Thứ Ba, 19 tháng 4, 2022

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới, ngọn cờ dẫn dắt đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc

Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.

Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(8).

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).

Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.

Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. 

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.

  ST:TCCS

---------------

(1) Lời bình phim tài liệu: Hồ Chí Minh - Một hành trình
(2) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 8
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 284
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 65
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 459
(6), (7) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 29, 83
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 81
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 88
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 33

 

 

Nâng cao năng lực hoạt động Cơ quan thường trực 81 đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Sau hơn 02 năm thực hiện Nghị định số 81/2019/NĐ-CP của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Cơ quan thường trực của Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam (Cơ quan thường trực 81) đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu cho Bộ Quốc phòng, Trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam trong quản lý nhà nước, nâng cao năng lực, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, v.v. Tuy nhiên, đó mới chỉ là kết quả bước đầu. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần có các giải pháp đồng bộ, nhằm nâng cao năng lực hoạt động, ứng phó của Cơ quan thường trực 81 và các lực lượng chuyên trách.

Là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn tuân thủ các điều ước quốc tế, các cơ chế đa phương, trong đó có cơ chế về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đáng chú ý, thực hiện Nghị quyết số 1540 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các điều ước quốc tế và các cơ chế đa phương về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Việt Nam là thành viên, ngày 11/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2019/NĐ-CP về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tổng hợp đầu tiên về lĩnh vực này, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; kết hợp phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Binh chủng Hóa học với trách nhiệm là Cơ quan thường trực của Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Cơ quan thường trực 81) đã tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện Nghị định số 81/2019/NĐ-CP và thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Quốc phòng trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đồng thời, tích cực củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế nâng cao năng lực cho Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam, Đơn vị đầu mối của các ban, bộ, ngành, địa phương với Chương trình kiểm soát xuất khẩu và an ninh biên giới (EXBS)/Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Tham mưu cho Chính phủ, Bộ Quốc phòng trong phòng ngừa, ứng phó các nguy cơ, sự cố hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân, như: vấn đề nhà máy điện hạt nhân nổi (FNPP); các biện pháp xử lý đối với nhập khẩu quặng monazite chứa chất phóng xạ; đồng vị phóng xạ I ốt trên khu vực Biển Đông; hội chứng Havana, v.v. Qua đó, góp phần tăng cường vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; tranh thủ sự hợp tác kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, thương mại và không để các thế lực xấu lợi dụng chống phá, làm suy yếu khả năng quốc phòng, an ninh đất nước.

Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng tình hình an ninh, chính trị thế giới, khu vực đang có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất trắc, khó lường. Đặc biệt, lợi dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một số cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân theo xu hướng tăng độ chính xác, tầm xa, nhưng giảm đương lượng nổ, cũng như nghiên cứu, phát triển các loại vũ khí hóa học thế hệ mới, v.v. Trong khi đó, các tổ chức khủng bố quốc tế tiếp tục tìm mọi cách sở hữu, sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt; hoạt động buôn bán, vận chuyển, sản xuất hóa chất độc hại, các nguồn phóng xạ, an toàn sinh học tiềm ẩn nguy cơ gây sự cố hóa chất độc, chất phóng xạ, sinh học,... đe dọa đến an ninh, an toàn của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Trước bối cảnh đó, việc phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải huy động tổng hợp các lực lượng, nguồn lực, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Với vai trò cơ quan thường trực (Cơ quan thường trực 81), Binh chủng Hóa học tiếp tục quán triệt, tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình về phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tham mưu, đề xuất với Bộ Quốc phòng - Cơ quan đầu mối quốc gia các biện pháp ứng phó, xử lý toàn diện, kịp thời. Bám sát chức năng, nhiệm vụ, thời gian tới, Binh chủng tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị có chức năng thu thập tin tức cả  trong và ngoài Quân đội, đề xuất trao đổi, chia sẻ thông tin có liên quan, nhất là nghiên cứu thực trạng, xu hướng nghiên cứu, phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt; chiến lược, kế hoạch, tổ chức biên chế, lực lượng, phương tiện và hoạt động phòng, chống phổ biến của các nước; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan nắm tình hình thực trạng quản lý nhà nước đối với các tác nhân hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân; kiểm soát các vật liệu liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, hàng hóa lưỡng dụng; đồng thời, chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc tế để tiếp nhận, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về hoạt động phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất Bộ Quốc phòng - Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về phòng, chống vũ khí hủy diệt hàng loạt và thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Tập trung đề xuất nâng cao hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, phổ biến cho bộ đội và nhân dân nâng cao nhận thức về phòng, chống vũ khí hủy diệt hàng loạt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ chế phối hợp, tổ chức các hoạt động, nâng cao năng lực phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, không để bị động, bất ngờ.

Hai là, rà soát, đề xuất bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đồng bộ, bảo đảm lợi ích quốc gia, phù hợp luật pháp quốc tế. Binh chủng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội, các ban, bộ, ngành, địa phương rà soát văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện các quy định bất cập hoặc lĩnh vực, nội dung còn chưa được quy định và đề xuất ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực thi các điều ước và cơ chế đa phương về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trong đó, tập trung hoàn thiện quy định về xử phạt, hoàn thiện các quy định thực thi, như: danh mục vật liệu liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt; quy định tội phạm trong lĩnh vực này; xây dựng thông tư, hướng dẫn về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; phối hợp với các đơn vị đầu mối sơ kết, tổng kết đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ, tham mưu, đề xuất xây dựng luật về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Ba là, tăng cường hiệu quả phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, lực lượng và địa phương tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động. Theo đó, Cơ quan thường trực 81 sẽ tăng cường các hoạt động trao đổi thông tin, phối hợp chuyên môn với cơ quan chuyên trách của các bộ, ngành, địa phương; xây dựng cơ chế và tổ chức các hoạt động trao đổi thông tin giữa Cơ quan đầu mối quốc gia, Cơ quan thường trực 81 với các đơn vị đầu mối. Mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng đa dạng về nội dung, hình thức, đối tác, phạm vi,… phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về đối ngoại quân sự, quốc phòng và hợp tác quốc tế. Phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác với Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Tổ chức cấm vũ khí hóa học (OPCW), Chương trình kiểm soát xuất khẩu và an ninh biên giới (EXBS), Sáng kiến thiết lập Trung tâm hợp tác tiên tiến trong lĩnh vực hóa học, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CoE); các cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng khu vực và quốc tế, nhằm chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo cán bộ, huy động nguồn lực, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kỹ thuật trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trong đó, ưu tiên các nội dung trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao nhận thức, năng lực nhận biết, xác minh, ứng phó tình huống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước, vừa không phương hại đến quốc phòng, an ninh, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng, tạo cớ chống phá; đồng thời, nâng cao vị thế quốc tế của ta, góp phần ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bốn là, nâng cao năng lực, khả năng hoạt động của Cơ quan đầu mối quốc gia, Cơ quan thường trực 81 và ứng phó, xử lý của các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trước mắt, tập trung kiện toàn Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam phù hợp với thực tiễn triển khai phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và khuyến nghị của tổ chức quốc tế; từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia của Bộ Quốc phòng, Cơ quan thường trực 81; bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ Trung tâm 81, các đơn vị đầu mối và lực lượng chuyên trách ứng phó tình huống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Phấn đấu đến năm 2024, đội ngũ cán bộ chuyên trách của Cơ quan thường trực 81 có trình độ chuyên môn cao, trình độ ngoại ngữ từ bậc 4 trở lên, đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, 100% cơ quan thường trực của các đơn vị đầu mối; 100% lực lượng ứng phó có khả năng tham mưu và năng lực xử lý các tình huống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Về nâng cao tiềm lực trang bị khí tài, cần nghiên cứu, bổ sung các trang, thiết bị trinh sát, phát hiện, phân tích về hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân có độ nhạy cao trong các đề án, nhiệm vụ mua sắm trang bị hiện có của Binh chủng và tham mưu đề xuất Bộ phê duyệt, thực hiện đề án nâng cao năng lực nhận biết, phát hiện, xử lý tình huống phổ biến đối với lực lượng kiểm soát biên giới trên đất liền, trên biển và các bộ, ngành, địa phương bảo đảm khả năng phát hiện, xác minh, ứng phó với tình huống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; các lực lượng có đầy đủ trang bị để nhận biết, phát hiện, xác định và ứng phó các tình huống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST: QPTD.

 

 NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI


Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.


Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!


Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá


Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…


Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.


Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.


Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…


Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…


Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.


Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.


Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!


Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.


Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.


Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam


Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.


Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.


Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...


Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).


Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.


Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.


Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.


Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.


Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.


Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…


Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.


 SỰ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY SÁCH VIỆT NAM 21/4

“Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”

Trong đời sống của mỗi chúng ta, sách là kho tàng tri thức, là sản phẩm văn hóa tinh thần đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói sách là người thầy dạy cho chúng ta cách sống, cách làm người, hướng tới những giá trị nhân văn cao cả; Sách là người bạn gần gũi chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của mỗi chúng ta. Vì thế, từ lâu đọc sách đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của mỗi người. Dù ở thời đại nào, con người cũng lấy việc học là một trong những phương cách để hoàn thiện bản thân, để tiến bộ trong cuộc sống cá nhân và để đóng góp vào phát triển xã hội và đọc sách là một trong những cách học hiệu quả. Từ đọc sách, sưu tầm sách đến xây dựng tủ sách, xây dựng thư viện là các bước hình thành văn hóa đọc.


Nhận thức tầm quan trọng của văn hóa đọc, ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 284/QĐ-TTg lấy ngày 21/4 hàng năm là Ngày Sách Việt Nam nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc phát triển kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người. Đây thật sự là niềm vui lớn cho những người yêu sách.


Ngày Sách Việt Nam là sự kiện văn hóa quan trọng đối với những người yêu sách và cả cộng đồng xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc, là dịp để tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội, là dịp tôn vinh người đọc và những người tham gia sáng tác, xuất bản, in, phát hành và sưu tầm, lưu giữ sách. Đồng thời, cũng là dịp đề cao trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam./.

LỪA ƯA NẶNG

Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an phối hợp với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã tiến hành bắt khẩn cấp Đặng Như Quỳnh vì vi phạm quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân). Vậy Đặng Như Quỳnh là ai? Tại sao lại bị bắt?

LẠI TRÒ GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI

Bao lâu nay, tổ chức khủng bố “Việt Tân” vẫn luôn nuôi dưỡng ảo vọng lật đổ chính quyền đất nước. Thủ đoạn, chiêu trò được tổ chức này sử dụng thường xuyên nhất đó là lợi dụng các sự kiện nóng diễn ra trong nước để đăng đàn xuyên tạc. Gần đây, “Việt Tân” so sánh châm biếm Thiếu tướng Tô Ân Xô như “chiến thần Lữ Bố” trong việc điều tra, bắt giữ một số ông bà chủ doanh nghiệp vi phạm pháp luật.

BẢN ÁN CHO NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI

Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã hoàn tất kết luận điều tra (KLĐT), chuyển hồ sơ qua Viện KSND cùng cấp vụ bé gái 8 tuổi bị hành hạ đến tử vong tại Q.Bình Thạnh (TP.HCM).

TRUNG QUÂN - MỘT KẺ PHẢN ĐỘNG

Hiện nay, dư luận trong xã hội cũng như cộng đồng mạng vẫn còn đang vô cùng bức xúc, thậm chí nhiều người còn tỏ rõ thái độ phẫn nộ, bất bình, lên án mạnh mẽ về khâu kiểm duyệt xuất bản phẩm đã để lọt một cuốn sách có nội dung cực kỳ phản động, nhưng đã lưu hành trên thị trường và cả trong hệ thống thư viện. Đó là cuốn truyện ngắn về gia đình có tựa đề “Chiếc áo len mẹ đan”, do tác giả Trung Quân biên soạn.

TRÒ HỀ

Trò hề mà các diễn viên quá tuổi là 3 cụ Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Đình Cống và Mạc Văn Trang đã diễn có tên gọi “Lá thư ngỏ”. Mạo danh nghĩa phản đối chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, 3 cụ đã chống gậy đến Đại sứ quán Ukraine trao thư ngỏ, bày tỏ sự động viên, sát cánh cùng Chính phủ và nhân dân Ukraine.

CÓ PHẢI NGAY THẲNG NHƯNG DẠI DỘT???

Việc bắt giữ bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam do hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” để bảo vệ sự nghiêm minh của luật pháp, giữ ổn định chính trị - xã hội là việc làm bình thường của bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào. Thế mà, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

NHỮNG KẺ TRỞ CỜ

Cụm từ “trở cờ’ chỉ những người có lối sống ích kỷ vì lợi ích cá nhân, thiếu bản lĩnh, cơ hội chính trị, nhu nhược, không còn liêm sỉ, sẵn sàng bôi tro, trát trấu, thậm chí tự tát thẳng vào mặt mình nếu thấy có lợi ích trước mắt.

VÌ SAO CÁC NỀN GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN COI TRỌNG MÔN LỊCH SỬ!

         Việc dạy và học môn Lịch sử đã trải qua nhiều biến đổi thông qua các cuộc cải cách trong lịch sử giáo dục Mỹ và Canada. Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu người ta có nhận thức thật sự đầy đủ và khách quan đối với vị trí của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục nói chung. 

Ở Mỹ, sau cải cách giáo dục vào đầu thập niên 1960, các nhà giáo dục mới có cách nhìn mới toàn diện, đầy đủ hơn về bộ môn Lịch sử trong nhà trường. Sự thiếu hụt kiến thức lịch sử của học sinh, đặc biệt là kiến thức về lịch sử xã hội và lịch sử văn hóa đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách phải xem xét lại công tác dạy và học lịch sử trong các trường phổ thông. 

Những bất ổn xã hội trong thập niên 1960, sự xung đột về các giá trị văn hóa, lịch sử trong xã hội Mỹ thời kỳ này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu hụt những hiểu biết về lịch sử xã hội và văn hóa dân tộc. 

Trong bối cảnh đó, hàng loạt dự án được thực hiện trong những năm 1960 - 1970 nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở các trường phổ thông. Việc giảng dạy môn lịch sử được tăng cường về nội dung, về số lượng giờ dạy và phương thức giảng dạy. 

Sau cải cách giáo dục vào cuối thập niên 1980, Trung tâm quốc gia về Lịch sử trong các trường phổ thông (National Center for History in the Schools – NCHS) được thành lập năm 1988 nhằm mục tiêu tăng cường năng lực giảng dạy và học tập môn lịch sử cho giáo viên và học sinh các trường phổ thông.
 
Đầu thế kỉ 21, những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới đã đặt ra những thách thức mới cho công tác dạy và học lịch sử ở các trường phổ thông ở Mỹ.

Sau sự kiện nước Mỹ bị tấn công ngày11/9/2001, dư luận cho rằng những hiểu biết của người dân Mỹ về lịch sử thế giới, đặc biệt là khu vực ngoài Bắc Mỹ và Châu Âu còn quá ít ỏi. 

Chuyên gia giáo dục kiêm phóng viên BBC News, Mike Baker cho rằng: “Sự kiện 11/9 bỗng chốc đã buộc chúng ta thấy được sự cần thiết phải tăng cường hiểu biết về lịch sử những khu vực khác nhau trên thế giới cũng như phải hiểu về lịch sử tôn giáo, lịch sử văn hóa và chính trị, những vấn đề mà trước đây chúng ta đã không chú ý đúng mức. 

Đây là lúc chúng ta nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của môn lịch sử trong nhà trường. Lịch sử là môn học cung cấp cho chúng ta kiến thức cơ sở để hiểu thế giới hôm nay”(1).

Cũng trong thời gian này, các kết quả thống kê của các cuộc điều tra xã hội học cũng cho thấy những thách thức đặt ra đối với công tác dạy và học lịch sử ở Mỹ. 

Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu và phân tích các vấn đề xã hội thuộc Đại học Connecticut, 65% học sinh ở các trường trung học ở Yale, Northwester, Smith, Bowdoin không đạt yêu cầu khi làm bài kiểm tra trắc nghiệm về lịch sử nước Mỹ, khoảng 70% học sinh được hỏi không biết về những cuộc chiến tranh mà nước Mỹ tham gia. 

Sự thiếu hụt kiến thức lịch sử của thế hệ trẻ được các nhà nghiên cứu Mỹ nhìn nhận như là “một hiểm họa dân tộc” (A Nation at Risk). 

Thượng nghị sĩ Joseph D. Conn cho rằng: “Kết quả điều tra cho thấy thế hệ trẻ ngày nay thiếu hụt những hiểu biết về lịch sử dân tộc, về các giá trị dân chủ. 

Chúng ta không đánh giá thấp các trường phổ thông trong công tác dạy và học lịch sử, nhưng chúng ta buộc phải yêu cầu các nhà giáo dục ở các cấp phổ thông phải tăng cường gấp đôi cố gắng của họ để thế hệ trẻ có được những kiến thức về lịch sử và văn hóa dân tộc” (2). 

Tình hình dạy và học môn lịch sử ở các trường phổ thông ở Canada cũng gặp phải những vấn đề tương tự. 

Báo cáo về Tình hình dạy học Lịch sử do Viện điều tra xã hội học Ipsos ở Toronto (Ipsos News Center- Canadian’s Views on History Education) cho biết, 76% số người được hỏi lo ngại về tình trạng thiếu hụt kiến thức lịch sử dân tộc của giới trẻ, 83% số người được hỏi yêu cầu tăng gấp đôi số giờ học lịch sử trong trường phổ thông, đặc biệt là lịch sử Canada, 81% số người được hỏi kêu gọi Chính phủ liên bang cần quan tâm hơn đến việc công tác giáo dục lịch sử trong nhà trường (3). 

Trước tình hình đó, Chính phủ Canada đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường kiến thức lịch sử cho học sinh trong nhà trường nói riêng và cho công dân Canada nói chung, trong đó có việc kiểm tra kiến thức lịch sử bắt buộc đối với những người nhập cư muốn trở thành công dân Canada. 

Theo Luật nhập cư của Canada, những người muốn có quốc tịch Canada phải trải qua bài thi viết và phần hỏi vấn đáp về lịch sử chính trị - xã hội và lịch sử văn hóa Canada từ 1867 đến nay (4). 

Ở Mỹ, Bộ Giáo dục đã hỗ trợ việc thực hiện các dự án nhằm tăng cường việc giảng dạy và giáo dục lịch sử cho học sinh phổ thông. Dự án “Ngày lịch sử dân tộc” (National History Day- NHD) do GS. Cathy Gorn, Đại học Maryland tiến hành là một trong số những dự án nêu trên. Khoảng 700.000 học sinh và 40.000 giáo viên trung học phổ thông đã tham gia dự án NHD. 

Với sự tài trợ của Chính phủ, hàng loạt các hội thảo, các chương trình đào tạo giáo viên được thực hiện, học sinh được khuyến khích lựa chọn và thực hiện các đề tài về lịch sử dân tộc; các trường phổ thông được tăng cường thiết bị dạy học, nguồn tài liệu dạy và học lịch sử, thiết kế các trang web về lịch sử ... 

Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục đã đưa ra các giải thưởng thường niên cho giáo viên môn lịch sử nhằm khuyến khích phát triển năng lực của giáo viên. Năm học 2007- 2008, Chương trình giải thưởng dành cho giáo viên dạy giỏi lịch sử Mỹ được công bố với tổng giá trị lên đến 1 triệu USD (5). 

Thực tế cho thấy, các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ và Canada đã có nhiều nỗ lực trong việc nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của môn lịch sử cũng như tầm quan trọng của công tác giáo dục lịch sử trong nhà trường nói riêng và trong xã hội nói chung.

Những phân tích nêu trên cho thấy lý do vì sao môn Lịch sử được coi trọng, được nhìn nhận đúng với vị trí của nó trong các nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới. 

Tích hợp Lịch sử là thiếu thực tế, không khả thi

Trong khi đó, ở Việt Nam, cách tích hợp và phân loại trong dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biến Lịch sử thành môn tự chọn (mà chắc chắn sẽ có rất ít học sinh lựa chọn), khiến môn học cơ bản này có khả năng bị “khai tử” trong chương trình trung học phổ thông mới. 

Việc tích hợp môn Lịch sử như một phân môn trong môn học mới Công dân với Tổ quốc (bao gồm ba phân môn Đạo đức- công dân, Lịch sử và Quốc phòng-an ninh), trên thực tế là sự lắp ghép thiếu cơ sở khoa học, không khả thi và chưa từng có tiền lệ. 

Đây không phải là môn học tích hợp mà là sự lắp ghép những kiến thức lịch sử rời rạc, những “mảnh vỡ của lịch sử” vào một môn học “tổng hợp” chưa từng có tiền lệ. 

Sự lắp ghép này chắc chắn sẽ khiến cho hiểu biết của học sinh về Lịch sử thiếu tính hệ thống, thiếu căn bản. Vấn đề đặt ra tiếp theo là: ai sẽ là người dạy môn học Công dân với Tổ quốc, trong khi các trường đại học sư phạm hiện nay ở nước ta không đào tạo giáo viên dạy những môn học lắp ghép “tổng hợp”như thế. 

Cách lắp ghép ba phân môn Đạo đức- công dân, Lịch sử và Quốc phòng-an ninh thành một môn học, có lẽ, chỉ đạt được mục tiêu giảm bớt số lượng môn học mà học sinh phải học để thi, nhưng sẽ không thể đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông về phát triển toàn diện nhân cách con người.

Giáo dục Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế chung của thế giới. Việc tiếp thu kinh nghiệm thế giới về phát triển chương trình giáo dục phổ thông là hết sức cần thiết, đặc biệt là việc học tập kinh nghiệm của những nước có hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và Canada. 
Theo đó, Lịch sử cần phải được đặt đúng vị trí của nó là môn học cơ bản, bắt buộc trong hệ thống giáo dục phổ thông./.

Môi Trường ST.

KẾ LY GIÁN - CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI!

     Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại - anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: Chúng đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột ý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác.

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid. Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.

Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bất ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết.

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền.

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc.

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm.

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho TBT Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo.

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và TBT Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng sản sau khi Hồ Chủ tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, ai cũng có những sai lầm, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi TBT Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam.

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
Yêu nước ST

Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 

Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc hiện nay, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống, nhận diện rõ bộ mặt, chiêu trò lố bịch của chúng để tẩy chay, loại bỏ.


 

TỔNG CHỦ BIÊN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NÊU LÝ DO MÔN LỊCH SỬ TỰ CHỌN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

         LTS: Trong bài thơ "Lịch sử nước ta" Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Tuy nhiên, sau khi dư luận có nhiều ý kiến trái chiều về việc môn lịch sử không phải là môn học bắt buộc trong Nhà trường, Chủ biên chương trình giáo dục mới, Ông Nguyễn Minh Thuyết nêu lý do như sau:
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết chia sẻ lý do Lịch sử trở thành môn học tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học tới ở bậc THPT.

Năm học 2022 - 2023, học sinh lớp 10 sẽ học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, được tự chọn nhiều môn học thay vì tất cả đều là môn học bắt buộc như hiện nay. Trong đó Lịch sử là môn tự chọn khiến nhiều phụ huynh, giáo viên, chuyên gia lo lắng sẽ ảnh hưởng đến yêu cầu giáo dục lòng yêu nước, học sinh có thể quên đi giá trị truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng, nhiều học sinh sẽ không chọn Lịch sử.

Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên chương trình giáo dục mới, việc thiết kế chương trình giáo dục phổ thông mới nói chung và chương trình học lớp 10 mới nói riêng được thực hiện công phu, nghiêm túc, dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, yêu cầu của thực tế và kinh nghiệm quốc tế.

Với yêu cầu giáo dục lòng yêu nước, chương trình mới xác định 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Phẩm chất lòng yêu nước được lồng ghép trong nhiều nội dung, nhiều môn học khác nhau, không cố định trong môn Lịch sử như trước đây.

Bên cạnh đó, lòng yêu nước cũng được bồi dưỡng ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác, như: Tiếng Việt, Ngữ văn, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Nội dung giáo dục địa phương,...

Về chương trình nội dung lịch sử ở chương trình mới, GS Nguyễn Minh Thuyết cho biết, lịch sử là nội dung bắt buộc trong toàn bộ giai đoạn giáo dục cơ bản từ lớp 1 đến 9. Ở cấp tiểu học, nội dung lịch sử được thực hiện trong các môn học Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử và Địa lý (từ lớp 1 đến lớp 5), giúp các em làm quen với một số nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam và thế giới.

Ở cấp THCS, nội dung lịch sử được thực hiện trong môn Lịch sử và Địa lý (từ lớp 6 đến lớp 9), giúp học sinh có nền tảng kiến thức thông sử của lịch sử Việt Nam, thế giới và khu vực Đông Nam Á, từ khởi nguyên cho tới ngày nay. Đồng thời, nội dung giáo dục lịch sử cũng được lồng ghép vào các môn học khác như: Đạo đức, Giáo dục công dân, Tiếng Việt, Ngữ văn, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Nội dung giáo dục của địa phương…

Sách Lịch sử lớp 10 mới, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống.

“Kết thúc chương trình THCS, học sinh được học toàn bộ nội dung giáo dục cơ bản, trong đó có lịch sử, đủ điều kiện để phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi”, Tổng chủ biên nói.

Ở cấp THPT, nội dung môn Lịch sử là chương trình chuyên sâu, giúp học sinh định hướng lên đại học, theo học các ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tiếp cận nghề nghiệp tương lai. Các chủ đề chuyên sâu được dạy ở bậc THPT như: Lịch sử và Sử học; Cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam… 

“Như vậy, có thể khẳng định, chương trình giáo dục phổ thông mới vẫn dạy các nội dung giáo dục lịch sử, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân đầy đủ, toàn diện theo đúng yêu cầu của Nghị quyết 29 và các văn bản quy phạm pháp luật mà Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ ban hành”, GS nhấn mạnh.

Ông cho biết thêm, giải pháp dạy học phân hóa các môn cũng đáp ứng yêu cầu giảm tải, giảm số môn học so với chương trình cũ (13 môn so với 17 môn). Tuy chương trình học THPT mới cao so với chương trình các nước trên thế giới (chương trình tú tài quốc tế IB: 6 môn; chương trình của Anh: 6 môn; chương trình của Trung Quốc: 12 môn,…) nhưng ông tin đa số học sinh và phụ huynh học sinh sẽ thấu hiểu, đồng tình với giải pháp phân hóa mềm và giảm tải của chương trình giáo dục mới.
Đó là lý do từ đây môn lịch sử không phải là môn học bắt buộc trong Nhà trường mà là một môn học "tự chọn"./.
Môi Trường ST.