Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên

 


Thanh niên là mùa xuân của xã hội, là bình minh của cuộc đời. Quan niệm của Hồ Chí Minh về thanh niên Hồ Chí Minh cho rằng, thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có hoài bão, ước mơ, giàu nghị lực và rất khát khao với lý tưởng cao đẹp, có đức xả thân vì nghĩa lớn và lòng vị tha sâu sắc. Đó là lứa tuổi có tính nhạy cảm cao với những cái mới, đẹp và tiến bộ. Do vậy, nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tâm lý và tính cách, giáo dục tiến hành trên cơ sở tạo ra những điều kiện vật chất, tinh thần cho sự phát triển của tâm lý, tính cách đó và biết định hướng, động viên đúng mức, thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sáng tạo, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.

Trong thư “Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc” (năm 1946), Hồ Chí Minh viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(1). Ở đây, Người đã chỉ ra thanh niên là thời kỳ đẹp nhất, sống động nhất, như mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống. Đó là hình ảnh nói lên sức trẻ có thể dời núi, lấp biển, cả dân tộc luôn kỳ vọng, tin yêu. Trong nhiều bài nói, bài viết, mỗi khi đề cập tới thanh niên, Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, nhưng còn thiếu kinh nghiệm do chưa từng trải, cần phải được xã hội quan tâm, chăm sóc, vun trồng để họ trở thành người công dân hữu ích cho đất nước. Khi nói về thanh niên với tính chất là một lực lượng xã hội, Hồ Chí Minh đã xác định, thanh niên là công dân của nước Việt Nam. Đó là lực lượng đông đảo, luôn hăng hái xung phong đi đầu trong mọi nhiệm vụ khó khăn, gian khổ và có khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.

Ở một số bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thanh niên là nguồn xung lực mạnh mẽ của đất nước, là lực lượng quan trọng của cách mạng. Như vậy, khi nói về thanh niên, Hồ Chí Minh đều cho rằng thanh niên là một lực lượng năng động, sáng tạo, giàu nghị lực, có lý tưởng cao đẹp, có thể đảm trách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn, gian khổ khi cách mạng giao phó. Bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện Trước hết, cần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Đây là một trong những định hướng giáo dục XHCN cơ bản và quan trọng. Bồi dưỡng thanh niên có nhận thức đúng đắn về CNXH, nâng cao ý chí phấn đấu vì lý tưởng cao cả là độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta. Lý tưởng cao đẹp mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện đã được Hồ Chí Minh xác định khi gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, khi kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với CNXH. Lý tưởng độc lập dân tộc, tự do và CNXH trở thành niềm tin, lẽ sống của nhiều thế hệ tiếp nối. Có giác ngộ lý tưởng cách mạng, thanh niên mới đảm đương được sứ mệnh đưa lá cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và của dân tộc đến thắng lợi cuối cùng. Giáo dục thanh niên thấm nhuần sâu sắc lý tưởng giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, công bằng và hạnh phúc. Lý tưởng hướng tới của Hồ Chí Minh mang tư tưởng nhân văn, lấy hạnh phúc của con người làm nguyên tắc cao nhất. Người khẳng định: Học “để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh”(2). Đây chính là lý tưởng phấn đấu của thanh niên trong điều kiện mới. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong mối quan hệ đức - tài, Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng con người mới. Người yêu cầu thanh niên phải học tập, trau dồi đạo đức cách mạng.

Người cho rằng người thầy giáo phải làm kiểu mẫu cho học trò. Đồng thời, Người còn nhắc nhở thanh niên luôn luôn trân trọng, lắng nghe, tìm hiểu, suy ngẫm các gương tốt, ý hay của nhân dân. Phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi thanh niên Người thường xuyên nhắc nhở thanh niên phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình thành những người vừa có đạo đức tốt, vừa có trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn để có thể nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Người nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình”(8). Người quan niệm, về cách học phải lấy tự học làm cốt. Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên là những quan điểm vừa mang tính cách mạng, tính khoa học và thấm đượm triết lý nhân văn sâu sắc. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược giáo dục, bồi dưỡng thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XXI nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhận thức quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 


 

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống. Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người gọi đó là các căn bệnh: “Óc hẹp hòi - Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ra uất ức và mình thành ra cô độc”23; và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”24. “Còn có những đồng chí chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”25.

Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”26.

Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi”, vì “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, .v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”27. Người giải thích về “Địa phương chủ nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”28.

Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù những biểu hiện “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” chưa phổ biến, nhưng biểu hiện của bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi, đã bị Người chỉ ra và phê phán, như các bệnh: “Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”29. “Bệnh “hữu danh, vô thực” - Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyên, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”30. “Bệnh kiêu ngạo - Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”31.

Người cũng đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm: “Báo cáo thì chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái hay. Báo cáo bề bộn – chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên văn chép lại gửi lên, v.v.”32.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh có các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:

- “Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”33.

- “Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của đoàn thể cho chu đáo… Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được hình tình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”34.

- “Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động”35.

Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên còn ở dưới nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng mà chống nhân dân mà quan liêu, hạ mệnh lệnh”36.

Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… cũng được Người chỉ ra từ rất sớm trong một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, như: “Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”37.

Người cũng kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với các đối tượng khác để trục lợi. Người chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”38.

Ngay từ đầu năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu và kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thao túng trong công tác cán bộ, mà Người gọi là: “Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”39 và “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ”40.

“Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”41.

Nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái có nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”.

 

Giải pháp chủ yếu thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị

 

 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trên cơ sở quán triệt Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chủ đề toàn khóa “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, các cấp công đoàn trong toàn hệ thống cần triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, coi trọng việc tổ chức tuyên truyền, học tập nội dung chuyên đề toàn khóa đảm bảo nghiêm túc, sâu rộng đến cán bộ, đoàn viên trong toàn hệ thống. Phải đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành hoạt động thường xuyên, hành động tự giác trong các cấp Công đoàn; tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp công đoàn, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên công đoàn và người lao động; các cấp công đoàn coi đây là giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, các văn bản chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, của BTV Liên đoàn Lao động tỉnh hàng năm.

Hai là, làm tốt việc lựa chọn nội dung cụ thể để đăng ký việc làm theo Bác của các tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo với chủ đề “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào Nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2018 - 2023 và gắn với các phong trào thi đua của tổ chức Công đoàn. Hướng dẫn các cấp công đoàn tổ chức học tập, sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề bằng các hình thức phù hợp, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị để tổ chức làm theo; lựa chọn những vấn đề trọng tâm, những vấn đề đoàn viên, người lao động quan tâm để tập trung giải quyết có hiệu quả giúp cho việc làm theo Bác mang tính thiết thực, dễ nhớ, dễ làm, hết sức tránh hình thức.

Ba là, coi trọng việc phát huy việc làm gương của người đứng đầu các đơn vị trong toàn hệ thống công đoàn toàn tỉnh đối với những nội dung đăng ký làm theo Bác gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Tiếp tục chỉ đạo duy trì việc viết tin, bài đăng tải trên chuyên mục “Học tập và làm theo Bác” trang thông tin điện tử (WEBSITE) của Liên đoàn Lao động tỉnh đảm bảo kịp thời, thiết thực, hiệu quả. Qua đó, tạo sự lan tỏa và hiệu ứng tích cực cổ vũ toàn thể cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức, người lao động trên toàn địa bàn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để cùng với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Bốn là, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cấp CĐCS và cán bộ, đoàn viên CNVCLĐ. Kịp thời phát hiện nhân diện những tập thể, cá nhân tiêu biểu có cách làm sáng tạo, hiệu quả đồng thời có biện pháp uốn nắn, xử lý những đơn vị thực hiện không nghiêm túc, vi phạm khuyết điểm.

Năm là, định kỳ tiến hành đánh giá sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm gắn với việc tổ chức tôn vinh khen thưởng các điển hình tiến tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống nhân dịp chào mừng kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu (19/5) hàng năm đảm bảo theo đúng quy định.

 

Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong tiến trình lịch sử cách mạng: Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử và cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh của nhân dân là rất to lớn, tuy nhiên nếu được khéo léo tổ chức, tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì sức mạnh đó sẽ là sức mạnh vô địch: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”

Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế, đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. 

Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng được nâng cao hơn.

Khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

 


Sau hơn 35 năm Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Kết quả đó là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho sự nghiệp đổi mới của Đảng

2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp khó lường, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện và bằng nhiều biện pháp, đã đặt ra cho Đảng, Nhà nước những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết cần phải tiếp tục khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Muốn vậy, cần nhận thức đúng và chú trọng một số vấn đề cụ thể sau:

 

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp lý luận mác xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu có tính nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng, then chốt đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

 

Hai là, tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn đất nước. Tiếp tục nghiên cứu các học thuyết xã hội hiện đại, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới của thời đại để tiếp thu tinh hoa văn hóa, trí tuệ của nhân loại, bổ sung và làm giàu thêm hệ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, đấu tranh không khoan nhượng với mọi quan điểm thù địch, bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần thúc đẩy khoa học và thực tiễn phát triển đúng hướng.

 

Ba  là, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Cần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ. Việc học tập lý luận chính trị phải được tiến hành thường xuyên, trở thành nhu cầu, nguyện vọng của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình công tác.

 

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, bằng nhiều hình thức và biện pháp phù hợp, sáng tạo; đấu tranh trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, tính lý luận và giàu sức thuyết phục. Muốn vậy, phải đào tạo, rèn luyện đội ngũ chuyên gia, cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

 

 

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, công tác tuyên truyền chính là một vũ khí sắc bén trong đấu tranh, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

          Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác tư tưởng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này như: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõTăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

          Để đổi mới công tác tuyên truyền nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, trong thời gian tới các cấp ủy đảng, từng cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng về ý nghĩa, vai trò tầm quan trọng của công tác tư tưởng đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đồng thời, phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng và thường xuyên tuyên truyền đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta. Phải kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu; thường xuyên nghe báo cáo tình hình, kết quả và định hướng tuyên truyền.

Thứ hai, mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên. Gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Thứ ba, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp, đảm bảo tính định hướng, phong phú hấp dẫn. Cần làm tốt công tác lựa chọn thông tin và cập nhật những thông tin mới trong công tác tuyên truyền. Kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

 

HỌC BÁC VỀ QUÝ TRỌNG THỜI GIAN

 

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được. 

Bác bảo: 

- Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. 

Bác hỏi: 

- Chú đến muộn mấy phút?

- Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

- Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: 

- Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!.

Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập.

Bài học kinh nghiệm

Quỹ thời gian của con người là có hạn. Người ta có thể làm lại một cái nhà, một con đường,… nhưng không thể lấy lại được một tích tắc thời gian đã mất đi. Chính vì lẽ đó mà thời gian còn quý hơn vàng, bạc. Tiết kiệm thời gian là tiết kiệm thông minh và văn minh nhất. Mỗi người đều có thể tiết kiệm được thời gian của mình. Tuy nhiên, để thực hiện điều đó chúng ta cần phải làm việc phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết; làm việc ngăn nắp, gọn gàng; thầy cô chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp, lên lớp đúng giờ, sử dụng hiệu quả giờ học; cán bộ cần chuẩn bị nội dung tốt trước khi tiến hành tổ chức hội họp, tiếp dân,... Đó chính là tiết kiệm thời gian của mình và của mọi người.

 

Nhận thức mới trong 5 bài học kinh nghiệm (ĐHXIII)

 


- Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đại hội XIII đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, và trong mỗi bài học kinh nghiệm, đại hội đều có những nhận thức mới. 

Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng, Đại hội xác định: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Điểm mới của bài học này so với các đại hội trước là xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nhấn mạnh xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; nhấn mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Bài học thứ hai về dân, Đại hội xác định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điểm mới của bài học này là phải thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; nhấn mạnh lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Bài học thứ ba về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, Đại hội xác định: Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối, kết hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.

Điểm mới của bài học này là trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, có bước đi phù hợp; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế.

Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết các mối quan hệ: tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng, phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.

Điểm mới của bài học này là nhấn mạnh tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển (cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại).

Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Đại hội xác định: chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ; phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Nhận thức quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái tư tưởng chính trị

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Ngay từ tháng 10/1947, hai năm sau khi giành được chính quyền, Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên sửa đổi lối làm việc, chỉ rõ phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”1.

Người phê phán những đảng viên dao động, thiếu lý tưởng cách mạng: “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt. Như thế, chỉ là người sự vụ chủ nghĩa tầm thường”2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”3.

Người kiên quyết chống những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Người nói: “Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”4. “Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác-Lênin, để lòe người ta. Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng”5. Người kiên quyết chống những biểu hiện không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác: “Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”6.

Trong tự phê bình, phê bình, Người kiên quyết chỉ ra và đấu tranh với những biểu hiện không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyến điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật: “Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đứng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hòa”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình-nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình… Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do”7.

Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh: “Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh báo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể. Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sữa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của đoàn thể  lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại đoàn thể ta”8.

Người lấy ví dụ: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người… Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”9. “Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”10!

Người cũng chỉ ra nhiều biểu hiện lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”11. “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””12.

Hồ Chí Minh chỉ ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”13.

Người phê phán những biểu hiện duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết”14. “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”15. Người chỉ ra: “Trong Đảng ta có một số không ít đồng chí mắc bệnh công thần, cho rằng mình đã tham gia cách mạng lâu năm mà tự kiêu, tự mãn. Hoạt động cách mạng lâu năm là tốt, nhưng phải khiêm tốn học tập để tiến bộ mãi”16.

Kiên quyết chống những biểu hiện tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác, mà Hồ Chí Minh gọi là: “Bệnh hiếu danh - Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Nhưng người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”17.

Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khăn thì đâm ra tiêu cực, bi quan”18, từ đó dẫn đến những biểu hiện chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. “Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình”19.

Những biểu hiện chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình Người gọi là “Bệnh cận thị - Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”20.

Người đấu tranh với những biểu hiện tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích và gọi đó là: “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”21. Người phê bình thẳng thắn: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm nên cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”22.

 

BÀI HỌC QUYẾT TÂM CỦA BÁC HỒ

 

Từ khi Bác Hồ bị bệnh, theo lời khuyên của các thầy thuốc, Bác có kế hoạch quyết tâm bỏ thuốc lá. Bác nói: “Bác hút thuốc từ lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú phải giúp Bác bỏ tính xấu này”. Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần. Lúc đầu là giảm số lượng điếu hút trong ngày. Khi thèm hút thuốc Bác làm một việc gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung… Bác bảo đồng chí giúp việc để cho Bác một vỏ lọ Penicillin ở nơi làm việc và phòng nghỉ. Hút chừng nửa điếu Bác dụi đi để vào lọ đó. Sau hút lại nửa điếu để dành, anh em can bảo thuốc lá hút dở không có lợi, Bác bảo: "Nhưng hút thế để có cữ". Với cách làm đó, Bác đã giảm từ cả bao xuống ba bốn điếu một ngày. Cứ như vậy, Bác hút thưa dần.

Đầu tháng 3/1968, nhân khi bị cảm ho nhẹ, Bác tự quyết định bỏ hẳn. Mấy ngày sau, trong một tuần lễ anh em vẫn để gói thuốc chỗ bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không dùng. Sau một tuần thấy Bác quyết tâm như vậy, mọi người cất hẳn thuốc lá. Một tháng sau, khi tiếp Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam Vũ Quang, Bác nói: “Bác đã bỏ thuốc lá rồi, chú về vận động thanh niên đừng hút thuốc lá”. 

VẠCH TRẦN SỰ NGỤY BIỆN CỦA KẺ CẦM ĐẦU ĐỀ ÁN ĐƯA MÔN HỌC LỊCH SỬ VÀO NHÓM "TỰ CHỌN"!

         Mới đây trên báo chí cả nước đưa tin Nguyễn Minh Thuyết lên tiến lý giải về việc đưa môn Lịch sử vào nhóm "tự chọn" là : lịch sử vẫn được lồng ghép vào các môn học khác ???

Thực chất đây chỉ là những lời lẽ ngụy biện cho âm mưu phá hoại lịch sử của nhóm này.
1/ Đầu tiên phải khẳng định chắc chắn rằng : Lịch sử là một bộ môn có kiến thức riêng biệt và phải được truyền đạt thuần khiết, không thể đem nó pha tạp với loại hình kiến thức khác.
Càng không thể LAI TẠO với loại hình kiến thức khác để nặn ra 1 bộ môn mới theo kiểu vịt lai ngan.
Đây chính là chiêu trò PHA LOÃNG LỊCH SỬ của những kẻ phá hoại giáo dục. Từ sự pha loãng này sẽ dẫn đến mờ nhạt lẫn lộn, mơ hồ, ấu trĩ trong tư duy học trò, tiếp theo là dẫn đến hiểu biết lệch lạc và bóp méo lịch sử là khó lòng tránh khỏi.
Xin lưu ý rằng : kiến thức phổ thông của các môn học khác chỉ là hữu hạn. Bởi cả trăm năm cũng chưa có thêm một định lý mới và cả ngàn năm cũng chưa có thêm một vùng địa lý mới. Nếu nhét thêm vài dữ liệu lịch sử vào những môn này càng làm tăng sự rối rắm của môn học chứ không thể tăng thêm kiến thức lịch sử cho học trò.
Ngược lại, dữ liệu lịch sử qua tháng năm lại càng ngày càng dày lên. Do vậy việc truyền đạt lịch sử là phải cần chuyên biệt chứ không thể bớt xén rồi lồng ghép vào bộ môn khác. Đây chính là một ÂM MƯU xóa bớt các dữ liệu lịch sử mà nhóm này đang tiến hành.

Tuy nhiên, Nguyễn Minh Thuyết lại ngang nhiên làm cái việc hết sức đáng ngờ nêu trên. Biến các môn học khác thành một nồi lẩu thập cẩm pha thêm lịch sử, còn phần chính của lịch sử nước nhà bị gạt ra bên ngoài.
Việc hắn ngụy biện : đưa lịch sử thành môn tự chọn nhưng học sinh vẫn được bồi dưỡng kiến thức lịch sử ở các môn khác, là hết sức thô thiển. Bởi ngay trong câu nói này đã chứa đựng sự mâu thuẫn giữa tăng và giảm kiến thức của các bộ môn khác như yêu cầu cải cách đề ra.

2/ sự lý giải của Nguyễn Minh Thuyết về chiêu trò "lồng ghép lịch sử vào hoạt động trải nghiệm và truyền thống địa phương" cũng hết sức ngụy biện. 
Bởi hoạt động trải nghiệm chỉ là bồi dưỡng năng lực phụ cho học sinh.
Giáo viên phụ trách môn này hoàn toàn không có năng lực chuyên sâu về lịch sử đất nước và chống ngoại xâm đúng đắn thì sự truyền đạt trọng tâm chính vẫn chỉ là trải nghiệm vui chơi quan sát vô bổ. Còn kiến thức lịch sử chắc chắn sẽ bị bỏ qua trong hoạt động này.
Mặt khác, việc chia nhỏ lịch sử ra rồi LAI TẠP với các môn khác càng tăng thêm nhiều đầu mối hổ lốn trong truyền đạt. Càng nhiều đầu mối thì càng khó quản lý về chất lượng, càng dễ dàng thực hiện sai phạm trong giảng dạy. Đây chính là lỗ hổng rất lớn của những kẻ phá hoại Lịch sử muốn tạo ra. Cần phải ngăn chặn âm mưu này.
Việc lợi dụng nghị quyết của Ban Bí thư TW Đảng để loại môn Lịch Sử ra khỏi nhóm môn học bắt buộc là một hành động PHÁ HOẠI có chủc đích. Cần phải được xử lý nghiêm minh.

3/ Lịch Sử không phải thứ để kiếm ra tiền, Lịch sử cũng không phải là công cụ để làm kinh tế. Nhưng Lịch Sử chính là thành trì để bảo vệ thành quả của kinh tế.
Vì lẽ đó, không thể cho phép đưa Lịch sử thành môn tự chọn.
Chúng ta không thể đào tạo ra những công dân chỉ biết kiếm tiền nhưng lại là kẻ vô ơn với quá khứ. 
Lúc đó những đứa trẻ này sẵn sàng kiếm tiền vì đế quốc chứ không phải vì dân tộc mình.
Liên Xô bị xuyên tạc Lịch sử nên mọi thành quả đã bị tiêu tan. Bài học này đã rõ.

Sự tồn vong của chính nghĩa dân tộc phụ thuộc vào sức sống lành mạnh của Lịch sử nước nhà. Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả những người có lương tri vì Cách mạng Việt Nam hãy hành động ngay và không hề run sợ trước các thế lực đen tối đang rắp tâm phá hoại lịch sử của Tổ quốc.
Không thể để những kẻ Việt gian đang thao túng giáo dục phá hủy xương máu của cha ông.
Hãy đồng lòng đấu tranh để bảo vệ chính nghĩa dân tộc không bị pha loãng, không bị giặc làm lu mờ.
Chúng tôi kịch liệt PHẢN ĐỐI việc lợi dụng nghị quyết của Ban Bí thư để loại môn Lịch Sử ra khỏi nhóm môn học bắt buộc.

4/ Những nghi vấn rất lớn dành cho ngành Giáo dục :
Bao nhiêu năm qua, bộ này đã luôn làm đảo lộn mọi thứ ở ngành Giáo dục. Càng cải cách thì càng hỗn loạn. Càng cải cách thì càng gây khốn khó cho thầy và trò. Càng tạo ra chuẩn này chuẩn nọ thì càng gây đảo lộn sắp xếp lại và đào tạo lại, nhưng chất lượng giáo dục không có tiến bộ gì.
Có hay không sự phá hoại có hệ thống đối với nền văn hiến nước nhà ? Cần phải làm rõ.
Cuối cùng là những sai phạm hết sức nghiêm trọng của nhóm biên soạn sách giáo khoa gần đây đã được phanh phui. Nhưng bộ sậu này vẫn tồn tại để tiếp tục phá hủy lịch sử trong đào tạo thế hệ trẻ ?

Tại sao nhà nước vẫn sử dụng một kẻ có dấu hiệu "TỰ DIỄN BIẾN" và có dấu hiệu "PHẢN BỘI LÝ TƯỞNG" đứng trong hàng ngũ thiết kế chương trình học cho bộ Giáo Dục.
Chúng tôi khẩn thiết đề nghị loại bỏ ngay những kẻ THIẾU PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC ra khỏi nhóm biên soạn chương trình giáo dục phổ thông.
Những kẻ đòi xóa bỏ điều 4 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đều là phản quốc, cần phải nghiêm trị./.
Yêu nước ST.

 

Niềm tin  vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả đáng trân trọng và tự hào, tạo ra niềm tin trong Nhân dân và dần trở thành phong trào cách mạng trong quần chúng. Niềm tin ấy rất mãnh liệt và được nhân lên gấp bội, cùng với sự kỳ vọng cùa cả dân tộc ta sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đứng đầu, sẽ đoàn kết nhất trí cao, toàn tâm toàn ý phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc, lãnh đạo công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng giành thắng lợi, góp phần làm cho đất nước ngày càng phát triển thăng hoa

 TRỊ AN.

 


VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ]
    Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết...
                                                                                                                                    TRỊ AN.

Nhận diện những kẻ xuyên tạc, bôi nhọ cuộc chiến chống tham nhũng của toand đảng, toàn quân, toàn dân ta, chúng rất xảo quyệt: Thông qua tham nhũng để chĩa mũi nhọn chống phá Đảng. Họ cho rằng, tham nhũng là căn bệnh kinh niên của “chế độ độc đảng cầm quyền”, “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra...”; và rồi vòng vo thế nào, họ cũng sẽ kết luận kiểu như “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”. Họ phủ định kết quả to lớn và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng ta khi lớn tiếng “phán” rằng: “cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công”. Tất cả những lời lẽ xuyên tạc đó mục đích chính vẫn là để phủ định, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng.

                                                                                                                                 TRỊ AN

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TÍNH CHÍNH NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975!

     Chiến thắng 30/4/1975 là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đồng thời có ý nghĩa thời đại sâu sắc, thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, đánh giá cao.
Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức ngụy biện để phủ nhận giá trị lịch sử mang tính thời đại to lớn của sự kiện 30/4/1975. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ ủng hộ. Đồng thời lên án, phản đối cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 dành thắng lợi bằng sự kiện ngày 30/4/1975 mang tính chính nghĩa sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân Việt Nam, được nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới thừa nhận, ủng hộ. Mọi lời lẽ ngụy biện để xuyên tạc tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là có tội với lịch sử, với các thế hệ cha ông đã hy sinh cho sự bình yên, hạnh phúc của đất nước Việt Nam ta./.
Yêu nước ST.

 ❗LÀM SÂU SẮC HƠN NỮA MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

____________

Chiều 20-4, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ nhân dịp sang thăm chính thức Việt Nam.


Tại buổi tiếp, Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla bày tỏ vui mừng lần đầu tiên sang thăm Việt Nam; chuyển lời chào, chúc mừng trân trọng của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Chủ tịch Hạ viện Om Birla đánh giá cao cuộc điện đàm thành công và thực chất giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Ấn Độ Narenda Modi vừa qua, trong đó hai bên đã trao đổi các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế.


Chủ tịch Hạ viện Om Birla chúc mừng những thành công của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bày tỏ sự trân trọng về những đóng góp to lớn của Tổng Bí thư đối với việc phát triển mạnh mẽ mối quan hệ giữa Quốc hội hai nước. Chủ tịch Hạ viện Om Birla khẳng định, Ấn Độ coi Việt Nam là một trụ cột trong chính sách “Hành động hướng Đông” và Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.


Hai nước chia sẻ lợi ích và tầm nhìn về các vấn đề khu vực và quốc tế, có mối quan hệ gắn bó về lịch sử và văn hóa, vì vậy có nhiều tiềm năng để tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Chủ tịch Hạ viện Om Birla nhấn mạnh về sự phối hợp giữa hai nước trên các vấn đề quốc tế; đề nghị thúc đẩy hơn nữa hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, thương mại, năng lượng, du lịch, trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ sang thăm chính thức Việt Nam. Tổng Bí thư cho rằng, chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong năm nay, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. 


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chia sẻ về mối quan hệ truyền thống với nhiều điểm tương đồng, luôn giúp đỡ ủng hộ lẫn nhau giữa hai nước; cảm ơn sự hỗ trợ của Ấn Độ dành cho Việt Nam trong ứng phó với đại dịch Covid-19. Nhất trí với những đề nghị thúc đẩy hợp tác của Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị hai bên thời gian tới tiếp tục phối hợp và chia sẻ kinh nghiệm nhằm làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Hai bên tiếp tục trao đổi, tham vấn, phối hợp chặt chẽ trong các diễn đàn nghị viện quốc tế, chia sẻ quan điểm trong các vấn đề khu vực và quốc tế, đóng góp vào việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.


Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, sáng 20-4, Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla dẫn đầu đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Cùng ngày, Chủ tịch Hạ viện Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ đã có chuyến tham quan vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

 KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH  V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)


Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.


Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.


Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg. 


Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.


Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899). 


Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905. 

Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. 


Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.


Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua. 


Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi  trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau. 


Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.


Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.


Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.


MỘT DÂN TỘC KHÔNG BIẾT LỊCH SỬ CỦA MÌNH DÂN TỘC ẤY SẼ BỊ SUY YẾU VÀ BỊ TIÊU DIỆT!

“Dân ta PHẢI biết Sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngắn gọn vài câu về việc Sử chính thức trở thành một môn học tự chọn.

Đầu tiên, việc này có thể không ảnh hưởng gì, nhưng cũng có thể trở thành viên gạch vỡ làm sập cả toà thành. Điều này chắc tương lai mới trả lời được chính xác.

Thứ hai, chẳng có một quốc gia nào mà dạy Lịch sử một cách khách quan, trung thực cả. Một là môn Lịch sử được dạy trong trường là để bồi đắp, xây dựng lòng tự hào dân tộc bằng quá khứ vẻ vang, thứ hai là lịch sử còn bao gồm nhiều yếu tố chính trị phức tạp, không phù hợp đưa vào hệ thống giáo dục dưới Đại Học. Nên trước khi đòi Việt Nam phải dạy lịch sử khách quan, thì bảo Mỹ bớt tô hồng cuộc diệt chủng dân da đỏ đi đã…

Thứ ba, một dân tộc sẽ biến mất, bị đồng hoá khi mất đi VĂN HOÁ và LỊCH SỬ. Văn hoá thì các bạn cũng biết hiện giờ nó tệ cỡ nào rồi, nhất là văn hoá truyền thống, Lịch Sử thì ôi thôi, nhiều người vẫn còn ngỡ Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em… Về hậu quả của nó thì cứ ngó sang Ukraine là gần nhất cho dễ hiểu.

Thứ tư, đây là một nước đi thực sự khó hiểu, thay vì đổi mới cách thi, cách học, thì BGD lại quyết định chọn cách dễ nhất là bỏ luôn cho nhẹ đầu =)). Đứng trước làn sóng lật sử đang ngày càng mạnh mẽ, việc buông xuôi cho kẻ địch mặc sức hoành hành thì có lẽ là….
1000 năm Bắc thuộc Trung Quốc chưa thể đồng hoá được dân tộc Việt, 100 năm đô hộ phương Tây cũng chỉ tạo ra được một lũ me Tây thiểu số. Đúng là chả có gì phá hoại nhanh hơn tự huỷ./.
Yêu nước ST.