Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG THỜI GIAN TỚI

 

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về công tác bảo vệ an ninh tư tưởng. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu và hợp tác trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống của nhân dân lao  động. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh bị lợi dụng, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải chủ động, tiến công. Do đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải bảo đảm việc cung cấp thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời, chính xác đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, cần quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh tư tưởng là phải coi trọng công tác chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Mặt khác, phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm một cách quyết liệt.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Các cấp ủy cần tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phòng, chống nội gián, bảo vệ an ninh quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn, thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh; phòng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội theo Luật An ninh mạng, trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội; rà soát, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong các hoạt động sử dụng internet và mạng xã hội; tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước về sử dụng internet và mạng xã hội, nhất là Luật An ninh mạng.

Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo. Nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch. Tiếp tục nghiên cứu, khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; làm rõ các vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; đồng thời, chủ động nghiên cứu, phê phán bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch bằng các luận cứ khoa học và minh chứng bằng thực tiễn một cách thuyết phục. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Thứ tư, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông./.

NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

 Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là thiếu đa dạng hóa các hình thức thông tin; chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của nhân dân; tính tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế; chưa phát huy được hết vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội… Các cơ quan chức năng có lúc còn thiếu chủ động trong việc định hướng, cung cấp thông tin; thông tin tích cực, chính thống có lúc, có nơi chưa chiếm được thế thượng phong so với các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội còn hạn chế…

Công tác thông tin đối ngoại, nhất là tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của Việt Nam ổn định và phát triển ở khu vực và trên trường quốc tế có lúc, có nơi còn hạn chế, nên ở nhiều khu vực, nhân dân thế giới chưa hiểu rõ về tình hình Việt Nam, bị tác động tiêu cực bởi những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Dự báo trong thời gian tới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các thế lực thù địch, phản động ngày càng có những chiêu thức, thủ đoạn mới tinh vi hơn để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước. Ví dụ, trên lĩnh vực kinh tế, âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống và cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Trên lĩnh vực đối ngoại, thông qua hoạt động “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là về dân chủ, dân tộc, tôn giáo, từ đó lợi dụng quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận, móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, tạo dựng lực lượng “nòng cốt” cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trong. Trong hợp tác, giao lưu về giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

CHUYỆN KHÔNG CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ...

         Năm 1938, anh sinh viên ngành luật Võ Nguyên Giáp đỗ ngoại hạng về môn kinh tế chính trị trong một kỳ thi hội tụ những sinh viên giỏi nhất về môn này ở xứ Đông Dương. Đề tài anh Giáp trình lên hội đồng có tên là "Cán cân thanh toán ở Đông Dương" được hội đồng do Giáo sư Khérian phê "xuất sắc về một vấn đề ít được biết đến, trong sáng và có cá tính". Giáo sư Khérian cho 17 điểm.

Cũng năm đó, theo thông lệ, có một giáo sư kinh tế ở Đại học [quốc gia] Paris sang kiểm tra sinh viên. Năm đó là ông Geatan Pirou, giáo sư của Trường Luật Paris, đồng thời là Đổng lý văn phòng của Chủ tịch Thượng viên Pháp. Ông có ấn tượng đặc biệt với tác phẩm của anh sinh viên Giáp và hỏi chuyện về anh Giáp. Giáo sư Khérian nói anh Giáp đang có chuyện rắc rối với nhà cầm quyền ở đây và là một người sôi động. Giáo sư Pirou nói "Chúng ta phải kéo anh ta khỏi môi trường thực dân. Hãy đưa anh ta sang Paris. Chúng ta sẽ cấp học bổng cho anh ta". Giáo sư Khérian chuyển đề xuất này với anh Giáp.

Hôm sau anh trở lại cho biết mình không thể bỏ bạn bè và hành động như một người ích kỷ [Trước đó, anh đã từng tham gia những cuộc bãi khóa chống Pháp khi còn là cậu học sinh, gia nhập Tân Việt - một tổ chức cách mạng bí mật, đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào Đông Dương Đại hội,...]. Ký giả Jame Fox có lẽ tham khảo quan điểm của nhiều người khác nêu ý kiến cho rằng câu trả lời anh Giáp thực ra là: "Ma conviction est faite" (Niềm tin của tôi đã xác định).

Còn ý kiến của giáo sư Pirou thì nhà cầm quyền thực dân ở Đông Dương không thể bác bỏ nhưng họ yêu cầu anh Giáp phải làm một bản certificat de loyalisme (cam kết trung thành với chính phủ Pháp). Tất nhiên anh Giáp từ chối phắt. Và tất nhiên anh Giáp cũng đã từ bỏ con đường du học, ngưỡng cửa trở thành một viên chức cấp cao của chính quyền Pháp để rồi trở thành Đại tướng, Tổng tư lệnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh bại người Pháp rồi người Mỹ có ý định áp đặt ý chí của họ lên đất nước Việt Nam./.
Yêu nước ST.

Đấu tranh, đẩy lùi lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng. Toan tính thực dụng Thực tài và thực dụng Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo có một bộ phận cán bộ, đảng viên mang biểu hiện: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể”. Một loại “vi trùng độc hại” phá hủy nhân cách từ bên trong Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường. Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không. Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai. Đấu tranh, đẩy lùi lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Ảnh minh họa / tuyengiao.vn Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua. Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống. Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp. Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân. Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.

Đội Công binh số 1 quyết tâm phát huy truyền thống “Mở đường thắng lợi”

Lần đầu tiên Việt Nam cử Đội Công binh tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ghi thêm dấu mốc mới trong nỗ lực tham gia sứ mệnh cao cả này của Việt Nam. Bên lề Lễ xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 tại sân bay quân sự thuộc Sư đoàn 371, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc phỏng vấn Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển, Chính trị viên Đội Công binh số 1.​ Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 dâng hương trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ quốc tế Lễ xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 Toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 Phóng viên: Việt Nam lần đầu tiên cử đội công binh tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. “Vạn sự khởi đầu nan”, là những người tiên phong mở đường, toàn đội đã xác định nhiệm vụ như thế nào thưa đồng chí? Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển: Chúng tôi luôn xác định là những người tiên phong dò đường, mở lối trong một lĩnh vực hoạt động mới chắc chắn là sẽ có không ít khó khăn, gian khổ đang chờ ở phía trước. Với bản lĩnh của một người lính đã được tôi luyện, nhất lại là người lính công binh “đi trước về sau”, luôn phải đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm, nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, tuy thử thách nhưng thực sự là một niềm vinh dự, tự hào to lớn đối với chúng tôi. Các cán bộ, nhân viên được lựa chọn trong Đội Công binh số 1 là những đồng chí có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm trong công tác và đã có thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng. Chúng tôi được biên chế nhưng trang bị phương tiện, xe máy hiện đại bảo đảm để thực hiện những công việc đặc thù tại địa bàn. Chúng tôi luôn tin tưởng dù thực hiện nhiệm vụ ở xa Tổ quốc hay ở bất kỳ đâu, chúng tôi những người lính công binh luôn giữ vững truyền thống “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh Việt Nam anh hùng. Đội Công binh số 1 quyết tâm phát huy truyền thống “Mở đường thắng lợi” Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển, Chính trị viên Đội Công binh số 1. Phóng viên: Hành trang tham gia sứ mệnh quốc tế của những người lính công binh Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc có gì đặc biệt không đồng chí? Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển: Đó chính là sự kiên cường, dũng cảm trước những khó khăn, thách thức và đặc biệt là truyền thống “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh. Cũng như những người lính mũ nồi xanh Việt Nam tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, hành trang không thể thiếu của chúng tôi đó là những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Tham gia sứ mệnh quốc tế, chúng tôi mong muốn lan tỏa tinh thần nhân văn, nhân ái của những người lính mũ nồi xanh Liên hợp quốc. Vì vậy, ngoài chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ chuyên môn đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình nói chung, chúng tôi cũng chuẩn bị sẵn sàng để tham gia các hoạt động nhân đạo, hỗ trợ người dân nơi đóng quân có cuộc sống tốt đẹp hơn. Thông qua đó, góp phần cùng với toàn lực lượng Gìn giữ hòa bình Việt Nam quảng bá về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, giàu truyền thống tương thân, tương ái. Phóng viên: Nhiệm vụ của chính trị viên tại một đơn vị như Đội Công binh số 1, thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn khắc nghiệt, xa Tổ quốc, sẽ phải đối mặt thách thức như thế nào? Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển: Khi được giao nhiệm vụ là Chính trị viên của Đội Công binh số 1, bản thân tôi cảm thấy rất vinh dự, tự hào được thủ trưởng đơn vị tin tưởng giao nhiệm vụ quan trọng và vinh quang như vậy. Như chúng ta đã biết, chính trị viên là người chủ trì về các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong các đơn vị quân đội. Đội Công binh tương đương với cấp trung đoàn, biên chế 184 cán bộ, nhân viên, hoạt động độc lập, xa Tổ quốc, xa sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của thủ trưởng các cấp, xa sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của cơ quan chuyên môn. Với quân số đông như vậy mà chỉ biên chế một cán bộ chính trị, việc triển khai các hoạt động CTĐ, CTCT, xây dựng đơn vị ổn định đoàn kết thống nhất, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao thực sự là một thách thức to lớn đối với tôi cũng như các chỉ huy của đơn vị. Tuy nhiên tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT không phải là việc riêng của cán bộ chính trị mà là của tất cả mọi thành viên trong toàn đơn vị. Chúng tôi đã có quá trình dài cùng sống, sinh hoạt, rèn luyện cùng nhau, mọi thành viên đều có nhiều cố gắng phát huy tốt vai trò, đảm nhận tốt chức trách, nhiệm vụ của mình với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Tôi tin rằng, với tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, thì mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả các lĩnh vực công tác, khó khăn đến mấy cũng thành công và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Phóng viên: Ngày chính thức lên đường của Đội Công binh số 1 tới Phái bộ ở khu vực Abyei không còn xa, xin đồng chí chia sẻ một số cảm xúc của mình? Thiếu tá Nguyễn Quang Tuyển: Theo dự kiến, chúng tôi sẽ chính thức lên đường vào tháng 5 tới. Với tất cả những gì chúng tôi được trang bị trong các khóa huấn luyện tiền triển khai, sự ủng hộ, quan tâm của các cấp, các ngành, toàn đội đang vô cùng háo hức và hừng hực khí thế chờ ngày lên đường thực hiện nhiệm vụ Gìn giữ hòa bình quốc tế, cống hiến sức mình góp phần tôn vinh hình ảnh đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

MỘT KỊCH BẢN GIẢ DỐI



Sự tàn bạo, độc ác của Ngô Đình Diệm thì sử sách Đông - Tây mãi mãi ghi. Ông ta lê máy chém khắp miền Nam để giết hại đồng bào trong chủ trương "tố cộng, diệt cộng", giết nhầm hơn bỏ sót, với việc làm ác ôn đó thì hắn ta đã ngồi cùng hàng với Hít Le của Đức, Hideki Tojo của Nhật, Mussolini của Ý và Pôn Pốt của Campuchia...

Luận điệu xuyên tạc Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở

Thời gian qua, các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở. Cần sớm ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở Thực tế, khi Dự án Luật được soạn thảo với những vấn đề mới thì việc có những ý kiến khác nhau, tán thành hay chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý với động cơ xây dựng với việc lợi dụng để chống phá là hai vấn đề khác nhau. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật. Trong thời gian này, Đài Á châu tự do (RFA) đăng tải, phát tán một số bài viết xuyên tạc, chống phá Dự án Luật và ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong đăng tải theo kiểu “tát nước theo mưa”. Đài Á châu tự do dẫn ý kiến đối tượng V.M.Đ, vốn là cựu sĩ quan quân đội biến chất bị tước quân tịch, xuyên tạc rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân, để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, rồi nắm được mọi hoạt động tiềm ẩn nên gây nguy hại cho dân. Cho rằng, nếu bây giờ hình thành hẳn một lực lượng như thế thì hình thức gần như bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng... gây bất an cho dân! Bên cạnh đó, đài này làm ra vẻ khách quan, muốn dẫn dắt dư luận chống phá Dự án Luật, để Nguyễn Ngọc Già (tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhân dân, từng bị phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế) xuyên tạc: “Lực lượng này là những người 18 tuổi trở lên và tự nguyện tham gia... Trước đây chưa chính thức, còn bây giờ họ đang soạn dự thảo luật này có nghĩa là chính thức thành lập lực lượng gọi là tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở. Có nghĩa là họ đã trao quyền, tôi muốn nhấn mạnh khi lực lượng này chính thức được thừa nhận bởi luật thì làm gợi lại quá khứ kinh hoàng với khái niệm gọi là “tai mắt nhân dân”, rình mò, hạch sách, nhũng nhiễu...”. Trên trang RFA đăng bài viết mang tính đả kích, bôi nhọ khi cho rằng lực lượng này sẽ sinh ra “những hệ lụy như trấn áp, lộng quyền làm nhớ đến thời kỳ quân quản sau 1975, cũng như thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền Bắc hơn 60 năm trước”. Bài viết xuyên tạc rồi đặt những câu hỏi ngô nghê như “trong xã hội, họ chính thức dùng “dân trị dân”, thế thì nhà nước để làm gì, lực lượng Công an để làm gì, rồi hợp nhất này kia, điều đó là trái khoáy”? Từ đó hướng lái vấn đề thành “hay lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”! Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với Dự án Luật và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Trái ngược lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, chống đối, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Những cơ sở khoa học đã được khẳng định: Một là, xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở. Hai là, thực tiễn hiện nay, cùng với lực lượng CAND, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi cũng không thống nhất, đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó có những vụ việc dẫn đến tình trạng lạm quyền, không làm hết trách nhiệm, rất khó trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, đòi hỏi phải được chuẩn hóa, đưa vào luật. Ba là, do thiếu hành lang pháp lý, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng này thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất... Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong lãnh đạo, quản lý, duy trì, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, làm giảm hiệu quả hoạt động. Bốn là, “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Năm là, thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm, tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Do ở tại cơ sở nên họ là lực lượng tiếp cận đầu tiên. Hay như trong đại COVID – 19, các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã và đang thực hiện có hiệu quả, là lực lượng tuyến đầu cùng với lực lượng nòng cốt Y tế, Công an, Quân đội… trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT, hỗ trợ đắc lực người dân phòng, chống dịch bệnh. Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cần thiết và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn. Việc thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm chỉnh lý, bổ sung những vấn đề mới; thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự luật là vấn đề bình thường khi xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đóng góp ý kiến khác với việc lợi dụng để đả phá, xuyên tạc với những ngôn từ như, ban hành luật sẽ “tạo ra một mạng lưới chân rết, trao quyền để lấy dân trị dân, sinh ra những hệ lụy như rình mò, hạch sách, trấn áp, lộng quyền, không giữ được ANTT mà khiến xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”. Những luận điệu này được tung ra nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá. Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Minh chứng sống động phản bác luận điệu sai trái Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”! Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm… Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích. Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc… Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn… Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”. Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”. Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”! Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển. Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình… Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Những trò lừa của tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”

Ngày 18-4, TAND TP Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt 12 bị cáo phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” khi tham gia tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (CPQGVNLT). 12 bị cáo phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” lãnh án Các đối tượng trong vụ án hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT” thực hiện tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Kon Tum. Bằng thủ đoạn vẽ ra các dự án, cùng những lời hứa đường mật, tổ chức khủng bố “CPQGVNLT” đã xúi dục, lôi kéo không ít người tham gia, thực hiện hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Vì nhẹ dạ cả tin, vì tham “miếng bánh vẽ” không ít người đã lôi kéo, vận động cả người thân của mình tham gia tổ chức, khi nhận ra đã phải trả giá đắt. Chiếc bánh vẽ của những kẻ khủng bố Tổ chức “CPQGVNLT” do Đào Minh Quân cầm đầu, được thành lập tại Mỹ, tiền thân là Tổ chức “Tân dân chủ” chuyên hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng bạo động, vũ trang. Đào Minh Quân cùng các đối tượng tham gia tổ chức này thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, lôi kéo, móc nối, thành lập tổ chức, phát triển lực lượng trong nước và tiến hành đưa người từ nước ngoài về Việt Nam chỉ đạo thực hiện các hoạt động chống phá… Bộ Công an đã từng thông báo “CPQGVNLT” là một tổ chức khủng bố, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ, tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do tổ chức này thực hiện là phạm tội và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Để lôi kéo người dân tham gia, tổ chức “CPQGVNLT” đã dựng lên các chiêu trò bịp bợm như hứa hẹn phong chức tước, bổ nhiệm chức vụ cho các thành viên. Đồng thời chúng còn bịa ra những thông tin, luận điệu xuyên tạc nhằm lừa phỉnh những người nhẹ dạ, nhất là với những người có trình độ học vấn thấp, người dân tộc thiểu số, những người bất mãn với chính quyền địa phương… Tổ chức này còn “vẽ” ra nhiều dự án cùng những lời hứa sẽ cấp đất, xây nhà để đánh vào lòng tham của một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết… Với những chiêu trò đó không ít người đã dính bẫy “miếng bánh vẽ” của tổ chức “CPQGVNLT”. Vì mê muội, các bị cáo đã lôi kéo người thân tham gia tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”. Điển hình, tại TP Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Thị Ngọc Xuân được Lâm Ái Huê hướng dẫn thủ tục đăng ký làm thành viên tổ chức. Xuân thường xuyên dùng mạng xã hội Facebook phát trực tiếp các nội dung kêu gọi người dân tham gia tổ chức và thực hiện “trưng cầu dân ý”. Xuân đã lôi kéo cả chồng, con và người quen của gia đình tổng cộng 6 người tham gia tổ chức. Ngoài ra Xuân còn được các thành viên của tổ chức gửi qua Facebook nhiều tài liệu tuyên truyền, xuyên tạc, bôi xấu chính quyền. Nhận được các tài liệu, Xuân đã tích cực phát tán đến nhiều thành viên. Ngày 19-2-2019, lợi dụng việc đi thăm các hộ gia đình nghèo ở phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Xuân đã mang theo 5 bộ tài liệu, khi đến thăm 3 hộ đã tuyên truyền về nội dung trong tài liệu và phát cho mỗi hộ 1 bộ. Trong thời gian tham gia tổ chức, Xuân được các thành viên tổ chức gửi tặng một điện thoại di động, 300 USD, 400 đô la Canada, 3 triệu đồng. Tương tự Xuân, Nguyễn Thanh Xoan được La Ngọc Duyên lôi kéo đăng ký tham gia tổ chức. Bên cạnh việc phát tán các thông tin tuyên truyền xuyên tạc của tổ chức, Xoan còn lôi kéo, hướng dẫn 4 người tham gia bỏ phiếu “trưng cầu dân ý”. Tại Đồng Nai, Lương Thị Thu Hiền liên lạc với nhiều người quen biết, nói rằng đang tham gia một tổ chức nước ngoài có hoạt động từ thiện, cấp đất, cấp nhà cho người nghèo nên cần thu thập thông tin để đăng ký với tổ chức. Nhiều người nghe theo đã cung cấp thông tin cá nhân cho Hiền, thực chất Hiền dùng để đăng ký “trưng cầu dân ý” cho Đào Minh Quân. Cùng hành động trên, tại Đồng Nai, bị cáo Trần Văn Long đã sử dụng thông tin cá nhân của hơn 20 người để đăng ký “trưng cầu dân ý”. Tại An Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Kon Tum, các bị cáo cũng có hành vi phạm tội tương tự. Các bị cáo tích cực in, phát tán các tài liệu như “Hiến pháp lâm thời”, “Hiến pháp Đệ tam Việt Nam Cộng hòa”… nhằm phổ biến cho nhiều người biết đến tổ chức “CPQGVNLT” với mục đích ủng hộ “Tổng thống” Đào Minh Quân. Ngoài ra, các bị cáo trong vụ án còn làm cờ vàng ba sọc đỏ với nhiều kích thước khác nhau rồi phân phát cho người dân để chuẩn bị nghênh đón “Tổng thống” Đào Minh Quân. z3349442462445_061dfb403ea068759ea4a8da4aaf02b4.jpg -0 Các bị cáo tại tòa. Nỗi ân hận muộn màng Đứng trước tòa, bị cáo Phạm Hổ (SN 1949) thừa nhận chỉ vì có chút bất mãn với chính quyền địa phương nên đã “cả giận mất khôn”, đã tham gia tổ chức phản động của Đào Minh Quân nhằm lật đổ chính quyền. Trước tòa, Phạm Hổ nói rằng “Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, lẽ ra bị cáo nên ở nhà vui thú điền viên, an hưởng tuổi già thì bị cáo lại đi ngược lại. Giờ đây, khi nhận ra chân tướng của sự việc đã quá muộn, bị cáo đã hối hận và mong HĐXX xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ nhất để sớm được về vui vầy cùng con cháu”. Bị tuyên án 3 năm tù, Phạm Hổ rời tòa bước đi không vững, có lẽ lúc này ông ta mới thấm thía sự “cả dại” của mình. Khi luật sư của bị cáo Lương Thị Thu Hiền (SN 1968, ngụ Đồng Nai) trình bày hoàn cảnh, trình độ nhận thức … Hiền đã không còn là chính mình, không còn “bản lĩnh” một “cốt cán” của tổ chức “CPQGVNLT”. Hiền là đối tượng tích cực trong việc khi kêu gọi “trưng cầu dân ý” ủng hộ Đào Minh Quân làm “Tổng thống đệ tam Cộng hòa”. Nhưng trước tòa Hiền chỉ biết khóc và thừa nhận sai lầm. Khi được nói lời cuối cùng, lần nữa, Hiền nhận tội và cảm thấy hối hận vì nghe theo kẻ xấu, bị lôi kéo để rồi giờ đây chỉ biết mong HĐXX khoan hồng khi lượng hình. Trình độ 1/12, tiếng Việt nói còn chưa rõ, nghề nghiệp làm nông, 1 vợ 4 con, trước tòa, Y Phương Ding Riêh nói lời nhận tội cũng không thành câu và chỉ mong HĐXX cho hưởng mức án nhẹ nhất có thể để sớm trở về làm rẫy nuôi con. Chẳng riêng Y Phương Ding Riêh, bị cáo Y Hon Ênuôl, trình độ học vấn cũng mới qua lớp 1, cao hơn là Y Tũp Knul thì lớp 6/12. Hay như trong các bị cáo người có trình độ cao nhất cũng mới hết bậc trung học cơ sở, 9/12, hầu hết đều có hoàn cảnh khó khăn nên không mấy khó hiểu vì sao các bị cáo dễ bị dụ dỗ, lôi kéo. Tất cả bị cáo đều cho rằng mình bị xúi dục, bị mê hoặc, nhận thức hạn chế nên mới nghe những lời hứa hẹn của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”. Khi được nói lời cuối cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi, thừa nhận sai lầm, và mong HĐXX xem xét, khoan hồng khi lượng hình. Đồng thời hứa với HĐXX sẽ không bao giờ tái phạm. Hy vọng đây là bài học không chỉ đối với các bị cáo, những người phải trả giá vì hành vi “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” mà còn là bài học cho tất cả những ai có ý nghĩ tin vào “miếng bánh vẽ” của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”.

Không thể bẻ cong lịch sử

Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai. Lực lượng Công an với những đóng góp quan trọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (bài 6) Lực lượng Công an bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam (bài 4) Mỗi dịp tháng tư về, một số cá nhân, nhóm người Việt Nam ở nước ngoài lại đưa ra những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm như “tháng tư là tháng “vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận - tháng tư đen”, hoặc đòi vinh danh chế độ tay sai “Việt Nam Cộng hòa”, thậm chí là đòi chia đôi lại đất nước giống như trước 1975. Một số đối tượng đưa lên mạng xã hội những quan điểm sai trái, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”. Đáng nói, một số người dù đã được nhân dân nuôi dưỡng, trải qua những năm tháng chiến tranh, giờ đây khi đã nghỉ hưu thì tự cho mình là người có quan điểm “cấp tiến”, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”. Không thể bẻ cong lịch sử -0 Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: Tư liệu Tất cả những việc làm đó hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, đối tượng hướng đến là giới trẻ, những người sinh ra sau ngày 30/4/1975 vốn không phải trải qua những năm tháng chiến tranh đau thương, mất mát để thấu hiểu ý nghĩa của độc lập, thống nhất và hòa bình. Ý đồ những luận điệu sai trái này nhằm mang đến cách nhìn lệch lạc, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển đất nước. Từ đó, các đối tượng hướng lái vấn đề, quy trách nhiệm cho Đảng ta, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng. Cách nhìn của các đối tượng xấu muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc. Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ. Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phỏng vấn báo chí đã nói: “Chiến thắng 30/4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại”. Ngay cựu Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ khi nhận xét về việc một số người gọi ngày 30/4 là “quốc hận” và đòi “phục quốc”, ông đã nói rằng: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây đâu mà phục quốc?”. Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất non sông, bảo vệ chủ quyền đất nước là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại. Quá khứ phải lùi lại, lịch sử sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại, càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như vậy. Gần 50 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, thời gian càng lùi xa, chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam càng nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này. Nhân dân Việt Nam luôn thiết tha, yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc, cũng như nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà nhân dân ta, cả hai miền Nam - Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bao thế hệ ông cha đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do, để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, tự do, mưu cầu hạnh phúc, bạn bè quốc tế đến làm ăn, sinh sống, thăm thú trong thanh bình, cùng chung tay xây dựng một đất nước ngày càng thể hiện cơ đồ, vị thế trên trường quốc tế. Ai đó, vì bất cứ lý do gì, có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đất mẹ bao dung

Một số người chống đối, từng “bên kia chiến tuyến”, sau giải phóng thì ra nước ngoài, từ đó giữ cách nhìn thù hận về đất nước, quê hương. Khi được vận động trở về, họ cho rằng, không có khái niệm hòa hợp, một đi là không thể quay về. Quan niệm đó đang chứng tỏ sự bảo thủ, định kiến trước sự đổi mới, mở cửa của đất nước cũng như truyền thống bao dung, chung lòng đất mẹ, ân nghĩa một nhà… Những người con xa quê luôn nặng lòng hướng về Tổ quốc Luật sư Hoàng Duy Hùng, người từng đắc cử Nghị viên Hội đồng thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử ngày 12-12-2009, người có quá khứ chống đối quyết liệt, cho rằng “không trở về” thì nay đã là con người có cách nhìn khác. Ông nói: “Tôi chống Đảng, Nhà nước từ năm 1984 và trở thành một đảng viên trung ương của đảng Đại Việt vào năm 1986. Khi được tổ chức cử về nước, lúc đó quê hương còn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía”. Sau khi bị bắt giữ, xử lý, rồi được trả tự do vào năm 1993 thì đất nước ta vẫn còn nghèo, Hoàng Duy Hùng mang tư tưởng chống đối và tiếp tục có các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Tuy nhiên, dần dần nhận thức trong ông đã thay đổi. “Tôi yêu đất nước này. Chính bởi lòng yêu nước giúp tôi hiểu rằng mình là con của mẹ Việt Nam. Mẹ tôi có thể có lúc nghèo khổ, áo rách nhưng đó là mẹ tôi. Mẹ tôi có những lúc mặc áo sang trọng cũng là mẹ tôi. Mẹ tôi càng nghèo khổ thì tôi càng thương hơn và phải có trách nhiệm là làm cho mẹ tôi được hạnh phúc, đó là bổn phận và trách nhiệm. Tôi quan niệm, nếu đất nước gặp khó khăn thì phàm là đàn ông phải “làm trai cho đáng lên trai” phải có trách nhiệm với mẹ mình” - luật sư Hoàng Duy Hùng chia sẻ. Ông kể, rời quê hương khi còn rất nhỏ, ông luôn ao ước được ăn một cái Tết đầm ấm ở quê nhà. Ngày 20/1/2022, ông đáp chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam và cảm xúc lần này khác nhiều so với những lần trước bởi đây là lần đầu tiên, ông được trở về đón một cái Tết đúng nghĩa truyền thống tại quê hương, xứ sở. Sau những ngày ở trong khu cách ly, ông Hùng tham dự chương trình Xuân Quê hương. “Giờ phút được đứng tại Nhà hát Lớn, nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc tung bay, tôi có một cảm xúc đặc biệt mà chỉ những người con xa quê mới có thể hiểu được” – luật sư bày tỏ. Đất mẹ bao dung -0 Kiều bào về thăm Trường Sa. Gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thống nhất đất nước, câu hỏi về sự hòa hợp dân tộc giữa đất nước, nhân dân Việt Nam với những người Việt di cư sang Mỹ vẫn là vấn đề lớn. Suy ngẫm sâu xa truyền thống nhân văn của dân tộc “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, sự bao dung, độ lượng của đồng bào dòng máu Lạc Hồng cùng với xu thế hòa bình, hợp tác toàn cầu, việc gác lại hận thù, cùng đoàn kết hướng về nguồn cội là yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Hòa hợp dân tộc ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ sự hòa giải những mâu thuẫn trong nội bộ người Việt phát sinh từ năm 1945 đến ngày nay, trong đó vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc được nhắc đến nhiều sau Hiệp định Paris và sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 từng kể, khi ông sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh Việt Nam tại Đại học Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo sư và khoảng một ngàn sinh viên. Một sinh viên đã hỏi: “Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã chiến thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc nhưng tại sao lại có chuyện hàng triệu người bỏ nước ra đi?”. Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh trả lời, việc có hàng triệu người rời Việt Nam sang Mỹ sau năm 1975 là sự thật lịch sử. Điều này có nhiều nguyên do. Thứ nhất là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền “nếu Việt Cộng giải phóng sẽ có “tắm máu””. Việc tuyên truyền như vậy khiến nhiều người lo lắng nên sau 30-4-1975 họ tìm cách ra đi càng nhanh càng tốt. Những người ra đi gồm người thuộc chính quyền Sài Gòn cũ, những người thấy ở lại làm ăn không thuận lợi, một số người giàu có và số khác không thuộc các thành phần trên cũng đi vì sợ “tắm máu”. Một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên cũng kiếm đường ra đi... “Nhưng, dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi đều coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi” - Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh giải thích. Việc nhiều người Việt Nam di cư sang Mỹ sau 30-4-1975 nằm trong bối cảnh lịch sử chịu nhiều tác động chi phối lúc bấy giờ nên không thể lấy việc di cư như vậy để phán xét, quy chụp qua lăng kính màu xám. Trong lịch sử của nhiều quốc gia trên thế giới, việc một bộ phận người dân di tản sang nước khác sau khi kết thúc chiến tranh cũng là chuyện bình thường, bởi bối cảnh hậu chiến đặt ra những vấn đề có tính quy luật khiến sự di tản khó tránh khỏi. Sau gần nửa thế kỷ, sự di cư của người Việt sang Mỹ đã là một vấn đề lịch sử và cũng không phải là lúc ngồi soát xét lại tại sao có chuyện như vậy để đổ lỗi nguyên nhân, trách nhiệm của bên nào. Lịch sử không xoay vòng để những người di cư tìm lại câu hỏi nên đi hay ở của bối cảnh quá khứ với hiện tại. Điều quan trọng và mang tính thời sự hiện nay là làm thế nào để việc hòa hợp dân tộc được thực hiện thiết thực để người Việt dù ở bất cứ đâu, bất cứ thành phần, địa vị nào cũng đều hướng về Tổ quốc, đoàn kết vì tương lai đất nước. Điểm cốt yếu trong hòa hợp dân tộc chính là quan điểm của “người mẹ”. Con cái có thể ruồng bỏ cha mẹ mà đi nhưng trong trái tim người mẹ đọng lại là sự bao dung, độ lượng, sẵn sàng dung thứ khi người bỏ đi nhận ra lẽ phải. Tháng 6-2007, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có cuộc gặp gỡ kiều bào tại quận Cam - một địa chỉ hội tụ đông đảo người Việt di cư sau 30-4-1975. “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi nhưng “Quốc văn giáo khoa thư” nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường... Nếu ai đó còn có ngần ngại, còn có bất đồng, chúng ta hãy nói với các bạn ấy rằng Mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng dang rộng cánh tay đón nhận tất cả những người con của mình về với Tổ quốc. Không có lý do gì, sự bất đồng gì ngăn cản sự đoàn kết, thống nhất quốc gia trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đất nước của chúng ta. Tôi cũng đề nghị với những người có những cử chỉ bất đồng, chúng ta hãy cho họ hiểu rằng những thông tin đưa đến cho họ chưa đầy đủ. Họ chưa có điều kiện trực tiếp quay về quê hương đất nước, trực tiếp chứng kiến những đổi thay nhanh chóng, những tiến bộ đang diễn ra trên đất nước chúng ta” - Chủ tịch nước chia sẻ. Chủ tịch nước phân tích: “Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hòa. Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung, vì mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”. Khi đó, khoảng một ngàn kiều bào đại diện cho cộng đồng người Việt tại quận Cam và nhiều tiểu bang khác của Mỹ đã đồng loạt đứng lên vỗ tay xúc động khi nghe những lời chia sẻ từ Chủ tịch nước Việt Nam. Tổ quốc dang rộng vòng tay với cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới không chỉ là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc mà đã trở thành hành động chính trị của đất nước. Một trong những chủ trương được Đảng ta khẳng định rõ là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài). Dù đã có những chuyển biến trong nhận thức, hành động thì một sự thật là cho đến nay, sau gần 5 thập kỷ chấm dứt chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn còn đó những điều chưa được khỏa lấp. Trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vẫn còn đó những người chống đối sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước Việt Nam, thậm chí chống đối quyết liệt suốt gần nửa thế kỷ qua. Không thay đổi nhận thức với chính mình, họ lại truyền bá tư tưởng này cho con cái, định hình một cách nhìn lệch lạc, thù hận về nơi vốn là gốc gác, tổ tiên của mình, dòng họ mình. Hơn lúc nào hết, những người con ở xa đất mẹ cần nhìn nhận rõ truyền thống và xu hướng thời đại, vượt lên ranh giới để đoàn kết, hướng về nguồn cội. Tất cả cần bằng sự chân thành, hòa hợp chứ không phải là đưa ra các điều kiện để đong đếm “thương lượng”, hay sự mặc cả thương mại, hay ý đồ không trong sáng.

Ý NGHĨA CỦA NGÀY 30/4/1975 LÀ ĐIỀU KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN


Trưa 30/4/1975, cổng Dinh Độc Lập bị húc đổ. Giây phút lịch sử khi lá cờ quân giải phóng đã tung bay ngay tại Tổng hành dinh của Chính quyền Sài gòn. Đánh dấu một dấu mốc quan trọng khi đất nước thống nhất, non sông đã được thu về một mối, kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.


Tuy vậy, trong những ngày tháng Tư này, bên cạnh những niềm vui, niềm hân hoan hướng đến ngày kỉ niệm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4) thì có những người vốn dĩ là tay sai cho chế độ VNCH đang sống ở nước ngoài lại ra sức kêu gào, xuyên tạc ý nghĩa của ngày lịch sữ này của cả một dân tộc. Những hành động của chúng lôi kéo được nhiều đối tượng không thiện chí với Việt Nam, các thế lực thù địch tham gia giúp sức. Bằng nhiều chiêu trò như cắt ghép hình ảnh, xây dựng video với những lập luận như “Giải phóng miền nam là sai lầm”?, “Ngày 30/4 bản chất là Bắc Việt xâm lược Miền Nam”, “nếu không giải phóng miền nam thì giờ thì Miền Nam đã phát triển ngang với Hàn Quốc”  ...  


Những lập luận nghe có vẻ thuyết phục, kết hợp nhiều thủ đoạn tô vẻ cắt ghép hình ảnh, câu chữ đã đánh lừa được nhiều người có nhận thức thấp. Thậm chí có nhiều kẻ vốn dĩ chẳng biết gì về lịch sữ, không cần đọc, tìm hiểu nhưng vẫn vào a dua, gào thét như mình là nhà tri thức, kẻ hiểu biết....


Đó là lý luận của những kẻ đua càng, tay sai đang ở Hải ngoại, của những thế lực thù địch, những kẻ đó sẻ không vui khi thấy Việt Nam thống nhất, toàn vẹn và phát triển.


Việc chúng ta giải phóng Miền Nam là cuộc chiến chính nghĩa. Giữa một bên dân tộc bị xâm lược, đô hộ và một bên là bên xâm lược đó là đế quốc Mỹ. Còn nhà nước VNCH thực chất là một chính quyền tay sai phục vụ cho mục đích xâm lược, cai trị của đế Quốc Mỹ. Lật lại lịch sữ của đất nước trong những năm tháng xâm lược nước ta quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh đã gây ra hàng loạt tội ác như giết người, hãm hiếp, đánh đập tù nhân, ném bom vào thường dân, rải chất độc da cam v.v... Một số vụ tàn sát điển hình mà Đế quốc Mỹ và VNCH đã gây ra, như vụ triệt hạ Hướng Điền (Quảng Trị, tháng 7-1955, giết hại 3 lần với tổng cộng 91 người, trong đó có 15 phụ nữ và trẻ em gái bị hãm hiếp), vụ Đại Lộc (Quảng Nam, cuối năm 1957, bắt và giết hại 5.000 người)… Diệm cũng cho xây dựng hệ thống nhà tù và trại tập trung dày đặc. Nhà tù cỡ lớn giam từ ngàn người trở lên thì lúc này miền Nam có khoảng 100 cái, như Chí Hòa (chứa 4.000 người), Phú Lợi (6.000 người), Biên Hòa (3.000 người), Thủ Đức chứa (2.000 người)…. Hầu hết đều có đầy đủ bằng chứng để chứng minh và buộc tội những người đã có hành động gây ra tội ác chiến tranh.


Chiến thắng ngày 30/4 là chiến thắng mang tính lịch sử nó thể hiện sự đúng đắn trong đường lối, sách lược của cách mạng ta và được cả các nước xâm lược công nhận. Sau sự kiện ngày 30/4/1975, Tờ Los Angeles Times đã có ngày dòng tít: “NGƯỜI MỸ RA ĐI, CỘNG HÒA ĐẦU HÀNG, NƯỚC VIỆT NAM TRẢ LẠI CHO NGƯỜI VIỆT…”; tờ báo hàng đầu của Nhật Bản Asahi Shimbun đã đăng tải bài xã luận trong đó có đoạn: “ CHIẾN TRANH KẾT THÚC VỚI THÁNG LỢI THUỘC VỀ LỰC LƯỢNG GIẢI PHÓNG, ĐIỀU ĐÓ NÓI LÊN RẰNG, THƯỜI ĐẠI MÀ CÁC NƯỚC LỚN DÙNG SỨC BÓP NGHẸT CHỦ NGHÃI DÂN TỘC ĐÃ CHẤM DỨT”; tạp chí châu Âu (Pháp) bình luận: “Sau 30 năm chiến đấu – những cuộc chiến đấu lạ lùng – từ mùa xuân này, hòa bình đã trở lại trên toàn nước Việt Nam. Hòa bình trong độc lập. Chắc chắn đây là thắng lợi trọn vẹn nhất mà một dân tộc có thể giành được với một đế quốc hùng cường vào bậc nhất. Phải hàng năm, hàng chục năm nữa mới có thể lường hết được tầm quan trọng của thắng lợi này”.


Sau ngày giải phóng 30/4/1075, nhiều học giả phương Tây và chính khách Hoa Kỳ cũng thừa nhận đây là cuộc chiến của người Mỹ xâm lược Việt Nam và người Việt Nam chống lại sự xâm lược của người Mỹ. Trong cuốn sách Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ (xuất bản năm 1991 tại Mỹ), tác giả John Carlos Rowe và Rick Berg thẳng thắn chỉ ra: “NÓI NGẮN GỌN, MỸ XÂM LĂNG VIỆT NAM, Ở ĐÓ MỸ LÀM NGƠ TỘI ÁC XÂM LĂNG VỚI NHIỀU TỘI ÁC KHỦNG KHIẾP CHỐNG NHÂN LOẠI Ở ĐÔNG DƯƠNG”; Trong một cuộc họp báo ngay sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Heinz Alfred Kissinger, cựu Ngoại trưởng Mỹ thừa nhận: “Chúng ta đã sai lầm khi biến Việt Nam thành một nơi thí nghiệm chính sách của chúng ta chứ không phải đối với chính sách của người Việt Nam. Tôi nghĩ rằng, có lẽ việc đưa các lực lượng quân sự Mỹ vào Việt Nam là biện pháp giải quyết tồi nhất, vì điều đó có nghĩa là đưa một yếu tố ngoại lai vào”; Cố giáo sư Trần Chung Ngọc - cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa (người định cư ở Mỹ sau sự kiện 30/4/1975) đã thẳng thắn chỉ ra: “Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng. Nhiều hồ sơ mật về cuộc chiến đã được giải mật. Với những hiểu biết mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của Mỹ… Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ, Mỹ xâm lăng vì cái thuyết Domino sai lầm…”


Điều này chứng tỏ một điều cuộc chiến của chúng ta là cuộc chiến CHÍNH NGHĨA, nó thể hiện sự đúng đắn và việc giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước như một mốc son chói lọi của dân tộc.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC DỰ ÁN LUẬT LỰC LƯỢNG THAM GIA BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ CƠ SỞ


Trong thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều đợt hội thảo lấy ý kiến của các nhà nghiên cứu, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở thì một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các cá nhân vì động cơ sai lệch đã gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật, cụ thể:


Trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân phản động đã nối tiếp nhau đăng tải, phát tán nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, chống phá Dự án Luật với những luận điệu cho rằng: Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi rình mò, hạch sách, nhũng nhiễu…gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng... gây bất an cho dân... để hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”,... có thể thấy, đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt dư luận tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với Dự án Luật và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

            

Trái ngược lại, các nhà nghiên cứu, chuyên gia đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan; là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ ANQG, bảo đảm TTATXH. Trên thực tế hiện nay, các địa bàn phường, xã ngoài lực lượng CAND vẫn còn có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách (đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng), các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đặc biệt, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tính chủ động, tích cực thực hiện nhiều nhiệm vụ hỗ trợ công tác bảo đảm ANTT trên địa bàn, bởi vì họ là lực lượng gần dân, sát dân, hiểu và nắm được tâm, tư nguyện vọng của nhân dân nên góp ích rất nhiều trong việc thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. 

            

Như vậy, có thể thấy việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới và việc dự thảo Dự án Luật với những vấn đề mới bao giờ cũng đưa ra thảo luận, đóng góp ý kiến, có những ý kiến đồng tình hoặc chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý trên tinh thần xây dựng khác với việc lợi dụng để xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.


Việt Tân sử dụng chiêu trò để bôi nhọ danh dự của lực lượng vũ trang

 


Trên trang mạng Việt Tân ngày 20/4/2022 có đăng tải bài viết với nội dung “CÔNG AN VÀ BỘ ĐỘI AI GIỎI HƠN”. Trong đó, chúng nói xấu, xuyên tạc hạ thấp uy tín, danh dự đồng thời làm mất lòng tin của nhân dân với Công an và Quân đội. Vậy thực chất những luận điệu xuyên tạc đó như thế nào?

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG


Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

GIÁO SƯ CÕNG THƯƠNG BINH NGÀY KỶ NIỆM!

         Đừng loanh quanh, viện lý do, biện minh nữa. Dù gì mục đích cuối cùng của mấy ông vẫn là đưa môn SỬ làm môn phụ, là THPT bỏ học sử, trong chương trình giáo dục phổ thông. (?! )
   Các ông nói đã nghiên cứu rất kỹ, nhưng thực ra các ông nghĩ kỹ và tìm đủ mọi cách, lách mọi cửa để bỏ môn sử. Đừng lừa dân bằng cái từ "tích hợp" nữa, tích thế nào được lịch sử dân tộc với sông ngòi, xích đạo của môn địa lý.

- Ý đồ có từ những năm 2012-2014, các ông dự thảo chương trình Đổi mới không có môn Lịch sử riêng, mà tích hợp vào môn Giáo dục công dân, gọi chung là: “Công dân với Tổ quốc”. 

   Sau đó bị dư luận phản đối, buộc hệ thống chính trị phải vào cuộc. Buộc phải bỏ môn các ông mới sáng tác: "Công dân với Tổ quốc"!.

    Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp 10 (QH khoá 13), đã ra Nghị quyết: “Tiếp tục giữ môn Lịch sử trong Chương trình và Sách giáo khoa mới”. Kết quả bỏ phiếu (ảnh dưới): 90,96% nhất trí "Giữ lại môn lịch sử" 

    * Ban tuyên giáo TW họp với các bên, kết luận: 
“Vai trò môn lịch sử trong xã hội là rất cần thiết, cần phải tôn trọng môn học và được thể hiện trong chương trình và sách giáo khoa mới”.

     * Hội Khoa học lịch sử họp hỗn hợp kiến nghị:
 “Lịch sử là môn Quốc sử…phải thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, phải là môn học bắt buộc…”

    Thế nhưng các ông hậm hực nói: “BGD- ĐT chỉ tiếp thu với tinh thần có mức độ!” 

Rồi 4 năm vẫn âm mưu tính cách khác. Bỗng dưng ngày 9/4/2022, VTV1 đưa tin: Từ năm học 2022- 2023, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới: môn Lịch sử (từ lớp 10), thuộc diện môn Tự chọn!

   Các ông Lý sự: "không bỏ sử", nhưng vì môn sử khó, khô, ngàn năm chiến tranh, hàng trăm triều đại, hàng ngàn trận đánh lịch sử...các cháu ngại học sẽ không chọn...coi như bỏ môn sử chưa hả! (?).

  Lịch sử dân tộc là cả quá trình liên tục mà các ông bố trí đầy đủ thế này đây:

  + Tiểu học: Lịch sử học nhập nhoà chung với các môn khác; 
    
 + THCS: ghép chung với môn Địa lý (Sử- Địa);
      
+ THPT: lúc đầu nhập vào môn Công dân, nay biến thành môn Tự chọn!

  Mới 6 tuổi đầu (lớp 1) đến nghĩa của từ Lịch sử còn chả hiểu nữa là "trộn" hổ lốn. Tôi ko phải giáo ngu, tiến sĩ gì nhưng tôi nghĩ tiếp thu theo độ tuổi, nếu nghĩ đúng theo Bác thì phải học sử cả 3 cấp phổ thông và là môn học độc lập.

- Tiểu học: nên giảm tải

- THCS : nên học cơ bản, khái quát cao.

- THPT: Học chuyên sâu, chuyên đề lịch sử (đây mới là hành vi trọng tâm)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống Tàu vô cùng ác liệt nhưng rất đỗi hào hùng, sự hy sinh xương máu để có ngày hôm nay...thế mà mới 50 năm nay, đã như chuyện cổ tích, lớp trẻ (có cả lãnh đạo trẻ) đã khó chịu khi phải nghe nhắc lại. Nhân cơ hội này lũ lật sử muốn bỏ từ Ngụy, coi Ngụy quyền là một nhà nước thì CCB chống Mỹ thành là kẻ vào xâm lược miền Nam rồi (?!) 

  Đã có tôn vinh, đặt tên đường cho lũ bán nước: Trương Vĩnh Ký, Khải Định (đang), Phan Thanh Giản, Phan Huy Quát (sẽ)...Đúng như lời tự sự cuối bài này.

  Cũng như các ông, nhưng PGS, TS Phạm Xuân Dương, Hiệu trưởng trường ĐH Hàng hải. Mới chủ nhật vừa rồi đã tổ chức tại trường: gặp mặt cựu sinh viên lên đường ra trận, ông đã cõng một cựu sv là thương binh từ sân khấu xuống Hội trường. Đó mới là người có học, biết sử và đó mới thực sự là nhà giáo của nhân dân (ảnh)

   Và, Hãy nghe lời tự sự xót xa của CCB trước thi hài đồng đội:

  " Tao sợ một ngày bọn ta chết đi, người ta sẽ quên tao, quên mày, quay lại biết ơn những kẻ xâm lược, giẫm đạp lên mồ mả tổ tiên chúng ta. Lúc đó chúng ta mới thật sự chết !"

   Cả dân tộc đang nhìn về Hà Nội thủ đô ngàn năm văn hiến, nín thở chờ ý kiến của Quốc hội, nơi đại diện cho Quyền & lợi ích hợp pháp của nhân dân.
    Hỡi lũ 72 ăn cơm dân, mặc áo Đảng, Hãy mở to mắt ra nhìn Ukraine, Mianma rồi hãy đòi bỏ sử, đòi đa nguyên, đa Đảng nghe chưa!

Môi Trường ST.

NÓNG: BA LAN TRỞ THÀNH NƯỚC KHỐI EU ĐẦU TIÊN BỊ NGA BẮT KHÍ ĐỐT DO KHÔNG CHỊU THANH TOÁN BẰNG ĐỒNG RUB!

     RT đưa tin tối nay cho biết, Nga đã ngừng cung cấp khí đốt tự nhiên cho Ba Lan thông qua đường ống Yamal. Ba Lan là quốc gia EU đầu tiên bị Nga ngừng cung cấp khí đốt. Lý do được đưa ra là Ba Lan từ chối tuân theo yêu cầu gần đây của Nga. Mọi chuyện rất đơn giản, "không rub - không khí đốt".
Hiện Nga đang là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất Ba Lan với 40%, chủ yếu thông qua đường ống Yamal.
Trước đó, Ba Lan tuyên bố sẽ "cạch mặt" Nga và bày tỏ các nước EU cũng mạnh dạn từ bỏ khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, chưa có quốc gia nào đáp lời Ba Lan. Và Ba Lan tự dưng trở thành quốc gia đầu tiên bị cắt khí đốt./.
Môi Trường ST.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, TÀI SẢN VÔ GIÁ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 


Với đất nước và dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người con trung hiếu, vừa là lãnh tụ vĩ đại. “Người là Cha, là Bác, là Anh. Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”, như lời thơ của Tố Hữu. Với thế giới, nhất là với nhân dân các nước bị áp bức, khao khát phá xiềng nô lệ, Người là vĩ nhân. Từ rất sớm, UNESCO đã vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất”.

Về với thế giới người hiền ở tuổi 79 (năm 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Đó là các tác phẩm tiêu biểu, như “Bản án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925), “Đường Cách mệnh” (năm 1927), “Tuyên ngôn Độc lập” (năm 1945), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (năm 1946), “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (năm 1969) và bản “Di chúc” thiêng liêng bất hủ (năm 1969) được coi là những kiệt tác, những bảo vật quốc gia vô cùng quý giá. Bao trùm lên tất cả là tư tưởng Hồ Chí Minh, kết tinh của trí tuệ và tinh hoa văn hóa Việt Nam, của tinh thần yêu nước, thương dân, yêu Tổ quốc và đồng bào, yêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, yêu Đảng Cộng sản, ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của cách mạng Việt Nam.

Gần bốn thập kỷ qua, Đảng ta đã liên tiếp phát động nhiều phong trào học tập, từ “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” đến “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nay là “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm có liên quan đến chủ đề tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có nhiều cuộc ở tầm cỡ quốc gia đã được tổ chức, với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học.

Mới đây nhất, sau Đại hội XIII của Đảng là cuộc Hội thảo khoa học do Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản tổ chức với chủ đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới, ngọn cờ dẫn dắt đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc” (Nhìn lại 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và hướng tới tầm nhìn năm 2045). Đọc cuốn Kỷ yếu của Hội thảo (dày 500 trang), tôi thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đã được đề cập một cách sâu sắc và toàn diện: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và phát triển đất nước; về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... Tôi đã bắt gặp nhiều tác giả là nhà khoa học nổi tiếng như: GS. TS. Phùng Hữu Phú, GS. TS. Hoàng Chí Bảo, GS. TS. Trần Ngọc Đường, TS. Bùi Ngọc Thanh, GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc, PGS. TS. Đoàn Minh Huấn, TS. Nhị Lê, PGS. TS. Vũ Trọng Lâm, GS. TS. Vũ Dương Huân, PGS. TS. Trần Vi Dân... Mỗi bài viết của các nhà khoa học ấy đều đem lại và nhân lên trong tôi nguồn cảm hứng và niềm tin.

Về phần mình, tôi muốn nhân đây, trình bày một vài ý kiến cá nhân, với nhận thức rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng vô giá của Việt Nam.

Thông thường, một học thuyết (dù là triết học, kinh tế - chính trị học hay xã hội học) được xếp theo hai cấp độ: cấp độ 1 được gọi là chủ nghĩa (chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn). Cấp độ 2 được gọi là tư tưởng (tư tưởng Mao Trạch Đông; tư tưởng chủ thể Kim Nhật Thành...).

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chủ nghĩa (triết) là học thuyết hay hệ thống lý luận về chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa... do một người hay một tập thể đề xuất. Ví dụ: Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết cách mạng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin, là một hệ thống hoàn chỉnh, hữu cơ những quan điểm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học... Tư tưởng, tuy nói ở cấp độ 2 những vẫn là học thuyết có chiều sâu và tầm nhìn xa rộng, có hàm lượng chất xám cao, có giá trị lý luận và thực tế không khác gì chủ nghĩa.

Con người Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đến với cách mạng Việt Nam, với Đảng và dân tộc ta từ rất sớm, nhất là từ sau khi nước nhà giành được độc lập (năm 1945). Vị trí và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã được xác định từ lâu. Từ đổi mới đến nay, rõ nhất là trong hai bản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Với Đảng ta, Cương lĩnh là Tuyên ngôn chính trị của Đảng; là ngọn cờ chiếu đấu của Đảng và dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, là nền tảng lý luận, nền tảng tư tưởng và chính trị, định hướng cho hoạt động của chúng ta hiện tại và tương lai.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ghi rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng đã hàm ý rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng, chứ không đơn thuần là tập hợp những ý tưởng, những suy nghĩ cụ thể, riêng lẻ.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã đưa ra một định nghĩa rất chính xác, ở tầm cao: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(2). Câu hỏi đặt ra là: nếu tư tưởng Hồ Chí Minh là sự một học thuyết chính trị cách mạng, như học thuyết (hay chủ nghĩa) Mác - Lênin thì vấn đề đặt ra cho lớp người kế thừa là phải “học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo” chứ sao lại “học tập và làm theo”?

Tôi nghĩ, ở đây có một sự hiểu chưa thấu đáo đối với chủ trương của Đảng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” mà tôi sẽ đề cập ở phần sau. Xin nhắc lại lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, qua Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội XIII của Đảng là phải: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(3).

Vậy là, trong bốn sự kiên định đã nêu, chỉ có kiên định thứ nhất là duy nhất được đi kèm với “vận dụng và phát triển sáng tạo”. Vì sao? Vì một lẽ rất giản đơn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng.

Về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì đã rõ. Nếu học tập mà không làm theo thì chỉ có hiểu biết trên giấy tờ. Học tập và làm theo là học đi đôi với hành. Học mà không hành thì chỉ là học suông, nói suông. Việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được phát động và thực hiện trong Đảng, trong dân ta từ lâu, không phải chỉ mấy nhiệm kỳ Đại hội của Đảng gần đây. Trong phong trào thi đua xây dựng Đời sống mới, Bác Hồ đã nói: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức, thì không thành người”.

Lời nói ấy của Bác đã nhập tâm trong cán bộ và nhân dân ta thời đó.

Nói học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là theo nghĩa nào? Tư tưởng Hồ Chí Minh nói ở đây không phải là tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách một học thuyết chính trị, cách mạng mà là những tư tưởng, những lời chỉ dạy cụ thể của Bác dù đề cập dưới góc độ chính trị, tư tưởng hay văn hóa, đạo đức.

Ví dụ, Bác nói: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”(5). “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”(6). “Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính. Muốn thế phải gần gũi nhân dân, khuyến khích nhân dân, lãnh đạo nhân dân”.

Bác còn nói: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Bác nhiều lần nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức, nếu không thì rồi sẽ hỏng cả… Muốn thế thì: Tự mình phải chỉnh trước mới giúp được người khác chỉnh. Mình không chỉnh mà muốn người khác chỉnh là vô lý.

Liên hệ với tình hình hiện nay, trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khi nói về nhiệm vụ “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”, đã nêu rõ: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”.

Vì vậy, từ những lập luận trên, có thể khẳng định:

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng vô giá của Việt Nam, là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của đất nước và dân tộc ta. Tư tưởng đó phải được học tập, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo, tuyệt đối không giáo điều, dập khuôn hay ngả nghiêng, dao động.

Thứ hai, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một phong trào hành động cách mạng, vì sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người, phát huy năng lực nội sinh của đất nước. Phong trào đó phải được tiến hành một cách bài bản, thường xuyên./.

HÀ ĐĂNG - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng

Nguyên Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương