Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)

     Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.

Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg. 

Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.

Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899). 

Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905. 
Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. 

Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.

Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua. 

Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau. 

Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.

Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.

Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.

Yêu nước ST.

TẠI SAO LẠI LÀ NGUYỄN MINH THUYẾT?

     Tới đây trong chương trình giám sát của Quốc hội, sẽ giám sát việc cải cách sách giáo khoa. Hy vọng tiếng nói, tiếng lòng của nhân dân Việt Nam sẽ được các vị Đại biểu Quốc hội biết tới. Trong "chương trình cải cách", Tổng chủ biên chính là Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, một trong 72 người nằm trong nhóm "nhân sĩ, trí thức" từng đề xuất sửa đổi Hiến pháp. Nhiều nội dung do nhóm KN72 đưa ra nhưng tựu trung vẫn là những vấn đề cốt lõi sau đây:
Thứ nhất, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp. 

Thứ hai, đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với lập luận theo lối “ru ngủ” những ai nhẹ dạ, mất cảnh giác như: “Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. 

Người dân Việt Nam đi từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác khi Nguyễn Minh Thuyết, thành viên của nhóm 72 kẻ trở cờ, phản bội tổ quốc lại nghiễm nhiên được ăn trên ngồi trốc, là Tổng chủ biên của chương trình cải cách giáo dục phổ thông 2018. Đám Nguyễn Quang A, Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Tương Lai, Nguyễn Minh Thuyết...đa số là những kẻ bất mãn, trở cờ, chống phá đất nước. Chẳng hiểu sao Nguyễn Minh Thuyết lại được chui sâu, leo cao như vậy. Một kẻ lệch lạc về mặt tư tưởng mà làm Tổng chủ biên chương trình cải cách giáo dục thì bảo sao môn học lịch sử lại bị biến thành môn học tự chọn. Lang sói đã gửi cả thân vào nhà, đề nghị Đảng và nhà nước cần xem xét, quyết định. Nguyễn Minh Thuyết muốn xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cớ sao lại trọng dụng và giao cho ông ta trọng trách cải cách giáo dục, cải cách sách giáo khoa? Đừng để hối không kịp:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Yêu nước ST.

BĂN KHOĂN LƯƠNG HƯU ĐỐI VỚI NAM SĨ QUAN: LAO ĐỘNG ĐẶC BIỆT CẦN CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ!

     Theo quy định tại Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 10-5-2016 của Chính phủ thì từ ngày 1-1-2022, thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) của nam quân nhân tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 45% là 20 năm, sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 2% cho đến mức tối đa 75%.


Như vậy, để có thể được hưởng mức lương hưu 75%, nam quân nhân phải có đủ 35 năm đóng BHXH. Bên cạnh đó, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để làm căn cứ tính lương hưu, trợ cấp một lần cũng thay đổi theo lộ trình. Cụ thể, nếu bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 1-1-1995, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được tính trong 5 năm cuối; nếu bắt đầu tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-1995 đến 31-12-2000 thì tính bình quân của 6 năm cuối... Với quân nhân bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1-1-2025 trở đi, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH sẽ được tính theo toàn bộ thời gian tham gia BHXH.


Quân nhân-vốn là những người lao động trong môi trường đặc biệt, không quản thời gian, không gian, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh, với lao động nói chung khiến nảy sinh những điểm chưa hợp lý.


Thứ nhất, theo quy định trên thì nam sĩ quan có quân hàm từ trung tá trở xuống nghỉ hưu khi hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ sẽ không có đủ 35 năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu 75%, vì nếu nhập ngũ sớm nhất (năm 18 tuổi), nhận sổ hưu năm 52 tuổi (với quân hàm trung tá) thì cũng chỉ có 34 năm đóng BHXH.


Thứ hai, nếu tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để làm căn cứ tính lương hưu trong toàn bộ thời gian tham gia BHXH thì lương hưu của quân nhân sẽ giảm đáng kể, bởi hầu hết quân nhân đều có nhiều năm là học viên sĩ quan hoặc hạ sĩ quan, chiến sĩ, hưởng phụ cấp và đóng BHXH ở mức thấp.

Điều đáng nói là những bất hợp lý này không chỉ ảnh hưởng đến chế độ hưu trí của quân nhân mà còn khiến việc thu hút nhân tài vào quân đội khó khăn hơn. Sinh viên tốt nghiệp đại học thông thường đã 22 tuổi, nếu nhập ngũ năm 23 tuổi thì để có đủ 35 năm đóng BHXH cần phải nhận sổ hưu ở tuổi 58, nghĩa là phải có quân hàm đại tá. Tất nhiên số này sẽ không nhiều, bởi vậy, hầu hết sinh viên nhập ngũ sau khi tốt nghiệp đại học sẽ không có đủ thời gian đóng BHXH để nhận lương hưu 75%. Điều này cộng hưởng với việc người tham gia BHXH sau thời điểm 1-1-2025 sẽ phải tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH theo toàn bộ thời gian khiến lương hưu của quân nhân càng giảm thêm nữa. Vì thế, nhiều ý kiến bày tỏ lo lắng thanh niên, sinh viên sẽ “ngại” nhập ngũ phục vụ lâu dài trong quân đội sau thời điểm 1-1-2025.


Quân đội là ngành lao động đặc biệt, cần có những chính sách đặc thù. Giải quyết những bất hợp lý phát sinh trong chế độ hưu trí đối với quân nhân là việc làm thiết thực góp phần chăm lo quân đội và hậu phương quân đội, xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng của đất nước./.



Yêu nước ST.

NẾU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÀ CHO MÔN LỊCH SỬ LÀ MÔN HỌC TỰ CHỌN THÌ ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ ĐI ĐÂU HỠI CÁC NHÀ GIÁO DỤC?

Trong một bài báo, được đăng trên báo Tiền Phong ngày 18/4/2022. GS-TS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 lý giải, từ lớp 1-9 giáo dục lịch sử là nội dung bắt buộc. Khi vào THPT, Lịch sử là môn chuyên sâu, giúp học sinh có định hướng học các ngành Khoa học xã hội và nhân văn tiếp cận nghề nghiệp tương lai.
     Sau khi tuyên bố Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tuân thủ các quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách và Pháp luật Nhà nước cũng như yêu cầu của thực tế và tham khảo các quốc gia nước ngoài, ông Thuyết cho rằng, chương trình đã được xây dựng rất công phu, nghiêm túc và khoa học…
     Là một nhà khoa học Giáo dục Đào tạo, GS Thuyết cũng khẳng định là phù hợp với tình hình thực tế? Vậy tình hình thực tế là thế nào?
Trong giai đoạn 10 năm trở về đây, chúng ta phải khẳng định, trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, chính trị, tinh thần bộc lộ rõ nét hiện tượng suy thoái, điển hình là một số lượng khổng lồ các quan chức cán bộ Đảng viên mất phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật.
     Cũng hoàn toàn không thể yên tâm được về tư tưởng, văn hóa, tinh thần của cộng đồng xã hội, đặc biệt trong lớp trẻ thanh thiếu niêu đang trong độ tuổi trên ghế nhà trường, chuẩn bị bước vào môi trường giáo dục chuyên sâu và phục vụ Tổ Quốc, có rất nhiều biểu hiện thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc, nhận thức không đầy đủ, trọn vẹn về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hàng nghìn năm, không đủ lòng tự hào dân tộc, từ đó không thể hiện được tình yêu Tổ Quốc mà điển hình nhất là cuộc thi Đường lên Đỉnh Olimpia, được coi là sàn tuyển chọn nguồn nhân lực chất lượng cao cho nước ngoài. 
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “dân ta phải biết sử ta” nhằm giáo dục lòng yêu nước thương nòi, lòng tự hào dân tộc, ý chí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, sống và làm việc phục vụ Tổ Quốc, nhưng biện luận của ngài GS Thuyết không thể hiện nổi bật tư tưởng chỉ đạo này.
     Trong nhiều năm, hầu hết các giáo viên, giảng viên môn Lịch sử đều tuyên bố, môn Lịch sử khó dạy, học sinh không yêu thích và ngại học hoặc học đối phó. GS Thuyết chắc chắn cũng biết rất rõ, nếu không hiểu sâu sắc lịch sử với đúng bản chất của đất nước, dân tộc đã xây dựng lên, thì con người, xã hội sẽ rất nhanh chóng đi lệch hướng, trệch đường ray và sụp đổ. Với một vị trí nóng và nhạy cảm, thường xuyên phải đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, việc học tập và nghiên cứu lịch sử bắt buộc phải thường xuyên, liên tục và mang tính sống còn của quốc gia dân tộc, chứ không phải chỉ là môn học thuộc lòng đơn thuần.
     Nhưng trong bài viết trên báo Tiền Phong, GS Thuyết cho rằng, ở THPT, môn Lịch sử sẽ là môn chuyên sâu định hướng nghề nghiệp? Vậy học sinh sau khi tốt nghiệp THPT, giả thiết không học môn Lịch sử tự chọn, có được học các ngành khác của lĩnh vực Khoa học Xã hội không? Dĩ nhiên là có và chẳng liên quan gì đến môn Sử tự chọn cả.
Theo thông tin tuyển sinh của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội ) năm 2021, trong tổng số 1650 tiêu chuẩn tuyển sinh, chỉ có 60 tiêu chuẩn cho môn Lịch sử của nhà trường, tức là chiếm tỷ lệ 0,03. Điều đó có nghĩa là, nếu có nhóm học sinh nào định hướng học tập ở trường ĐHKHXHNV, thì chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ học sinh sẽ học chuyên sâu, số còn lại ném môn lịch sử ra ngoài cửa sổ. 
     Như vậy, trong số lượng học sinh học PTTH, một số lượng chiếm đai đa số sẽ bỏ môn Sử để học các môn theo định hướng và các môn học để có bảng điểm cao cho xét tuyển, số còn lại vô cùng nhỏ. 
     Thế hệ thanh thiếu niên vốn là một thế hệ năng động, linh hoạt, ưa thích cái mới, cái sáng tạo, cái công nghệ, những trào lưu, những hình thức….sẽ nhanh nhạy tiếp nhận những gì hào nhoáng, sau 3 năm học PTTH, sau nhiều năm học Đại học, điều gì còn đọng lại từ những môn học Lịch sử khó khăn mà các em biết chắc, lên THPT không cần nữa, cao đẳng đại học cũng không cần? Vậy ngay từ THCS, con em chúng ta sẽ học đối phó, học cho xong vì sau này không cần đến nữa. 
     Điều đó có nghĩa là, thưa GS Thuyết, khi đề ra môn Lịch sử là môn Tự chọn, chính các ngài đã khai tử môn Lịch sử trong môi trường giáo dục đào tạo và Lịch sử trong các thế hệ Việt Nam. 
Rõ ràng, đây không phải là chương trình giảm tải Sáng tạo, mà là Chương trình xóa bỏ lịch sử khỏi thế hệ trẻ Việt Nam. Một chương trình đi ngược lại truyền thống giáo dục của dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy. 
     Không có hiểu biết lịch sử ở thế hệ trẻ Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ đối mặt với điều gì? Đó chính là Iraq, Syria, Nam Tư và gần đây nhất là Ukraina….
     Hậu quả của việc không giáo dục kỹ lưỡng lịch sử các ngài cũng đã biết, đó là việc đưa tên bán nước, kẻ nô bộc trung thành của thực dân Pháp vào SGK, đó là việc đặt tên trường cho một tên bán nước thứ hai Phan Thanh Giản và gần đây nhất là việc biến Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn thành phiên bản na ná của một kẻ võ phu Quan Vân trường….
     Hơn thế nữa, nếu xóa bỏ lịch sử, các ngài sẽ chờ đợi gì? Cần bao nhiêu quan chức nữa vi phạm Pháp Luật, cần bao nhiêu Phạm Văn Sáng, Hồ Thị Kim Thoa, Phạm Phú Quốc….Hoặc các quan ngài muốn đất nước này giống Ukraina, Afghanistan?


Yêu nước ST.

LUẬN VỀ LOẠI GIẶC NGUY HIỂM NHẤT: LOẠI GIẶC XÉT LẠI, VIẾT LẠI, XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ!

         Lịch sử được ví như dòng nước, chảy mãi không ngừng, thao thao bất tuyệt. Lịch sử là những gì đã từng xảy ra trong quá khứ, phải được chép lại, ghi lại, giáo dục cho muôn đời sau. Cụ Hồ từng dạy: “Dân ta phải biết sử ta/cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Để cho đồng bào tường gốc tích, hiểu rõ nguồn cội và những thăng trầm trong lịch sử gần 5000 năm dựng nước và giữ nước thì bộ môn lịch sử chính là xương sống, là trụ cột để kết nối tiếng vọng của ngàn năm với hiện tại và là cơ sở để các thế hệ tiếp theo dựa vào đó để tiếp nối, kế thừa và phát huy, giữ gìn bản sắc và truyền thống hào hùng dân tộc ta. Không nghiễm nhiên mà khi xâm lược đất nước ta, các thế lực ngoại bang luôn đốt phá các công trình di tích, sử sách và những gì liên quan đến cội nguồn, văn hóa của dân tộc. Ngày nay, các thế lực thù địch tinh vi và xảo quyệt, cố tìm đủ mọi cách hòng xóa bỏ chế độ ta; trong đó xuyên tạc lịch sử là vấn đề được chúng quan tâm, đánh phá. 

I. ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN: 

Mưu đồ xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, thậm chí xuyên tạc lịch sử đã xuất hiện những năm gần đây. Đây là vấn đề tiềm ẩn những nguy hại khôn lường đến tương lai, sự tồn vong của chế độ, của chính quyền nhân dân và quốc gia, dân tộc; là âm mưu thâm độc nhất mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại đang “vận hết công lực” để đánh phá ta. Nguy hiểm hơn là chính một số “người Cộng sản viết sử” có trình độ và am tường về lịch sử, những người đang được tổ quốc, nhân dân tín nhiệm, giao phó chép sử, viết sử cho dân tộc để lại cho muôn đời sau lại đang có tư tưởng, hành động cổ súy cho việc “cạo lông, rửa mặt cho giặc”; bóp méo sự thật, hủy hoại những giá trị bất diệt của lịch sử dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh; đó mới là điều đáng buồn, đáng đau và đáng hận!. 

Tư tưởng đòi xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng có xu hướng gia tăng với nhiều vụ việc đáng lo ngại, như: Đòi bỏ cụm từ ngụy quân, ngụy quyền vốn đã Đảng, nhà nước, Bác Hồ và nhân dân ta dùng để gọi đám tay sai, bán nước, thờ ngoại bang để giày xéo đất nước, quê hương, chia đôi giang sơn của tổ tiên để lại. Đòi công nhận, tôn vinh một số tên việt gian phản quốc như Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Gia Long... Xét lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ; phỉ báng lịch sử, xúc phạm hình tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, thậm chí xuyên tạc, hạ bệ cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Đức Anh và một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nguy hiểm hơn, họ còn xuyên tạc cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nồi da xáo thịt, là nội chiến, là hy sinh hàng triệu nhân mạng vô ích; cho rằng chúng ta đánh Pháp và Mỹ là đánh đuổi hai nền văn minh nhân loại, Pháp đánh nước ta là để mượn đường chiếm Trung Quốc...

Mục đích cuối cùng của chúng là hạ bệ thần tượng, “chặn dòng nguồn nước”, “rút đá móng tường”, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng ta trong việc dẫn dắt dân tộc đến bến bờ hành phúc như hôm nay, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa nhòa công lao to lớn, vĩ đại của Đảng, của Bác Hồ, của Quân đội ta hòng đòi lật đổ Đảng, chính quyền nhân dân để đưa đất nước theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập kiểu Mỹ, phương Tây. 

II. NỖI ĐAU “ĐOẠN TRƯỜNG” CỦA LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XHCN:

Đây là chiêu bài không hề mới mẽ, thậm chí nó đã một thời là nỗi đau “đoạn trường” của những người Cộng sản khi Liên Xô - Hòn đá tảng của Chủ nghĩa Cộng sản bị đánh sập, không phải vì những tràng đại bác của Chủ nghĩa Đế quốc mà bằng tổng hợp các đòn đánh của chiến lược diễn biến hòa bình mà trong đó việc lật sử chính là đòn đánh vào tử huyệt, làm tê liệt những người Cộng sản Liên Xô! 

Chính những kẻ từng là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô bị thoái hóa, biến chất toàn diện; thay vì bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ thì họ lại chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng Tháng Mười, Chủ nghĩa Lênin và chính Lênin, bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội. Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định CNXH.

Chiến dịch xét lại lịch sử diễn ra rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Đau xót trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn:
 
“Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử
Cào chiến công, xé cả xác anh hùng
Ôi! nỗi đau này là nỗi đau chung
Lương tâm hỡi lẽ nào ta tự sát?”

Đất nước ta, trong những năm gần đây cũng có hiện tượng nở rộ “mùa xuân lật sử” của đám xét lại lịch sử, tuy chưa đến mức như ở Liên Xô vào những năm của thập kỷ 80, song cũng đến lúc phải nâng cao cảnh giác; báo động và kiên quyết đấu tranh loại bỏ chúng. 

III. NHẬN DIỆN VÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA BỌN GIẶC KHI CHÚNG ĐANG “CHỒM LÊN CẮN VÀO LỊCH SỬ”   

1. Tất cả những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể nói rằng, ở nước ta đang có sự hình thành Chủ nghĩa xét lại trong ngành lịch sử, một nguy cơ hiện hữu nếu chúng ta không nhận diện rõ thì hậu quả của nó là khó lường. Tất cả những người dân yêu nước, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang nhân dân… đặc biệt là các cựu chiến binh, những người đã vào sinh ra tử để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” năm xưa hãy tiếp tục lên tiếng để đánh trả bọn lật sử, bọn cổ súy cho lật sử và bọn đang hà hơi tiếp sức cho chúng bằng những đòn đánh trực diện, những đòn đánh mang tinh thần và khí phách của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng, không để chúng đổi trắng thay đen, không để chúng “cắn vào lịch sử. Đề xuất Trung ương xem xét, cân nhắc, đừng để đến khi “cả bầy sói chồm lên cắn vào lịch sử… Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát…”; khi đó thì ván đã đóng thuyền. 

2. Trong những năm qua, bộ môn giáo dục lịch sử sa sút, học sinh, sinh viên không muốn học sử, đã thế Bộ Giáo dục - Đào tạo lại còn biến lich sử ở chương trình THPT thành môn học thứ yếu, tự chọn, ai không thích học thì thôi. Trước thực trạng xem nhẹ môn lịch sử, cần thiết phải đề xuất tổng hợp các giải pháp để biến môn Lịch sử trở thành môn thi bắt buộc ở các cấp, tính từ bậc Tiểu học trở lên; có thế mới giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, thương nòi; trân quý và yêu hơn về đất nước, con người Việt Nam, yêu hơn về giá trị của hòa bình, để không còn tình trạng những đứa trẻ miệng còn hôi sữa nhưng đã lật lộng, đã phản phúc, đã vô ơn với công lao của tiền nhân, những người đã hy sinh máu xương để cho chúng được sống trong một đất nước thái bình. Dốt nát về lịch sử là tiền đề để dốt nát về chính trị, ngu dân, dễ bị nhồi sọ và nguy cơ vong quốc hiện hữu.

3. Hãy loại bỏ và đánh gục cái tư tưởng “cố thủ thành trì”, bảo vệ cái ghế của mình của cán bộ, đảng viên; những người thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; các cơ quan có thẩm quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục CBĐV tham gia đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của giặc. Phải định hướng và khơi dậy lòng yêu nước, cho họ thấm thía vì sao phải bảo vệ thành quả cách mạng, phê phán và đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn hạ thấp thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử để họ tự giác bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ những chiến công, thành quả của cách mạng như những điều thiêng liêng nhất. Với những người là cán bộ, đảng viên đang tham gia “trào lưu” lật sử, cổ súy cho lật sử, nói và viết xuyên tạc lịch sử thì phải kịp thời “thổi còi” vì đó chính là những biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

4. Phải xem những hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử là hành vi phá hoại, như đào phá vào nền móng, chân tường của ngôi nhà hòa bình, độc lập của Tổ quốc. Phát hiện và ngăn chặn những dòng tiền từ hải ngoại gửi về để nuôi dưỡng cho đám giặc nội xâm đang tiếp tay cho chúng; không để đồng tiền làm hoa mắt, chuyển tâm, trở cờ theo giặc để xuyên tạc lịch sử. Bảo vệ không chỉ bằng làm tốt việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống mà còn phải gắn với bảo vệ thể chế, bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định, phát triển đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thế hệ đi sau trên nền tảng thành quả của người đi trước phải trân trọng, vun đắp và biết phát huy để những thành quả ấy ngày càng đơm hoa, kết trái; để lịch sử như tấm gương soi, giúp thế hệ sau soi vào cả quá khứ và hiện tại, tương lai với sự trân trọng, biết ơn, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

5. Không gian mạng là một chiến trường không tiếng súng nhưng vô cùng khóc liệt; hiện nay Việt Tân và các tổ chức phản động đang dồn sức, bơm tiền vào trong nước để nuôi dưỡng bọn có trí thức nhưng trở cờ, bọn lưu mạnh nhân danh “Quốc sử”, bọn lười lao động nên làm tay sai cho giặc để kiếm tiền để trác táng ăn chơi; trên không gian mạng ngày càng nhiều hội, nhóm, facebook cá nhân đang muốn “cạo lông, rửa mặt, bôi son” cho cái thây ma đã thối 47 năm qua, chúng ca ngợi lũ ngũy tặc hết lời; bôi nhọ, phủ định chế độ ta. Mọi người nên bớt thì giờ và công sức để dành thời gian vàng ngọc của mình đấu tranh, phản bác và lột trần bộ mặt đê hèn của chúng.

Đối với âm mưu, thủ đoạn của bọn Việt gian lật sử thì chúng ta cần đoàn kết, nhất trí, trên dưới một lòng để kiên quyết đấu tranh với chúng đến cùng; cần đào tận gốc, tróc tận rễ! Không thể khoan nhượng với bọn đòi cạo lông, rửa mặt cho giặc! Kẻ thù trong lòng ta mới là kẻ thù nguy hiểm nhất, không thể tự tay đâm vào yết hầu của tổ quốc những nhát chí mạng, không thể xem môn lịch sử là môn thứ yếu, tự chọn. Giang sơn vạn dặm, huyết lệ đôi hàng, đừng để khi hối thì đã muộn màng. Xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết này:
“Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu... "!
Yêu nước ST.

"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN

 

V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

 Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội

 Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam anh hùng.

Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể. Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết, tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.

Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.

Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.

Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo QĐND “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.

 Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...

Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này, cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết, tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.

Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...

Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Internet không phải là công cụ kích động hận thù, chia rẽ đoàn kết quốc tế

 Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là internet ngày càng trở thành phương tiện hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, internet nói riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần nhau hơn.

Thế nhưng những năm qua, nhất là thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn kết quốc tế.

Trên internet, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: Dân tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng v.v.. được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.

Còn nhớ, sau khi Hiệp ước về biên giới đất liền được ký kết (ngày 30-12-1999), Việt Nam và Trung Quốc đã cùng nhau phân giới cắm mốc trên thực địa. Đây là việc làm cần thiết và đã được Việt Nam và Trung Quốc thực hiện chặt chẽ, thỏa đáng, thấu tình đạt lý, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Thế nhưng trong quá trình tiến hành, một số tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước qua internet đã tung ra hàng loạt những luận điệu xuyên tạc, thông tin trái chiều gây nhiễu loạn dư luận. Họ cho rằng “Trung Quốc giành được một số vùng lãnh thổ mà trước đó Việt Nam tuyên bố chủ quyền”. Có ý kiến cho rằng, trong phân giới, cắm mốc với Trung Quốc, Việt Nam “chịu nhiều thua thiệt”. Có kẻ còn dựng chuyện, bịa đặt rằng “Chính phủ Việt Nam nhường đất cho Trung Quốc”, “Việt Nam đã mất một phần lãnh thổ trong quá trình phân giới, cắm mốc với Trung Quốc”... Rồi từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy, qua internet, họ kích động nhân dân Việt Nam “cần đòi lại bằng vũ lực...”. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, những thông tin ấy là thất thiệt, vô căn cứ. Các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân phản động muốn lợi dụng sự kiện ấy để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước Việt Nam, kích động bạo lực, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

Tương tự quá trình đàm phán thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 về biên giới, phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia đã và đang được tiến hành hoàn toàn hợp pháp, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thế nhưng lợi dụng một số vấn đề nảy sinh trong công tác phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia, những người có tư tưởng thù địch, một số phần tử chống đối, cực đoan phản động đã qua internet tán phát thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo những người dân thiếu thông tin và kiến thức về quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc giữa hai nước để tiến hành các hoạt động phá hoại. Trên mạng xã hội, chúng cho rằng Campuchia đã “cúi đầu quá nhanh” trước Việt Nam; “Việt Nam tạo áp lực với Campuchia”... Chưa hết, qua mạng xã hội, chúng còn vu cáo Việt Nam sử dụng bản đồ giả, ngụy tạo thông tin về đường biên giới với Campuchia... Từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy chúng không nhằm mục đích nào khác là gây sự hiểu lầm, tạo hiềm khích dân tộc, gieo rắc những tư tưởng thù địch, hoài nghi về mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia.

Hay trong sự cố môi trường biển ở các tỉnh miền Trung, ngay sau khi xảy ra sự việc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người dân vùng bị thiệt hại... Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan khoa học khẩn trương vào cuộc với tinh thần thận trọng, khoa học, chính xác, khách quan và đúng pháp luật; xác định rõ nguyên nhân, đối tượng gây ra sự cố và có giải pháp xử lý kịp thời. Thế nhưng thông qua internet, với chiêu trò xuyên tạc, bịa đặt, cắt dán, gán ghép thông tin, các thế lực thù địch đã tạo nên sự nhiễu loạn trên truyền thông xã hội, làm cho thật giả, trắng đen lẫn lộn. Chúng vu cáo rằng, các cấp lãnh đạo “vì lợi ích nhóm mà bỏ quên môi trường”, “biết nguyên nhân gây ô nhiễm nhưng che giấu thông tin”, "bao che cho nhà thầu nước ngoài"... Chúng xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, kích động người dân “tẩy chay” các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà thầu đến từ Trung Quốc và Đài Loan... Chưa dừng ở đó, chúng còn soạn ra cái gọi là "tâm thư”, “khuyến nghị”... gửi ra nước ngoài kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ dẫn ra để thấy internet đang bị những đối tượng có tư tưởng thù địch, phản động triệt để sử dụng làm công cụ tuyên truyền kích động hận thù, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.

"Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm 1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".

Trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng internet làm công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Hành vi kích động chia rẽ đoàn kết

 Tại Houston (Mỹ), Trần Trí Hoàng-kẻ tự xưng là đại diện cho cái gọi là “Nhóm Hoa Lư” vừa đứng ra kêu gọi các đồng hương xuống đường để đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Trả lời trên Đài châu Á tự do, ông ta nói rằng...

Tại Houston (Mỹ), Trần Trí Hoàng-kẻ tự xưng là đại diện cho cái gọi là “Nhóm Hoa Lư” vừa đứng ra kêu gọi các đồng hương xuống đường để đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Trả lời trên Đài châu Á tự do, ông ta nói rằng: Việt Nam hiện nay không có tự do, dân chủ, vì thế kêu gọi những người Việt Quốc gia tại hải ngoại cùng với đồng bào quốc nội tranh đấu đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

Cần phải nói ngay rằng, cái thứ “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây mà Trần Trí Hoàng đang tung hô không phải là mục tiêu mà Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang hướng tới. Ý đồ của chúng là dùng chiêu bài này để phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết giữa người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài.

Trong quan điểm, đường lối Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định, cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc và là một nguồn lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hướng tới phục vụ cho nguyện vọng của cộng đồng người Việt xa Tổ quốc, tạo mọi điều kiện để kiều bào đoàn kết, gắn bó, chung tay với đồng bào ở trong nước trên tinh thần tương thân, tương ái, nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phồn thịnh, hùng cường. Những kẻ đi ngược lại điều đó thực chất là phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. Đồng bào ta ở cả trong và ngoài nước hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh vạch trần những mưu kế thâm hiểm của những kẻ như Trần Trí Hoàng.

Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động

 Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.


Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
 Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

 ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG TIK TOK CHO BỘ ĐỘI

Vấn nạn Tik Tok trong lực lượng vũ trang tới bây giờ là không mới. Hiện nay có rất nhiều người lan truyền hình ảnh kỉ luật trong Quân đội được đăng tải lên mạng xã hội Tik Tok những ý kiến bàn bạc đánh giá từ người dân ngoài quân đội. Và cũng có người gửi cho admin xem những video đó.

Việc quân nhân đăng tải những hình ảnh, cuộc sống, sinh hoạt trong quân đội quá nhiều rất nguy hiểm cho công tác huấn luyện. Trên thực tiễn cho thấy, trong các hoạt động quân sự của Ukraine và Nga đang diễn ra có rất nhiều trường hợp, quân đội Ukraine đăng video lên Tik Tok. Kết quả cuối cùng thì chúng ta cũng đã biết, báo chí cũng đã đăng tin rất nhiều.

Còn vấn đề kỉ luật trong quân đội, có câu "kỉ luật chính là sức mạnh của quân đội" quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biên giới. Nếu nhưng không áp dụng kỉ luật thì sẽ ra sao?. Khi chiến tranh xảy ra quân nhân không có tính kỉ luật, không được rèn rủa tôi luyện thì sẽ như thế nào? Đã là quân nhân chúng ta phải tuân thủ. Không riêng gì các tổ chức lực lượng vũ trang, trong các cơ quan đoàn thể, công ty, xí nghiệp công dân, người lao động khi tham gia sinh hoạt, học tập, lao động cũng cần tuân thủ tốt các quy định, nội quy mà cơ quan, doanh nghiệp đoàn thể đưa ra. Khi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng nhiều hình thức cảnh cáo, biên bản, sa thải.... Đó là điều hiển nhiên không cần bàn cãi.

Việc sử dụng mạng xã hội như thế nào cho đúng, an toàn mới là vấn đề chúng ta cần phải xem xét trong thời đại công nghệ 4.0 này.