Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022
Lời Bác dạy ngày này năm xưa
Kết thúc bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc lần thứ II ngày 25-4-1961, Bác nhắc lại câu khẩu hiệu mà lần đầu đã phát biểu cách đó 10 năm (1951) tại Đại hội hợp nhất Mặt trận Việt Minh-Liên Việt:
Đối ngoại quốc phòng kiên định 'bốn không'
Đường lối đối ngoại quốc phòng của Việt Nam giai đoạn hiện nay vẫn kiên định nguyên tắc "bốn không", theo thượng tướng Hoàng Xuân Chiến.
"CÁCH MẠNG TRẮNG" - TẨY NÃO NGƯỜI VIỆT VÀ ÂM MƯU LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM KHÔNG TIẾNG SÚNG!
Cả nước có thể mưa nhiều dịp 30/4-1/5
Từ 29/4 đến 3/5, cả ba miền Bắc - Trung - Nam xuất hiện mưa, nhiều nơi dự kiến mưa lớn, Biển Đông dự báo có xoáy thuận nhiệt đới.
Một nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân
Friedrich Engels là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19. Engels đã cùng với Karl Marx sáng lập Học thuyết Marx-học thuyết khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động trên thế giới. Cùng với Marx, Engels không chỉ phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của GCCN mà còn góp phần vạch ra vai trò của đội tiền phong (chính đảng) của GCCN. Đây cũng chính là phát hiện vĩ đại thứ ba trong Học thuyết Marx.
Chân lý không thể nằm ngoài những cái đầu tỉnh táo
Cùng với việc nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch chống phá sự ổn định của Việt Nam thông qua chiêu bài về chủ quyền lãnh thổ, việc nắm vững chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tỉnh táo để hấp thụ đầy đủ bản chất của vấn đề là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi chúng ta.
Không thể bẻ cong lịch sử
Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai.
CẦN CÓ GIẢI PHÁP GIÚP THẾ HỆ TRẺ YÊU LỊCH SỬ DÂN TỘC, HIỂU LỊCH SỬ THẾ GIỚI!
ĐOÀN BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM DỰ HỘI NGHỊ TRỰC TUYẾN CHUẨN BỊ CHO ARMY GAMES 2022 DO BỘ QUỐC PHÒNG LIÊN BANG NGA TỔ CHỨC!
Phản bác các quan điểm xuyên tạc, bóp méo lịch sử Ngày chiến thắng 30/4/1975.
Cách đây 47 năm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế Việt Nam
Trong bối cảnh
nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào
mòn; gói phục hồi và phát triển kinh tế với quy mô gần 350.000 tỷ đồng phải tập
trung thực hiện trong 2 năm,... Do đó, bên cạnh các giải pháp bảo đảm ổn định
kinh tế vĩ mô, cần sử dụng hiệu quả từng đồng vốn, từng cơ hội để nhanh chóng
phục hồi, đưa nền kinh tế đất nước trở lại quỹ đạo tăng trưởng, không bị lỡ
nhịp với quá trình phát triển của kinh tế thế giới.
Năm 2021 nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt được nhiều kết quả quan trọng
Năm 2021 - năm đầu tiên thực hiện Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng trong bối cảnh tình hình
thế giới có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chịu ảnh hưởng
nặng nề bởi đại dịch COVID-19 với sự xuất hiện của những biến chủng mới. Ở
trong nước, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó
khăn, thử thách chưa từng có do đợt bùng phát đại dịch COVID-19 lần thứ tư gây
ra. Biến chủng Delta với tốc độ lây lan nhanh hơn, nguy hiểm hơn đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước.
Trong bối cảnh khó khăn chồng chất khó
khăn, dưới sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời của Đảng, sự giám sát hiệu quả của
Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
các cấp, các ngành, các địa phương, với sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống
chính trị, của toàn thể nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, sự hợp tác, chia sẻ
của bạn bè quốc tế, với tinh thần “đặt sức khỏe và tính mạng của nhân dân lên
trên hết, trước hết”, chúng ta đã triển khai nhiều biện pháp hành chính “chưa
từng có”. Kiên cường đối mặt với “sóng to, gió lớn”, cả nước kề vai, sát cánh,
đoàn kết một lòng, thống nhất hành động với tinh thần “nhất hô bá ứng,
tiền hô hậu ủng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như lời tổng kết
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chỉ sau hơn 3 tháng chúng ta đã khống chế,
đẩy lùi và cơ bản kiểm soát được dịch bệnh COVID-19. Trên cơ sở đó, Chính
phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP, ngày 11-10-2021, về ban
hành quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch
COVID-19”, tạo ra những chuyển biến tích cực, ấn tượng trong công tác phòng,
chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội, đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng.
Cụ thể, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy
trì ổn định; lạm phát cơ bản 12 tháng tăng 0,81%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
bình quân cả năm tăng 1,84% so với năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm
2016; các cân đối lớn được bảo đảm; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ mức tăng
trưởng âm 6,02% trong quý III-2021 (mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính
và công bố GDP quý đến nay) đã đảo chiều ấn tượng trong quý IV, đưa GDP cả năm
2021 tăng 2,58%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 22,6%, đạt 668,5
tỷ USD - mức cao nhất từ trước đến nay, đưa Việt Nam vào tốp 20 nước trên thế
giới về thương mại quốc tế; thị trường chứng khoán phát triển nhanh, quy mô vốn
hóa tăng 44,7% so với cuối năm 2020; xuất siêu ước đạt 4 tỷ USD; Việt Nam đứng
trong tốp 10 thị trường logistics toàn cầu; nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai
trò trụ đỡ của nền kinh tế; bất chấp đại dịch, nhiều tập đoàn lớn, đa quốc gia
vẫn tiếp tục tin tưởng đầu tư vào Việt Nam; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký
vào Việt Nam tính đến ngày 20-12-2021, bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký
điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15
tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020; có 985 lượt dự án đã cấp phép từ các năm
trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 9,01 tỷ USD, tăng 40,5% so với
năm trước; Việt Nam đã thực hiện thành công chiến lược vắc-xin “đi sau về
trước” với chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước tới nay. Những kết quả khá
toàn diện về kinh tế - xã hội đạt được trong năm 2021 đã tạo cơ sở vững chắc để
chúng ta vững tin thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong năm
2022 và những năm tiếp theo.
Năm 2022 thách thức nhiều hơn cơ hội
Năm 2022 là năm bản lề có ý nghĩa
quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Theo Nghị quyết đã được Quốc hội
thông qua, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2022 đạt từ 6% đến 6,5%. Đây
là một thách thức không nhỏ.
Năm 2022, dự báo chúng ta phải đối mặt với
những rủi ro, thách thức cả từ bên ngoài và trong nội tại, nhưng cơ bản thì
thách thức sẽ nhiều hơn cơ hội.
Trên thế giới, đại dịch COVID-19 vẫn diễn
biến phức tạp với sự xuất hiện của các biến chủng mới; kinh tế thế giới phục
hồi chưa vững chắc; thị trường tài chính, tiền tệ thế giới có thể biến động
phức tạp; xu hướng tăng lãi suất dự kiến được đẩy mạnh tại các nước đang phát
triển khi kinh tế phục hồi và mở cửa trở lại; xung đột, căng thẳng chính trị,
chiến lược giữa Nga - U-crai-na còn có thể kéo dài khiến giá cả hàng hóa thế
giới được dự báo tăng cao, chuỗi cung ứng quốc tế chậm phục hồi sẽ tác động
mạnh đến việc kiểm soát lạm phát tại các nước; cạnh tranh chiến lược giữa các
nước lớn ngày càng gay gắt,...
Trong nước, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp
tục phải đối mặt với dịch bệnh COVID-19, trong khi đó, sức chống chịu và nguồn
lực của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân giảm sút; tác động của thiên tai,
biến đổi khí hậu cũng ngày càng nặng nề hơn;...
Áp lực lạm phát trong năm 2022 tiếp tục
gia tăng do giá nguyên, nhiên vật liệu trên thế giới, như xăng dầu, than, giá
cước vận chuyển tiếp tục tăng cao, việc thực hiện Chương trình phục hồi cùng
với việc cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém làm tăng cung tiền dẫn đến rủi ro lạm
phát nếu không có giải pháp điều hành linh hoạt, kịp thời... Điều này gây sức
ép đối với việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Giải pháp để ổn định kinh tế vĩ mô tạo môi trường tốt cho phục hồi và phát
triển kinh tế
Trước những khó khăn, thách thức nêu trên,
Chính phủ đã sẵn sàng các phương án ứng phó hiệu quả với các biến động, đưa
kinh tế đất nước vững vàng vượt qua sóng to, gió lớn. Thủ tướng Chính phủ Phạm
Minh Chính nhấn mạnh, chúng ta xác định khó khăn, thách thức nhiều hơn cơ hội để
nỗ lực nhiều hơn, quyết tâm cao hơn, cố gắng, quyết liệt hơn. Xây dựng một nền
kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự vươn lên từ
bàn tay khối óc, khung trời, cửa biển, không trông chờ ỷ lại một cách thụ động
để phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
Với tinh thần ấy, triển khai Kết luận số
24-KL/TW, ngày 30-12-2021, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 43/2022/NQ-QH15,
ngày 11-1-2022, của Quốc hội, ngay trước thềm Xuân Nhâm Dần 2022, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 30-1-2022, về Chương trình phục hồi và
phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/NQ-QH15 của
Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình, bám sát yêu cầu
về kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, năng lực cạnh tranh, tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của
nền kinh tế, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và
lâu dài, gắn kết chặt chẽ với Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 -
2025, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, Kế hoạch cơ cấu lại
nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ
công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021
- 2025 và Chương trình phòng, chống dịch COVID-19 (2022 - 2023). Trên cơ sở đó,
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương liên quan triển khai
thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra để phát huy hiệu quả của Chương trình
nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế, đưa nền kinh tế đất nước trở lại
quỹ đạo tăng trưởng bền vững và không bị lỡ nhịp với quá trình phát triển của
kinh tế thế giới; trong đó, tập trung vào 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
như sau:
Một là, mở cửa nền kinh tế gắn với đầu tư nâng cao năng lực y tế, phòng,
chống dịch bệnh.
Hai là, bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm.
Ba là, hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Bốn là, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Năm là, cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh. Đồng thời, Nghị quyết số 11/NQ-CP cũng quy định rõ về nguồn lực
thực hiện Chương trình, cũng như giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, cơ quan Trung
ương, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền.
Theo đó, về miễn, giảm thuế, phí, lệ phí,
Chính phủ quyết định, trong năm 2022, các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng
mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% được giảm 2% thuế suất (còn 8%) đối với
cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và giảm
20% mức tỷ lệ phần trăm khi thực hiện xuất hóa đơn đối với cơ sở kinh doanh, hộ
kinh doanh cá thể tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ phần trăm
trên doanh thu (trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ, như viễn thông, công nghệ
thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh
bất động sản, kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng
(không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất, sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt); giảm 50% mức thuế bảo vệ
môi trường đối với nhiên liệu bay; giảm 30% tiền thuê đất, thuê mặt nước; giảm
50% lệ phí trước bạ khi đăng ký ô-tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước theo Nghị
định số 103/2021/NĐ-CP; tiếp tục rà soát, giảm các loại phí, lệ phí nhằm hỗ
trợ, tháo gỡ khó khăn cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; gia hạn
thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và tiền thuê đất trong năm 2022.
Hỗ trợ lãi suất 2%/năm trong năm 2022 và
năm 2023 thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại đối với các khoản vay
thương mại cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có khả năng trả nợ, có
khả năng phục hồi trong các ngành, lĩnh vực, như: Hàng không, vận tải kho bãi;
du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, giáo dục và đào tạo; nông nghiệp, lâm nghiệp
và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo (đã bao gồm máy móc, trang thiết bị,
thuốc, hóa dược, dược liệu); xuất bản phần mềm; lập trình máy vi tính và hoạt
động liên quan; hoạt động dịch vụ thông tin; cho vay cải tạo chung cư cũ, xây
dựng nhà ở xã hội, nhà cho công nhân mua, thuê và thuê mua.
Nghiên cứu giữ ổn định tỷ lệ tối đa vốn
ngắn hạn cho vay trung hạn và dài hạn, tính toán hợp lý tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, chỉ đạo các tổ chức tín dụng
tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động để phấn đấu giảm lãi suất cho vay khoảng
0,5% đến 1% trong năm 2022 và năm 2023, nhất là đối với lĩnh vực ưu tiên.
Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả
nợ, miễn, giảm lãi vay và giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng bị ảnh hưởng
bởi đại dịch COVID-19, theo dõi sát diễn biến kinh tế, thị trường tiền tệ để có
giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phù hợp, đồng thời bảo đảm an toàn
hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng; tiếp tục nghiên cứu xem xét giảm
tiền điện, tiền nước cho doanh nghiệp, người dân; tiếp tục triển khai chính
sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ các nhóm yếu thế...
Điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ
chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách
kinh tế vĩ mô khác hỗ trợ tích cực cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế
- xã hội, nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ
mô, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Theo dõi chặt chẽ các chỉ số vĩ mô để có
giải pháp kịp thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, trong đó đặc
biệt chú trọng đến chỉ tiêu về lạm phát, nợ xấu; phấn đấu tăng thu, tiết kiệm
chi, giảm bội chi để đạt được các chỉ tiêu trong Kế hoạch tài chính quốc gia và
vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025; trường hợp có biến động, rủi ro
lớn, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Cân đối giải pháp
tiền tệ hỗ trợ Chương trình với tổng thể phương án cơ cấu lại các ngân hàng
được kiểm soát đặc biệt.
Tập trung vốn cho các dự án quan trọng,
cấp thiết, có tác động lan tỏa lớn, có khả năng giải ngân nhanh và hấp thụ ngay
vào nền kinh tế, phù hợp với quy hoạch, sử dụng nguồn vốn hiệu quả, bảo đảm khả
năng cân đối vốn để hoàn thành dự án trong giai đoạn 2022 - 2025; ưu tiên hỗ
trợ giải phóng mặt bằng đối với một số dự án mới có ý nghĩa quan trọng với phát
triển kinh tế - xã hội.
Phấn đấu sớm hoàn thành toàn tuyến đường
cao tốc Bắc - Nam phía Đông, các tuyến kết nối vùng miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên với miền Trung, các tuyến cao tốc vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông
Cửu Long; hạ tầng giao thông kết nối các vùng, cảng biển, cửa khẩu, khu và cụm
công nghiệp; hạ tầng số, chuyển đổi số; hạ tầng y tế, xã hội; lao động - việc
làm; phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển, bảo đảm an toàn hồ chứa nước, thích
ứng với biến đổi khí hậu, khắc phục hậu quả thiên tai;...
Nhìn chung, các giải pháp thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ năm 2022 và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội
đã được Chính phủ nêu rõ trong Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp
chủ yếu thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm
2022 và Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế -
xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/NQ-QH15 của Quốc hội. Tinh thần
chung là Chính phủ sẽ tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào nội lực là chính, ngoại lực là
cần thiết, quan trọng để đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp
với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội cho cả giai đoạn 2021 - 2025 và các
năm tiếp theo, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, sức cạnh tranh, năng lực
nội tại và tính tự chủ trong trung hạn và dài hạn.
Chính phủ tiếp tục đồng hành cùng các chủ
thể trên thị trường, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp. Chính phủ xác
định khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp cũng là khó khăn, vướng
mắc của Chính phủ, là nhiệm vụ Chính phủ và các bộ, ngành phải tập trung giải
quyết. Chính phủ coi thành công của người dân, doanh nghiệp là thành công của
Chính phủ. Từng đồng tiền thuế của dân phải được đưa đến đúng địa chỉ, đúng
thời điểm, sử dụng hiệu quả để mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp đều được hưởng
thành quả do chính mình tạo ra. Chính phủ cùng các cấp, ngành, địa phương sẽ thường
xuyên tiếp xúc, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp và nhân dân; tiếp
tục tập trung tháo gỡ khó khăn, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi
trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trong
nước phục hồi và phát triển cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Toàn bộ hệ thống các cơ quan hữu trách từ
Trung ương đến địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao cần vào cuộc tích
cực, đồng bộ, nhịp nhàng ngay từ những ngày đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán
Nhâm Dần 2022; không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác trong phòng, chống
dịch bệnh COVID-19; không để công việc bị gián đoạn, đình trệ, ảnh hưởng đến
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của nhân dân.
Theo đó, các bộ, ngành, địa phương phải
thực hiện nghiêm chủ đề của năm 2022 là “đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng,
an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển”; không để xảy ra tình trạng “tháng Giêng
là tháng ăn chơi”, “đầu năm đủng đỉnh, cuối năm vội vàng”, “có tiền mà không
tiêu được”; phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức,
nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, kiên quyết “nói không” với các biểu
hiện sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy,...
Trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, các
nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần khẩn
trương xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai
thực hiện kịp thời, hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Thực tiễn
cho thấy, việc tổ chức triển khai thực hiện các quyết sách trong thời gian qua
vẫn là một khâu yếu. Do đó, trong thời gian tới các bộ, ngành, địa phương phải
phát huy cao nhất tính chủ động, vào cuộc từ sớm, từ xa; quản trị tốt rủi ro,
sẵn sàng các phương án ứng phó với mọi biến động có thể xảy ra; thực hiện tốt
nhất các phần việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình; phối hợp nhịp nhàng với
các cơ quan liên quan sớm phát hiện những khó khăn, vướng mắc để chủ động xử lý
theo thẩm quyền hoặc báo cáo, đề xuất giải pháp hợp lý với cấp có thẩm quyền
xem xét, giải quyết theo quy định.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực
hiện, các bộ, ngành, địa phương phải phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Càng khó khăn, thách thức
càng phải đoàn kết, phát huy dân chủ, phân tích kỹ lưỡng tình hình, bàn bạc
thấu đáo, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, người dân, doanh nghiệp, đối
tượng bị tác động, để ban hành quyết sách đúng, trúng, kịp thời, tổ chức thực
thi hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật theo phương châm đặt lợi ích
của đất nước, của nhân dân, của tập thể lên trên hết, trước hết.
Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là Chính
phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tạo điều kiện tối đa cho các bộ,
ngành, địa phương, doanh nghiệp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao,
đáp ứng sự tin tưởng của Đảng, nhân dân giao phó. Việc phân cấp, phân quyền
không thể tách rời công tác kiểm tra, giám sát. Thực tiễn cho thấy, càng phân
cấp, phân quyền, càng phải phải tăng cường kiểm tra, giám sát để ngăn chặn tối
đa tình trạng lạm dụng việc chung, việc công để mưu lợi ích riêng bất chính.
Chính phủ kiên quyết đẩy lùi tình trạng “cánh hẩu”, “sân sau”, “lợi ích nhóm”;
tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm các
hành vi vi phạm pháp luật,...
Chính vì vậy, trong Nghị quyết số
11/NQ-CP, Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các
Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết; Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp tăng cường giám sát, phối hợp đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
Chương trình; Kiểm toán Nhà nước tổ chức thực hiện kiểm toán hằng năm việc tổ
chức thực hiện Chương trình, bảo đảm thực hiện nhanh, hiệu quả, công khai, minh
bạch, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp
cuối các năm 2022, năm 2023 và kỳ họp giữa năm 2024;...
Chính phủ mong muốn, người dân và doanh
nghiệp tiếp tục chia sẻ, ủng hộ, để thực hiện tốt chương trình phục hồi và phát
triển kinh tế - xã hội. Trước tiên là phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở
thực hiện nhanh, thắng lợi “chiến dịch tiêm chủng mùa Xuân”, để làm dầy thêm,
vững chắc thêm “tấm lá chắn ngăn chặn COVID-19”. Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu,
sản xuất thuốc điều trị COVID-19. Triển khai việc mua và tổ chức tiêm chủng
vắc-xin phòng bệnh COVID-19 cho trẻ em từ 5 tuổi đến 12 tuổi,... để củng cố hệ
thống miễn dịch cộng đồng, tạo cơ sở, nền tảng phát triển kinh tế - xã hội đất
nước.
Thời gian qua, trên các phương tiện truyền
thông đại chúng, công luận, các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế trong nước và
nước ngoài đều bày tỏ một niềm tin mạnh mẽ vào quá trình phục hồi và phát triển
kinh tế - xã hội đất nước trong thời gian tới. Tuy nhiên, niềm tin, niềm hy
vọng chính đáng ấy chỉ có thể được hiện thực hóa khi tất cả cùng đồng thuận,
thống nhất vào cuộc. Mọi quyết sách được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ ban
hành là điều kiện cần hết sức quan trọng. Điều kiện đủ là phải được thực thi
hiệu quả để đưa chính sách, quyết sách vào cuộc sống./.
Nguồn: TCCS.
Gợi mở của V.I.Lênin trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trên hành trình tư tưởng, V.I.Lênin không chỉ kế thừa những quan điểm của C.Mác mà còn không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa Mác cho phù hợp với thực tiễn. Một trong những quan điểm của C.Mác được V.I.Lênin bổ sung, phát triển là chuyên chính vô sản. Điều đó gợi mở những nguyên tắc quý giá trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Việt Nam hiện nay
QUAN ĐIỂM
CỦA C.MÁC VỀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN
Lần đầu
tiên C.Mác dùng từ “chuyên chính vô sản” là năm 1848. Theo C.Mác, chuyên chính
vô sản là một chiến lược cách mạng. Cụm từ này được nhắc lại nhiều lần trong
tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”. Theo C.Mác, đấu tranh giai cấp tất
yếu dẫn đến chuyên chính vô sản và nền chuyên chính đó chỉ là sự quá độ tiến
đến một xã hội không giai cấp. Chuyên chính vô sản là một chiến lược gồm hai
bước. Bước một là chuyển từ chuyên chính của kẻ thù sang chuyên chính của đồng
minh bao gồm giai cấp nông dân và giai cấp trung đẳng, thuật ngữ của C.Mác
trong “Nội chiến ở Pháp”, làm thành chuyên chính của đồng minh chiến lược. Khi
đã làm được cuộc chuyển đổi liên minh ấy trở thành đa số rồi, thì bước thứ hai
là dùng con đường dân chủ, tự do đầu phiếu, lập ra chính phủ cách mạng và chế
độ cách mạng.
Lần thứ
hai thuật ngữ “chuyên chính vô sản” được dùng là sau thất bại của Công
xã Paris. Từ việc tổng kết sự thất bại đó, C.Mác nêu lên những bài học về
sự hình thành nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản, không giống với bất kỳ một
hình thức nhà nước nào đã có trước đó, một hình thái nhà nước báo hiệu sự tiêu
vong của nhà nước. Lúc đó, quan điểm này của C.Mác bị đánh giá là “mang màu sắc
ảo tưởng” vì kinh nghiệm của Công xã Paris còn quá nghèo nàn. Thực
tế, Công xã paris chỉ tồn tại có 72 ngày (từ 18/3/1871 đến
28/5/1871). Chuyên chính vô sản theo quan niệm của C.Mác là một hình thức nhà
nước cách mạng đã không còn thuần túy là nhà nước nữa, mà đã nằm trong cái
lôgic của nhà nước dần dần tự tiêu vong.
C. Mác
cũng cho rằng, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là nhằm giải phóng con
người khỏi chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa và xóa bỏ hoàn toàn chế độ người bóc
lột người. Do vậy, đây là cuộc đấu tranh gay go và phức tạp nhất trong lịch sử.
Cuộc đấu tranh này tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản. Nhưng chuyên chính vô
sản không phải là mục đích cuối cùng của cuộc đấu tranh mà giai cấp vô sản thực
hiện. Nó chỉ là bước quá độ để tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp, tiến tới xã hội
không có giai cấp. Giai cấp vô sản cần phải sử dụng nền chuyên chính của mình
để tiếp tục cuộc đấu tranh trong điều kiện mới. Như vậy, ngay từ khi giai cấp
vô sản ra đời, cuộc đấu tranh của nó với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc
lột khác cũng xuất hiện. Cuộc đấu tranh đó diễn ra thường xuyên, liên tục cả
khi giai cấp vô sản chưa giành được chính quyền từ tay giai cấp thống trị cũ,
lẫn khi đã thiết lập được chính quyền cách mạng của mình và sử dụng chính quyền
ấy như một công cụ để xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên, nội dung và hình thức đấu
tranh giai cấp ở những thời kỳ cách mạng khác nhau lại có sự khác nhau do điều
kiện lịch sử cụ thể quy định.
Theo
quan điểm của C.Mác, chuyên chính vô sản chủ yếu gắn liền với bạo lực cách
mạng, gắn với nhiệm vụ “trấn áp” của giai cấp vô sản đối với các giai cấp khác
để nhằm thiết lập và bảo vệ chính quyền của giai cấp mình. Do đó, trong phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong các nước xã hội chủ nghĩa một thời đã
có không ít ý kiến cho rằng quan niệm và thực tiễn chuyên chính vô sản chứa
đựng nhiều bất ổn cần phải được nhìn nhận lại. Nhiều người cho rằng quan điểm về đấu
tranh giai cấp của C.Mác hiện đã không còn phù hợp nữa bởi lẽ quan điểm đó có
“xu hướng kéo lùi lịch sử”, “kích động đấu tranh”, “không phù hợp với xu hướng
hòa bình và hợp tác hiện nay”. Cũng có ý kiến cho rằng quan điểm chuyên chính
vô sản và đấu tranh giai cấp của C.Mác là “chia rẽ và cực đoan”. Do đó, quan
điểm về chuyên chính vô sản của C.Mác cũng không còn phù hợp bởi lẽ nó chỉ nhấn
mạnh đến khía cạnh trấn áp và bạo lực cách mạng. Do đó, một mặt V.I.Lênin đấu
tranh chống lại những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II
như Bécxtanh, Cauxky… cũng như những quan điểm sai lầm của Plêkhanốp, Bukharin,
Tơrốtxki…; mặt khác V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển những quan điểm của C.Mác
về chuyên chính vô sản trong bối cảnh mới.
LÊNIN BỔ
SUNG, PHÁT TRỂN QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN
Là người
kế thừa học thuyết Mác về chuyên chính vô sản, V.I.Lênin đã từng xác định:
“Lịch sử thế giới nhất định sẽ đi tới chuyên chính vô sản, nhưng tuyệt nhiên sẽ
không phải đi theo những con đường bằng phẳng, giản đơn, thẳng tắp”.
Trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể, V.I.Lênin đã từng bước bổ sung, phát triển
quan điểm của C.Mác về chuyên chính vô sản, làm cho nội hàm khái niệm này không
ngừng được mở rộng gắn với thực tiễn phát triển của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế.
Trong
những năm đầu Cách mạng Tháng Mười, khi nhiệm vụ chính yếu nhất của giai cấp vô
sản là lật đổ giai cấp tư sản để thiết lập chính quyền cách mạng vô sản,
V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính chất và chức năng trấn áp bằng bạo lực của
chuyên chính vô sản. Theo V.I.Lênin, “Chuyên chính là một chính quyền dựa trực
tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế cả”. V.I.Lênin nhấn mạnh
thêm: “Chuyên chính vô sản là một thuật ngữ khoa học quy định giai cấp nào là
giai cấp có tác dụng quyết định về mặt này, cũng như quy định hình thức đặc thù
của chính quyền nhà nước được gọi là chuyên chính, tức là: một chính quyền
không dựa vào luật pháp, không dựa vào các cuộc bầu cử, mà trực tiếp dựa vào
lực lượng vũ trang của bộ phận này hay bộ phận khác trong dân chúng. Ý nghĩa và
tác dụng của chuyên chính vô sản là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ đập tan sự phản
kháng của bọn tư bản!”. Sở dĩ V.I.Lênin nhấn mạnh chức năng bạo lực trong giai
đoạn này vì giai cấp bóc lột tuy đã bị lật đổ nhưng vẫn nuôi hy vọng trở lại
cầm quyền nên luôn tìm cách lật đổ chính quyền mới non trẻ. Do đó, để bảo vệ
chính quyền Xô viết vừa mới ra đời, tất yếu phải dùng bạo lực cách mạng.
Quan
điểm này của V.I.Lênin đã nhanh chóng vấp phải sự công kích quyết liệt của các
phần tử cơ hội. Họ cho rằng V.I.Lênin đã cực đoan và “có ý kích động bạo lực”
khi cho rằng chuyên chính vô sản chỉ là bạo lực và trấn áp. Tuy nhiên,
V.I.Lênin đã nói rõ thêm: “Chuyên chính không phải chỉ có nghĩa là bạo lực”.
Theo V.I.Lênin, trong cách mạng vô sản và sau Cách mạng Tháng Muời, do đất nước
còn nhiều các thế lực chống đối, phản động thì tất yếu phải sử dụng bạo lực.
Sau khi
cách mạng đã thành công và đất nước dần đi vào ổn định, thực hiện chuyên chính
vô sản không chỉ là dùng bạo lực, không chỉ là sử dụng công cụ quân đội, cảnh
sát để trấn áp các thế lực phản động, mà quan trọng hơn là xây dựng chính
quyền, mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động. Nói cách khác, chuyên chính vô
sản trong thời kỳ quá độ là xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ kiểu mới, dân
chủ thực chất hơn, tiến bộ hơn chính quyền chuyên chính tư sản, như V.I. Lênin
viết: “... nhà nước trong thời kỳ đó tất nhiên phải là một nhà nước dân chủ
kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có
của), và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)”.
Xuất
phát từ thực tiễn từ sau thành công của cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin đã đưa
ra quan điểm khá toàn diện về chuyên chính vô sản như sau: “Chuyên chính vô
sản... không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ
yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo lực đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi
của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao
động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy
là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ
nghĩa cộng sản”. Theo V.I.Lênin, để thực hiện thành công chuyên chính vô sản
trong thời kỳ quá độ, tất yếu phải có sự liên minh giữa giai cấp công nhân với
các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng: “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của
liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao
động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu
chủ, nông dân, trí thức, .v.v.), hoặc với phần lớn những tầng lớp đó, liên minh
nhằm chống lại tư bản...”.
Theo
V.I.Lênin, chuyên chính vô sản là nội dung chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,
giáo dục, nâng cao dân trí, dân quyền, dân sinh, dân chủ... của cả thời kỳ quá
độ. Tuy nhiên, V.I.Lênin mở rộng ra thêm nội hàm khái niệm chuyên chính vô sản
của C.Mác. Theo V.I.Lênin, trong bối cảnh mới, chuyên chính vô sản là đấu tranh
vừa bạo lực vừa hòa bình; vừa hành chính, vừa giáo dục, tuyên truyền... Điều đó
có nghĩa là theo V.I. Lênin, nội dung của chuyên chính vô sản bao
quát toàn bộ các vấn đề của cuộc cách mạng vô sản chứ không phải chỉ có đóng
khung trong vấn đề nhà nước. V.I.Lênin cho rằng nhà nước chuyên chính vô sản
ngay từ khi mới thành lập đã là vừa là nhà nước, vừa không còn là nhà nước
nguyên nghĩa, đã bước ngay vào quá trình tự tiêu vong của nhà nước.
Việc
V.I.Lênin mở rộng thêm nội hàm cho khái niệm chuyên chính vô sản một mặt để đấu
tranh chống lại những quan điểm xuyên tạc, phủ nhận tính đúng đắn trong quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chuyên chính vô sản; mặt khác để bổ sung,
phát triển quan điểm này trong một bối cảnh mới. Điều này rất đúng với bản chất
khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin bởi chính C.Mác và Ph.Ăngghen -
những người sáng lập chủ nghĩa Mác cũng không coi học thuyết của các ông là
một hệ thống đóng kín, giáo điều mà chỉ là kim chỉ nam cho hành động.
Đây là nguyên tắc phương pháp luận quan trọng trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác
trong hoàn cảnh thực tiễn.
GỢI MỞ
TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô
cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp
cách mạng của Đảng và nhân dân ta”. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng ta
là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sự bổ
sung, phát triển của V.I.Lênin đối với chủ nghĩa Mác nói chung và
quan điểm về chuyên chính vô sản nói riêng đã gợi mở cho chúng ta một nguyên
tắc có tính phương pháp luận trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là giữ nguyên, khư khư với những quan
điểm, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà không
ngừng bổ sung, phát triển. V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không
hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm;
trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà
những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt,
nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Đây là một luận
điểm rất quan trọng của V.I.Lênin trong việc bảo vệ, bổ sung, phát
triển chủ nghĩa Mác.
Ở Việt
Nam hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ rất quan trọng,
rất khó khăn và gian nan. Trong quá trình lãnh đạo công tác bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, Đảng ta đã quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm
của V.I.Lênin về bảo vệ chủ nghĩa Mác. Tại Đại hội XIII (năm
2021), Đảng ta đã chỉ rõ: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây được coi là một trong
những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là
nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội qua, tại Hội nghị Trung
ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đến việc lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo quá trình phát triển của cách
mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do đó, cần phải “kiên định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt
Nam”. Điều đó cho thấy Đảng ta đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm
của V.I.Lênin. Nếu như V.I.Lênin thường
xuyên bảo vệ, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác dưới mọi hình thức
thì Đảng ta cũng luôn kiên định, phát triển và vận dụng sảng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bất kỳ
tình huống nào. Điều đó khiến cho Đảng ta luôn vững vàng trên nền tảng tư tưởng
và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng ăn sâu, bám rễ
và có sức lan tỏa rộng rãi trong đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt
Nam.
Sự bổ
sung, phát triển của V.I.Lênin đối với quan điểm về chuyên chính vô
sản nói riêng và những nguyên lý của chủ nghĩa Mác nói chung đã gợi mở cho mỗi
cán bộ, đảng viên bài học quý giá trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Một mặt, mỗi chúng ta phải luôn kiên định, vững vàng với nền tảng tư tưởng của
Đảng, một mặt phải không ngừng bổ sung, phát triển, vận dụng sáng tạo; đấu
tranh không khoan nhượng với những luận điệu sai trái, thù địch. Đây tuy là một
nhiệm vụ khó khăn, nhiều thử thách nhưng với kiên định, kiên trì và kiên quyết
của người cộng sản, mỗi chúng ta sẽ tiếp tục vững vàng trên nền tảng tư tưởng
của Đảng và vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Nguồn: TG.



