Thứ Hai, 14 tháng 3, 2022

Đừng vô tình tiếp tay cho kẻ xấu

 

Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”.

Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”.

Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ. Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu?

Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”.Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra.

Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp. Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”.

Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”. Nghe con trai mình nói vậy, chú hàng xóm phấn khởi: “Thế là nó vẫn phân biệt được đúng-sai cháu nhỉ”.

Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Âm mưu thâm độc

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Tác hại khôn lườngChúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.  

Học và làm theo Bác để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới

 Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Nghị quyết số 847 đã đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đó cũng chính là hai vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói tới ở những mức độ và hoàn cảnh khác nhau trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sáng lập và rèn luyện quân đội nhân dân Việt Nam.

Là một nhà văn hóa kiệt xuất, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, điển hình của nhân cách con người Việt Nam. Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện đậm nét, mang dấu ấn riêng, rất đặc thù và rất Hồ Chí Minh đó là văn hóa ứng xử.

Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc, phong phú, không chỉ trong các tác phẩm, các bài viết, mà còn toả sáng trong toàn bộ hành động và việc làm của Người, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ của đội quân cách mạng do chính Người sáng lập và rèn luyện có thể tự mình suy ngẫm, hướng tới, phấn đấu và làm theo.

Từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng: Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân, không thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, những quân nhân cách mạng nói riêng. Bởi đây là lực lượng chủ lực trên mặt trận xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân.

Nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc cán bộ quân sự trung cấp của quân đội (10-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Người cán bộ muốn tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có năm điều: Trí - Tín - Nhân - Dũng - Liêm. Ngoài ra, phải biết tự phê bình và phê bình, phải thật thà đoàn kết và biết giữ kỷ luật” (1).

Người thường xuyên cảnh báo những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc nội tâm, giặc trong lòng, trong mỗi con người: Đó không chỉ là “tham ô hủ hóa... chỉ biết mình, không biết đến quần chúng. Là chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở”, “vô kỷ luật, thiếu kiên quyết chấp hành mệnh lệnh. Do đó mà đáng lẽ thắng to thì chỉ giành được thắng nhỏ và thắng rồi không phát triển được”, “thiếu tin tưởng, không quyết tâm khắc phục khó khăn” (2), đó còn là “tư tưởng công thần,.. sinh ra kiêu ngạo, kèn cựa, địa vị”, “lo lắng tiền đồ bản thân”, “đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ”(3).

Không chỉ dừng ở cảnh báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp để “gột rửa” những thói hư, tật xấu này, để ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân nảy nở, sinh sôi trong mỗi người quân nhân cách mạng. Đó là phải “học tập chính trị quân sự, phê bình và tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, trau dồi đạo đức cho chóng tiến bộ” (4). Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”( 5).

Thương yêu con người là mục đích, là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là điểm nổi bật trong văn hóa ứng xử qua các hành vi, hành động cụ thể của Người. Đối với mỗi con người chúng ta, lòng nhân ái là một phẩm chất không thể thiếu được.

Đối với quân đội cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” như quân đội nhân dân Việt Nam, yếu tố này lại càng có ý nghĩa cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Là quân đội của cách mạng rồi, cán bộ, chiến sĩ phải đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”( 6). Người còn đặc biệt nhấn mạnh, người lãnh đạo, chỉ huy quân đội phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Thương yêu cán bộ, chiến sĩ chính là ở thái độ thưởng phạt công minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt, “chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”( 7).

Trong một lần nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 đoàn Tam Đảo, bộ đội phòng không - không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bác thấy có nơi còn có hiện tượng cán bộ cáu kỉnh với chiến sĩ, như vậy không tốt. Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe” ( 8). Hay trong thư gửi Hội nghị quân y, Người chỉ dẫn các thầy thuốc quân đội rằng: “Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ”. ( 9).

Năm 1948, biết Khu trưởng Chiến khu 4 là Nguyễn Sơn còn suy nghĩ về việc nhận quân hàm Thiếu tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho ông bì thư đề “Thân gửi Sơn đệ - Ký tên: “Người anh họ Nguyễn”. Bên trong thư là tấm thiếp Người thường dùng cùng vẻn vẹn 12 chữ tiếng Hán: “Đảm dục Đại, Tâm dục Tế, Trí dục Viên, Hạnh dục Phương” ( 10) lấy từ 12 chữ đầu trong câu nói của Tôn Tử Mạo thời Đường, Trung Quốc.

Có điều, rất hiểu Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay chữ “tiểu” trong nguyên bản bằng chữ “tế” (Tiểu là nhỏ nhưng chữ tế còn nhỏ hơn nhiều (tế nhị). Khi tế đi với đại còn có nghĩa là bao dung, rộng lượng). Nhận được tấm thiếp, Nguyễn Sơn đã hiểu ngay được thâm ý của vị Chủ tịch nước, một người Anh lớn.

Bốn câu ngắn gọn, vừa là lời chúc, vừa là lời khuyên, không khác châm ngôn hướng tới một nhân cách lớn, không phải riêng với Tướng Nguyễn Sơn, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi người ở mọi nơi, mọi lúc. Rõ ràng ở đây, trong cách ứng xử, từ lời nói cho tới việc làm, luôn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao một chữ “tình”. Đó chính là tình giữa lãnh đạo với cán bộ, tình giữa đồng chí với nhau, tình giữa bản thân với công việc.

Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong ứng xử, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực buộc mọi người phục tùng. Phong cách làm việc tập thể và dân chủ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước của Hồ Chí Minh.

Và Người yêu cầu những người làm tướng, các cấp chỉ huy quân đội phải thấu triệt nguyên tắc này như trong bức Mật điện số 947/TRT gửi Trung tướng Nguyễn Bình, Người viết: “Riêng tôi gửi lời dặn chú mọi việc phải cẩn thận bàn bạc với anh em Ủy ban kháng chiến hành chính và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta” ( 11).

Như trong bài báo Jai Hồ (tuần báo Ấn Độ Ánh điện, số ra ngày 13-9-1969) viết: “Cá nhân Cụ có một sức hấp dẫn đặc biệt không gì so sánh được, không những đối với nhân dân nước Cụ, mà còn đối với tất cả những ai không mang nặng đầu óc thù hằn hay thành kiến”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục mọi người bằng đạo đức và phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương vừa có tính nguyên tắc, khoa học vừa mang chở giá trị nhân văn sâu sắc. Hơn bao giờ hết, càng ôn lại những tư tưởng, những lời căn dặn của Người, chắt lọc lại những câu chuyện về Bác, mỗi câu chuyện có những ý nghĩa khác nhau, mỗi cán bộ chiến sĩ thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 14/3/1954: “Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang. Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” . Lời kêu gọi được đăng trên báo Quân đội nhân dân, xuất bản tại mặt trận, số 131, ngày 14 tháng 3 năm 1954, vào thời điểm chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vừa mở màn (ngày 13 tháng 3). Ngay trong trận mở màn, quân ta đã giành được thắng lợi quan trọng, với đòn tiến công tiêu diệt cứ điểm phòng thủ vòng ngoài Him Lam, đồng thời phát triển sâu vào trung tâm đề kháng của quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Lời kêu gọi có tác động mạnh mẽ, động viên kịp thời tinh thần của các cán bộ, chiến sĩ để họ khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, tiến lên phá vỡ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành mục tiêu độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Hiện nay, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cả nước vững bước đi lên hội nhập sâu rộng với nền kinh tế, chính trị thế giới, thì ý nghĩa lời kêu gọi của Bác vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở mọi cán bộ, chiến sĩ dù trên bất kì cương vị nào, công việc gì phải luôn quán triệt tinh thần “thắng không kiêu, bại không nản”, không ngừng phát huy thành công, nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp công, góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong giai đoạn mới, tình hình thế giới, khu vực tác động đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đặt ra yêu cầu phải tập trung xây dựng Quân đội nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tổ chức biên chế hợp lý, có trang bị từng bước hiện đại, đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc XHCN. Duy trì nghiêm các chế độ SSCĐ, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển và hải đảo; tăng cường hơn nữa công tác quản lý biên giới; quan tâm nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân trong điều kiện mới.

Đừng lợi dụng sự kiện Ucraina để xuyên tạc Việt Nam trong quan hệ quốc tế


Lập trường của Việt Nam về vấn đề ở Ukraine là hết sức nhất quán, rõ ràng. Vậy mà mấy ngày qua, trên một số trang báo mạng ở hải ngoại và mạng xã hội của một vài tổ chức, cá nhân vốn lâu nay thiếu thiện chí với Việt Nam người ta bàn tán, đưa ra những lời bình sai trái. Thực chất đó là những luận điệu nằm trong mưu đồ lợi dụng sự kiện ở Ukraine để nói xấu, chia rẽ mối quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.

DẤU ẤN LỊCH SỬ

 


 

Chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm, các thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao công sức, máu xương để xác lập chủ quyền, giữ gìn lãnh thổ, các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Cách đây hàng trăm năm, những người con ưu tú của nước Việt Nam đã vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ, xả thân giữa biển khơi mênh mông vì chủ quyền đất nước. Những câu ca lưu truyền trong dân gian tới hôm nay, như: "Hoàng Sa đi có về không - Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi" là minh chứng cụ thể nhất cho sự quả cảm và các kỳ tích mà họ đã lập nên.

Để rồi, tinh thần quả cảm, quyết tâm vô hạn, dũng cảm phi thường lại được thế hệ sau nối tiếp. Ngày 14/3/1988, 64 người lính bảo vệ đảo Gạc Ma, trong cuộc chiến không cân sức, một bên chỉ có cuốc xẻng, súng AK giữa mênh mông biển khơi, một bên là tàu lớn, súng to, đã vĩnh viễn nằm xuống dưới làn mưa đạn. 64 người lính đã tỏ rõ lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trong giờ phút sinh tử, giữa họng súng quân thù, các chiến sĩ đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Họ dặn nhau: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân anh hùng” (câu nói của Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương). Câu nói ấy không chỉ thể hiện khí phách anh hùng, mà còn là tư thế của người làm chủ thực sự biển đảo dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là một tuyên ngôn bất tử về Trường Sa - tuyên ngôn của thế hệ trẻ hôm nay không sợ hy sinh, gian khổ, quyết đem cả tính mạng của mình bảo vệ từng tấc đất, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

34 năm đã trôi qua, sự hy sinh kiên cường của 64 chiến sĩ Hải quân mãi mãi là bản hùng ca bất tử. Bản anh hùng ca ấy đang được thế hệ những người lính Trường Sa tiếp bước, tuổi trẻ cả nước noi gương và Nhân dân trên mọi miền Tổ quốc đời đời ghi nhớ.St.

 

 

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 14/3/1954

 


“Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang. Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” . Lời kêu gọi được đăng trên báo Quân đội nhân dân, xuất bản tại mặt trận, số 131, ngày 14 tháng 3 năm 1954, vào thời điểm chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vừa mở màn (ngày 13 tháng 3).

Ngay trong trận mở màn, quân ta đã giành được thắng lợi quan trọng, với đòn tiến công tiêu diệt cứ điểm phòng thủ vòng ngoài Him Lam, đồng thời phát triển sâu vào trung tâm đề kháng của quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Lời kêu gọi có tác động mạnh mẽ, động viên kịp thời tinh thần của các cán bộ, chiến sĩ để họ khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, tiến lên phá vỡ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành mục tiêu độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc.

Hiện nay, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cả nước vững bước đi lên hội nhập sâu rộng với nền kinh tế, chính trị thế giới, thì ý nghĩa lời kêu gọi của Bác vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở mọi cán bộ, chiến sĩ dù trên bất kì cương vị nào, công việc gì phải luôn quán triệt tinh thần “thắng không kiêu, bại không nản”, không ngừng phát huy thành công, nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp công, góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong giai đoạn mới, tình hình thế giới, khu vực tác động đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đặt ra yêu cầu phải tập trung xây dựng Quân đội nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tổ chức biên chế hợp lý, có trang bị từng bước hiện đại, đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc XHCN. Duy trì nghiêm các chế độ SSCĐ, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển và hải đảo; tăng cường hơn nữa công tác quản lý biên giới; quan tâm nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân trong điều kiện mới. St

 

HIỆU LỆNH

 Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân: Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. St

KHÔNG MỘT AI BỊ LÃNG QUÊN VÀ KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP QUÊN LÃNG!


Thời gian có dài bao nhiêu, lịch sử có đổi thay thế nào, thì cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày 14/3/1988 vẫn thức tỉnh trái tim người Việt về nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Đảo Trường Sa là của Việt Nam, là linh hồn Tổ quốc Việt Nam - nơi đây, bao người con ưu tú của Tổ quốc đã chiến đấu anh dũng, hy sinh, giành giật từng tấc đảo và bảo vệ những phiến đá kiến tạo qua hàng nghìn năm lịch sử được cha ông ta giữ gìn từ lâu đời. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh đã giằng co quyết liệt, cắm cờ Tổ quốc lên đảo để khẳng định cột mốc chủ quyền. Trước lúc hy sinh, Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô vang quyết tâm "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân chủng Hải quân". Các anh đã gác lại bao ước mơ, hoài bão và dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ những cột mốc tiền tiêu. Máu các anh lẫn vào biển xanh, xương của các anh đã thấm vào lòng đảo, tên các anh được đời đời thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ!

34 năm đã trôi qua, 64 linh hồn liệt sĩ vẫn lạnh cóng nằm tận biển sâu – mãi mãi là bài học nêu cao tinh thần cảnh giác, mài sắc ý chí, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, bài học lớn nhất trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo là luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cao độ với mưu đồ thôn tính chủ quyền Biển Đông của các thế lực. Xác định bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng của toàn dân, mà chủ lực là của bộ đội Hải quân.

34 năm qua, bằng những hành động tri ân khác nhau, lớp lớp các thế hệ người Việt Nam luôn nhớ đến sự hy sinh đến các anh, Gạc Ma - Trường Sa luôn là một phần cuộc sống và sẽ mãi mãi trong tim người Việt Nam. Ngày 14/3 hàng năm, mỗi người Việt Nam lại thầm nhắn gửi lời tri ân tới những con người quả cảm, những con người đã anh dũng hy sinh cả tuổi trẻ và tính mạng của mình vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc … Đó là tâm niệm, là trách nhiệm để nhắc nhở con cháu phải luôn gìn giữ biển đảo quê hương, và lòng biết ơn trước sự hy sinh anh dũng của 64 chiến sĩ Hải quân cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc mà tấm gương của những anh hùng liệt sĩ ấy còn là bài học lịch sử bằng máu không bao giờ được lãng quên.St.

  

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

“... PHẢI ĐẶT LỢI ÍCH CỦA ĐẢNG LÊN TRÊN HẾT”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12/1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).
Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.

AI ĐANG THEO ĐUỔI CHỦ NGHĨA CƯỜNG QUYỀN?

Phát biểu tại ĐHĐ LHQ ngày 1/3/2022, Trưởng phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại LHQ, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh “Việt Nam thấy rằng chiến tranh và xung đột thường xuất phát từ các học thuyết lỗi thời về chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế”. Vậy ai hay bên nào theo đuổi những học thuyết lỗi thời về cường quyền? 

Nguyên nhân sâu xa của cuộc xung đột Nga-Ukraine là sự cạnh tranh quyết liệt giữa Mỹ và Nga được thể hiện trong học thuyết địa chính trị của Halford John Mackinder được công bố vào năm 1904. Trong học thuyết này có một định đề cơ bản là, bất kỳ quốc gia nào theo đuổi mục tiêu giành quyền bá chủ thế giới thì nhất thiết phải chiếm được một vùng đất nằm ở trung tâm lục địa Âu-Á và ông gọi đó là “trái tim của thế giới” (Heartland). Vùng đất này trùng với lãnh thổ của nước Nga.

Học thuyết địa-chính trị của Halford John Mackinder được giới tinh hoa chính trị ở Washington sử dụng làm cơ sở để xây dựng chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm mục tiêu giành quyền bá chủ thế giới. Theo các tài liệu đã được giải mật, các tập đoàn tài phiệt Mỹ đứng đằng sau gây ra Chiến tranh thế giới I, Chiến tranh thế giới II và Chiến tranh Lạnh nhằm xóa sổ Liên Xô. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược làm tan rã nước Nga mặc dù quốc gia này đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đi theo con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Chính vì thế, NATO vẫn tiếp tục mở rộng từ 15 thành viên thời Chiến tranh Lạnh thành 30 quốc gia, đồng thời đưa căn cứ quân sự tới sát biên giới Nga.

Tham dự và đọc tham luận tại Hội nghị an ninh quốc tế Munich năm 2007, Tổng thống Nga V.Putin tuyên bố học thuyết địa-chính trị làm cơ sở cho trật tự thế giới đơn cực sau Chiến tranh Lạnh đã hoàn toàn lỗi thời trong một thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Ông nhận định: “Rõ ràng là, tiến trình mở rộng khối NATO hoàn toàn không liên quan đến việc hiện đại hóa liên minh này hoặc việc bảo đảm an ninh ở châu Âu. Ngược lại, quá trình mở rộng đó đang làm giảm bớt mức độ tin cậy lẫn nhau. Chúng tôi hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi thẳng thắn: sự mở rộng NATO nhằm chống ai? Liệu những cam kết mà các đối tác phương Tây đưa ra sau khi giải thể Hiệp ước Varsava có còn giá trị gì nữa hay không? Những tuyên bố này còn có giá trị không?”.

Phớt lờ cảnh báo của Tổng thống V.Putin, Hội nghị thượng đỉnh NATO năm 2008 quyết định sẽ kết nạp Ukraine và Gruzia.

Trong dự thảo Hiệp ước an ninh Mỹ-Nga và Hiệp định an ninh NATO-Nga do Nga đề xuất ngày 15/12/2021, phía Nga đề ra nhiều yêu cầu nhằm xây dựng cấu trúc an ninh chung công bằng và bền vững ở châu Âu, trong đó có yêu cầu then chốt là Mỹ không được kết nạp Ukraine. Mỹ và NATO gửi thư trả lời Nga bác bỏ yêu cầu này với lập luận Ukraine có quyền tự do lựa chọn liên minh mà không ai có thể ngăn cản. Đáp trả, Tổng thống Nga V.Putin cho biết, trong quan hệ quốc tế có một nguyên tắc rất cơ bản xác định rằng mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn liên minh để bảo đảm an ninh cho mình nhưng không được làm phương hại đối với an ninh của các quốc gia khác. Nghĩa là, việc lựa chọn liên minh không phải là nguyên tắc vô điều kiện mà là có điều kiện.

Tổng thống V.Putin còn cho biết thêm, nếu Mỹ bác bỏ yêu cầu chính đáng này của Nga thì Moscow sẽ thực thi các biện pháp quân sự và kỹ thuật-quân sự cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia cho mình. Hiện nay, tuy Ukraine chưa phải là thành viên NATO nhưng Mỹ đã bố trí căn cứ quân sự, tiến hành nhiều cuộc tập trận trên lãnh thổ quốc này với kịch bản chống Nga. Ngoài ra, chiến lược quân sự của Ukraine và Mỹ đều xác định Nga là “kẻ thù”, là “đối tượng tác chiến”. Học thuyết quân sự của Ukraine còn xác định, với sự giúp đỡ về quân sự của NATO sẽ “giải phóng Crimea”. Ngoài ra, mục tiêu diệt chủng đối với nước Nga đã trở thành quốc sách của chính quyền Kiev.

Trong cuộc họp báo chung với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Điện Kremlin ngày 8/2/2022, Tổng thống V.Putin nêu ra tình huống: “Trong các văn kiện học thuyết và chiến lược của Ukraine hiện nay chính thức xác định chủ trương sẽ sử dụng sức mạnh quân sự để thu hồi Crimea mà hiện nay đã vĩnh viễn thuộc chủ quyền của Nga. Một khi Ukraine gia nhập NATO và được liên minh này cung cấp vũ khí hiện đại, chính quyền Kiev sử dụng sức mạnh quân sự để đánh chiếm Crimea. Khi đó, Nga sẽ phải đáp trả và đương nhiên sẽ bùng nổ chiến tranh Nga-NATO. Liệu đã có ai nghĩ đến tình huống này?”.

Như vậy, trong cuộc xung đột Nga-Ukraina hiện nay, chính Mỹ và NATO toan tính sử dụng sức mạnh quân sự để thực thi một học thuyết địa-chính trị đã hoàn toàn lỗi thời, còn Nga buộc phải đáp trả không chỉ để bảo đảm an ninh cho chính mình mà còn là để hóa giải hiểm họa một cuộc chiến tranh lớn giữa Nga và NATO ở châu Âu.

Thế giới càng đổi thay càng phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Những nhận định của Phạm Trần trong bài viết “Lý do sinh viên, cán bộ chán học Mác và học đảng” đăng trên trang Danlambao ngày 28/2/2022 không phải là sự thật. Và đương nhiên, đối với một cán bộ, đảng viên và sinh viên trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện và nhà trường (đại học, cao đẳng), thì chắc chắn học lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (môn lý luận chính trị) không phải là để nhằm mục đích thăng quan, tiến chức và cũng không phải học cho đủ các điều kiện. Đồng thời, sự thật là không phải toàn bộ cán bộ, đảng viên và sinh viên đều “lười” học các môn lý luận; đều “đã chán đến tận cổ việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ép buộc họ phải học Mác, học Bác và học môn Lịch sử đảng” và nghị quyết của Đảng như Phạm Trần quy kết.


Nói ngắn gọn vậy để thấy rằng, sự suy diễn và quy chụp của Phạm Trần mang tính chủ quan; không phản ánh đúng bản chất của vấn đề mà chính là công kích chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thật của vấn đề này chính là:


Thứ nhất, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ của mỗi người cán bộ, đảng viên và của mỗi sinh viên trên hệ thống giảng đường đại học, cao đẳng. Học, hiểu sâu sắc và quán triệt Nghị quyết của Đảng và các môn lý luận chính trị là nhằm trung thành và kiên định lý tưởng cách mạng; nâng cao bản lĩnh chính trị và chủ động phòng, tránh, đấu tranh và ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Cũng có một sự thật cần phải khẳng định là, nếu chỉ học các môn thuộc về “chuyên môn” mà không học các môn lý luận chính trị thì chắc chắn những người này (dù là cán bộ, đảng viên hay sinh viên) cũng sẽ thấy mình đang thiếu một hệ thống tri thức, những quan niệm của con người về thế giới và về vị trí của chính mình trong thế giới đó. Bởi rằng, chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ giúp người học có được thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và phương pháp luận khoa học. Học tư tưởng Hồ Chí Minh là để bồi dưỡng, củng cố cho người học lý tưởng cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin; để rèn luyện đạo đức cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, sống và làm người cách mạng liêm chính…


Thế giới càng đổi thay, xung đột vũ trang xảy ra và mọi khó khăn, thách thức càng diễn tiến khó lường, thì mỗi người cán bộ, đảng viên, mỗi sinh viên càng cần phải học tập, quán triệt, thấm nhuần các nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để: 1) Kiên định lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ mùa Xuân năm 1930 (trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng); 2) Chủ động phòng và chống, đấu tranh và bảo vệ nhằm phê phán những quan điểm sai trái về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi liền với việc phòng và chống sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị; 3) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống, để kịp thời giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách khách quan, logic, biện chứng.


Cho nên, việc học các môn lý luận chính trị chắc chắn không phải là “học Mác, học Bác và làm theo lý thuyết suông của đảng không làm ra tiền nuôi thân bằng học chuyên môn và học nghề” như Phạm Trần tự suy diễn.


Thứ hai, nói đúng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, thì lười học Nghị quyết của Đảng và các môn lý luận chính trị chính là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị. Bất cứ cán bộ, đảng viên hay sinh viên nào có biểu hiện “lười” học như đã nêu đều là những người mắc phải một trong 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết đã chỉ ra.


Không phủ nhận rằng cũng có những người đi học lý luận chính trị chỉ là hợp lý hóa các điều kiện cần thiết để nhằm mục đích tiến thân (đề bạt, bổ nhiệm, cất nhắc, thăng tiến), chứ không phải là “học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[1] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Tuy nhiên, đó chỉ là một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên suy thoái về tư tưởng chính trị, chứ không phải là toàn thể cán bộ, đảng viên, sinh viên, cho nên việc suy diễn chủ ý này của Phạm Trần cần phải nhận diện rõ, đúng để vạch trần thủ đoạn chống phá tinh vi này.


Thực tế, trong những nhiệm kỳ gần đây, cùng với việc tăng cường xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cấp ủy các cấp từ Trung ương đến địa phương đều triển khai saau rộng việc gắn học tập Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định về nêu gương; trong đó, chú trọng việc nhận diện, chỉ ra và phòng chống các biểu hiện suy thoái để kịp thời khắc phục, ngăn chặn.


Do đó, thông qua tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, việc đánh giá đúng thực trạng có một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên “lười”, đi học chỉ cho “có mặt”, “không hào hứng” học Nghị quyết Đảng và các môn lý luận chính trị đã được chỉ ra trong các báo cáo công tác Đảng của mỗi cấp ủy, trong các bài viết đăng tải trên các trang Tuyengiao.vn; qdnd.vn; xaydungdang.org.vn… Việc chỉ ra hạn chế này không chỉ nhằm mục đích nhận diện rõ những biểu hiện suy thoái của những cán bộ, đảng viên, sinh viên, chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan, để kịp thời rút kinh nghiệm mà còn đề ra giải pháp thiết thực hơn, hữu hiệu hơn nhằm nâng cao chất lượng việc học tập Nghị quyết Đảng và các môn lý luận chính trị.


Đương nhiên, để nâng cao chất lượng của việc học nghị quyết của Đảng; giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị, thì việc phải đồng thời thời hiện các nhóm giải pháp; trong đó quan trọng nhất là phải nâng cao nhận thức của từng cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên và sinh viên về vị trí, vai trò quan trọng và sự cần thiết trong học tập nghị quyết, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là phải tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”…


Đồng thời, việc khắc phục tình trạng lười, ngại, học chiếu lệ các môn lý luận chính trị; khắc phục hiện tượng “khô Đoàn, nhạt Đảng” đã, đang và tiếp tục được đẩy mạnh trong công tác giảng dạy; trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên dạy các môn lý luận chính trị giỏi về chuyên môn, gương mẫu về đạo đức;  trong quá trình đổi mới khung chương trình học… Thực tế, những kết quả tích cực đạt được thì Phạm Trần không ghi nhận, không trích dẫn, song những kết quả đó cho thấy những gì mà Phạm Trần nêu ra trong bài viết chỉ là sự cóp nhặt các phần đánh giá hạn chế, chỉ là sự gom góp, suy diễn theo chiều hướng tiêu cực nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.


Nói tóm lại: Phạm Trần không ít lần xuyên tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng từ những góc độ khác nhau, bằng những chiêu trò khác nhau và cũng không ít lần suy diễn chủ quan từ những đoạn cắt cúp các bài viết theo định kiến cá nhân. Tuy nhiên, có thể khẳng định với Phạm Trần nói riêng, các thế lực thù địch chung rằng, thế giới có đổi thay thì chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn trường tồn bởi giá trị khoa học, lý luận và tính ứng dụng trong thực tiễn.


Cho nên, càng khó khăn, thử thách, Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ, đảng viên và sinh viên cùng mọi người dân Việt Nam càng kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng; càng nhận rõ sự thật được ẩn giấu sau những lời bịa đặt, công kích của Phạm Trần: “Đảng đã độc tài cai trị đất nước mà không do dân bầu lên, đồng thời cưỡng chế nhân dân phải chấp nhận Chủ nghĩa ngoại lai Cộng sản Mác-Lênin”, đã “ép buộc học tập về Mác, về Đảng để “quá độ” lên Chủ nghĩa Xã hội không tưởng ở Việt Nam” chính là âm mưu đòa xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng. Đồng thời, mỗi người dân Việt Nam cũng hiểu rõ rằng, những yêu cầu phải thực thi “tự do báo chí, tư tưởng; tự do lập hội; tự do hội họp; tự do biểu tình và tự do tín ngưỡng, tôn giáo” theo kiểu dân chủ ở phương Tây cũng chính là một trong những chiêu trò núp bóng “dân chủ” mà Phạm Trần ưa dùng, nên không bao giờ mắc bẫy!.

Hải Đăng ST 

VẬN MỆNH QUỐC GIA KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO LÁ PHIẾU

 

Nhiều kẻ đang nhầm tưởng: vị thế hay thậm chí "vận mệnh quốc gia" của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng, tác động từ "lá phiếu". Xin thưa:

Trong cuộc xung đột giữa Nga – Ukraine, Việt Nam không chọn bên mà chỉ chọn lẽ phải. Bởi rằng hơn quốc gia nào khác, Việt Nam hiểu giá trị của hòa bình, hiểu được tính đúng - sai trong các mối quan hệ quốc tế, hiểu được rằng cuộc chiến giữa các phe phái chưa bao giờ đem lại lợi ích thực sự cho quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia đã phải trải qua rất nhiều gian nan, vất vả để trở thành một quốc gia độc lập, hòa bình như ngày nay. Việt Nam từng chịu sự chia tách lãnh thổ, từng chịu hàng trăm năm chiến tranh, từng chịu bao vây cấm vận, từng bị lên án oan ức giữa nghị trường Liên hợp quốc….

Vậy nên đừng bao giờ đem bất cứ hoạt động nào từ cuộc xung đột hiện tại giữa Nga - Ukraine để so sánh, để tạo cớ bỉ bôi, chì chiết hoặc tệ hơn là xuyên tạc, bôi đen... Lá phiếu của Việt Nam thể hiện quan điểm mong muốn các bên kiềm chế tối đa, đi đến chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, đàm phán trên tất cả các kênh để đạt được giải pháp lâu dài, có tính đến lợi ích của các bên, trên cơ sở Hiến chương của Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Vận mệnh, vị thế quốc gia phải do chính người dân của quốc gia đó quyết định và đạt được bằng bản lĩnh, trí tuệ chứ lệ thuộc vào mấy lá phiếu quyết định vận mệnh của mình thì cũng không đáng được tồn tại./.

                                                                                                            <Hoa Xuân>

Lưu ý khi uống Molnupiravir trên người có bệnh nền

    Trong bản cập nhật gần đây nhất của WHO về việc sử dụng hướng dẫn điều trị COVID-19 đã đưa ra các khuyến nghị sử dụng có điều kiện thuốc kháng virus Molnupiravir.

    Khuyến nghị này của WHO được dựa trên dữ liệu từ 6 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 4.796 bệnh nhân tham gia cho thấy ở những bệnh nhân mắc COVID-19 nhẹ đến trung bình, Molnupiravir có thể làm giảm thời gian nhập viện, giảm thời gian triệu chứng của bệnh và có thể làm giảm tỷ lệ tử vong.

    Theo khuyến nghị trên, việc điều trị bằng molnupiravir được thực hiện cho những bệnh nhân mắc COVID-19 ở mức độ nhẹ đến trung bình và có yếu tố nguy cơ nhập viện cao bao gồm: người chưa tiêm đủ liều vaccine phòng COVID-19, người già, người bị suy giảm miễn dịch và /hoặc có các bệnh mãn tính (ví dụ: bệnh tiểu đường, tim mạch, tăng huyết áp). Liều khuyến cáo cho molnupiravir là uống 800 mg mỗi 12 giờ mỗi ngày trong 5 ngày.

Lưu ý khi uống Molnupiravir trên người có bệnh nền - 1

Liều khuyến cáo cho molnupiravir là uống 800 mg mỗi 12 giờ mỗi ngày trong 5 ngày.

    Do đó, các bệnh nhân có bệnh nền như ung thư đang điều trị, bệnh thận mạn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD, béo phì (BMI≥25), bệnh tim mạch (suy tim, bệnh mạch vành, bệnh cơ tim) hay tiểu đường,…nên dùng thuốc càng sớm càng tốt trong thời gian mắc bệnh hoặc dùng trong vòng 5 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng.

    Quan trọng hơn, bệnh nhân cần tiếp tục duy trị thuốc điều trị bệnh nền ngay cả khi đang dùng Molnupiravir bởi điều này cần thiết để ổn định toàn trạng cũng như giảm nguy cơ tiến triển nặng. Hiện tại, chưa ghi nhận tương tác có hại giữa Molnupiravir và các thuốc khác.

    Ngoài ra, khi đã khỏi COVID-19 thì bệnh nhân cần tiếp tục thực hiện 5K để tránh tái nhiễm. Vì vẫn có thể tái nhiễm một biến thể khác của virus SARS-CoV-2 hoặc sau nhiều tháng khả năng bảo vệ của kháng thể đã giảm sút.

Ứng phó với biến thể mới của SASR-CoV-2 như thế nào?

Các chuyên gia khuyến cáo, thực hiện các biện pháp dự phòng theo hướng dẫn của Bộ Y tế và tiêm vaccine là những biện pháp hữu ích nhất đến thời điểm hiện tại để phòng COVID-19 hoặc làm chậm lại khả năng mắc bệnh, giảm tỉ lệ bệnh nhân nặng, tỉ lệ tử vong.

Chưa thể chắc chắn về mức độ nguy hiểm của biến thể mới

Theo Bộ Y tế, đến nay dịch bệnh cơ bản đang được kiểm soát trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trong số ca mắc mới thì nhóm chưa tiêm vaccine tăng nhiều hơn so với những người đã tiêm, nhất là nhóm trẻ dưới 12 tuổi (trong tháng 1 chiếm 18,4% số ca mắc, tháng 2 là 24,3%).

Đặc biệt, biến thể Omicron có xu hướng gia tăng lây nhiễm nhanh trong thời gian gần đây ở nhiều tỉnh thành, nhất là Hà Nội và TP HCM. Biến thể Omicron đang thay thế dần biến thể Delta.

Tại Hà Nội, biến thể Omicron đã ghi nhận ở 20/30 quận, huyện. Kết quả giải trình tự gen ngẫu nhiên từ ngày 4/12/2021 đến 1/3/2022 cho thấy, 85% số mẫu bệnh phẩm của các ca dương tính (93/109 mẫu) mang biến thể Omicron. Trong đó, chiếm ưu thế là biến thể phụ BA.2 của Omicron (86/93 mẫu). Tại TP HCM, Omicron cũng chiếm tới 76% số mẫu có kết quả giải trình tự gen. Các chuyên gia dự báo, trong thời gian tới, số mắc COVID-19 sẽ tiếp tục tăng do khả năng lây nhiễm cao của biến chủng Omicron.

Không nên phân biệt biến thể nào gây bệnh nặng nhẹ hơn

Theo đại diện Cục Y tế dự phòng, virus SARS-CoV-2 đã liên tục biến đổi và ghi nhận các biến thể mới như Alpha, Delta, Omicron. Thời gian gần đây, trong các biến thể cũng liên tục xuất hiện các biến thể phụ, trong đó có các biến thể phụ của biến thể Omicron. Điều đáng nói là các biến thể này có thể “né” được miễn dịch, gây tái nhiễm, do đó tỉ lệ mắc tại các quần thể cảm nhiễm là rất khó xác định và chưa có tính ổn định.

Đến nay, WHO vẫn coi COVID-19 ở trong tình trạng đại dịch và quan ngại tiếp tục có các biến thể không lường trước được của virus SARS-CoV-2. Nhiều nước trên thế giới vẫn có diễn biến dịch bệnh phức tạp, vì vậy chúng ta vẫn cần duy trì các hoạt động ứng phó với đại dịch ở mức cao.

Hiện biến thể Omicron có thuận lợi là gây bệnh nhẹ, tỉ lệ chuyển nặng ít, nhưng mức độ lây lại rất nhanh. Chúng ta chưa thể lường trước được những thay đổi của virus này. Bên cạnh đó, hệ thống y tế của chúng ta cũng có mức độ đáp ứng nhất định, nếu số ca tăng quá nhanh, hệ thống y tế khó có thể đáp ứng được. Vì vậy, chúng ta không được chủ quan mà vẫn phải chủ động thực hiện phòng chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Chúng ta hoàn toàn có thể chủ động làm tốt các biện pháp dự phòng như tiêm vaccine, đeo khẩu trang, vệ sinh thông thoáng nhà cửa....

Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng COVID-19 trong giai đoạn hiện nay sẽ vừa giúp làm giảm áp lực đối với hệ thống y tế, những người có nguy cơ cao mắc bệnh nặng vẫn được chăm sóc và điều trị bệnh. Càng làm chậm lại việc bị nhiễm bệnh, chúng ta có thêm nhiều cơ hội để điều trị bệnh tốt hơn khi có loại thuốc có hiệu quả hơn, an toàn hơn.