu ủng rầm rộ. Hệ thống truyền thông của phương Tây chiếm khoảng 80% lượng truyền thông của thế giới và làm mưa làm gió trong nhiều thập niên qua.

Từ lâu, truyền thông phương Tây không đơn thuần là nguồn cung cấp thông tin cho độc giả mà đã tham gia rất tích cực vào việc kích động các cuộc xung đột, “cách mạng màu” trên thế giới. Họ cũng rất có kinh nghiệm trong việc kích động nhân dân tại chính nội bộ các nước mà họ không ưa, tiếp tay cho các tổ chức phản động trong và ngoài nước chống phá Việt Nam. Song song với đó, một số nước phương Tây luôn dùng kết quả từ những số liệu báo cáo thiếu khách quan này phục vụ cho những cuộc mặc cả, chèn ép nước khác, trong đó nổi bật nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền để thực hiện ý đồ của họ.

Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác không chấp nhận việc một số quốc gia hay tổ chức quốc tế luôn tự cho mình cái quyền dùng các yêu cầu dân chủ, nhân quyền mà phương Tây tự đặt ra để đòi hỏi nước khác phải lấy đó làm tiêu chuẩn. Trong các tiêu chí để xếp hạng chỉ số dân chủ, EIU đưa ra các tiêu chí rất thiên vị kiểu “dân chủ phương Tây” như tỷ lệ tham gia chính trị, quyền tự do cá nhân, trong đó chủ đạo là vấn đề thể chế đa nguyên, đa đảng để rồi dễ dàng đi đến xếp hạng Việt Nam vào nhóm nước phi dân chủ, độc tài.

Trên thực tế, việc đưa ra các "giá trị phương Tây" cũng là khiên cưỡng. Chính tổ chức đa phương lớn nhất thế giới là Liên hợp quốc (LHQ) cũng luôn khẳng định, các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác. Hiến chương LHQ cũng nhấn mạnh: “Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia”. Quyền con người không thể đứng một mình tách rời, nó phải được đặt trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước đó.

Điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo). Tuyên bố Vienna đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... 

Dù luôn tự cho mình là dân chủ nhưng thực tế, các thiết chế dân chủ phương Tây đang áp đặt lên toàn cầu không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nó chỉ thuộc về các tập đoàn tư bản, nơi chỉ chiếm 1% dân số nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất và quyền lực. Tuy nhiên, EIU đã bỏ qua những yếu tố có tính lịch sử khác biệt và sự bất công hiển nhiên đang tồn tại ở chế độ tư bản khi xếp hạng.

Và chính họ, cùng với Tổ chức Theo dõi nhân quyền đưa ra các báo cáo này đang vi phạm nhân quyền thì lại tự cho mình quyền đánh giá dân chủ, nhân quyền của các nước khác. Câu chuyện ngụ ngôn về những ông thầy bói mù xem voi và thánh phán lung tung đã được tái hiện trong việc đánh giá dân chủ, nhân quyền của một số tổ chức phương Tây vừa nêu. Tuy nhiên, những ông thầy bói mù hình dung không đúng về con voi, là do họ bị mù; còn một số nhà dân chủ phương Tây năm nào cũng lăm le báo cáo nhân quyền, dân chủ, chõ miệng tanh hôi vào nội bộ nước khác, thì khác các ông thầy bói kia ở tâm địa hiểm độc. 

Đừng vô tình tiếp tay cho kẻ xấu

Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”.

Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”.

Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ. Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu?

Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”.

Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra.

Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp. Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”.

Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”.

Nghe con trai mình nói vậy, chú hàng xóm phấn khởi: “Thế là nó vẫn phân biệt được đúng-sai cháu nhỉ”.

Làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.

Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây là người đứng đầu tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên).

Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.

Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”! Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi, nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”: Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết điểm”.

Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý “không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh sửa quy chế thi đua-khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.

Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng...

Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để. 

“Bệnh giấu khuyết điểm” - chữa từ căn nguyên mới triệt để, hiệu quả!

“Bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Sở dĩ khẳng định như vậy vì Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ban hành từ tháng 10-2016 đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đồng thời yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, trong đó có “bệnh thành tích", che giấu khuyết điểm, thiếu thành khẩn...

Thế nhưng, hơn 5 năm trôi qua, “bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Thiết nghĩ, những ví dụ, bằng chứng, biểu hiện, cũng như hậu quả nghiêm trọng của “bệnh giấu khuyết điểm”-hầu hết chúng ta đều biết, bởi nếu không ở trong cuộc, trực tiếp chứng kiến thì cũng đã được đọc, được nghe hàng vạn bài nói, bài viết về bệnh này. Tiếp tục liệt kê ra đây lại mắc khuyết điểm viết dài, viết lại, kiểu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Nhưng có điều nguy hại đặc biệt mà “bệnh giấu khuyết điểm” gây ra cần thiết phải nhắc lại, đó là: Gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin nghiêm trọng-một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến hủy hoại uy tín, sức mạnh của tổ chức cũng như từng cá nhân, thậm chí sụp đổ cả chế độ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng khoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

“Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên trong chi bộ đều tốt”

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức năm 1966. Đây là sự đánh giá, khẳng định của Bác về bản chất, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, vai trò, mối liên hệ mật thiết giữa đảng viên và chi bộ trong giai đoạn Đảng ta phát động thực hiện cuộc vận động chi bộ “bốn tốt”, đảng bộ “bốn tốt” và đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của chi bộ, coi chi bộ là tế bào, là cơ sở của Đảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở; đảng viên là những người có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đó với tư cách vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân. Do vậy, xây dựng chi bộ tốt, đội ngũ đảng viên tốt là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; làm cơ sở, nền tảng xây dựng Đảng ta xứng đáng với trọng trách là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thực hiện lời Bác dạy, công tác xây dựng Đảng trong Quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm túc. Chất lượng sinh hoạt, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ không ngừng được nâng lên. Đội ngũ đảng viên trong Đảng bộ Quân đội phát triển cả số lượng và chất lượng, luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, của Quân đội; phát huy tốt tinh thần chủ động, sáng tạo, tự nguyện, tự giác, dám nghĩ, dám làm, gương mẫu trước bộ đội, được bộ đội tin yêu, thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong đơn vị.

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy...”

    “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, ngày 20-2- 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Mặc dù phải chỉ đạo kháng chiến nhưng Bác vẫn dành thời gian đi thăm và nói chuyện với cán bộ, nhân dân các địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hóa.

    Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là, cán bộ phải là mắt xích quan trọng, là dây chuyền của bộ máy, giúp cho bộ máy hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Người còn nhấn mạnh, khẳng định vị trí, vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, theo đó, cán bộ là cái gốc của mọi công việc và cái gốc của cán bộ chính là đạo đức cách mạng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng quần chúng không được giáo dục, không được tập hợp thành một khối thống nhất thì cách mạng cũng không đi đến thành công. Trách nhiệm của người cán bộ là người tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân và tập hợp quần chúng nhân dân thành một khối thống nhất mới tạo ra sức mạnh tổng hợp và đưa cách mạng đến thành công. Cán bộ còn là cầu nối, là dây chuyền của bộ máy, phải thực sự tận tâm, tận lực với công việc, thực sự là tấm gương trước quần chúng nhân dân, thực sự là công bộc của dân.

    Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, lời căn dặn của Bác: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn, là tư tưởng chỉ đạo trong công tác cán bộ của Đảng ta, đồng thời là yêu cầu, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ trong Quân đội nói riêng phải không ngừng học tập, tu dưỡng về phẩm chất, năng lực, thực sự là hạt nhân đoàn kết, gương mẫu, tiêu biểu về mọi mặt, tận tâm tận lực với công việc, là tấm gương sáng trong từng đơn vị để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Muốn thi đua có kết quả tốt, thì đầu óc cần phải suy nghĩ tìm tòi…

Lời trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong bài “Một công nhân gương mẫu”, đăng trên Báo Nhân dân, số ra ngày 29-3-1955, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc thắng lợi, nhưng cũng còn nhiều khó khăn, cùng lúc phải thực hiện cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, vì vậy cần phải có sự nỗ lực cố gắng, đẩy mạnh thi đua.

Người chỉ rõ: Muốn thi đua đạt kết quả tốt thì đầu óc phải suy nghĩ, tìm tòi và phải có sáng kiến thì mới thu được kết quả tốt, cũng như chân tay phải cần cù nhanh nhẹn, có như vậy kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.

Trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp cách mạng nước ta tuy đã đạt được những thành tựu to lớn sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Lời dạy của Người: “Muốn thi đua có kết quả tốt, thì đầu óc cần phải suy nghĩ tìm tòi…, cũng như tay chân phải cần cù nhanh nhẹn” vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục được Đảng, Nhà nước, các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội… hiện thực hóa thành các phong trào thi đua sâu rộng… Để thực hiện tốt nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, đòi hỏi nội dung, hình thức, phương pháp thi đua phải sát với yêu cầu thực tiễn của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân; từ phong trào nhỏ, quy mô nhỏ, tiến tới phong trào lớn và quy mô lớn.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thi đua có kết quả tốt, thì đầu óc cần phải suy nghĩ tìm tòi...” và “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển, yêu cầu cao; thời cơ, thuận lợi, khó khăn và thách thức đan xen. Điều đó đặt ra cho công tác thi đua phải tiếp tục đổi mới, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, thực sự là động lực thúc đẩy toàn quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

“Chỉ có những kẻ ngồi không mới không có sai lầm mà thôi”

“… Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không có sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không…” - Đó là đoạn trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.

Sau những sai lầm về cải cách ruộng đất, uy tín của Đảng ta phần nào bị giảm sút, Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở. Trước quốc dân đồng bào, Người không ngần ngại công khai khuyết điểm của Đảng, của Bác với tư cách người lãnh đạo cao nhất.

Quan điểm của Bác là cần công khai khuyết điểm, công khai để nhận lỗi, thêm quyết tâm sửa lỗi. Lịch sử đã chứng minh: Đảng ta ngày một lớn mạnh sau những lần công khai thừa nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm, để đề ra được những quyết sách lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên, giành được những thắng lợi mới.

Đối với mỗi người, nhất là đối với người cán bộ, đảng viên, nếu có trách nhiệm với tổ chức, gia đình, bản thân thì trách nhiệm đó phải được biểu hiện bằng chính việc làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình những trọng trách cụ thể, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không thể né tránh, thoái thác. Ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân là sự tự ý thức về các công việc phải làm, “nhận rõ phải, trái, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Trên cơ sở có ý thức đúng đắn, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm của mình là “có tinh thần trách nhiệm cao”. Phải dũng cảm, kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; nghiêm khắc tự phê bình, phê bình, thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm. Xây dựng, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, phấn đấu vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

          Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn phát huy tinh thần, trách nhiệm, ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn, triệt để chấp hành điều lệnh, điều lệ, không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy, thực hiện làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh. Trong tổ chức thực hiện, phải luôn đề cao và phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, lấy hiệu quả công việc làm căn cứ quan trọng, là thước đo đánh giá trình độ, năng lực, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.

"Cách mạng xanh" không thể nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của toàn dân

 

Những ý tưởng khoa học, nhân văn trong "Cách mạng xanh " ở Việt Nam chỉ có thể trơ rthành hiện thực khi nó được đặt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, vai trò Nhà nước Việt Nam XHCN . 

Thực tiễn đã chứng minh vai trò của Đảng, Nhà nước luôn dựa trên nền tảng Nhân dân, sức mạnh làm chủ của Nhân dân thì mới tạo thành sức mạnh tổng hợp để đưa cách mạng đi lên.

Nh. MLN

“Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một Quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ Quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.

Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới.

"Cách mạng xanh" và sự kỳ vọng về vấn đề thời đại

 

"Cách mạng xanh" rời xa nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin khi tác giả của nó nêu ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”, song, lại nhân danh Việt Nam kêu gọi thế giới ủng hộ và đi theo "Cách mạng xanh", lờ đi vấn đề cách mạng XHCN và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Nh.MLN


Dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa

Ngày 16-3-1946, tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các nước Trung Hoa dân quốc, Mỹ và Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ký bản Hiệp định sơ bộ với Chính phủ Cộng hòa Pháp. Theo đó, Chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, Quân đội, tài chính của riêng mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp;

Việt Nam chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật Bản, sau đó sẽ phải rút hết trong 5 năm. Sự chấp nhận và nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tình thế cụ thể đã làm cho cục diện quan hệ Trung Hoa dân quốc - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Cộng hòa Pháp thay đổi. Nhân dân Việt Nam có thêm thời gian hòa bình để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến mà theo nhận định của Đảng và Nhà nước thì tất yếu sẽ xảy ra.

Mặc dù bản Hiệp định sơ bộ tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam, nhưng dư luận các đảng phái quốc gia và thân nước ngoài như Việt Cách, Việt Quốc vẫn lên tiếng phản đối, một bộ phận nhân dân còn băn khoăn. Trước tình hình đó, ngày 16-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp với lòng mong muốn: “Quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc... Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng “dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày vắn tắt lập trường, đường lối chính trị của Đảng, Chính phủ trước đồng bào cả nước và động viên đồng bào cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu tính sự nghiệp lớn.

Trong thời điểm ngặt nghèo của dân tộc, việc ký Hiệp định sơ bộ là một quyết định sáng suốt, một sách lược mẫu mực trong đấu tranh ngoại giao, tận dụng thời cơ, nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày nay, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, thống nhất và vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập. Lịch sử quan hệ Việt - Pháp sau những thăng trầm, quanh co của quá khứ đã được khép lại và mở ra một chương mới với tình hữu nghị, hợp tác và phát triển. Những bài học thực tiễn trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là cơ sở vững chắc để một dân tộc luôn yêu tự do, hòa bình và công lý, cùng nhau kiên trì, đồng tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia, cũng như trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

“Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả”

 Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Malcolm Salmon, phóng viên Đông Nam Á của Báo Australia Tribune và Báo Guardian.

Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”.

Qua nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.   

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên hai miền Nam - Bắc đã dũng cảm bước vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, thực hiện mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành anh Giải phóng quân, Bộ đội Cụ Hồ, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập nhiều chiến công oanh liệt, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Hiện nay, tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần tiếp tục phát huy truyền thống cha anh, gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước đến thắng lợi.

"Cách mạng xanh" và những kỳ vọng về thể chế

 

"Cách mạng xanh" rời xa những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác- Lênin khi các tác giả của nó đưa ra nguyên tắc, phương châm “Cách mạng xanh không thể diễn ra cho tới khi Đảng có đường lối, chủ trương, chiến lược, Nhà nước quyết định chọn Cách mạng xanh và ủng hộ một cách vững chắc những tổ chức và doanh nghiệp tham gia”.

 Thực tiễn đã chững minh, Đảng ta, Nhà nước ta có đầy đủ các tiền đề, điều kiện để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo đẩm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Một trong những tiền đề, điều kiện đó là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Nh. MLN


Biến thể "deltacron" lai giữa delta và omicron có đáng lo ngại?

Biến thể lai mới, kết hợp từ cả hai biến thể omicron và delta của SARS-CoV-2, tạm gọi là "deltacron", đã được xác nhận thông qua giải trình tự bộ gen.

Mới đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dẫn thông tin từ các nhà khoa học tại IHU Méditerranée Infection ở Marseille, Pháp trong việc phát hiện thấy một tổ hợp Covid-19 mới, là kết hợp giữa hai biến thể SARS-CoV-2 phổ biến nhất hiện nay là delta và omicron.

Được biết, biến thể lai xuất hiện thông qua một quá trình gọi là tái tổ hợp - khi 2 biến thể của virus lây nhiễm đồng thời cho bệnh nhân, dẫn tới trao đổi vật chất di truyền để tạo ra một thế hệ con lai mới.

Các nhà khoa học nói rằng "xương sống" của biến thể "deltacron" đến từ biến thể delta, trong khi protein đột biến cho phép virus xâm nhập vào tế bào chủ có nguồn gốc từ omicron.

"Chúng tôi tìm thấy quá trình tái tổ hợp có thể xảy ra ở người hoặc động vật, với nhiều biến thể lưu hành của SARS-CoV-2", Tiến sĩ Soumya Swaminathan, nhà khoa học tại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh "cần phải đợi thêm các thí nghiệm để xác định rõ hơn về đặc tính của chủng virus này."

Maria Von Kerkhove, trưởng nhóm kỹ thuật tại WHO, cho biết thêm rằng cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy bất kỳ sự thay đổi nào về mức độ nghiêm trọng của biến thể mới so với các biến thể trước đây. Tuy nhiên so với các biến thể trước đó, chẳng hạn như delta và omicron, biến thể mới này dường như không dễ lan truyền.

Thông thường, các đột biến sẽ xảy ra đều đặn cho đến khi một đột biến đủ mạnh để trở thành một biến thể mới. Trong trường hợp này, có nhiều đột biến khác nhau xảy ra, có lẽ là một phương thức để tiếp tục sinh tồn của delta giữa làn sóng omicron.

TS. William Lee, Giám đốc khoa học tại Helix lên tiếng cảnh báo các trường hợp đồng nhiễm (nhiễm nhiều biến thể Covid-19 cùng lúc) có thể xảy ra thường xuyên hơn chúng ta tưởng, bởi đa số đều rất khó phát hiện.

Trong khi cho rằng mọi người có thể không cần lo lắng quá mức về "deltacron", TS. Lee lại cho rằng các nhà nghiên cứu có thể học hỏi được nhiều điều từ sự tiến hóa của biến thể mới nhất này.

"Đó là một hiện tượng thú vị, và nó giúp chúng ta hiểu thêm về cách thức tiến hóa của virus và cách mà đại dịch tiếp tục kéo dài", ông cho hay.

"Cách mạng xanh" - một cái nhìn chưa thực sự thực tế

 

"Cách mạng xanh" từ sự thiếu toàn diện trong thế giới quan, phương pháp luận đã dẫn đến xa rời thực tiễn và những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Rời xa nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin khi một số quan điểm này cho rằng “mọi thành phần hiện hữu của trái đất đều là của chung”. Thực tiễn chứng minh không có sở hữu chung chung. Mọi hiện hữu đều gắn với quốc gia, dân tộc, giai cấp.

Mơ hồ, xa rời thực tế, xa rời nguyên tắc của chủ nghĩa Mác- Lênin khi Tài liệu này cho rằng phương pháp cách mạng là “giác ngộ nhân dân”, “không sử dụng bạo lực vũ trang mà vận động, thuyết phục”, “hòa bình, giáo dục, thuyết phục”.... Thực tiễn đã chứng minh cách mạng không thể tiến lên nếu chỉ giáo dục, thuyết phục và đấu tranh nghị trường, không sử dụng sức mạnh của bạo lực cách mạng.

Nh. MLN

“Cách mạng xanh” và sự kỳ vọng về một cách nhìn tổng thể

 

 “Cách mạng xanh” mong muốn thể hiện cả thế giới quan, phương pháp luận và những vấn đề cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Các bài viết này đã tuyệt đối hóa vấn đề sinh thái, coi nhẹ vấn đề chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng;

Đánh giá thực trạng đất nước quá nhấn mạnh những hạn chế, tồn tại, không thấy hết những kết quả, thành tựu to lớn của cách mạng nước ta;

 Nhấn mạnh các chiến lược về năng lượng, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường. Các chiến lược về chính trị, QPAN, đối ngoại đã không được đề cập trong chiến lược phát triển;

 Nhấn mạnh vai trò của trí thức, doanh nghiệp, doanh nhân. Không đề cập tới vai trò của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác trong lực lượng cách mạng;

So sánh phiến diện về những nội hàm cơ bản trong Cách mạng xanh với Cách mạng XHCN và Xã hội XHCN...

Nh. MLN

“Cách mạng xanh” không phải là vấn đề mới

 


 “Cách mạng xanh” đã được ra đời, tồn tại trong những năm 50 và 60 thế kỷ XX trong lĩnh vực nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới với tư cách là một lý thuyết phát triển kinh tế nông nghiệp. Thế giới đã có nhiều tranh luận về cuộc cách mạng này.

 Điều khác trong Tài liệu “Cách mạng xanh” nhiều vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi của kinh tế nông nghiệp để mong muốn trở thành một lý thuyết phát triển xã hội hiện đại. Song với cách tiếp cận thiên lệch về sinh thái và kỹ trị nên “Cách mạng xanh” đã có nhiều kiến giải phiến diện, xa rời những nguyên tắc lý luận của chủ nghĩa khoa học và thực tiễn công cuộc xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Nh.MLN

"Cách mạng xanh"- Thực chất cách tiếp cận

 


Vừa qua, đã xuất hiện các bài viết về "Cách mạng xanh" đăng trên trên diễn đàn và trên một số phương tiện thông tin đại chúng. Các bài viết Tài liệu tiếp cận vấn đề "Cách mạng xanh" chủ yếu từ góc độ sinh thái, khoa học công nghệ của sự phát triển. Mặc dù các bài viết đã cố gắng nhắc đến những vấn đề chính trị, xã hội, nhưng, những vấn đề chính trị, xã hội đã bị chìm đi, mờ đi trong các quan điểm sinh thái, kỹ trị. Đây là một hình thức của thuyết sinh thái và "kỹ trị” trong cuộc các mang 4.0.

Nh.MLN