Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022
KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)
TẠI SAO LẠI LÀ NGUYỄN MINH THUYẾT?
BĂN KHOĂN LƯƠNG HƯU ĐỐI VỚI NAM SĨ QUAN: LAO ĐỘNG ĐẶC BIỆT CẦN CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ!
Theo quy định tại Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 10-5-2016 của Chính phủ thì từ ngày 1-1-2022, thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) của nam quân nhân tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 45% là 20 năm, sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 2% cho đến mức tối đa 75%.
Như vậy, để có thể được hưởng mức lương hưu 75%, nam quân nhân phải có đủ 35 năm đóng BHXH. Bên cạnh đó, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để làm căn cứ tính lương hưu, trợ cấp một lần cũng thay đổi theo lộ trình. Cụ thể, nếu bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 1-1-1995, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được tính trong 5 năm cuối; nếu bắt đầu tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-1995 đến 31-12-2000 thì tính bình quân của 6 năm cuối... Với quân nhân bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1-1-2025 trở đi, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH sẽ được tính theo toàn bộ thời gian tham gia BHXH.
Quân nhân-vốn là những người lao động trong môi trường đặc biệt, không quản thời gian, không gian, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh, với lao động nói chung khiến nảy sinh những điểm chưa hợp lý.
Thứ nhất, theo quy định trên thì nam sĩ quan có quân hàm từ trung tá trở xuống nghỉ hưu khi hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ sẽ không có đủ 35 năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu 75%, vì nếu nhập ngũ sớm nhất (năm 18 tuổi), nhận sổ hưu năm 52 tuổi (với quân hàm trung tá) thì cũng chỉ có 34 năm đóng BHXH.
Thứ hai, nếu tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để làm căn cứ tính lương hưu trong toàn bộ thời gian tham gia BHXH thì lương hưu của quân nhân sẽ giảm đáng kể, bởi hầu hết quân nhân đều có nhiều năm là học viên sĩ quan hoặc hạ sĩ quan, chiến sĩ, hưởng phụ cấp và đóng BHXH ở mức thấp.
Điều đáng nói là những bất hợp lý này không chỉ ảnh hưởng đến chế độ hưu trí của quân nhân mà còn khiến việc thu hút nhân tài vào quân đội khó khăn hơn. Sinh viên tốt nghiệp đại học thông thường đã 22 tuổi, nếu nhập ngũ năm 23 tuổi thì để có đủ 35 năm đóng BHXH cần phải nhận sổ hưu ở tuổi 58, nghĩa là phải có quân hàm đại tá. Tất nhiên số này sẽ không nhiều, bởi vậy, hầu hết sinh viên nhập ngũ sau khi tốt nghiệp đại học sẽ không có đủ thời gian đóng BHXH để nhận lương hưu 75%. Điều này cộng hưởng với việc người tham gia BHXH sau thời điểm 1-1-2025 sẽ phải tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH theo toàn bộ thời gian khiến lương hưu của quân nhân càng giảm thêm nữa. Vì thế, nhiều ý kiến bày tỏ lo lắng thanh niên, sinh viên sẽ “ngại” nhập ngũ phục vụ lâu dài trong quân đội sau thời điểm 1-1-2025.
Quân đội là ngành lao động đặc biệt, cần có những chính sách đặc thù. Giải quyết những bất hợp lý phát sinh trong chế độ hưu trí đối với quân nhân là việc làm thiết thực góp phần chăm lo quân đội và hậu phương quân đội, xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng của đất nước./.
Yêu nước ST.
NẾU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÀ CHO MÔN LỊCH SỬ LÀ MÔN HỌC TỰ CHỌN THÌ ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ ĐI ĐÂU HỠI CÁC NHÀ GIÁO DỤC?
LUẬN VỀ LOẠI GIẶC NGUY HIỂM NHẤT: LOẠI GIẶC XÉT LẠI, VIẾT LẠI, XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ!
"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN
V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.
Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái
Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.
Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!
Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá
Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…
Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.
Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…
Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…
Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.
Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.
Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!
Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.
Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam
Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.
Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...
Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.
Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.
Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.
Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…
Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.
Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam anh hùng.
Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.
Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể. Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết, tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.
Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.
Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.
Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo QĐND “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.
Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...
Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này, cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết, tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.
Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...
Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
Internet không phải là công cụ kích động hận thù, chia rẽ đoàn kết quốc tế
Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là internet ngày càng trở thành phương tiện hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, internet nói riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần nhau hơn.
Thế nhưng những năm qua, nhất là thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn kết quốc tế.
Trên internet, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: Dân tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng v.v.. được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.
Còn nhớ, sau khi Hiệp ước về biên giới đất liền được ký kết (ngày 30-12-1999), Việt Nam và Trung Quốc đã cùng nhau phân giới cắm mốc trên thực địa. Đây là việc làm cần thiết và đã được Việt Nam và Trung Quốc thực hiện chặt chẽ, thỏa đáng, thấu tình đạt lý, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Thế nhưng trong quá trình tiến hành, một số tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước qua internet đã tung ra hàng loạt những luận điệu xuyên tạc, thông tin trái chiều gây nhiễu loạn dư luận. Họ cho rằng “Trung Quốc giành được một số vùng lãnh thổ mà trước đó Việt Nam tuyên bố chủ quyền”. Có ý kiến cho rằng, trong phân giới, cắm mốc với Trung Quốc, Việt Nam “chịu nhiều thua thiệt”. Có kẻ còn dựng chuyện, bịa đặt rằng “Chính phủ Việt Nam nhường đất cho Trung Quốc”, “Việt Nam đã mất một phần lãnh thổ trong quá trình phân giới, cắm mốc với Trung Quốc”... Rồi từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy, qua internet, họ kích động nhân dân Việt Nam “cần đòi lại bằng vũ lực...”. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, những thông tin ấy là thất thiệt, vô căn cứ. Các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân phản động muốn lợi dụng sự kiện ấy để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước Việt Nam, kích động bạo lực, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.Tương tự quá trình đàm phán thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 về biên giới, phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia đã và đang được tiến hành hoàn toàn hợp pháp, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thế nhưng lợi dụng một số vấn đề nảy sinh trong công tác phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia, những người có tư tưởng thù địch, một số phần tử chống đối, cực đoan phản động đã qua internet tán phát thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo những người dân thiếu thông tin và kiến thức về quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc giữa hai nước để tiến hành các hoạt động phá hoại. Trên mạng xã hội, chúng cho rằng Campuchia đã “cúi đầu quá nhanh” trước Việt Nam; “Việt Nam tạo áp lực với Campuchia”... Chưa hết, qua mạng xã hội, chúng còn vu cáo Việt Nam sử dụng bản đồ giả, ngụy tạo thông tin về đường biên giới với Campuchia... Từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy chúng không nhằm mục đích nào khác là gây sự hiểu lầm, tạo hiềm khích dân tộc, gieo rắc những tư tưởng thù địch, hoài nghi về mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia.
Hay trong sự cố môi trường biển ở các tỉnh miền Trung, ngay sau khi xảy ra sự việc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người dân vùng bị thiệt hại... Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan khoa học khẩn trương vào cuộc với tinh thần thận trọng, khoa học, chính xác, khách quan và đúng pháp luật; xác định rõ nguyên nhân, đối tượng gây ra sự cố và có giải pháp xử lý kịp thời. Thế nhưng thông qua internet, với chiêu trò xuyên tạc, bịa đặt, cắt dán, gán ghép thông tin, các thế lực thù địch đã tạo nên sự nhiễu loạn trên truyền thông xã hội, làm cho thật giả, trắng đen lẫn lộn. Chúng vu cáo rằng, các cấp lãnh đạo “vì lợi ích nhóm mà bỏ quên môi trường”, “biết nguyên nhân gây ô nhiễm nhưng che giấu thông tin”, "bao che cho nhà thầu nước ngoài"... Chúng xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, kích động người dân “tẩy chay” các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà thầu đến từ Trung Quốc và Đài Loan... Chưa dừng ở đó, chúng còn soạn ra cái gọi là "tâm thư”, “khuyến nghị”... gửi ra nước ngoài kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ dẫn ra để thấy internet đang bị những đối tượng có tư tưởng thù địch, phản động triệt để sử dụng làm công cụ tuyên truyền kích động hận thù, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.
"Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm 1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".
Trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng internet làm công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Hành vi kích động chia rẽ đoàn kết
Tại Houston (Mỹ), Trần Trí Hoàng-kẻ tự xưng là đại diện cho cái gọi là “Nhóm Hoa Lư” vừa đứng ra kêu gọi các đồng hương xuống đường để đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Trả lời trên Đài châu Á tự do, ông ta nói rằng...
Tại Houston (Mỹ), Trần Trí Hoàng-kẻ tự xưng là đại diện cho cái gọi là “Nhóm Hoa Lư” vừa đứng ra kêu gọi các đồng hương xuống đường để đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Trả lời trên Đài châu Á tự do, ông ta nói rằng: Việt Nam hiện nay không có tự do, dân chủ, vì thế kêu gọi những người Việt Quốc gia tại hải ngoại cùng với đồng bào quốc nội tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Cần phải nói ngay rằng, cái thứ “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây mà Trần Trí Hoàng đang tung hô không phải là mục tiêu mà Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang hướng tới. Ý đồ của chúng là dùng chiêu bài này để phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết giữa người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài.
Trong quan điểm, đường lối Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định, cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc và là một nguồn lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hướng tới phục vụ cho nguyện vọng của cộng đồng người Việt xa Tổ quốc, tạo mọi điều kiện để kiều bào đoàn kết, gắn bó, chung tay với đồng bào ở trong nước trên tinh thần tương thân, tương ái, nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phồn thịnh, hùng cường. Những kẻ đi ngược lại điều đó thực chất là phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. Đồng bào ta ở cả trong và ngoài nước hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh vạch trần những mưu kế thâm hiểm của những kẻ như Trần Trí Hoàng.
Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động
Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.
Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.
Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.
Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG TIK TOK CHO BỘ ĐỘI
Vấn nạn Tik Tok trong lực lượng vũ trang tới bây giờ là không mới. Hiện nay có rất nhiều người lan truyền hình ảnh kỉ luật trong Quân đội được đăng tải lên mạng xã hội Tik Tok những ý kiến bàn bạc đánh giá từ người dân ngoài quân đội. Và cũng có người gửi cho admin xem những video đó.
Việc quân nhân đăng tải những hình ảnh, cuộc sống, sinh hoạt trong quân đội quá nhiều rất nguy hiểm cho công tác huấn luyện. Trên thực tiễn cho thấy, trong các hoạt động quân sự của Ukraine và Nga đang diễn ra có rất nhiều trường hợp, quân đội Ukraine đăng video lên Tik Tok. Kết quả cuối cùng thì chúng ta cũng đã biết, báo chí cũng đã đăng tin rất nhiều.
Còn vấn đề kỉ luật trong quân đội, có câu "kỉ luật chính là sức mạnh của quân đội" quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biên giới. Nếu nhưng không áp dụng kỉ luật thì sẽ ra sao?. Khi chiến tranh xảy ra quân nhân không có tính kỉ luật, không được rèn rủa tôi luyện thì sẽ như thế nào? Đã là quân nhân chúng ta phải tuân thủ. Không riêng gì các tổ chức lực lượng vũ trang, trong các cơ quan đoàn thể, công ty, xí nghiệp công dân, người lao động khi tham gia sinh hoạt, học tập, lao động cũng cần tuân thủ tốt các quy định, nội quy mà cơ quan, doanh nghiệp đoàn thể đưa ra. Khi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng nhiều hình thức cảnh cáo, biên bản, sa thải.... Đó là điều hiển nhiên không cần bàn cãi.
Việc sử dụng mạng xã hội như thế nào cho đúng, an toàn mới là vấn đề chúng ta cần phải xem xét trong thời đại công nghệ 4.0 này.










