Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

Những thành tựu trong công cuộc đổi mới khẳng định sự đúng đắn con đường đi lên của đất nước, dân tộc


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo vòng quay phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”.

Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng.

Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới.

Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân.

Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.

 

Khai mạc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII


Sáng ngày 04/5/2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII khai mạc tại Hà Nội với chương trình nghị sự gồm nhiều nội dung quan trọng.

Theo đó, Trung ương sẽ xem xét, thảo luận Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và quyết định nhiều vấn đề quan trọng khác.

Để chuẩn bị những nội dung trên, thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tổ chức khảo sát, làm việc, lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương, tham khảo ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý. Các cơ quan chức năng cũng tiếp thu tối đa các ý kiến, chắt lọc, thống nhất để hoàn thiện các báo cáo, dự thảo, bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Đáng chú ý, đất đai là vấn đề rất quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội, mọi người dân nên nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Việc tổng kết chính sách pháp luật về đất đai tiếp tục bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời giải quyết được các vấn đề có tính chất cụ thể, ngắn hạn trong từng giai đoạn, giải phóng tối đa, khai thác, phát huy cao nhất nguồn lực đất đai phục vụ phát triển đất nước.

Thời gian qua, Chính phủ đã rất nỗ lực, cố gắng, dành nhiều thời gian nghiên cứu, tổng kết, đánh giá chính sách pháp luật về đất đai, phối hợp cùng các cơ quan chức năng hoàn thiện Tờ trình và dự thảo Nghị quyết trình Bộ Chính trị xem xét, trước khi trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến, quyết định ban hành Nghị quyết mới của Trung ương tại Hội nghị lần này. Trên cơ sở đó, Chính phủ và các bộ, ngành sẽ tiến hành sửa Luật Đất đai, lấy ý kiến nhân dân, hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội thông qua trong thời gian tới.

 

Bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin trong tình hình mới


Ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được. Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa. Thời đại ngày nay có nhiều nội dung, đặc điểm rất mới so với thời C.Mác và V.I.Lênin sống và hoạt động. Song các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của Mác, Ăngghen, Lênin đã và đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, còn những hạn chế lịch sử trong một số luận điểm cụ thể nào đó của các ông thì lại đặt ra yêu cầu phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Chính bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải như vậy. Giá trị, sức sống của học thuyết Mác - Lê nin không phải ở chỗ mọi luận điểm của các ông là những chân lý vĩnh cửu, những người cách mạng cứ thế mà áp dụng không cần xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần tuyên bố: Học thuyết của chúng tôi không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng.

Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH hơn 35 năm qua đã khẳng định sức sống, ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê nin đối với cách mạng Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, tiếp tục vận dụng, bổ sung, phát triển và khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của nước ta và thời đại trên một loạt vấn đề như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng CNXH, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân..., đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được qua hơn 35 năm đổi mới.

Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã không nhận thức đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, có ý kiến đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, bạo lực trấn áp; hoặc đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với lợi ích của dân tộc, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh... để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác - Lênin là "chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất". Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin là cẩm nang thần kỳ, mặt trời soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn yêu cầu phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với cách mạng nước ta.

 

GIẢI PHÁP ĐẨY LÙI THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI


Mạng xã hội là hệ thống những mối quan hệ giữa con người với nhau trên nền tảng internet với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào mạng xã hội gọi là cư dân mạng. Hiện nay có hàng trăm mạng xã hội khác nhau. Các trang mạng xã hội phổ biến như Facebook, Youtube, Instagram, Zalo…

Internet và mạng xã hội mang lại nhiều giá trị tích cực như: cho phép tìm kiếm thông tin dễ dàng; gặp gỡ, giao lưu, gắn kết cộng đồng, trao nhận, chia sẻ tình cảm; tìm kiếm việc làm, quảng cáo, kinh doanh và giải trí. Sự xuất hiện của mạng xã hội đã tạo ra những giá trị mới, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển giáo dục – đào tạo và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, mạng xã hội cũng ẩn chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người dùng nếu thiếu cảnh giác. Người dùng mạng xã hội có thể bị xâm phạm đời tư khi đăng nhập một tài khoản e-mail, khi trò chuyện, gửi thư, ảnh hoặc tài liệu. Có nguy cơ lừa đảo về kinh tế, mất an toàn cho cá nhân và gia đình. Dễ bị đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội như trộm cắp, chiếm đoạt tài sản, bắt cóc tống tiền. Quá trình sử dụng mạng xã hội, nếu người dùng chủ quan, đơn giản sẽ bị mất định hướng, có thể dẫn tới vô tình hoặc cố ý tán phát những thông tin xấu, độc, làm lộ thông tin bí mật nhà nước, gây hại cho cộng đồng; thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước.

Tác hại của những thông tin xấu độc trên mạng xã hội do các thế lực có tư tưởng, quan điểm không lành mạnh đưa ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ lụy của thông tin xấu độc ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội. Nếu đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, đánh mất bản sắc, an toàn xã hội bị đổ vỡ, thì sẽ tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng; có nguy cơ dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ của tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ - đối tượng thường xuyên tiếp cận với mạng xã hội.

Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên mạng xã hội, đòi hỏi trước hết mỗi người tham gia mạng xã hội, nhận biết mặt trái của nó và thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Làm rõ âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, của các đối tượng xấu trên Internet và mạng xã hội; những vấn đề, sự kiện mà chúng lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin xấu, độc. Tổ chức trao đổi và làm rõ về thông tin xấu độc để mọi người nâng cao nhận thức, nhận diện được thông tin xấu, độc, có ý thức tự phòng vệ và ý thức ngăn chặn, phòng chống, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc.

Hai là, các tổ chức Đảng phải đóng vai trò tiên phong, nòng cốt trong đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái. Cấp ủy đảng các cấp phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trong đảng bộ. Thông qua sinh hoạt của tổ chức đảng, cấp ủy chủ động cung cấp thông tin, giải tỏa dư luận đối với những luồng thông tin trái chiều, bịa đặt trên mạng xã hội; đấu tranh phê phán những biểu hiện dao động, mơ hồ hoặc phụ họa theo những thông tin, quan điểm sai trái. Thực hiện phương châm “mỗi đảng viên là một tuyên truyền viên của Đảng”, cán bộ, đảng viên phải là người trực tiếp tuyên truyền cho gia đình và quần chúng nhân dân nơi cư trú, làm rõ bản chất sai trái, tính chất nguy hiểm của các thông tin sai trái, bịa đặt. Từ đó định hướng dư luận theo hướng tích cực, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, hình thành sức “tự đề kháng” của quần chúng trước các thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc.

Ba là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức đoàn thể trong đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Nếu chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách thì không thể giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này. Do đó phải huy động toàn xã hội, toàn dân tham gia cuộc đấu tranh này; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức tự giác, thành hành động tích cực trong phê phán, đấu tranh chống quan điểm sai trái. Tổ chức lực lượng trong các cơ quan chính quyền, cơ quan quân đội, công an các cấp và trong các tổ chức chính trị, xã hội… thực hiện thường xuyên nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng internet. Tổ chức các lực lượng kịp thời ngăn chặn không để các quan điểm sai trái phát tán trên mạng internet có điều kiện tác động vào các tầng lớp nhân dân. Tổ chức đấu tranh trực diện đối với những người cơ hội, lệch lạc về chính trị ngay từ cơ sở.

Bốn là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong các đơn vị Quân đội, tạo sự chuyển biến rõ nét về nhân cách quân nhân theo các chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; chú trọng xây dựng nhân rộng điển hình tiên tiến; gắn việc thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII).

Sự phát triển của Internet và mạng xã hội là thành tựu của nhân loại và trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, mang lại những tiện ích nhiều mặt cho con người trên toàn cầu, thúc đẩy sự phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực, đó là điều chúng ta không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng thành tựu đó để mang lại những tác hại không hề nhỏ. Nếu những người sử dụng mạng xã hội không vững vàng trong nhận thức, thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn, thiếu thông tin chính thống, khi tiếp xúc với những quan điểm sai trái, thù địch sẽ có những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến mơ hồ, mất niềm tin. Nhận diện và đấu tranh với những chiêu trò bôi xấu, vụ lợi trên mạng xã hội là việc làm cần thiết đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiện nay.

 

Một số biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực từ mạng xã hội đối với thanh niên Quân đội trong giai đoạn hiện nay.


Sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ hiện nay đã có những đóng góp vô cùng quan trọng, làm thay đổi cơ bản mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội các quốc gia và quốc tế. Đặc biệt, với sự ra đời, phát triển của máy tính và mạng Internet đã tạo nên những đột phá trong kết nối, chia sẻ thông tin, thúc đẩy phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa. Bản chất internet là môi trường mở cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng nên rất khó quản lý và kiểm soát. Tính ưu trội của mạng xã hội với sự đa dạng của các trang mạng xã hội được sử dụng hiện nay như: Facebook, Google, Twitter, Youtube, Zalo, …còn tạo ra khả năng giao lưu, chia sẻ, kết nối cộng đồng rất thuận lợi. Đây là tính năng đặc biệt hấp dẫn đối với những người sử dụng.Bên cạnh đó, internet được ví như con dao 2 lưỡi chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng mạng internet để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạngViệt Nam. Thực tế, còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, trái với truyền thống văn hóa dân tộc cũng được tán phát lên các trang thông tin điện tử (website), blog, mạng xã hội, trên phần phản hồi (comment) của các báo điện tử… Vì vậy, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng internet để truyền bá những thông tin xấu độc, đăng tải những status trên trang blog cá nhân với ngôn ngữ, luận điệu đầy tính kích động, phản động, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, tìm mọi cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.

Thanh niên trong Quân đội hiện nay đã và đang tiếp cận, sử dụng các trang mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau: tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, trao đổi thông tin hữu ích, chia sẻ, kết nối bạn bè…Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy bên cạnh những tác động tích cực của các trang mạng xã hội mang lại thì không tránh khỏi những tác động tiêu cực, đặc biệt là những tác động trực tiếp ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục tiêu, lý tưởng cách mạng của thanh niên Quân đội hiện nay, ngoài ra còn làm ảnh hưởng tới việc chấp hành kỷ luật và chấp hành các chế độ trong ngày, trong tuần ngày càng có nhiều mặt hạn chế nếu không có sự quản lý chặt chẽ của cán bộ đơn vị.

Với đặc điểm các trang mạng xã hội có lượng người sử dụng đông đảo, thông tin truyền tải không hạn chế và lan truyền sâu rộng, mạng xã hội chính là “mảnh đất vàng” để các thế lực phản động thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” đối với thanh niên (trong đó có thanh niên trong Quân đội) bằng cách cho đăng tải, chia sẻ,lan truyền các bài viết, bình luận có quan điểm chính trị đối lập với Đảng và Nhà nước ta…Nếu không đủ tỉnh táo, kiên định với lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị thì thanh niên Quân đội sẽ bị cuốn theo những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, bị lung lay ý chí, niềm tin, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do tuổi đời còn trẻ, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng đang trong quá trình hoàn thiện, thích khám phá những vấn đề mới, hơn nữa cùng với tâm lý thích nổi tiếng, thích được mọi người chú ý, câu “like”, câu “view”… khiến cho một bộ phận không nhỏ thanh niên Quân đội tạo lập tài khoản mạng và cung cấp thông tin, hình ảnh cá nhân với tư cách quân nhân, đưa các thông tin, hình ảnh có nội dung mật, hoặc liên quan đến nội bộ cơ quan, đơn vị, hoặc “nhạy cảm” trong quan hệ gia đình, xã hội, hoặc tán đồng, ủng hộ các quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái lên trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Mạng xã hội là môi trường thuận lợi cho những thông tin, hình ảnh, video clip có nội dung tha hóa về đạo đức hoành hành.Sử dụng mạng xã hội có thể bắt gặp hàng ngày, hàng giờ những thông tin về trộm cắp, giết người, lừa đảo, ăn chơi sa đọa, sự vô tâm, vô cảm… Tất cả điều này đều gây ra những tác động tiêu cực tới đạo đức, lối sống của quân nhân, có thể khiến cho thanh niên Quân đội có những hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, nếu không có nhận thức đầy đủ và ý thức cảnh giác khi đăng tải, chia sẻ các thông tin, hình ảnh, video clip,… thanh niên Quân đội dễ bị dụ dỗ, lôi kéo dẫn đến vi phạm pháp luật, quy định của đơn vị và Quân đội. Thực tế cho thấy việc giao lưu, chia sẻ thông tin lên mạng xã hội của thanh niên Quân đội hiện nay đang ẩn chứa những hệ lụy khó lường, đôi khi chính họ cũng không thể ngờ tới cho đến khi xảy ra những tiêu cực, hậu quả xấu. Phòng, chống hiệu quả tác động tiêu cực của các trang mạng xã hội đối với thanh niên Quân đội hiện nay là một yêu cầu cấp thiết song cũng hết sức phức tạp, có tính lâu dài. Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, phòng, chống có hiệu quả tác động tiêu cực của các trang mạng xã hội, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mạng internet đối với thanh niên Quân đội, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:

 Một là, mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp đối với hệ thống thông tin nói chung, mạng internet nói riêng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên”. Sự lãnh đạo, chỉ đạo  và quản lý của cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp đối với hệ thống thông tin nói chung, mạng internet nói riêng có ý nghĩa quan trọng và quyết định hàng đầu đến sự vững vàng trận địa chính trị – tư tưởng của mỗi cơ quan, đơn vị trong Quân đội. Đề tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp đối với mạng internet cần phải quán triệt, định hướng chính trị, nâng cao nhận thức cho các đối tượng khi tiếp cận thông tin, mạng internet, nhất là các cổng thông tin điện tử, các trang mạng xã hội có nội dung xấu, độc. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng các thiết bị điện tử thông minh của các đối tượng trong cơ quan, đơn vị. Khi phát hiện các thông tin, hình ảnh, clip có nội dung xấu đến Quân đội bị phát tán trên mạng xã hội, Internet, kịp thời báo cáo cấp trên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ kịp thời, không để tán phát trên các trang mạng xã hội và Internet. Chủ động nắm, quản lý, dự báo, thông tin định hướng tư tưởng cho thanh niên Quân đội trước các thông tin xấu độc, ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội..

Hai là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lực lượng thanh niên trong Quân đội trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội nói chung, chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng internet nói riêng. Đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục để thanh niên Quân đội  thấy rõ tính hai mặt của internet và mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong Quân đội tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng internet. Tổ chức các lực lượng chuyên trách, kịp thời ngăn chặn không để các quan điểm sai trái phát tán trên mạng internet có điều kiện tác động đến thanh niên trong Quân đội. Đấu tranh, phê bình trực diện đối với những cá nhân cơ hội, lệch lạc về chính trị ngay từ các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải thường xuyên bồi dưỡng nâng cao chất lượng lực lượng chuyên trách, hạt nhân nòng cốt cả về lý luận, thực tiễn và khả năng ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”  trên mạng internet. Đi liền với công tác đấu tranh chống địch phá hoại về tư tưởng chính trị, cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, không để địch lợi dụng, kích động, lôi kéo, chia rẽ.

Bốn là, thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”. Thông tin về từng sự kiện, hiện tượng, vấn đề cần được khai thác, phát hiện từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau, tránh được sự đơn điệu, trùng lắp và một chiều, kết hợp nhiều thể loại, nhiều hình thức. Các bài viết tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” phải có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích một cách sâu sắc, có sức thuyết phục. Mỗi cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình hành động cụ thể trên cơ sở chỉ đạo chung; bám sát đặc điểm đối tượng, khai thác nguồn tin và tổ chức lưu chuyển thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.Động viên, khuyến khích các tập thể, cá nhân tham gia diễn đàn mở để trao đổi các ý kiến, quan điểm khác biệt trên trang mạng nội bộ (website) của đơn vị. Đây là diễn đàn để một mặt chúng ta tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội, nhưng mặt khác, mọi cán bộ, chiến sĩ có thể tham gia trao đổi – tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Khuyến khích thanh niên Quân đội xây dựng các trang blog cá nhân và tham gia trên các trang mạng xã hội như facebook, twitter tạo diễn đàn tranh luận, trực tiếp đấu tranh với các quanđiểm sai trái thù địch.

 Các tổ chức phát huy vai trò trong việc nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển kỹ năng “tự bảo vệ” cho thanh niên Quân đội trong việc khai thác, sử dụng internet và các trang mạng xã hội; thanh niên Quân đội tự điều chỉnh về nhận thức và hành vi để loại bỏ những tác động tiêu cực từ các trang mạng xã hội, những yếu tố không phù hợp với yêu cầu xã hội mới, với phẩm chất, đạo đức và lối sống; cần có kế hoạch sử dụng thời gian rảnh rỗi vào ngày nghỉ, giờ nghỉ một cách hợp lý để sử dụng mạng xã hội có hiệu quả, bổ ích, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cá nhân.Sự phát triển của Internet là thành tựu của nhân loại và trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, mang lại những tiện ích nhiều mặt cho con người trên toàn cầu, thúc đẩy sự phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực, đó là điều chúng ta không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng thành tựu đó để mang lại những tác hại không hề nhỏ. Nếu những người sử dụng Internet không vững vàng trong nhận thức, thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn, thiếu thông tin chính thống, khi tiếp xúc với những quan điểm sai trái, thù địch sẽ có những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến mơ hồ, mất niềm tin.

Nhận diện và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực từ mạng xã hội, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”  trên mạng internet trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI, XÉT LẠI, THIẾT THỰC GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ, chống phá cách mạng, chống phá chế độ ta. Trọng điểm là tập trung chống phá Đảng ta, trong đó trước hết họ nhằm vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành quả cách mạng XHCN, thành quả của công cuộc đổi mới, thổi phồng những khuyết điểm, tồn tại, bôi đen hiện thực. Chúng quy kết những sai lầm, khuyết điểm là do đường lối sai, sự lãnh đạo, quản lý yếu kém của Đảng, Nhà nước ta; rằng những sai lầm đó là do lý luận, do nguồn gốc từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, rằng độc đảng lãnh đạo là không có dân chủ; đòi đa nguyên, đa đảng, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ; cho rằng tập trung dân chủ là độc đoán, là đảng trị, là mất dân chủ. Họ vu cáo Đảng, Nhà nước ta bưng bít sự thật, bóp nghẹt dân chủ, vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, v.v.

Trong khi đó, một số người do bất mãn hoặc có quan điểm sai trái đã trượt dài, đồng tình phụ họa với những luận điệu của các thế lực thù địch, viết tài liệu, hồi ký, sáng tác... đả kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Một số người đã viết tài liệu dưới danh nghĩa ''thư kiến nghị'', ''góp ý kiến'', nhưng thực chất là phản bác những quan điểm, đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đáng chú ý là trong số này có cả một số ít cán bộ, đảng viên lâu năm, đã từng giữ cương vị là cán bộ lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu của Đảng, Nhà nước.

Hiện nay những phần tử cơ hội, xét lại đang hoạt động ráo riết chống lại Đảng ta. Nếu ta không kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái của họ, thì với những thủ đoạn, hình thức, biện pháp tinh vi xảo quyệt, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài, họ sẽ dần dần làm ruỗng nát Đảng. Họ gieo rắc sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân và ngay cả trong một bộ phận đảng viên, cán bộ ta. Hoài nghi cứ thế lớn dần lên dẫn đến hoài nghi toàn bộ chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi bản thân ý nghĩa và sự cần thiết của sự nghiệp cách mạng, mục tiêu, lý tưởng mà mình tự nguyện suốt đời phấn đấu đế thực hiện.

Đảng ta không chấp nhận đa nguyên về chính trị-tư tưởng, Đảng chỉ có một nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà thôi. Những năm qua, Đảng ta và các cơ quan chức năng đã có những chỉ thị và tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, góp phần nâng cao nhận thức, lập trường, bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại. Đồng thời chú trọng nghiên cứu chỉ đạo các cơ quan chức năng, các phương tiện thông tin đại chúng đấu tranh chống những quan điểm thù địch, sai trái có hiệu quả. Nhờ đó đã góp phần giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng, đồng thời cũng góp phần giữ vững sự ổn định chính trị-xã hội của đất nước trong tình hình mới.

Đổi mới là đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp xây dựng CNXH. Đổi mới quan niệm và xây dựng được một mô hình mới về CNXH là một nhiệm vụ đầy khó khăn, phức tạp; là một quá trình cách mạng không có sẵn một khuôn mẫu nào, đòi hỏi phải nâng cao trí tuệ, năng lực lãnh đạo chính trị, tư tưởng; vừa tổng kết thực tiễn, vừa nghiên cứu lý luận, vừa làm, vừa sáng tạo tìm tòi, đổi mới, điều chỉnh, từng bước xác định rõ thêm con đường và giải pháp đi lên CNXH ở nước ta. Qua nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, tổng kết thực tiễn gắn với vận dụng lý luận, đến nay Đảng ta đã bước đầu hình thành được trên những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới và con đường đi lên CNXH ở nước ta, góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH, làm cơ sở nền tảng vững chắc cho đường lối của Đảng. Từng bước chúng ta đã tháo gỡ được những khó hăn và đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng về mọi mặt, giữ vững được sự ổn định về chính trị-xã hội... đưa đất nước phát triển đi lên. Vì vậy, việc tăng cường nâng cao trình độ lý luận, chính trị, tư tưởng, trước hết là cho đội ngũ những người làm công tác lý luận, các cơ quan chức năng, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp nhạy bén phát hiện, đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch của các thế lực thù địch, đồng thời đấu tranh khắc phục những quan điểm mơ hồ, sai lầm, lệch lạc, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc tổ chức của Đảng, đó là một yêu cầu rất cơ bản của nhiệm vụ xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay.

  

 CHIẾC XE ĐẠP THỒ CẢI TIẾN CỦA DÂN CÔNG CAO VĂN TỴ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ.


Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 có sự đóng góp quan trọng của công tác bảo đảm hậu cần. Trong chiến dịch này, với phương châm của Trung ương Đảng là huy động toàn bộ sức người, sức của ở hậu phương, quân và dân ta mà nòng cốt là ngành hậu cần quân đội. Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hi sinh chúng ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu”. Và công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ được ví như một kỳ tích trong lịch sử quân sự Việt Nam. 


Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cần cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người. Với việc vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho mặt trận xa hàng trăm km, đường xá đi lại khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, dưới sự đánh phá ác liệt của kẻ thù nhưng những đội xe đạp thồ đã lập nhiều kỷ lục chở từ 100 đến 300kg/chuyến, trong đó có bác Cao Văn Tỵ (dân công tỉnh Thanh Hoá) đã chở tới 320 kg/chuyến, được mọi người gọi là “Kiện tướng xe thồ”. Và để chở được nhiều hàng hóa, bác Cao Văn Tỵ đã gia cố thêm khung, vành, tay lái cho xe của mình. Dọc thân xe có thêm một thanh ngang có thể gánh tới 200kg gạo. Các nan hoa được nẹp thêm để tăng độ bền, chịu lực cho xe. Ở phần trước của xe được gắn thêm một khúc tre dài làm tay lái, một khúc tre ngắn hơn dùng giữ thăng bằng và làm tay phanh. Với sự sáng tạo đó đã tăng được sức tải của xe từ 10 - 20 lần so với dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Ngoài ra xe thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy.


Câu chuyện về chiếc xe đạp thồ của bác Cao Văn Tỵ được Thiếu tá QNCN Nguyễn Văn Hoành cán bộ Bảo tàng Quân khu 4 chia sẻ: “Vận chuyển hàng hóa dài ngày giữa rừng, đường trơn, đèo dốc và bom đạn bác Cao Văn Tỵ cùng với bác Bùi Tín (dân công Thanh Hoá, người 2 lần vinh dự được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba) luôn động viên anh em dân công vượt qua khó khăn. Phong trào thi đua “thồ nhiều, đi nhanh” do các anh phát động được lan rộng ra khắp mặt trận. Có những đoạn dốc cheo leo cấp trên giao nhiệm vụ cho mỗi xe chỉ được chở 60kg nhưng tất cả vẫn quyết tâm thồ ít nhất mỗi người 100kg để nhanh chóng đưa hàng hoá ra trận tuyến. Với quyết tâm đó, bác Cao Văn Tỵ đã lập kỷ lục thồ 320kg/chuyến, anh Ma Văn Thắng chở được 270kg/chuyến...”. 


Khi nhận xét về vai trò của hậu phương trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Nếu không có Thanh-Nghệ-Tĩnh thì không có chiến dịch Điện Biên Phủ, không có thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp”. Riêng mảnh đất Quân khu 4, chủ yếu là vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã huy động 250.000 dân công với hơn 11.000 xe đạp thồ đã vận chuyển 15.000 tấn gạo, hơn 400 tấn thực phẩm, hàng trăm tấn đạn, pháo, quân trang… chi viện cho chiến trường.


 Những người quanh năm chỉ quen với đồng áng như bác Cao Văn Tỵ nhưng với chiếc xe đạp thô sơ đã trở thành phương tiện hiệu quả góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ như một “thiên sử vàng” huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, chiếc xe đạp thồ đang được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4, là minh chứng sinh động về trí thông minh, sáng tạo của người dân công năm xưa. 


sưu tầm

 Ý NGHĨA LÁ CỜ CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 


Cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Cờ giải phóng) được sử dụng từ năm 1960 đến năm 1975. Đây là lá cờ lấy khuôn mẫu của quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa, và chia một nửa màu đỏ để thay bằng màu xanh. Lá cờ có hình ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ và xanh dương. Nửa phần trên đại diện cho miền Bắc đã độc lập. Nửa màu xanh dương tượng trưng cho miền Nam còn trong vòng kềm kẹp của Mỹ và chế độ Sài Gòn, song miền Nam đấu tranh cho khát vọng hòa bình, thống nhất (màu xanh hòa bình).


Ngày 30/4/1975, cờ giải phóng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, chính quyền Sài Gòn theo Mỹ hoàn toàn bị sụp đổ, đánh dấu sự toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi đó cho thấy rõ vai trò to lớn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nước ta sau đó, ở các trụ sở công quyền, trường học,... trong nghi lễ thường thấy hai lá cờ đứng cạnh nhau. Một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam dân chủ cộng hòa, một lá cờ với ngôi sao vàng trên nền hai màu xanh đỏ - lá cờ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Ngày 25/4/1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24/6 đến ngày 2/7/1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ v.v...Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất. Sau Hội nghị hiệp thương, ngày 02 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI quyết định thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hòa miền Nam Việt Nam với tên gọi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chọn cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến ngày nay.


Quá trình thống nhất đất nước thực hiện hoàn toàn, lá cờ nửa đỏ nửa xanh giữa có ngôi sao vàng - lá cờ "Giải phóng" đã đi vào lịch sử song nó còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.


Trong bài thơ “Nước non ngàn dặm” của nhà thơ Tố Hữu, có một khổ thơ viết:

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh

Màu đỏ của đất, màu xanh của trời

Ngôi sao, chân lý của đời

Việt Nam, vàng của lòng người hôm nay.

Càng nhìn ta, lại càng say

Biển Đông lồng lộng gió lay ngọn cờ...


St

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Sai lầm trong nhận thức lý luận còn thể hiện ở phương pháp không đúng khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Sự sai lầm trong nhận thức lý luận còn thể hiện ở phương pháp không đúng khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Bảo thủ, hẹp hòi trong thái độ ứng xử với những giá trị của văn minh nhân loại, nhất là những gì liên quan đến CNTB. 

Đặc biệt, sự độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ và chủ nghĩa cá nhân tồn tại  rất nặng nề trong xã hội, trong bộ máy lãnh đạo từ trung ương tới địa phương; trong các quan hệ xã hội, thậm trí cả trong quan hệ quốc tế....Đây là nguyên nhân cản trở, không cho phép phát triển hệ thống lý luận khoa học, khách quan, đúng đắn trong điều kiện CNXH hiện thực mô hình Xô-viết.

Nh.MLN

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Sai lầm trong nhận thức lý luận về kinh tế, về bản chất của xã hội mới, cũng bắt đầu từ nhận thức sai lầm lý luận về thời kỳ quá độ.

Ngay cả khi Liên Xô tuyên bố hoàn thành việc xây dựng CNXH, chuyển sang giai đoạn xây dựng CNXH phát triển, cơ chế quản lý vận hành nền kinh tế cũng không có bất cứ sự thay đổi nào. Hơn thế nữa, cơ chế đó còn tỏ ra ngày càng kém hiệu quả hơn do hệ thống công quyền ngày càng quan liêu hóa. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ của nhân loại không được áp dụng kịp thời vào sản xuất. Năng suất lao động xã hội ngày càng giảm. Tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu giành thắng lợi trong cuộc chạy đua “ai thắng ai” với các nước TBCN không đạt được như mong muốn. Không những thế, nền kinh tế còn sa vào tình trạng trì trệ. Chất lượng các loại hàng hóa tiêu dùng thấp, không được đổi mới về hình thức, mẫu mã, hàng hóa ngày càng khan hiếm, không đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của nhân dân. Sự thất bại trong phát triển kinh tế đã góp phần đẩy xã hội Xô-viết đến bờ vực khủng hoảng.

Nh.MLN


Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Sai lầm trong nhận thức lý luận về kinh tế, về bản chất của xã hội mới, cũng bắt đầu từ nhận thức sai lầm lý luận về thời kỳ quá độ.

Do chủ quan, nóng vội, Đảng Cộng sản Liên xô và Nhà nước Xô-viết sau đó đã áp dụng những biện pháp hành chính, áp đặt để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế. Toàn bộ tư liệu sản xuất được công hữu hóa hay tập thể hóa. Sở hữu tư nhân bị thủ tiêu bằng vũ lực và tước đoạt. Tất cả các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể đều bị xóa bỏ. Thị trường không phát triển do sản xuất hàng hóa bị coi là xa lạ với CNXH,... Trong nông nghiệp, chính sách hợp tác hóa đã làm suy yếu lực lượng sản xuất ở nông thôn, tước bỏ động lực cần thiết, làm cho nền nông nghiệp phát triển chậm, năng suất lao động thấp. Nền công nghiệp Liên Xô có khả dĩ hơn, nhưng chỉ phát triển tốt ở một số ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, công nghiệp quốc phòng. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với xã hội lại là khu vực yếu kém nhất. Người dân có rất ít cơ hội để lựa chọn những hàng hóa, nhu yếu phẩm cho cá nhân và gia đình. Nhiều thời kỳ, hàng hóa khan hiếm gây bức xúc trong xã hội...

Nh.MLN

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Những sai lầm trong nhận thức lý luận về xây dựng nhà nước và quản lý xã hội dẫn đến sai lầm trong mô hình thiết kế, cơ chế vận hành của Nhà nước Xô-viết. 

Nền dân chủ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu trên thực tế bị hạn chế rất nhiều so với các tuyên ngôn chính thức. Hầu hết các ý kiến, quan điểm khác với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đều không được khuyến khích, thậm chí còn bị quy chụp cho những tội danh nặng nề. Tình trạng thiếu dân chủ thậm chí còn ảnh hưởng tiêu cực đến cả văn học - nghệ thuật, khoa học, nhất là khoa học xã hội. 

Việc hạn chế dân chủ như một thứ rào cản, hạn chế sự sáng tạo trong xã hội, hạn chế vai trò của nhân dân trong giám sát quyền lực, phản biện các chính sách xã hội. Tình trạng ấy dẫn đến những bức xúc về tư tưởng, tinh thần trong xã hội không được giải tỏa, không có lối thoát, bị ức chế, kìm nén, gây nên không khí nặng nề, tạo nên những rạn nứt ngầm trong quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Đó cũng chính là mảnh đất tốt cho chủ nghĩa quan liêu, là môi trường thuận lợi cho sự chuyên chế, độc đoán, là căn bệnh làm cho Đảng, Nhà nước xa rời nhân dân, nhân dân mất dần niềm tin vào Đảng và Nhà nước.

Nh.MLN


Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin t

 

 Những sai lầm trong nhận thức lý luận về xây dựng nhà nước và quản lý xã hội dẫn đến sai lầm trong thiết kế mô hình, cơ chế vận hành của Nhà nước Xô-viết XHCN.

Không tuân thủ những vấn đề nguyên tắc trong xây dựng Đảng, nên Đảng Cộng sản Liên Xô đã dần trở thành một tổ chức chính trị độc tôn quyền lực, đứng trên pháp luật. Những người bất đồng ý kiến bị thanh trừng, đưa ra khỏi các vị trí lãnh đạo. Nguyên tắc tập trung dân chủ không được áp dụng triệt để, thậm chí còn bị giải thích sai lạc để bảo vệ những lợi ích của cá nhân hay nhóm quan chức quan liêu. Đó là cơ sở dẫn tới tệ sùng bái cá nhân, độc đoán, chuyên quyền... Một loạt lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã duy trì quyền lực suốt đời mà không bị giới hạn nhiệm kỳ.

Nh.MLN

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

  Sai lầm nhận thức lý luận về xây dựng đảng

Sự xa rời những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của Mác- Ăng ghen, Lênin, tình trạng đặc quyền, đặc lợi và quan liêu, nhũng nhiễu, “mua quan, bán chức” trong Đảng ngày càng nặng nề... Vì vậy, trước khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra xã hội học với câu hỏi: Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai? Kết quả là, số người cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho nhân dân chiếm 7%, đại diện cho công nhân chiếm 4%, đại diện cho toàn thể đảng viên chiếm 11%. Trong khi đó, có tới 85% số người được hỏi cho rằng: Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước”.

Nh. MLN

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Sai lầm nhận thức lý luận về xây dựng đảng

Xa rời những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của Mác- Ăng ghen, Lênin. Xây dựng nên một đảng theo xu hướng độc đoán, chuyên quyền, ngày càng quan liêu, xa rời nhân dân. Đảng Cộng sản Liên Xô càng ngày càng lún sâu vào vũng bùn của những căn bệnh đã được báo trước mà tự nó không có bất cứ cơ chế nào để cứu vãn. Môi trường thiếu dân chủ, cơ chế tổ chức yếu kém, kỷ luật đảng lỏng lẻo. Trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong hệ thống tổ chức của Đảng không rõ ràng. Công tác kiểm tra, giám sát không chặt chẽ. Tình trạng đặc quyền, đặc lợi và quan liêu, nhũng nhiễu, “mua quan, bán chức” trong Đảng ngày càng nặng nề... 

Nh.MLN.

Những sai lầm về nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác- Lênin

 

Sai lầm trong nhận thức lý luận về cách mạng vô sản, lý luận về chủ nghĩa cộng sản (CNCS) và lý luận về thời kỳ quá độ.

Tiếc rằng, sau khi V. I. Lê-nin mất đi, Gi. Xta-lin và những người tập hợp xung quanh ông đã đưa ra những tư tưởng về xây dựng CNXH ở thời kỳ quá độ trong một nước với việc gia tăng đấu tranh giai cấp, trấn áp trong xã hội; chủ trương kế hoạch hóa tập trung, công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phân phối trực tiếp bằng hiện vật,...

Từ sai lầm trong nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ dẫn đến những sai lầm trong tổ chức thực tiễn; chủ quan, nóng vội, bỏ qua tính quy luật trong giải quyết các vấn đề đặt ra về kinh tế, xã hội, con người; không lường hết những khó khăn, phức tạp và nguy hiểm sự chống phá của kẻ thù từ bên ngoài. Sai lầm ấy trước hết được thể hiện trong chính sách hợp tác hóa nông nghiệp bằng mọi giá, bất chấp điều kiện thực tế và lợi ích của người nông dân. Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạn đói xảy ra vào những năm 1930 - 1932. Sai lầm còn thể hiện ở chính sách cưỡng đoạt ruộng đất của địa chủ (cu-lắc) ở nông thôn và nhà máy của các chủ tư sản ở thành thị. Kết quả là lực lượng sản xuất (nhất là kỹ năng, kinh nghiệm quản lý kinh tế) bị tiêu hao, xã hội bị chia rẽ nặng nề. 

Nh.MLN

 

NHẬN DIỆN NƯỚC LỚN TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN  NAY 

Nước lớn (cường quốc) là khái niệm dùng để chỉ những quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa, có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu.

Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn. Việc phân định nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn từ mỗi quốc gia dựa trên sự so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và sự ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác. Theo đó, một quốc gia có thể là nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại[1]. Thí dụ như: Canađa, Braxin và Ốtxtrâylia là nước lớn trên thế giới về mặt diện tích lãnh thổ và nguồn lực tài nguyên; Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan là cường quốc dân số của thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp của các quốc gia này chưa đạt tới vị thế của một cường quốc thế giới.

Trên thực tế, trong việc phân định và đánh giá một nước là lớn hay nhỏ, yếu tố sức mạnh tổng hợp mà nổi bật là sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hà Lan là một quốc gia nhỏ ở châu Âu, nhưng thế kỷ XV-XVI với sức mạnh vượt trội của mình, đã “bá quyền” cả thế giới với mệnh danh “Người đánh xe trên biển”. Vương quốc Anh với diện tích 243.610 kmnhưng trong thế kỷ XIX được mệnh danh là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hiện nay, Pháp, Đức, Nhật Bản mặc dù về diện tích và dân số họ chỉ là những quốc gia trung bình của thế giới, nhưng với sức mạnh tổng hợp của mình đặc biệt là về kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự cũng như vị thế quốc tế, họ được xem là những nước lớn của thế giới. Cũng xét theo tiêu chí này, một số nước dù là nhỏ như: Quatar, Singapore, Aixơlen, Đan Mạch, NaUy Cộng hoà Ailen (Ireland), Thuỵ sỹ, Lúc xăm bua nhỏ về mặt diện tích và quy mô dân số như nhưng lại sở hữu sức mạnh kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự và tầm ảnh hưởng rất lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, dựa vào tổng hợp các tiêu chí nhận diện như đã nêu trên và theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và cũng là năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp được xem là các nước lớn hay cường quốc. Ngoài ra, Đức và Nhật Bản cũng được nhìn nhận như là những cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng quốc tế của họ. Trong đó, Mỹ là siêu cường toàn cầu duy nhất sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc và Nga được xếp ở cấp độ thứ hai sau Mỹ. Hai cường quốc này được xem là hội tụ đầy đủ những tiêu chí và khả năng để có thể vươn lên thành những siêu cường thế giới, đối trọng và sánh ngang với Mỹ. Xét về diện tích, dân số và tiềm lực phát triển thì Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản có thể chỉ được nhìn nhận như những cường quốc khu vực hay châu lục nổi bật. Nhưng trên một số khía cạnh như: kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ và ảnh hưởng quốc tế thì bốn quốc gia này cũng có thể được xem như những nước lớn của thế giới. Bên cạnh đó, một số nước lớn được ví như là những cường quốc khu vực, hay là những cường quốc tầm trung, như: Braxin và Canađa ở châu Mỹ, Ấn Độ và Ốtxtrâylia ở châu Á và Thái Bình Dương; Ấn Độ được xem như là có tiềm năng nổi lên trở thành một cường quốc thế giới.

[1] Buzan, Barry, People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era. New York: Harvester Wheatsheaf, 1991.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới, ngọn cờ dẫn dắt đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc

 TCCS - Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.



Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên, ngày 1-1-1964_Nguồn: hochiminh.vn

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.

Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(8).

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).



Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021_Ảnh: Tư liệu

Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.

Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. 

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.



Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.

Tìm hiểu về Chủ quyền, quyền Chủ quyền và quyền Tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982