Tìm hiểu về Chủ quyền, quyền Chủ quyền và quyền Tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng diễn biến phức tạp hiện nay, các nước hướng ra biển, khai thác tài nguyên Biển càng gia tăng làm cho chủ quyền, quyền chủ quyền của các nước có tài nguyên Biển nói chung, đối với Việt Nam nói riêng phải đối mặt với nhiều nguy cơ thách thức. Vì vậy, nắm vững Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là vấn đề hết sức quan trọng. Bài viết xin được chia sẻ một số nội dung sau đây liên quan đến Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đã được xác định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật
Biển 1982) được 119 đoàn đại diện của các nước, trong đó có Việt Nam chính
thức ký kết ngày 10-12-1982, tại Môn-tê-gô-bay của Gia-mai-ca và có hiệu lực từ
ngày 16-11-1994. Sự ra đời của Công ước có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở
pháp lý quốc tế gốc có giá trị cao nhất mà các quốc gia tham gia ký kết phải có
trách nhiệm ràng buộc và thực hiện toàn bộ các điều khoản Công ước bao gồm 17
phần, 320 điều khoản và nhiều phụ lục, nghị quyết kèm theo; trong đó, có nội
dung quy định chi tiết về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán.
Theo đó, Chủ quyền là quyền làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với
lãnh thổ của mình. Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc
gia được thực hiện trong phạm vi nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó.
Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên
cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò
và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa của quốc gia đó vi mục đích
kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió, v.v.
Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong
việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, cụ thể như: cấp
phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động liên quan đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội, các đảo nhân tạo,
thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo
nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn
giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia
đó.
Và cũng theo Công ước Luật Biển
năm 1982, các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải của
mình, chủ quyền này cũng được mở rộng vùng trời ở bên trên đến vùng đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển ở bên dưới các vùng biển đó.
Như vậy, đây là những quy định bắt
buộc mà các quốc gia ký kết phải nghiên cứu, thực hiện nghiêm túc, nhằm tạo sự
thống nhất, trật tự, giữ gìn an ninh, an toàn, tự do hàng hải chung trên biển;
đồng thời, phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia,
không vì lợi ích kinh tế, lợi ích quốc gia mình mà bỏ qua lợi ích chung của khu
vực, thế giới, vi phạm vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa lãnh hải của quốc
gia khác đã được quy định trong Công ước, gây phức tạp tình hình an ninh trên
biển. Các quốc gia cần thấy rõ trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện Công
ước; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng bành trướng, cường quyền, hành vi
vi phạm quy định của Công ước, thiếu tôn trọng, bỏ qua luật pháp quốc tế. Mọi
vướng mắc, nảy sinh, phải cùng nhau đàm phán cả song phương và đa phương, giải
quyết bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, tạo sự thống nhất,
đồng thuận. Không manh động, sử dụng bạo lực bởi điều đó sẽ không mang lại lợi
ích chung cho các bên./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét