Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

ĐẤU TRANH, ĐẨY LÙI LỐI SỐNG THỰC DỤNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng.

Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo có một bộ phận cán bộ, đảng viên mang biểu hiện: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể”.

Một loại “vi trùng độc hại” phá hủy nhân cách từ bên trong

Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường.

Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không.

Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai.  

Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân.  

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng

Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.

Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.

Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.

Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.

Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.



QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đó là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, những năm gần đây, các thế lực thù địch hướng trọng tâm vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là “mũi đột phá”, “cây cầu dẫn vào trận địa” để chống Đảng, chống chế độ ta. Họ ra sức lợi dụng xuyên tạc, công kích, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”; “Chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với hiện thực Việt Nam”, v.v. Không những thế, họ còn công kích, đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc con đường phát triển của dân tộc đã được Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Vừa qua, lợi dụng việc Đảng ta tiếp tục khẳng định việc trung thành với mục tiêu, con đường đã lựa chọn thông qua các bài viết, bài phát biểu chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, các đối tượng phát tán nhiều tài liệu có nội dung phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; xuyên tạc chủ nghĩa xã hội là học thuyết “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại, đã bị hầu hết quốc gia trên thế giới bài trừ; Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị “phán xét” vì vẫn cố bám lấy học thuyết này. Họ chĩa mũi nhọn xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng khi đưa ra luận điệu kích động: “Trong các khái niệm kinh tế trên thế giới, không có khái niệm nào phức tạp bằng khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho đó là “mơ hồ, tối nghĩa, không có thực”. Đảng ta ban hành Quy định số 37-QĐ/TW “Về những điều đảng viên không được làm” nhằm thực hiện việc đổi mới, chỉnh đốn, làm trong sạch nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thì họ lu loa rằng việc làm đó đã chứng tỏ “tổ chức Đảng đang có dấu hiệu rệu rã, sự lãnh đạo sai hoặc nhầm phương hướng”; chủ yếu là để “lên gân, dọa nhau, chứ không giải quyết được vấn đề gì”! Khi Đảng đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm cho dù họ đảm nhiệm cương vị gì, thì chúng lại cho rằng đó là “thanh trừng nội bộ”, “lợi ích nhóm”, v.v. Từ bản chất quy thành hiện tượng, sự việc nhỏ thổi phồng thành sự việc lớn, nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân,… là mưu đồ của các thế lực thù địch hòng chống phá nền tảng tư tưởng, làm cho Đảng mất phương hướng lãnh đạo, mục ruỗng từ bên trong để họ dễ bề thực hiện mưu đồ xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng.

Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Về thực chất của mưu đồ này là lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho Quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, phai nhạt về lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về mặt tổ chức và bị vô hiệu hóa, không còn sức mạnh, công cụ bạo lực trung thành để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Sự chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, với mưu đồ ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó đoán định cho đến khi họ đạt được mục tiêu làm mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng; là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị.

Đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị - đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó, thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức cao cả của Quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong chiến đấu, Quân đội thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, gian khổ để xây dựng khu kinh tế - quốc phòng, công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Thực hiện đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn đồng cam, cộng khổ cùng nhân dân, tích cực vận động và giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; luôn xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đồng thời, là lực lượng tiên phong đấu tranh với chiến lược “Diễn biến hòa bình”, quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Càng trong những khó khăn, thử thách, bước ngoặt của cách mạng, bản chất của Quân đội ta càng thể hiện rõ nét; bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Đảng, chế độ thì bản lĩnh, lòng trung thành, ý chí, quyết tâm chiến đấu của Quân đội lại trỗi dậy, với tinh thần còn Đảng là còn mình, bảo vệ Đảng là bảo vệ một lý tưởng cao đẹp của thời đại - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang trở nên bức thiết; Quân đội nhân dân là một trong những lực lượng tích cực tham gia, tiên phong, đi đầu, đồng thời cũng là lực lượng mà các thế lực thù địch chĩa mũi nhọn tập trung chống phá nhằm thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa”, tách sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đồng thời cũng là nền tảng tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong Quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ, thực sự trở thành công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng luôn hiện hữu trong môi trường quân đội; cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội càng phải được coi trọng, quyết tâm chính trị cao, thể hiện rõ vai trò là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu trong trận chiến không khói súng này.

Trước hết, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Ngay sau khi Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Quyết định số 169-QĐ/TW, ngày 07/01/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Ban Bí thư ra Kế hoạch số 53-KH/TW, ngày 25/3/2019 về thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,… Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 701-QĐ/QUTW, ngày 14/7/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Quân ủy Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chỉ đạo thống nhất trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo, bộ phận giúp việc các cấp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng Quy chế, bảo đảm trang thiết bị hoạt động, hoàn thiện các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ Quân đội quán triệt, ra nghị quyết chuyên đề, xây dựng kế hoạch thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, tạo mạng lưới sâu rộng đấu tranh kiên quyết với mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Qua đó, thống nhất về mặt tư tưởng, định hướng hoạt động, xây dựng quyết tâm, chỉ đạo thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả”. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Ban Chỉ đạo 35 các cấp tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này; đồng thời, chấn chỉnh nơi làm chưa tốt, trách nhiệm chưa cao, còn biểu hiện hình thức, đối phó, chưa mang lại hiệu quả thiết thực.

Hai là, tổ chức nghiên cứu tổng hợp, xử lý thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức lực lượng nghiên cứu, thu thập, xử lý, cung cấp thông tin thuộc bộ phận chuyên sâu các cấp; kết hợp khai thác nguồn tin ở đơn vị, địa phương, cơ sở, kịp thời nắm, đánh giá, dự báo tình hình, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trọng tâm là những thủ đoạn mới, các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ quyền biên giới, biển, đảo; dân tộc, tôn giáo; dân chủ, nhân quyền, môi trường, dân sinh; các thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về đối tượng, đối tác; bản chất, truyền thống lịch sử, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm từ những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,... nhằm thống nhất nhận thức, chỉ đạo hành động cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân.

Ba là, tổ chức đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội. Bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tiễn đơn vị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương, cộng tác viên trong và ngoài Quân đội, nhằm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chú trọng những tấm gương điển hình tiên tiến của đơn vị, … tạo sự đồng thuận trong toàn quân và toàn xã hội, sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” của cán bộ, chiến sĩ trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục duy trì và phát huy các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng số lượng các bài viết chuyên sâu theo yêu cầu, nhiệm vụ. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội. Bám sát các sự kiện chính trị, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đặt bài viết chuyên sâu, tài liệu chuyên khảo, thông tin định hướng đấu tranh của chuyên gia, nhà khoa học, tổ công tác, cộng tác viên tích cực trong và ngoài Quân đội làm tài liệu tuyên truyền, định hướng đấu tranh trên Internet, mạng xã hội.

Ban Chỉ đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng các cấp trong Quân đội và các cơ quan báo chí Quân ủy Trung ương, hằng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ viết bài, tuyên truyền đấu tranh cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên tích cực, học viên các nhà trường Quân đội; tăng cường phối hợp, trao đổi kinh nghiệm viết bài về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đưa nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào nội dung giáo dục chính trị, thông báo thời sự cho các đối tượng; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong Quân đội.

Bốn là, tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, không để đột biến xảy ra. Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, trước hết nội bộ các cơ quan, đơn vị phải ổn định, tư tưởng phải thông suốt, có sự đồng thuận từ trên xuống dưới, nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, toàn quân cần làm tốt công tác quản lý, lãnh đạo, định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin, trao đổi nghiệp vụ, đảm bảo công tác tư tưởng phải đi trước một bước, làm cho bộ đội nắm vững đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của Quân đội, đối tượng, đối tác, mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp; tổ chức trao đổi, đối thoại với những cá nhân có nhận thức khác với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội tạo sự nhất trí, đồng thuận, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tình hình nội bộ; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; chủ động nắm, quản lý, đánh giá tình hình tư tưởng, định hướng cho bộ đội, không để bị động, bất ngờ.  

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng  trong Quân đội, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Quân đội với cơ quan tuyên giáo, công an, Hội đồng Lý luận Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, đoàn thể chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Xây dựng chương trình, quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm, chức năng của từng lực lượng và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Định kỳ trong từng thời gian, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh, xác định phương phướng phối hợp hoạt động trong thời gian tới, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang lại hiệu quả thiết thực.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Phát huy vai trò của mình, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, tiên phong, đi đầu trên mặt trận này, góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.



ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU ĐÒI "CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ" Ở VIỆT NAM

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

 Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.       

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. 

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam: không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại: 

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH. 

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Với những thành quả đạt được: Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ.



NÓI, VIẾT VÀ LÀM MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM MỖI QUÂN NHÂN

 Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (Nghị quyết 847).

Nghị quyết 847 đã “điểm mặt, chỉ tên” 10 biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân và một trong những biểu hiện đó là: “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện nêu trên, phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. 

Những biểu hiện không thể chủ quan, xem thường

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là vấn đề có tính nguyên tắc, quy định pháp lý mà mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội phải tuyệt đối chấp hành, thực hiện thống nhất. Vì vậy, mọi quân nhân khi đã đứng trong hàng ngũ của quân đội thì nhất thiết phải tự giác nói, viết và làm theo nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội.

Yêu cầu này đã được phổ biến, giáo dục sâu kỹ ngay từ khi mỗi người viết đơn xin tự nguyện nhập ngũ và tuyên thệ dưới Quân kỳ Quyết thắng, tuyên thệ trước cờ Đảng trong lễ kết nạp Đảng. Vinh dự, tự hào được đứng trong hàng ngũ của quân đội anh hùng, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của quân đội lên trên hết, tự giác phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó.

Vì vậy, những biểu hiện nói, viết, làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội cần phải được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Những biểu hiện này được thể hiện trước hết ở việc một số ít quân nhân phát ngôn, cung cấp thông tin, tham gia trả lời phỏng vấn, viết bài cho báo chí, trang tin điện tử, sử dụng các trang mạng xã hội để đăng tải, bình luận, chia sẻ thông tin với những nội dung không chính xác, chưa được kiểm chứng, thậm chí trái với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội.

Một số cán bộ, đảng viên còn có hiện tượng “tiền hậu bất nhất”, tự tạo “uy tín giả” của cá nhân, khi “tiền hô hậu ủng” trên diễn đàn, trong sinh hoạt, hội họp nhưng sau diễn đàn, bên ngoài hội nghị, khi xa cuộc họp, họ lại có những phát ngôn trái với tinh thần nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Một số quân nhân khi được tổ chức phân công nhiệm vụ có biểu hiện chấp hành gượng ép, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, thậm chí có hiện tượng không chấp hành, hoặc chấp hành không triệt để sự phân công của tổ chức, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Nghiêm trọng hơn, đã xuất hiện một số ít cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chấp hành không nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây ra nhiều hệ lụy cho tổ chức và đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc. 

Hiện tượng một số quân nhân nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, bản chất, truyền thống của Đảng, quân đội, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội. Không chỉ vậy, những thông tin, phát ngôn, bài viết, việc làm không đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội vô hình trung tạo ra những sơ hở để các thế lực thù địch tạo cớ, lợi dụng đẩy mạnh âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng những chiêu trò ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt.

Nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng này có cả khách quan và chủ quan. Trước hết, do sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã làm cho một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vì vụ lợi cá nhân dẫn đến vi phạm, hoặc tìm cách “lách luật” không làm đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy để trục lợi cá nhân. Trước những âm mưu tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một số cán bộ, đảng viên và quần chúng không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh đã bị lôi kéo, dẫn đến sa ngã. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; việc quản lý con người, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ chưa chặt chẽ. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ chưa nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thiếu tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và thực hiện nhiệm vụ được giao.

Kiên quyết đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện nói, viết và làm không đúng nghị quyết

Để đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi các hiện tượng trên đây, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ về nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu giúp cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, toàn diện, hiểu đúng và sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội; nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội; ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vin vào sự “thiếu hiểu biết” để biện minh cho những phát ngôn tùy tiện, bài viết, việc làm không đúng với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy.

Các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, nhất là Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 “Quy định về những điều đảng viên không được làm”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phương pháp làm việc khoa học cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội. Tích cực rèn luyện cán bộ, đảng viên, chiến sĩ theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Chú trọng rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đơn vị.

Mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cần nêu cao tính đảng, tính kỷ luật khi phát ngôn, viết bài, đăng tải, tuyên truyền những vấn đề liên quan đến nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực hiện nghiêm quy định của Đảng, của quân đội về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin; quy chế công bố sản phẩm nghiên cứu khoa học, nhất là những vấn đề mới, nhạy cảm chính trị, chưa được kiểm chứng trên các ấn phẩm sách, báo chí, các phương tiện thông tin, các trang mạng xã hội. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ bản thân không bị tác động tiêu cực bởi các thông tin xấu độc.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kịp thời phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm đảng viên khi mới có dấu hiệu vi phạm, tránh để vi phạm nhỏ kéo dài dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nói, viết, làm việc không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội.

Có thể khẳng định rằng, việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội” phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới

MUÔN TẤM LÒNG, VẠN NIỀM TIN VỚI ĐẢNG

 Trong bài thơ “Ba mươi năm đời ta có Đảng” viết vào dịp đầu xuân năm 1960, nhà thơ Tố Hữu đã viết những vần thơ nồng nàn, thấm đượm tình yêu son sắt với Đảng: “Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin”; “Đường càng đi đội ngũ càng đông/ Suối ngàn đã chảy thành sông/ Đố ai tát cạn được dòng nước xuôi!”...

  Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ nhất, năm 2021-2022, do Báo Quân đội nhân dân (QĐND) phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam và Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tổ chức, cho thấy “Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin” trong tình cảm, niềm tin yêu của người cầm bút. Thông qua cuộc thi đã góp phần xây dựng “đội ngũ ngày càng đông” trong cuộc “bút chiến” bảo vệ vị thế, thanh danh, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Đường càng đi đội ngũ càng đông”

Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, Báo QĐND đã tổ chức nhiều cuộc thi viết có ý nghĩa, như: “Phóng sự về đề tài Quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân” (2001-2002); “Giáo dục quốc phòng và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ thời kỳ mới” (2008); “Kỷ vật kháng chiến” (2010); “Quân đội anh hùng, Quốc phòng vững mạnh” (2019) “Những tấm gương bình dị mà cao quý” (duy trì hằng năm, từ 2011 đến nay)... Các cuộc thi không chỉ để lại dư âm, ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc mà còn góp phần lan tỏa những thông tin tích cực để cổ vũ, khích lệ và nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong đời sống xã hội.

Tiếp nối thành công của các cuộc thi nêu trên, từ tháng 4-2021, Báo QĐND phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam và Ngân hàng TMCP Quân đội chính thức phát động Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ nhất. So với các cuộc thi trước đây, cuộc thi này mở rộng cả về quy mô, tầm vóc, đối tượng tham gia và có mức độ yêu cầu cao hơn về chất lượng tác phẩm báo chí dự giải. Hơn nữa, đề tài cuộc thi là “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” với nội hàm vừa rộng vừa sâu, đòi hỏi những người viết bài dự thi cần có kiến thức khoa học lý luận chính trị nhất định mới có khả năng thể hiện tác phẩm một cách mạch lạc, chặt chẽ, sắc bén để thuyết phục bạn đọc. 

Sau một năm tổ chức, với sự cộng tác tích cực của đông đảo cộng tác viên, bạn đọc và các cơ quan báo chí trong cả nước, cuộc thi năm đầu đã gặt hái được những kết quả khả quan.

Với hơn 500 tác phẩm dự giải, trong đó, 425 tác phẩm đủ điều kiện chấm giải của 30 cơ quan báo chí cả nước, đây là cuộc thi có số lượng tác giả, tác phẩm tham dự lớn nhất từ trước đến nay do Báo QĐND tổ chức. Nhiều cơ quan báo chí đã lựa chọn hàng chục tác phẩm dự giải, tiêu biểu có: Tạp chí Tuyên giáo (55 tác phẩm), Báo Quốc phòng Thủ đô (34 tác phẩm), Báo Quân khu 7 (27 tác phẩm), Báo Hànộimới (21 tác phẩm), Tạp chí Lý luận chính trị (19 tác phẩm)...

Sức hút của cuộc thi không dừng lại ở số lượng tác phẩm dự giải, mà chính là ở thành phần tác giả có tác phẩm tham dự cuộc thi. Ngoài các cây bút chuyên nghiệp ở Báo QĐND và các cơ quan báo chủ lực, có ảnh hưởng trong xã hội và có số lượng độc giả lớn như các báo: Nhân Dân, Công an nhân dân, Hànộimới, Sài Gòn giải phóng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam... cuộc thi còn thu hút nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo uy tín đến từ Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo, Tạp chí Xây dựng Đảng và tạp chí của các học viện, trường sĩ quan quân đội như: Học viện Chính trị, Học viện Biên phòng, Trường Sĩ quan Chính trị... 

Thành công đáng kể hơn là cuộc thi quy tụ nhiều anh tài trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, khoa học chính trị, khoa học xã hội nhân văn đã, đang công tác tại Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản... Tiêu biểu có các chuyên gia: GS, TS Vũ Văn Hiền; GS, TS Trần Hữu Tiến; GS, TS Mạch Quang Thắng; PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc; PGS, TS Nguyễn Văn Dững; PGS, TS Trương Ngọc Nam; PGS, TS Tường Duy Kiên; PGS, TS Đặng Quang Định; PGS, TS Lê Văn Lợi; PGS, TS Phan Trọng Hào; PGS, TS Bùi Thị Kim Hậu...

Cuộc thi cũng có sức hút đối với nhiều tướng lĩnh như: Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hồi, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân; Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo, Giám đốc Học viện Chính trị; Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Phụ trách Nhóm chuyên gia 35 Quân ủy Trung ương; Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Hùng Oanh, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị; Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Thái Sinh, Chính ủy Học viện Biên phòng; Thiếu tướng, PGS, TS Phan Xuân Tuy, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân; Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 9; Trung tướng Lương Đình Hồng, Chính ủy Học viện Quốc phòng; Thiếu tướng Nguyễn Văn Tháp, Phó chính ủy Học viện Chính trị.

Với gần 130 tác phẩm (chiếm 30%) của các chuyên gia, nhà khoa học, tướng lĩnh tham gia viết bài, gửi tác phẩm dự thi, thêm một lần khẳng định cuộc thi có sức hút, sức lan tỏa đối với đội ngũ tri thức, tướng lĩnh-một trong những bộ phận tinh hoa của đất nước, xã hội và LLVT nhân dân Việt Nam.

Nội dung đa dạng, cách tiếp cận phong phú, sâu sắc

Bám sát đề tài, các tác phẩm dự thi đề cập nội dung đa dạng, cách tiếp cận phong phú, sâu sắc. Nhiều tác phẩm đã đề cập những vấn đề có tính căn cốt, hệ trọng liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ XHCN như: Bảo vệ và làm sáng tỏ tính cách mạng, tính khoa học, tính nhân văn, tính thời đại của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ và làm sáng tỏ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng; bảo vệ tính chính danh, tính hợp pháp, tính hợp lòng dân về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; một số vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta... Cùng với đó, nhiều tác phẩm đi sâu, làm rõ những vấn đề luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá dai dẳng, như các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo...

Đặc biệt, nhiều tác phẩm đã bám sát thời sự, phản ứng nhanh nhạy, đấu tranh quyết liệt với những thông tin xấu độc xuất hiện trên mạng xã hội trong thời gian gần đây như xuyên tạc văn kiện Đại hội XIII; chống phá cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; xuyên tạc, phủ nhận thành quả phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng, Nhà nước, quân và dân ta; xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ... Ngoài ra, một số tác phẩm dự thi đã ghi nhận những cách làm thiết thực, hiệu quả của nhiều cơ quan, đơn vị, nhà trường... trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bên cạnh các nhà báo chuyên nghiệp với thế mạnh là thông tin nhanh nhạy, kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch thông qua các bài viết mang tính thời sự cao và khai thác những vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được dư luận xã hội quan tâm; những bài viết của các chuyên gia được phân tích, lý giải bằng một hệ thống luận cứ, luận chứng, luận giải một cách khoa học, mạch lạc, rõ ràng. Có thể ví đó như hai mũi tên hướng về một đích. Một mũi là những nhà báo xung trận đánh “giáp lá cà” với lời lẽ “bút chiến” kịp thời, sắc bén; còn một mũi là những chuyên gia, nhà khoa học xây dựng các tác phẩm theo thế trận “đánh chặn từ xa”, “tiêu trừ tận gốc” những luận điệu phi lý, ngụy biện, sai trái, nguy hại của các thế lực thù địch, phản động. Tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng thấm sâu vào đời sống chính trị, tinh thần xã hội và trở thành dòng chủ lưu tích cực, góp phần định hướng tư tưởng cho công chúng và xây dựng môi trường thông tin xã hội lành mạnh.

Đó là chiều sâu, là ý nghĩa chính trị, ý nghĩa văn hóa, ý nghĩa báo chí của Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”.

Có thể khẳng định rằng, lần đầu tiên tổ chức cuộc thi với một đề tài tương đối đặc thù và thể loại báo chí khá “kén” người viết, nhưng Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” đã thành công trên nhiều phương diện. Ý nghĩa sâu sắc nhất của cuộc thi, như Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo QĐND, Trưởng ban tổ chức đã nhấn mạnh: “Cuộc thi góp phần khơi dậy, kết nối, huy động được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo có uy tín và nhiều cơ quan báo chí trong cả nước tham dự, từ đó hình thành, phát triển mạng lưới rộng khắp, tạo sự lan tỏa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua cuộc thi, những người cầm bút không chỉ bày tỏ tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đất nước, yêu chế độ XHCN mà còn thể hiện lòng tin son sắt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam-đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam-người dẫn dắt, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. 



CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NHỮNG “ĐỘC CHIÊU” CHỈ CÓ TRONG CHIẾN TRANH DU KÍCH VIỆT NAM!

         Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả. Ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang) kể lại: 
 "Cái giàn thun bắn lựu đạn là do sáng kiến của tôi và tôi là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác. Coi vậy chớ theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều tôi từng được nghe: Nào là "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ", kể cũng không có gì cường điệu. 
 Tôi còn nhớ một hôm, chú Chín Hải (Lê Văn Phẩm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho) đi họp về, có nói nơi nào đó bắn lựu đạn bằng cái ná thun và biểu tôi làm thử. Từ đó, hình ảnh cái giàn thun bắn lựu đạn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện trong đầu. Cái ná thun thì hồi nhỏ, tôi "rành sáu câu" nhưng tìm đâu ra dây cao su cho giàn thun này bây giờ? Cái bao da may bao lớn? Thân ná chọn loại gỗ gì, cỡ cùm chân hay bắp vế? Không phải chuyện đùa, thao tác nửa chừng mà đứt dây, gãy ná là "bỏ mẹ". 
 Chuyện cái giàn thun bắn lựu đạn dài dòng lắm! Tóm lại, trong cái khó ló cái khôn, những giây phút hiếm hoi ngã mình trên cánh võng, bất chợt tôi đã nghĩ ra. Có ai ngờ rằng, cái cọng dây thun nhỏ xíu thường dùng buộc các bịch mũ đựng hàng, buộc bịch đựng nước ngọt đã làm cho bọn Mỹ-ngụy thất điên, bát đảo. Một cây làm chẳng nên non! Từng sợi thun nhỏ được kết với nhau thành từng sợi cỡ ngón tay; từng sợi thun cỡ ngón tay lại được bện xoắn với nhau thành từng sợi cỡ cùm tay, bắp tay. Giữa hai sợi thun đã được bện xoắn nhiều lần, có một cái bao da dùng để đựng quả lựu đạn. Thân ná là hai thân cây cỡ bắp đùi rời nhau, cơ động dễ dàng, tiện lợi hơn khi sử dụng cây tại chỗ. Năm lần bảy lượt, làm tới làm lui, cuối cùng cái giàn thun bắn lựu đạn cũng hoàn thành. 
 Lại lao vào tập bắn! Nhiêu khê lắm, khó khăn không kém gì khi làm cái giàn thun. Tập bắn thẳng đến tập bắn cầu vồng; tập bắn xa, bắn gần; tập bắn sao cho lựu đạn vừa chạm đất là nổ, thậm chí còn cho nó nổ chụp từ trên không xuống. Thuần thục rồi mà khi vào bắn thật, đã xảy ra một số trường hợp đứt dây thun, gãy giàn, lựu đạn rơi tại chỗ "chạy thấy mẹ".
 Nói vậy thôi, chớ giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, chúng tôi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề!".
 Trầm ngâm một chút, ông nói tiếp: "Sau Hiệp định Pari, địch không những không chấp hành nghiêm chỉnh mà còn xua quân thực hiện kế hoạch "cắm cờ giành dân, lấn đất", "phá thế da beo", "tràn ngập lãnh thổ". Lấn chiếm tới đâu, chúng cho đóng đồn, bót tới đó. Không đủ sức đánh bức hàng, chúng tôi đã dùng giàn thun bắn lựu đạn đánh bức rút hàng loạt đồn, bót địch. Quan sát thấy địch nổi lửa nấu cơm là chúng tôi dùng "pháo hãm thanh" bắn vào đồn vài quả lựu đạn. Bắn ngày này qua ngày khác, không theo một quy luật nào. Khi thì chỉ cách nhau vài ba phút bắn vài ba quả, khi cách nhau một vài tiếng đồng hồ bắn thêm mấy quả nữa. 
 Bị đói, bị thương, bọn địch la khóc rần trời, còn tinh thần thì hoang mang, lo sợ cực độ. Bởi, bắn lựu đạn bằng giàn thun không nghe tiếng "đề pa", không nghe tiếng rít; bỗng dưng lựu đạn từ trên trời rơi xuống nổ cái oành! Không biết lúc nào mà trốn tránh, không có cách gì để đối phó. Cuối cùng, địch đành phải bỏ đồn tháo chạy"…
Yêu nước ST.

BỘ GD&ĐT CHƯA THỰC SỰ LẮNG NGHE Ý KIẾN NGƯỜI DÂN VỀ MÔN LỊCH SỬ!

         Đọc Thông cáo báo chí về môn lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới mà Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa phát hành cho thấy, mọi ý kiến, kiến nghị của người dân mấy ngày qua chưa được Bộ này lắng nghe, xem xét thấu đáo.
1. Vì sao Bộ Giáo dục cho rằng học lịch sử chỉ bắt buộc ở 9 năm cấp 1, cấp 2 là đã đủ, trong khi 02 năm lớp 1 và lớp 2, kiến thức lịch sử là cực kỳ sơ đẳng. Đấy là còn chưa nói tới việc môn lịch sử bị tích hợp vào các môn học khác. Trong khi đó, dòng chảy lịch sử của dân tộc kéo dài hơn 4.000 năm và vẫn còn tiếp diễn.

2. Kiến thức của nhân loại là mênh mông, vô tận. Vậy nên giáo dục phổ thông càng phải chắt lọc, lựa chọn các môn học nền tảng, căn bản để đặt nền móng cho việc xây dựng con người Việt Nam trong thế giới hội nhập và hỗn độn thông tin như hiện nay. Trong các kiến thức đó, lịch sử sẽ cho con cháu chúng ta biết chúng là ai, chúng ở đâu, chúng gì khác biệt trong thế giới thực - ảo và hội nhập này.

3. Bộ này cho rằng “việc học tập của trẻ em ngày nay tiến hành trong điều kiện học liệu nhiều, thông tin nhiều và dễ tìm kiếm, cơ hội học tập mọi nơi, mọi lúc” là chưa thoả đáng. Thông tin nhiều không có nghĩa tất cả đều là kiến thức, là học liệu. Thông tin bịa đặt, xuyên tạc, đòi xét lại lịch sử ngày càng nhiều, cả trong sách, tài liệu xuất bản và trên mạng internet. Không được trang bị kiến thức cơ bản và định hướng đúng trong việc tìm, chắt lọc thông tin, sai lệch về nhận thức, dẫn tới từ bỏ quá khứ, lãng quên bản sắc, nguồn gốc của dân tộc cũng từ đó mà ra.

4. Trong lịch sử xâm lược Việt Nam, để đồng hoá dân tộc ta, Trung Quốc đã đốt hết toàn bộ tư liệu lịch sử, dẫn tới đến nay, nhiều tư liệu về chủ quyền, lãnh thổ, đất nước, con người Việt Nam trong một vài giai đoạn lịch sử chúng ta không tìm được. Các thế lực bên ngoài cũng liên tục tìm cách hậu thuẫn, cổ vũ cho những trào lưu xét lại lịch sử, đòi công nhận chính thể VNCH, cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ là cuộc nội chiến để mà xoá bỏ đi tội lỗi dơ bẩn đế quốc Mỹ đã gây ra cho người dân Việt Nam. 

Không tỏ tường lịch sử, các thế hệ lớn lên với smart phone, smart TV, youtube, facebook, tiktok về sau sẽ tin vào ta hay kẻ địch, còn đủ tỉnh táo để phản bác các luận điệu sai trái đó?

5. Chương trình giáo dục phổ thông mới dù dư luận phản đối vẫn sẽ được thực thi cho đến khi có quyết định của cấp có thẩm quyền sửa đổi, thay thế nó. Có nghĩa ít nhất vài lứa học sinh nữa sẽ là tác phẩm của chương trình này. Hậu quả này không xảy ra ngay, mà phải hàng chục năm sau, khi thế hệ này có vị trí xã hội. Lúc đó, biết trách ai, hay còn ai để mà trách?

Nếu thực sự vì quốc gia dân tộc, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo đừng phản biện, giải thích ngay; mà hãy nghiêm túc, khách quan cho rà soát, đánh giá lại những vấn đề dư luận lo ngại trong chương trình giáo dục phổ thông mới về vai trò, nội dung giáo dục lịch sử. Lúc đó trả lời dư luận vẫn chưa muộn./.
Yêu nước ST.

CHIẾN THẮNG 30-4 - BẢN THIÊN ANH HÙNG CA BẤT TỬ


          Trong những ngày tháng Tư lịch sử này, hướng tới kỷ niệm 47 năm Chiến thắng 30-4 (30/4/1975-30/4/2022) nhiều hoạt động sôi nổi diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Chiến tranh đã đi qua 47 năm, nhưng trong ký ức mỗi người dân Việt Nam vẫn vẹn nguyên niềm tự hào chiến thắng. Những thành tựu của đất nước trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN càng làm nổi bật tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của Chiến thắng 30-4.

          Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta là một trong những chiến công vang dội nhất của thế kỷ XX. Đối với dân tộc Việt Nam, Chiến thắng 30-4 là thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhiều yếu tố góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng không thể không nói tới sự sáng suốt vận dụng những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin để đề ra đường lối chính trị, quân sự đúng đắn của Đảng ta. Trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp sức mạnh tiến công của lực lượng vũ trang với nổi dậy của quần chúng, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng phát triển hai lực lượng quân sự và chính trị, lấy đó làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đó cũng là một trong những bài học vô cùng quý giá mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, Quân đội ta.

          Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân. Những thắng lợi từ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước những năm qua càng chứng minh Đảng ta đã nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào điều kiện, hoàn cảnh mới. Từ quan điểm sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp, chứ không chỉ đơn thuần là sức mạnh quân sự, Đảng ta xác định phải làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, mạnh bởi đó là tiền đề, điều kiện thuận lợi để chúng ta xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân.

          Đảng ta xác định, lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ phải không ngừng được củng cố thực sự là nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh mà Đảng ta xác định là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.

          Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó, yêu cầu cơ bản được Đảng ta đề ra là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Thực tiễn đòi hỏi Quân đội ta phải không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Bất luận trong trường hợp nào Quân đội nhân dân cũng phải thực sự xứng đáng là quân đội được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Hệ thống lãnh đạo, quản lý, chỉ huy của Quân đội ta phải không ngừng hoàn thiện theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, tinh giản và hiện đại hóa hệ thống chỉ huy. Điều này đòi hỏi Quân đội ta phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Những bài học kinh nghiệm, nghệ thuật tác chiến trong các cuộc kháng chiến, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo nhằm không ngừng đổi mới công tác huấn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Tiếp tục chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần bộ đội. Việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất phục vụ huấn luyện và chiến đấu cần được quan tâm đầu tư đúng mức theo hướng ngày càng hiện đại. Cùng với xây dựng lực lượng thường trực phải chú ý tổ chức, huấn luyện lực lượng dự bị động viên. Chỉ có như vậy Quân đội ta mới thực sự xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

          Thời gian trôi qua, nhưng Chiến thắng 30-4 mãi mãi là bản thiên anh hùng ca bất hủ. Kỷ niệm 47 năm Chiến thắng 30-4 là dịp để chúng ta cùng nhau nhìn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là dịp để chúng ta nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn những giá trị, những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ trong thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc để từ đó tiếp thêm ý chí, niềm tin, quyết tâm, sức mạnh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Viết tiếp bản thiên anh hùng ca ấy đòi hỏi phải có sự nỗ lực, cố gắng lớn của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những thành tựu to lớn đã gặt hái được trong thời gian qua tạo ra nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng bằng sự chung sức, đồng lòng, với ý chí, quyết tâm cao độ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, hoa chiến thắng sẽ tiếp tục nở rộ trên đường cách mạng./.

 

ĐẤU TRANH VỚI CÁI NHÌN PHIẾM DIỆN VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

 

          Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Mọi luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đất nước, nhân dân Việt Nam đều phải bị lên án, bác bỏ.   Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “… không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách quốc phòng phù hợp với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam.

          Song, với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ sử dụng nhiều hình thức, phương tiện, như: viết tin, bài, bình luận; quay, cắt ghép, phát tán các video clip trên YouTube và livestream trên các trang mạng xã hội; núp bóng dưới chiêu trò cái gọi là “Người yêu nước”, “Chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, phản biện “Sách trắng Quốc phòng”,... để suy diễn, bịa đặt, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “ tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; đưa ra tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam thiết lập, tham gia liên minh quân sự. Xảo trá, trắng trợn hơn, chúng còn quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, v.v. Từ đó, hô hào, cổ súy tư tưởng sai trái, kêu gọi dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ đất nước.

          Để đấu tranh phản bác những luận điệu chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cần thực hiện tốt một số giải pháp sau.

          Một là, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, làm rõ sự cần thiết, tính khoa học của chính sách quốc phòng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền với hình thức, phương pháp đa dạng, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Thông qua đó, tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, tích cực, chủ động tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận, phân biệt rõ đúng sai, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, sức đề kháng, tự miễn dịch trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch.

          Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quốc phòng trong tình hình mới. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó chỉ rõ ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng luôn lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

          Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không phải xuất phát từ việc tham gia các liên minh quân sự mà chính là từ sức mạnh nội lực của dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.

          Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phát triển đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nước, góp phần bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị, trình độ phát triển và không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

          Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị là việc làm cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

 

          Nước ta đi lên CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá nên thời kỳ quá độ sẽ rất lâu dài và khó khăn, phức tạp. Do chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc những đặc điểm của nước ta trong thời kỳ quá độ, nên trong một thời kỳ dài chúng ta đã phạm phải sai lầm, khuyết điểm, nóng vội xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi” XHCN, hạn chế sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, đồng thời duy trì quá lâu mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Một trong những thành tựu có tính chất đột phá trong quá trình đổi mới của Đảng ta là phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đó là kết quả của quá trình tìm tòi, đổi mới, sáng tạo, liên tục được bổ sung và phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng và đã được kiểm nghiệm bởi những thành tựu rất to lớn trong thực tiễn hơn 35 năm đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, KTTT định hướng XHCN “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

          Về mặt lý luận, quan niệm về phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta chính là kết quả của sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và con đường đi lên CNXH, trong đó lý luận về “khâu trung gian” trong sự phát triển xã hội có ý nghĩa rất quan trọng về phương pháp luận trong nhận thức và vận dụng để xác lập mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, phù hợp với quy luật lịch sử - tự nhiên.

          Về mặt lịch sử, quá trình phát triển của các nền văn minh trên thế giới cho thấy sản xuất hàng hóa đã có mầm mống hình thành trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhưng chỉ đạt đến trình độ nền KTTT trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản thân nền KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có những hình thức, trình độ phát triển khác nhau. Do tranh thủ được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại mà chủ nghĩa tư bản ngày nay đã không ngừng hiện đại hóa lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất, thúc đẩy quá trình xã hội hóa và toàn cầu hóa kinh tế, cho nên KTTT ở một số nước đã đạt tới trình độ hiện đại. Tuy nhiên, do bản chất của chủ nghĩa tư bản dù là loại thị trường nào cũng không thể loại bỏ được khuyết tật vốn có của nó, đó là tính tự phát, khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh đổ vỡ, về xã hội là sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, khuyến khích chủ nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân,... Mặc dù KTTT tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến trình độ hiện đại nhưng trong khuôn khổ phương thức sản xuất và bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục được những hạn chế vốn có của mình.

          Với tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu CNXH, Đảng ta không ngừng tìm tòi, đổi mới con đường đi lên phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh thời đại ngày nay. Tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển nền KTTT định hướng XHCN sau 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Sự ra đời của KTTT dưới CNXH lúc đầu như là sự phủ định mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nhưng trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về nền KTTT định hướng XHCN, phù hợp với quy luật khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm bằng những thành tựu to lớn sau 35 năm đổi mới. Có thể nói, những thành công không thể phủ nhận của mô hình KTTT định hướng XHCN đã có sức hấp dẫn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đã và đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng KTTT không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà nó là mô hình kinh tế tổng quát của nhiều chế độ xã hội khác nhau. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu KTTT, mặc dù chưa phải hoàn thiện, nhưng nó khác về bản chất với nền KTTT tư bản chủ nghĩa. Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Như vậy, phép biện chứng của thời kỳ quá độ cho chúng ta những luận cứ xác đáng để kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về nền KTTT định hướng XHCN. Đồng thời, qua đây chúng ta càng nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, để tiếp tục kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo./.