Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Để báo, tạp chí của Đảng là ngọn cờ tư tưởng, là cầu nối tin cậy giữa Đảng với nhân dân.

  - Bài viết “Cần phải xem báo Đảng” ngắn gọn nhưng súc tích, khái quát cao như phong cách viết vốn có của Bác. Đến nay, sau 68 năm bài báo ra đời, câu chuyện Bác nêu vẫn còn tính thời sự và có giá trị gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về 2 vấn đề: một là, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của báo Đảng; hai là, về “bệnh lười” đọc báo Đảng của cán bộ, đảng viên. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh: Internet

“MỘT KHUYẾT ĐIỂM TO” CẦN PHẢI “SỬA CHỮA NGAY”

Bác viết bài “Cần phải xem báo Đảng” đăng trên Báo Nhân dân số 179 ngày 22/6/1954. Ngay phần mở đầu Bác đã chỉ ra: “Đảng ta mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất… Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết, cần làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta.”. Bác cho rằng, “Nếu cứ cắm đầu làm việc, mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng, thì khác nào nhắm mắt đi đêm; nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc…”(1)

Bác phê bình: “Có những đồng chí mượn cớ quá bận việc, hoặc cớ này cớ khác mà không chú ý xem báo Đảng. Đó là che giấu bệnh lười, đó là một khuyết điểm to, cần phải sửa chữa  ngay”(2). Bác cũng “mách” cho cách để chữa bệnh lười: "...Vô luận công việc bận thế nào, nếu khéo sắp xếp thì nhất định có thời giờ xem báo”. Vậy những ai cần “chăm” xem báo Đảng nhất? Bác cũng nêu: “Cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng(3).

Bài viết “Cần phải xem báo Đảng” ngắn gọn nhưng súc tích, khái quát cao như phong cách viết vốn có của Bác. Đến nay, sau 68 năm bài báo ra đời, câu chuyện Bác nêu vẫn còn tính thời sự và có giá trị gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về 2 vấn đề: một là, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của báo Đảng; hai là, về “bệnh lười” đọc báo Đảng của cán bộ, đảng viên. Từ đó, suy nghĩ về mối quan hệ giữa cơ quan báo Đảng với bạn đọc, công chúng của mình. Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, báo Đảng là những báo nào, như thế nào thì gọi là báo Đảng và báo Đảng thời công nghệ 4.0 hôm nay khác gì và cần những điều kiện gì so với báo Đảng khi Bác viết bài “Cần phải xem báo Đảng”?

Nếu mỗi chủ thể không nhìn nhận đúng việc cần làm, phải làm, sẽ có thể dẫn đến làm suy yếu tiếng nói của Đảng, ngọn cờ tư tưởng của Đảng, diễn đàn của nhân dân cũng là làm suy yếu đi một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng ta.

NGỌN CỜ TƯ TƯỞNG, TIÊN PHONG, CHỦ LỰC, NÒNG CỐT, TIN CẬY

Nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời đến nay là 97 năm kể từ khi Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra tờ Thanh Niên ngày 21/6/1925. Kể từ đó, báo chí nước nhà là lực lượng tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể việc thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự phụng sự Đảng, Tổ quốc và dân tộc. Tính Đảng là một thuộc tính căn bản, tiên quyết của nền báo chí cách mạng và của bất cứ tờ báo nào. Trong một phạm vi hẹp, có tờ báo, tạp chí được quen gọi là “báo Đảng” bởi tính chất đặc thù về cơ quan chủ quản, nhiệm vụ tiên phong trong tuyên truyền, là ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. 

Những tờ báo Đảng, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng đã định vị và khẳng định bề dày “thương hiệu” qua quá trình lịch sử cách mạng như báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản,… Báo Nhân dân ra đời 11/3/1951, kế tục sự nghiệp vẻ vang của các tờ báo Thanh Niên, Tranh Đấu, Cờ Giải Phóng, Sự Thật là “ngọn cờ trên mặt trận báo chí của Đảng, là tờ báo được quần chúng rất tin cậy”(4). Tạp chí Cộng sản là cơ quan lý luận chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kế tục vai trò huấn luyện công tác và lý luận của những tạp chí buổi đầu cách mạng như Tạp chí Đỏ (1930), Tạp chí Cộng sản (1931, 1941, 1943, 1950), Tạp chí Bônsơvích (1934), Tạp chí Nghiên cứu (1951)… Từ buổi đầu lịch sử cách mạng, các tờ báo, tạp chí Đảng này và những tờ báo của các chi bộ cộng sản trong một số nhà tù lớn đã làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục ý thức giai cấp, đấu tranh giai cấp và xây dựng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cho quần chúng lao động; tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng dân quyền của Đảng, kiên quyết chống đế quốc, phong kiến, chống chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản và chủ  nghĩa dân tộc tư sản. Từ đó, chuẩn bị điều kiện để đón thời cơ đưa cách mạng tiến lên những cao trào mới mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo, đã phục vụ tích cực cho xây dựng Đảng, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, xây dựng XHCN ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng hành cùng dân tộc trong giai đoạn phát triển và đổi mới.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến hệ thống các báo Đảng, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, lực lượng vũ trang, báo, tạp chí của các ban Đảng Trung ương và tạp chí lý luận của hệ thống các trường Đảng,... Mỗi tờ báo, tạp chí đều có bề dầy lịch sử, đều phát huy vai trò dẫn dắt, định hướng về tư tưởng, hành động của xã hội trong triển khai các nghị quyết của Đảng; đáp ứng nhu cầu hiểu rõ quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đi đầu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch…

Sau 97 năm ra đời và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đổi thay trên nhiều phương diện, phát triển nhanh chóng về số lượng, số đầu báo, tạp chí; xuất hiện thêm nhiều loại hình báo chí điện tử, báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, tích hợp, hội tụ… Nhiều cải tiến về nội dung, hình thức, công nghệ in ấn, phương thức thông tin, nền tảng công nghệ, kéo theo đó là sự thay đổi về phương thức tiếp nhận thông tin, thói quen và nhu cầu tiếp cận. Trong bối cảnh đó, các báo, tạp chí Đảng với tư cách là cơ quan ngôn luận, cơ quan lý luận chính trị của các cấp ủy Đảng cũng đã thường xuyên đổi mới, cải tiến. Bài toán đổi mới đặt ra cho báo và tạp chí Đảng hiện nay là phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa tính đảng, tính định hướng, tính chiến đấu, tính khoa học, tính chuyên ngành, tính dự báo, tính nhân dân, tính chính thống, chính xác, chuẩn mực với tính hấp dẫn, tính thuyết phục, hiện đại và chuyên nghiệp…

NHẬN DIỆN MỘT SỐ BIỂU HIỆN CHƯA ĐÚNG

Thứ nhất, là tư duy “xem nhẹ” việc mua và đọc báo, tạp chí lý luận chính trị ở một bộ phận cấp ủy, cán bộ, đảng viên. Có những cấp ủy không sử dụng kinh phí được quy định để mua báo, tạp chí Đảng mà dùng vào việc khác, hoặc có mua nhưng không đọc, nghiên cứu. Đương nhiên, báo, tạp chí chính trị không phải là loại hình báo giải trí, nên khó hấp dẫn, thu hút người đọc. Nhưng đối với cán bộ, đảng viên, độ hấp dẫn của báo, tạp chí Đảng trước tiên đến từ sự cần thiết, tính định hướng, tính chính thống. Có đọc, có nghiền ngẫm thì mới trang bị được “phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức, phương pháp tư tưởng, có phương pháp đúng thì sẽ có nhận thức đúng, đánh giá đúng vấn đề và giải quyết đúng vấn đề”(5). Đúng như Bác đã chỉ ra, các đồng chí “mượn cớ”, hoặc cớ này, cớ khác, thực chất là “che giấu bệnh lười”. Nguy hiểm hơn, với nhận thức và ứng xử “xem nhẹ” đó có thể vô hình trung làm đánh mất vai trò, suy yếu sức mạnh tiếng nói của Đảng, triệt tiêu một công cụ quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, một số tờ báo, tạp chí trong tư duy đổi mới, chưa đồng bộ giữa đổi mới công nghệ và đổi mới đội ngũ, nâng cao chất lượng thông tin. Đổi mới theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, bắt kịp công nghệ phải bắt đầu từ con người, từ đổi mới tư duy và năng lực tiếp nhận cái mới, làm chủ công nghệ, tổ chức thông tin “đúng” và “trúng” với yêu cầu, nhiệm vụ và nhu cầu của bạn đọc.

Thứ ba, trong sự hào hứng với sự phát triển của công nghệ, đón bắt xu hướng, chuyển đổi số, xuất hiện khuynh hướng chạy theo sự phát triển của các loại hình báo chí mới mà chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và những thế mạnh đặc thù của các loại hình báo chí truyền thống như báo, tạp chí in, mà các kênh thông tin khác, nhất là báo mạng không thể thay thế được(6).

Thứ tư, trong triển khai quy hoạch báo chí một số nơi có biểu hiện lắp ghép cơ học, chưa tính toán kỹ giải pháp để thực hiện mục tiêu quy hoạch là để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.

Đồng chí Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao giải Nhất cho PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng.

Đồng chí Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao giải Nhất cho PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng.


KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ NÒNG CỐT, CHỦ LỰC TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG

Trước những yêu cầu phát triển mới của đất nước, yêu cầu xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức càng cần quan tâm đến củng cố và phát triển báo, tạp chí Đảng, người viết xin góp bàn một số vấn đề sau:

Một là, nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của báo, tạp chí Đảng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng, ngọn cờ đầu trong công tác tư tưởng, lý luận, củng cố và tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy Đảng là cơ quan chủ quản phải luôn quan tâm, theo dõi sát sao, tạo điều kiện, nguồn lực về mọi mặt để tờ báo phát triển xứng tầm, có vị thế xứng đáng với vai trò, nhiệm vụ.

Hai là, các cơ quan báo chí phải thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo, đổi mới nội dung, hình thức, có chiến lược phát triển theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại; xây dựng đội ngũ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, có khả năng nắm bắt và hành nghề trong hệ sinh thái công nghệ số.

Ba là, trong đổi mới, phục vụ vai trò, phương thức lãnh đạo của Đảng, phục vụ công chúng phải luôn “lắng nghe” để “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”(7). Lắng nghe bạn đọc là cán bộ, đảng viên và nhân dân, hiểu rõ tâm lý, hành vi, nhu cầu của công chúng báo chí trong thời kỳ hiện nay.

Bốn là, thực hiện quy hoạch báo chí, tinh gọn để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Triển khai nghiêm túc Quyết định số 362/QĐ-TTG ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Kết luận 26-KL/TW ngày 29/12/2017 của Ban Bí thư về “Kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả tạp chí các ban đảng Trung ương hiện nay”. Nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước, quy hoạch là để báo chí phát triển lành mạnh, đúng định hướng, nâng cao chất lượng, tránh “nặng về sắp xếp mà chưa coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động”(8).

Năm là, phát triển “hệ sinh thái” các loại hình báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, phát huy vai trò của sản phẩm báo in truyền thống với sản phẩm báo chí công nghệ hiện đại. “Báo giấy còn cần phải song hành dài lâu cùng báo, tạp chí điện tử, không phải ở thói quen hay sự luyến tiếc bởi những thứ có tính chất cảm tính ấy sẽ phai nhạt dần và biến mất theo thời gian mà nó nằm ở nhu cầu mang tính chuyên môn, phục vụ cho các mục đích khoa học, lưu trữ đặc thù”(9). Theo phản ánh từ thực tiễn, “nhiều cán bộ chính quyền và các ban ngành, đoàn thể cấp xã, phường, cán bộ trưởng khu phố, tổ trưởng tổ dân phố phần lớn là những người lớn tuổi, có hạn chế đối với báo điện tử, rất cần có tờ báo, tạp chí Đảng hằng ngày để vừa cập nhật thông tin thời sự chính trị - xã hội, vừa làm tư liệu tuyên truyền trong nhân dân(10). Xu hướng “mobile first” (ưu tiên đọc trên điện thoại) sẽ thích hợp với độc giả có nhu cầu cập nhật tin tức thời sự hơn là đọc những bài chuyên sâu, những bài có tính tư liệu trên báo, tạp chí in của Đảng.

Việc Trung ương nhấn mạnh và yêu cầu “mua và đọc” báo và tạp chí Đảng(11) và những ý kiến từ bạn đọc các lứa tuổi, các vùng miền cho thấy ấn phẩm in vẫn giữ một vai trò quan trọng trong thói quen, tình cảm, nhận thức, quan điểm và trong thực tiễn đời sống báo chí. 

Bên cạnh những thiết chế, quy định ràng buộc và tạo điều kiện của Đảng về việc mua và đọc báo Đảng, các cán bộ, đảng viên học lời Bác dạy: “Vô luận công việc bận thế nào, nếu khéo sắp xếp thì nhất định có thời giờ xem báo”(12). Đồng thời, chắc chắn rằng, báo, tạp chí Đảng phải tự vươn lên mạnh mẽ, khẳng định năng lực “xương sống” của nền báo chí quốc gia, chiếm lĩnh được công chúng, thực hiện tốt sứ mệnh là “ngọn cờ tư tưởng”, “lực lượng xung kích”, “cầu nối tin cậy” giữa Đảng với nhân dân./.

Bùi Thị Thu Thanh
Phó Tổng biên tập Tạp chí Tuyên giáo

------------

(1) (2) (3) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.7, tr. 298-299.

(4) Chỉ thị số 113-CT/TW ngày 15/11/1965 của Ban Bí thư về nhiệm vụ của Báo Nhân dân trước tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng.

(5) Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức đối với các Ủy viên Trung ương Đảng Khóa XI, ngày 7/3/2014.

(6) Tạp chí Cộng sản: Đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền của Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề cơ sở”.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, tr.307, tr. 345. 

(8) Phát biểu của đồng chí Võ Văn Thưởng tại Hội nghị báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021.

(9) GS.TS. Tạ Ngọc Tấn: Báo chí truyền thông hiện đại: Thực tiễn, vấn đề, nhận định, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tr. 178.

(10) Đàm Thanh: Mua và đọc báo Đảng: Cần nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọnghttps://baobinhduong.vn/mua-va-doc-bao-dang-can-nhan-thuc-ro-vai-tro-tam-quan-trong-a149085.html.

(11) Thông báo kết luận 173-TB/TW của Ban Bí thư ngày 6/4/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng.

NHẬN DIỆN ĐÚNG "VIRUS" TIN GIẢ, HIỂM HỌA ĐỐI VỚI XÃ HỘI!


      Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống.
    Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này. Tin giả nhưng hiểm họa lại thật. Tin giả thực sự là một loại virus độc hại, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội.
Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp./.
Môi trường ST.

Những điểm mới về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị.

  - Ngày 8/2/2022, Ban Bí thư ban hành Quy định số 57-QĐ/TW về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị (gọi tắt là Quy định 57). Quy định 57 thể hiện sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo lý luận chính trị, phù hợp với đối mới công tác cán bộ nói chung. Quy định 57 bao quát tất cả 3 cấp đào tạo lý luận chính trị, gồm sơ cấp, trung cấp và cao cấp; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng bên liên quan trong việc hoạt động đào tạo lý luận chính trị từ Trung ương tới cơ sở. 

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh: HCMA

SỰ CẦN THIẾT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH 57

Việc xây dựng Quy định 57 xuất phát từ 3 lý do chính, quan trọng sau đây:

Thứ nhất, yêu cầu đổi mới đồng bộ công tác cán bộ, trong đó có khâu quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Công tác đào tạo lý luận chính trị đóng vai trò quan trọng, góp phần chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ, nâng cao bản lĩnh chính trị và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, đủ bản lĩnh, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Yêu cầu ngày càng cao về bản lĩnh chính trị của cán bộ đặt ra việc nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị. Việc ban hành Quy định 57 là cần thiết, góp phần quan trọng để thực hiện yêu cầu tất yếu này.

Thứ hai, những hạn chế, bất cập trong quy định và quản lý đào tạo lý luận chính trị thời gian qua đặt ra yêu cầu cần phải khắc phục.

Trong thực tế thời gian qua, quy định về đối tượng, tiêu chuẩn đào tạo lý luận chính trị do nhiều cơ quan ban hành, chưa có sự liên thông, phối hợp chặt chẽ (1). Một số nội dung chưa sát thực tiễn, chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình mới; chưa gắn việc đào tạo lý luận chính trị với tiêu chuẩn chức vụ, chức danh cán bộ, chưa tạo được sự đồng bộ giữa đào tạo và quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ. Công tác quản lý đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị còn nhiều yếu kém. Đặc biệt, phân cấp đào tạo lý luận chính trị vẫn còn hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác cán bộ trong tình hình mới. Việc tổ chức đào tạo, quản lý, kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi còn chồng chéo, hiệu quả chưa cao; việc phối hợp của các bên liên quan trong công tác tổ chức đào tạo chưa chặt chẽ. Do vậy, cần phải ban hành Quy định 57 để khắc phục những hạn chế, bất cập, đưa công tác đào tạo lý luận chính trị vào nền nếp, kỷ cương, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ.

Thứ ba, việc nghiên cứu ban hành Quy định 57 xuất phát từ yêu cầu cụ thể hóa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng.

Trong nhiệm kỳ XII, XIII, Đảng ta quan tâm đặc biệt tới việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và đào tạo lý luận chính trị nói riêng, cụ thể Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII và Văn kiện Đại hội XIII, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII,… Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp trong đào tạo lý luận chính trị, đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ “Đổi mới căn bản nội dung, chương trình phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học,sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”(2). Chính vì những lý do căn bản đó, việc ban hành Quy định 57 về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị là cần thiết, thiết thực, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra.

Việc ban hành Quy định 57 mang rất nhiều ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở những nội dung như:

Một là, Quy định 57 thể hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo lý luận chính trị về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp trong đào tạo lý luận chính trị nhằm đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng học sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị.

Hai là, Quy định 57 về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị là kết tinh trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm của tập thể, các bên liên quan, các đồng chí lãnh đạo, chuyên gia, khoa học, cán bộ tham mưu đào tạo vì mục tiêu chung là nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đào tạo lý luận chính trị trong tình hình mới.

Ba là, thể hiện sự thống nhất cao nhận thức và hành động trong việc lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo lý luận chính trị ở cả 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); bảo đảm sự đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các cơ sở đào tạo thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác đào tạo lý luận chính trị, tăng cường kiểm tra, giám sát. Bảo đảm công tác đào tạo lý luận chính trị đồng bộ với các quy định của Đảng về quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ.

NHỮNG ĐIỂM MỚI, ĐỘT PHÁ TRONG QUY ĐỊNH 57

Quá trình nghiên cứu xây dựng Quy định 57 được tổ chức công phu, khoa học và dựa trên những chứng cứ khách quan, có sự tiếp thu ý kiến của nhiều bên liên quan(3).

Nội dung Quy định 57 được bố cục gọn, rõ, mạch lạc trong 4 chương, 12 điều, bao quát tổng thể đối tượng, tiêu chuẩn, phân cấp và trách nhiệm các bên liên quan trong công tác đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Những điểm mới, mấu chốt, đột phá của Quy định 57 cụ thể như sau:

Thứ nhất, thẩm quyền ban hành Quy định 57 là Ban Bí thư. Lần đầu tiên trong lịch sử công tác đào tạo lý luận chính trị của Đảng, Ban Bí thư ban hành Quy định 57, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với công tác này trong tình hình mới. Chính vì thế, hiệu lực thực thi rất cao, yêu cầu sự tuân thủ thực hiện từ Trung ương tới cơ sở, trong toàn hệ thống chính trị. Quy định này thay thế các điều khoản trong các quy định trước đây không còn phù hợp.

Trong Chương 1, Quy định 57 xác định rõ khái niệm (thuật ngữ) về đào tạo lý luận chính trị,sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị, phân cấp đào tạo lý luận chính trị. Có thể nói đây là chuẩn mực để chúng ta tham khảo, hiểu thống nhất trong quá trình triển khai Quy định này, đồng thời để chiếu dẫn cho các văn bản khác và nghiên cứu học thuật.

Thứ hai, Quy định 57 mang tính hệ thống, tổng hợp. Quy định này bao quát đầy đủ 3 cấp học sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị trong một văn bản. Điều này khắc phục được những hạn chế, bất cập trước đây là có những quy định riêng lẻ, tản mạn về sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị của các cơ quan, ban đảng như đã nêu trên. Việc xác định mạch lạc các cấp học thể hiện tính hệ thống của đào tạo lý luận chính trị, có tính liên thông về nội dung từ thấp tới cao cho từng đối tượng cán bộ.

Thứ ba, Quy định 57 xác định rõ, cụ thể, mạch lạc từng loại đối tượng tham gia 3 cấp học. Đối tượng học từng cấp không trùng lắp, chồng chéo với nhau, bảo đảm sự tách bạch, nâng cao hiệu lực công tác tổ chức thực hiện. Điều 4 quy định về đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị. Đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị là rất rộng, đa dạng, có những đối tượng rất đặc biệt nhưng rất phù hợp với thực tiễn cơ sở như “người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; một số đối tượng khác có nguyện vọng phù hợp với yêu cầu chung”.

Điều 5 và Điều 6 quy định về đối tượng học trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Trong đó đáng lưu ý một số điểm mới. Cụ thể, 1) Lần đầu tiên, có tiểu mục riêng quy định đối tượng cán bộ thuộc Ngành Công an và Quân đội. Điều này xuất phát từ thực tiễn đặc thù của lực lượng vũ trang, nhiều chức danh, chức vụ không đồng nhất tên gọi như khu vực dân sự nên cần xác định rõ, cụ thể để tiện cho việc tổ chức thực hiện và quản lý. 2) Quy định 57 bổ sung một số đối tượng phù hợp với nhu cầu thực tiễn hiện nay, gồm cán bộ có nhu cầu có đủ điều kiện thi nâng ngạch, đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong các cơ sở đào tạo lý luận.

Thứ tư, Quy định 57 xác định rõ việc phân cấp đào tạo lý luận chính trị đối với các cơ sở đào tạo, các cơ quan liên quan.

Điều 7 xác định rõ việc phân cấp nhiệm vụ đào tạo, cụ thể: (1) Trung tâm chính trị cấp huyện đào tạo sơ cấp lý luận chính trị; (2) Trường chính trị cấp tỉnh đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ của địa phương và của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang. (3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo cao cấp lý luận chính trị. Riêng các trường chính trị cấp tỉnh được giao thêm nhiệm vụ là đào tạo cán bộ của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Đối với một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang, cần phải có khảo sát, đánh giá và lựa chọn cụ thể. Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan sẽ quyết định sau.

Thứ năm, Quy định 57 xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm các bên liên quan trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo lý luận chính trịsơ cấp, trung cấp và cao cấp. Điều 8, 9 và 10 quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan tham mưu, cơ sở đào tạo trong công tác đào tạo lý luận chính trị, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan, không trùng lặp, chồng chéo.

Thứ sáu, Quy định 57 xác định rõ lộ trình cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc các ban, bộ ngành, đoàn thể phải dừng đào tạo trung cấp lý luận chính trị. Quy định 57 xác định “Các cơ sở đào tạo thuộc các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương hiện đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị sẽ kết thúc nhiệm vụ đào tạo trung cấp lý luận chính trị từ ngày 1/1/2024. Các cơ sở này phải xây dựng lộ trình để kết thúc khoá học đối với các lớp khai giảng mới và các lớp đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị trước ngày 31/12/2023”.

PGS,TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện phát biểu khai giảng các Lớp cao cấp lý luận chính trị hệ không tập trung và Lớp hoàn chỉnh chương trình cao cấp lý luận chính trị K72 (đợt 1, năm học 2021-2022).

PGS,TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện phát biểu khai giảng các Lớp cao cấp lý luận chính trị hệ không tập trung và Lớp hoàn chỉnh chương trình cao cấp lý luận chính trị K72 (đợt 1, năm học 2021-2022).

YÊU CẦU TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY ĐỊNH 57

Ngày 16/3/2022, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị quán triệt Quy định 57 nhằm triển khai các nội dung của Quy định này vào thực tiễn theo đúng yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện đào tạo lý luận chính trị trong cả nước.

Việc tổ chức thực hiện Quy định 57 cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Thống nhất cao nhận thức và hành động trong việc lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo lý luận chính trị ở cả 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); bảo đảm sự đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Quy định 57 phân công cụ thể nhiệm vụ của các cơ quan liên quan trong đào tạo lý luận chính trị theo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cơ quan có liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện.

Các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, đơn vị sự nghiệp Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và cụ thể hoá thực hiện Quy định 57 theo thẩm quyền. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các cơ sở đào tạo thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm trong chọn cử, tổ chức, quản lý công tác đào tạo lý luận chính trị.

Tổ chức đào tạo lý luận chính trị đúng đối tượng, tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng và đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ trong tình hình mới. Tăng cường phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan như cơ quan tham mưu, cơ quan sử dụng cán bộ, cơ sở đào tạo trong việc triển khai Quy định 57 vào thực tiễn.

Đề cao ý thức, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên. Học tập lý luận chính trị là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định 57. Phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp, coi trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác đào tạo lý luận chính trị.

PGS.TS. Vũ Thanh Sơn 
Ban Tổ chức Trung ương

___________________

Chú thích:

(1) Quy định về sơ cấp do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành, hướng dẫn; Trung cấp do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Cao cấp do Ban Tổ chức Trung ương.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, H, 2021, t. 2, tr. 235-236.

(3) Nội dung Quy định 57 là kết quả chọn lọc các Báo cáo của 128 cấp ủy, tổ chức đảng về tổng kết tình hình thực hiện đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (63 tỉnh thành và 65 bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương); và tiếp thu ý kiến, kiến nghị của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương tại 15 hội thảo, tọa đàm, ý kiến các chuyên gia; góp ý bằng văn bản 2 lần của 129 cơ quan, đơn vị, địa phương vào các văn kiện dự thảo. 


LỜI BÁC DẠY NGÀY 18/6

 

Trong buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 18 tháng 6 năm 1968 Chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”, để bàn về cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đây là thời điểm mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam thu được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao truyền thống hào hùng của dân tộc, thành tích vẻ vang của Đảng và mỗi con người trong sự nghiệp kiến quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc; mà còn nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ phải triệt để đấu tranh khắc phục tư tưởng sống thỏa mãn trong hào quang, chiến thắng của ngày hôm qua, phải luôn tiến về phía trước, đấu tranh loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng, bộ máy nhà nước những người “sa vào chủ nghĩa cá nhân” không còn đủ tư cách, tha hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, ạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân…  Thực hiện lời dạy của Bác, toàn Đảng toàn dân, toàn quân ta đã đem hết tài năng và sức lực cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu hơn 30 năm đổi mới, lời dạy của Bác năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị, luôn là tư tưởng chỉ đạo, bài học kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự là lực lượng chính trị, lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong hai cuộc kháng chiến trước đây. Tư tưởng của Bác tiếp tục là ánh sáng soi đường xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nền tảng, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ kiên quyết đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng, loại trừ chủ nghĩa cá nhân; khơi dậy tinh thần thi đua sáng tạo, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./.

                                                                                         VHT.

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT ĐỂ ĐẢNG TA THÊM VỮNG MẠNH

 

Kiểm tra, giám sát vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Trong tình hình mới, phần việc này cần được đặc biệt coi trọng, thực hiện triệt để, thực chất trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, đủ sức gánh vác, lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Nếu không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, các nhiệm vụ chính trị cụ thể nói riêng đạt được đến đâu, hiệu lực, hiệu quả ra sao, đều chịu sự ảnh hưởng, tác động sâu sắc của công tác kiểm tra giám sát. Từ các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo đương nhiệm của Đảng, Nhà nước ta và cả trong hệ thống các văn kiện của Đảng đều thể hiện rất rõ tinh thần nhất quán: Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.\

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra giám sát, bởi theo Người "Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ được năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời". Bác đã chỉ rõ, "Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra" và khẳng định: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức”. Thực tiễn trong hơn 92 năm qua Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra và giữ gìn kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, đồng thời xác định: Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; muốn lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Ngay trong Điều lệ Đảng từ tháng 10-1930 đã ghi rõ: "Trách nhiệm của đảng viên và các đảng bộ là giữ theo kỷ luật của Đảng một cách rất nghiêm khắc"…

Thực tiễn cách mạng cho thấy, bất kỳ lúc nào, bất kỳ đâu mà công tác kiểm tra giám sát bị buông lỏng hoặc xem nhẹ, thì việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng sẽ bị lệch lạc, chỉ đạo tổ chức thực hiện dễ dẫn đến sai lầm. Đồng thời, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ không đạt hiệu quả cao, mọi dấu hiệu, biểu hiện vi phạm kỷ luật không được phát hiện từ sớm để ngăn chặn kịp thời. Hệ quả tất yếu là dẫn đến tình trạng đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng, vi phạm tư cách, đạo đức cách mạng. Thời gian gần đây, ở một số bộ, ban, ngành, địa phương không thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, dẫn đến tình trạng thực hiện sai chủ trương, nghị quyết của Đảng, Chính phủ, vi phạm pháp luật, “lợi ích nhóm”, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ chủ trì các cấp. Điều đó không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta. Đặc biệt, những năm gần đây, kết quả công tác kiểm tra giám sát đã thực sự góp phần đưa kỷ cương, kỷ luật Đảng được tăng cường thêm một bước; nhiều cơ chế mới phòng ngừa vi phạm được bổ sung, nhận thức về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được nâng lên; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi kỳ họp của Ủy ban kiểm tra Trung ương đều mang lại những kết quả cụ thể, rõ rệt trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; được đông đảo nhân dân quan tâm, đồng tình ủng hộ. Xử lý đúng người, đúng vụ việc không phải là cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ, mà là “chặt những cành sâu để cây xanh tốt”, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chính điều đó đã tạo hiệu ứng lan tỏa đến các tổ chức cơ sở đảng, đưa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành hành động cách mạng quyết liệt, hiệu quả cao ở mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Hoạt động kiểm tra giám sát của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp được đẩy mạnh, đạt kết quả khá toàn diện, nhất là cấp Trung ương. Qua công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng, kỷ cương, kỷ luật Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên”. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng xác định: Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật Đảng. Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong giai đoạn hiện nay với bối cảnh tình hình mới, cùng với những tác động đa chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường; sự chống phá quyết liệt, nguy hiểm của các thế lực thù địch; cuộc chiến chống “giặc nội xâm” trở nên phức tạp, cấp bách... Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đòi hỏi công tác kiểm tra giám sát phải được đổi mới, tăng cường, hiệu quả thiết thực hơn nữa. Đảng ta khẳng định, kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng; lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng. Kiểm tra giám sát là “thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương”. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất và giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, kiên quyết xử lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị./.

                                                                                                    VHT.

 

 

 

 

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 16/6

 

“Đối với đồng sự, phải đoàn kết chặt chẽ, khuyên nhau, giúp nhau. Đối với dân chúng, phải thân cận, phải giúp đỡ họ mọi việc, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong Thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ, ngày 16 tháng 6 năm 1947. Sau khi nước nhà giành được độc lập chưa được bao lâu, thì thực dân Pháp lại dã tâm quay lại xâm lược nước ta. Việc xây dựng Chính phủ thực sự là của dân gặp không ít những khó khăn, thách thức đặt ra yêu cầu cần phải giải quyết kịp thời.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành tốt mọi công việc, là tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng Chính phủ thực sự là của dân, vì dân, phục vụ dân để dân tin, dân yêu và dân làm theo, đảm bảo cho sự nghiệp kiến quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc giành thắng lợi. Đồng thời, là cơ sở tập hợp lực lượng, huy động sức người, sức của, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm, hợp lực đánh đuổi đế quốc thực dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy của Bác chính là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi nhiêm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa là tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu; đồng thời vừa là biện pháp tích cực góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Do vậy, các cơ quan, nhà trường và đơn vị trong toàn quân cần phải tăng cường xây dựng mối đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh trên dưới đồng lòng giúp nhau cùng tiến bộ, xây dựng mối đoàn kết quân dân như cá với nước; thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác, đội quân dân vận, chung sức cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng nông thôn mới, thực hiện tốt 10 Lời thề danh dự, 12 Điều kỷ luật khi tiếp súc với nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ thực sự trở thành hạt nhân đoàn kết, xứng đáng là quân đội của dân, do dân và vì dân, để dân tin, dân phục, dân yêu như lời Bác Hồ dạy./.

                                                                                                       VHT.

 

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN, PHƯƠNG THỨC CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Ngay từ khi Đảng ta ra đời năm 1930 đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các âm mưu thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Bảo vệ hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.Đặc biệt từ năm 1986, khi đất nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, từng bước hội nhập quốc tế và nhất là sau thảm hoạ chính trị - sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực chống cộng, thù địch coi Việt Nam là một trọng điểm đẩy mạnh âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình”, tăng cường chống phá ta trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đã nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tấn công vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta thể hiện chủ yếu trên những vấn đề sau:

Một là: Tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng để phủ định chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường đi lên CNXH. Các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xuý du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan: chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong nhằm thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong hệ thống chính trị.

Hai là: Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN với các luận điệu: “Đảng tự cho mình đứng trên tất cả”; “Đảng cầm quyền phi chính danh”, “Đảng không còn bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”; cổ xuý “Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đối lập kinh tế thị trường với định hướng XHCN; quy kết chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa Đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây.

Ba là: Xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”; cường điệu, vu khống khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai…nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là: Nguỵ tạo, tô vẽ, thổi phồng những yếu kém khuyết điểm của một số tổ chức, cá nhân cán bộ, Đảng viên quy kết thành bản chất của Đảng cầm quyền, kích động đối lập Đảng, nhà nước với nhân dân.

Năm là: Xâm nhập vào nội bộ của ta, tiếp cận, lôi kéo, mua chuộc nhằm phân hoá nội bộ, dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng. Đẩy mạnh tìm kiếm những phần tử thoái hoá biến chất trong hàng ngũ cán bộ Đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để tán phát các quan điểm sai trái, phản động, thù địch.

Sáu là: Phá hoại đường lối đối ngoại độc lập tự chủ đa phương hoá, đa dạng hoá trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xuý chủ nghĩa ly khai. Chúng triệt để lợi dụng các vấn đề chủ quyền biển đảo để tung tin thất thiệt làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “Thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo kích động đồng bào ta ở trong và ngoài nước kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền…

Trong bối cảnh mới của tình hình hiện nay, trên cơ sở nhận rõ âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp, phương thức, phương tiện của các thế lực thù địch chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, Đảng ta trong nghị quyết 35 của Bộ chính trị khóa XII đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tiến hành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên này trong tình hình mới khi các lực lượng thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết chiến lược “diễn biến hòa bình” gắn chặt với các cuộc “cách mạng màu”, chúng đầu tư lượng tài chính khổng lồ, sử dụng hàng nghìn chuyên gia tư tưởng, chiến tranh tâm lý, lợi dụng triệt để những yếu kém, bất cập của các tổ chức và cá nhân trong công cuộc đổi mới và hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để sản xuất và phát tán hàng trăm nghìn quan điểm, luận điệu sai trái thù địch. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để các hoạt động ngoại giao thân thiện, hợp tác kinh tế, văn hóa, hoạt động của hàng trăm tổ chức phi chính phủ để cài cắm lực lượng, tiếp cận, lôi kéo, kích động các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất trong nội bộ ta để tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức chính trị đối lập, đẩy mạnh các hoạt động truyền bá các quan điểm, luận điểm sai trái, thù địch. Đáng chú ý các tổ chức thế lực thù địch bên ngoài phối hợp, cấu kết chặt chẽ với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước thông qua hàng chục đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt, hàng trăm báo, tạp chí, bản tin, nhà xuất bản tiếng Việt ở nước ngoài cùng với việc các thế lực thù địch lập ra hàng trăm Website, blog, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để thường xuyên, liên tục truyền bá, chuyển tải các quan điểm sai trái, các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích vào chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá chủ nghĩa xã hội, và sự lãnh đạo của Đảng ta.

Trước tình hình nêu trên cho thấy cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay là rất khó khăn, phức tạp, rất quyết liệt và không khoan nhượng. Trong bối cảnh tình hình mới, Đảng ta phải coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo đối với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài này.

Nghị quyết số 35- NQ/TW về “ Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Thực tiễn sau 30 năm thực hiện cương lĩnh 1991 Đảng ta luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để nhận thức ngày càng sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH làm cơ sở cho Đảng ta từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN. Đây cũng là 30 năm trường kỳ Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch./.

                                                                                                 VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 14/6

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy: “Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”, được trích trong bài viết nói về phê bình trong Đảng; đăng trên Báo Nhân dân, số 468, ngày 14 tháng 6 năm 1955. Đây là thời điểm đất nước ta vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh; miền Bắc mới bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết đất nước, còn nhiều khó khăn, thử thách, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa to lớn, khẳng định tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là thứ vũ khí sắc bén, giúp cho Đảng ta ngày càng mạnh thêm. Thông qua tự phê bình Đảng mới gột rửa được những hạn chế, yếu kém, những thói hư tật xấu, làm cho dân tin, dân theo Đảng; đồng thời nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao bản lĩnh chính trị, ngăn ngừa biểu hiện tự cao, tự đại, mạnh dạn công khai tự phê bình, chân thành tiếp thu sự phê bình của người khác. Chống biểu hiện khi phê bình, giáo dục nhưng vẫn bảo thủ, trì trệ… Thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình chính là góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác Hồ, Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình; tiếp tục lãnh đạo, quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, bảo đảm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, đáp ứng sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Đảng bộ Quân đội luôn nêu cao ý thức chính trị; gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về công tác xây dựng Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ đảng viên; đề cao tinh thần đấu tranh, thực hành tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất nội bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thờ ơ, vô cảm… xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện ngày càng vững chắc sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                            VHT.

 

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

“Đời sống mới” theo quan niệm của Hồ Chí Minh là: “Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay thì ta phải làm… Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới”. Xây dựng đời sống mới chính là sửa đổi những việc rất cần thiết, phổ thông, thường ngày của mọi người như ăn, mặc, ở, đi làm, giảm thiểu những hủ tục lạc hậu như cúng tế, cờ bạc, say sưa, hút xách, trộm cắp, nhất là không tách rời với tăng gia sản xuất… nhằm xây dựng đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới; trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.

Kịp thời hỗ trợ người dân đến nơi ở mới

 

Với sự vào cuộc khẩn trương, chỉ sau 7 ngày, 27 hộ dân ở bản Huổi Đắp, xã Nậm Tin (Nậm Pồ, Điện Biên) đã được di chuyển ra khỏi khu vực sạt lở nguy hiểm.

Cảnh giác với thủ đoạn lừa đảo từ thiện

 

Thời gian qua, xuất hiện tình trạng nhiều đối tượng xấu dùng thủ đoạn cắt ghép hình ảnh, bịa ra những câu chuyện, hoàn cảnh hết sức đáng thương hoặc sử dụng thông tin có thật để đăng tải trên các trang mạng xã hội rồi kêu gọi từ thiện (chuyển tiền vào tài khoản cá nhân với tên giả) nhằm trục lợi. Người dân cần nêu cao cảnh giác, xác minh kỹ thông tin trước khi quyết định ủng hộ, giúp đỡ, tránh bị lừa đảo.

Tự giữ phương tiện giao thông vi phạm

 

Tạm giữ phương tiện giao thông vi phạm hành chính (VPHC) là biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn hậu quả, bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC... đã được quy định rõ trong Luật Xử lý VPHC.

Lắng nghe và cầu thị

 

“Phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị” là một trong những nội dung cấu thành đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

LỜI BÁC DẠY NĂM XƯA

 

“Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin”

          Lời nói trên của Bác được trích trong buổi nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc vào ngày 23-3-1956, trong thời điểm miền Bắc nước ta vừa bước vào hòa bình, thống nhất, xây dựng nước nhà, công tác giáo dục hết sức khó khăn.

          Trong bối cảnh đó, có tư tưởng lo ngại rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Bác đã giải thích, làm rõ những tư tưởng lo ngại không đúng về Chủ nghĩa Mác-Lênin, “Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Chủ nghĩa Mác-Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin không có gì cao xa. Muốn phát triển giáo dục phải có kế hoạch lâu dài, phải cố gắng, phải quyết tâm thì chiến thắng được mọi khó khăn.

          Thực hiện lời nói của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng để hoạch định chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, hết sức phụng sự nhân dân là điều cao quý nhất. Người đã nhiều lần nói, được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và cách mạng là cao quý hơn cả… trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Việc xác định rõ vai trò của nhân dân chính là định hướng cho sự phát triển bền vững của Đảng, Nhà nước. Tất cả mọi việc đều hướng tới lợi ích của dân, cho dân và vì dân. Chỉ khi tầng lớp nhân dân có được đời sống thực sự ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới có được sức mạnh hùng cường, mới có thể bước tới đài vinh quang. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên công chức phòng chống biểu hiện tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi đều phải quyết tâm hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Nếu chúng ta nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng và nếu nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai.

          Là lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ chí Minh: “Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với Chủ nghĩa Mác-Lênin”, mọi cán bộ, chiến sĩ luôn nhận thức sâu sắc, nêu cao trách nhiệm, giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, ra sức thi đua học tập và rèn luyện để trở thành người chiến sĩ xung kích trong mọi công việc, góp phần cùng nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng. Đó là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong công cuộc phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

VTT(St) Báo QĐND.

Đối ngoại quốc phòng từ một góc nhìn

 

Qua hai phần ba thế kỷ, ngành đối ngoại toàn quân đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là mỗi lần chuyển hướng chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ THÁI ĐỘ GIỮ GÌN, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

Chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội trong  xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trở thành một tất yếu khách quan, hội nhập để phát triển, muốn phát triển phải hội nhập. Quá trình hội nhập quốc tế, một mặt chi phối sâu sắc đến tiến trình vận động và phát triển của văn hóa, văn học nghệ thuật ở các quốc gia, các khu vực của thế giới, mặt khác, dẫn đến nguy cơ rạn vỡ, tan biến của những nền văn hóa thiếu bản lĩnh… thì vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra như một yêu cầu sống còn của nền văn hóa.