Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC ĐẾN HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Đảng, nhân dân, dân tộc ta; Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta; là danh nhân văn hóa thế giới; là chiến sĩ cộng sản kiệt xuất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động thế giới, mà còn là người sáng lập, đặt nền móng cho những tổ chức chính trị, quân sự, xã hội, các tổ chức văn hóa, trong đó có báo chí cách mạng nước nhà.
TỪ NGƯỜI CON YÊU NƯỚC ĐẾN NHÀ BÁO QUỐC TẾ
Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Từ nhỏ, Người đã tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của cụ Phó bảng và những nhà chí sĩ yêu nước. Vì vậy, Người đã sớm nhận thức được con đường cứu nước riêng cho dân tộc.
Năm 1911, Người đã xin làm phụ bếp dưới tàu buôn Đô đốc Amiral Latouche với biệt danh Văn Ba để được ra thế giới mở rộng kiến thức. Người đã đi qua rất nhiều nước ở châu Âu và châu Phi. Năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định hoạt động cách mạng người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành đã viết “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Versailles, đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách được ký tên Nguyễn Ái Quốc(1). Cũng từ đó, cái tên ấy được nhiều người trong nước và thế giới biết đến. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Đảng Xã hội Pháp và từ đây, Người bắt đầu có quan niệm rõ ràng, chính xác về một đảng cách mạng chân chính. Tại Đại hội Tour, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III, từ giờ phút ấy, Nguyễn Ái Quốc trở thành Người Cộng sản.
Mặc dù không được hội nghị các nước đế quốc xem xét, nhưng Bản yêu sách đã được đăng trên tờ báo Dân chúng. Cảm kích, Nguyễn Ái Quốc đến tòa soạn báo để cảm ơn. Chủ nhiệm báo - ông Jean Longuet là cháu ngoại của Karl Marx và là Nghị sĩ Quốc hội Pháp đã khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết tin tức ở thuộc địa cho báo với mong muốn giúp người Pháp hiểu rõ những bất công xảy ra ở An Nam. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc thường lui tới tòa soạn báo Dân Chúng để học hỏi và tích cực làm quen với những người Pháp khác. Cũng trong thời gian này Người quen ông chủ bút tờ Đời sống thợ thuyền và bắt đầu học kỹ năng làm báo từ viết những mẩu tin về thuộc địa.
Tại Pháp, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc được đăng ở nhiều tờ báo khác nhau như Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng, Người tự do... Tháng 7/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các nước thuộc địa Pháp thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. “Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng các nước thuộc địa, năm 1922, Hội Liên hiệp thuộc địa cho xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)”(2). Trong hoàn cảnh khó khăn, Nguyễn Ái Quốc vừa là chủ bút kiêm chủ nhiệm, đồng thời là thủ quỹ, xuất bản và liên lạc để đảm bảo duy trì hoạt động cho tờ báo.
Thời điểm đó, ở Paris có vô số tờ báo ra mỗi ngày nên ban đầu tờ Le Paria không bán được nhiều. Nguyễn Ái Quốc đã mang báo đến các cuộc mít tinh phát cho dân chúng, rồi lên diễn đàn nói: “Các bạn thân mến, báo Người cùng khổ phát không nhưng chúng tôi hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp giúp ít nhiều để chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, nhiều ít cũng tốt”(3). Nhờ cách đó, Nguyễn Ái Quốc đã đủ tiền chi trả cho việc ra báo và thỉnh thoảng còn có dư. Có thể nói, việc xuất bản báo Người cùng khổ đã thổi một luồng sinh khí mới đến nhân dân các nước thuộc địa. Tờ báo đã trở thành vũ khí chiến đấu để giải phóng con người!
Những bài báo, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc viết thời gian này rất nổi tiếng và được nhiều người trên thế giới biết đến. Năm 1923, chỉ tính riêng “trên các trang báo Le Paria, L’Humanite’, La Vie Ouvrière đã in khoảng gần 30 bài viết của Nguyễn Ái Quốc. Những bài báo này đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân, sự tàn bạo của nó đối với các thuộc địa, kêu gọi đoàn kết giữa những người lao động không phân biệt màu da, sắc tộc, biên giới, chính quốc gia hay thuộc địa...”(4).
Năm 1923 - 1924, Nguyễn Ái Quốc theo học trường đại học Phương Đông tại Liên Xô. Tại đây, Người đã viết “Lênin và các dân tộc thuộc địa” đăng trên báo Sự thật của Liên Xô, ca ngợi Lênin - vị lãnh tụ vĩ đại của công nhân và nhân dân lao động thế giới. Năm 1924, Người viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” đăng trên báo Đời sống thợ thuyền, ví chủ nghĩa tư bản như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu của giai cấp vô sản chính quốc, một vòi hút máu của giai cấp vô sản thuộc địa, muốn giết nó thì phải chặt đứt cả hai vòi. Tháng 6/1924, Người tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Ủy viên thường trực Bộ Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Đặc biệt, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tập hợp nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc khi hoạt động ở Pháp và Liên Xô, xuất bản 1925, không chỉ dừng lại ở việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc mà đã nêu lên những luận điểm cơ bản về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, mở ra đường lối chính trị cho nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam dựa trên những tư liệu đầy sức thuyết phục, không những có giá trị về chính trị, lý luận mà còn có giá trị báo chí, văn học.
HÀNH TRÌNH KHƠI NGUỒN NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trên con đường hoạt động cách mạng, hành trình khơi nguồn dòng báo chí cách mạng Việt Nam là giai đoạn đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc hoàn thiện nhận thức về lý luận và thực tiễn con đường giải phóng cho dân tộc, chuẩn bị các bước về tư tưởng, tổ chức, con người để tiến tới thành lập một chính đảng vô sản tại Việt Nam.
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, khi đọc được Bản luận cương bàn về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã khẳng định chắc chắn về con đường giải phóng dân tộc. Với quan niệm, làm báo chính là để làm cách mạng, Người xuất bản tờ báo Người cùng khổ. Để giác ngộ lòng yêu nước và ý chí cách mạng của Việt Kiều đang sống và làm việc tại Pháp cũng như kêu gọi đồng bào nổi dậy đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập tự do, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương xuất bản báo bằng tiếng Việt lấy tên là Việt Nam hồn để bí mật gửi về nước, chuẩn bị cho những bước tiếp theo của cách mạng. Tờ báo này ra đời và xuất bản chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 1/1926 - 8/1926) thì bị nhà cầm quyền Pháp cấm, sau đó được tái bản vào tháng 9 với tên Phục Quốc; đến tháng 10, toà soạn bị lục soát, ký giả bị bắt. Thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc không có điều kiện tham gia viết cho báo Việt Nam hồn vì Người đã rời Pháp sang Liên Xô.
Sau đó, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một chính Đảng Mácxít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ và bắt tay vào việc chuẩn bị xuất bản một tờ báo chính trị. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã ra đời, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo.
Nhìn lại bức tranh toàn cảnh về báo chí Việt Nam trước khi xuất hiện dòng báo chí cách mạng, tính đến năm 1922, cả nước có 96 tờ báo, tạp chí, tập san, tức là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, trong đó Bắc kỳ có 44 tờ (36 tờ tiếng Pháp, 8 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 39 tờ (29 tờ tiếng Pháp, 10 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt). Năm 1925, cả nước có 121 tờ, trong đó Bắc kỳ có 69 tờ (56 tờ tiếng Pháp, 13 tờ tiếng Việt); Nam kỳ có 49 tờ (38 tờ tiếng Pháp, 11 tờ tiếng Việt); Trung kỳ có 3 tờ (2 tờ tiếng Pháp, 1 tờ tiếng Việt)”(5).
Báo chí Việt Nam giai đoạn này phát triển rầm rộ, nội dung các tờ báo đặc biệt báo bằng tiếng Việt đã bắt đầu đề cập đến những vấn đề chính trị, kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, ở Nam Kỳ “những tờ báo thường chỉ đề cập đến những vấn đề đặc biệt. Những vấn đề chính trị chỉ được nói đến rất ít trong tờ báo”(6). Nói chung, loại báo này ít hay nhiều có khuynh hướng thân chính phủ. Ở Bắc Kỳ, vì là chế độ bảo hộ nên báo chí bị kiểm duyệt rất chặt chẽ, “hầu hết báo chí Bắc Kỳ chỉ nói đến những vấn đề đặc biệt như văn học, kinh tế, lịch sử... Tóm lại đó là những tờ báo không chủ trương chính trị rõ rệt, nhưng trên thực tế đường lối của nó hoặc ít, hoặc nhiều thân chính phủ”(7).
Từ khi báo Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, “chúng ta mới thực sự bắt đầu có nền báo chí cách mạng Việt Nam”(😎. “Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh Niên ngay từ những số đầu đã là cuốn sách gối đầu giường của những nhà yêu nước cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá mạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới”(9). Trong đó, người đóng vai trò khơi nguồn chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nhà cách mạng chân chính, nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Mỗi giai đoạn cách mạng, nhà báo Hồ Chí Minh lại cho ra đời những bài viết mang tính giáo dục sâu sắc. Sự nghiệp báo chí mà Người để lại cho đời chính là bài học giá trị có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động báo chí cách mạng, là cẩm nang chỉ hướng cho mỗi cơ quan báo chí, nhà báo học tập, rèn luyện và noi theo.
HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Thứ nhất, Hồ Chí Minh là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của tờ Thanh Niên là dấu mốc vô cùng quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của báo chí Việt Nam, từ báo chí yêu nước trở thành báo chí cách mạng, là sự khởi đầu cho dòng báo chí vô sản Việt Nam. Những bài viết trên báo Thanh Niên có nội dung xoay quanh các mâu thuẫn trong xã hội khó có thể hoá giải được. Đó là mâu thuẫn giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, giữa người lao động với chủ nghĩa đế quốc, tư bản, giữa kẻ giàu và người nghèo, tất cả đều lột tả được bản chất vấn đề, tạo nên những tác động to lớn trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, điều mà trước đây chưa một tờ báo nào làm được.
Thứ hai, không chỉ là người khơi nguồn, Hồ Chí Minh còn là người lãnh đạo, tổ chức, định hướng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động và phát triển theo tinh thần thấm nhuần tính Đảng, tính nhân dân sâu sắc. Đây không chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong công tác lãnh đạo hoạt động cách mạng của người Chiến sĩ Cộng sản Nguyễn Ái Quốc đến lãnh đạo tối cao của Đảng, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam mà đối với hoạt động báo chí của Người là bước chuyển từ lập trường làm báo để hoạt động cách mạng sang viết báo để đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ xuất phát điểm: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(10), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”(11). Người còn chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam: Hoạt động báo chí là hoạt động cách mạng, trong đó, những người làm báo là những chiến sĩ cách mạng. “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ và hoà bình thế giới”(12). Người cũng chỉ rõ, tính chiến đấu của báo chí không chỉ nhằm ở tiến công vào kẻ thù cách mạng mà còn biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động sản xuất. Bên cạnh đó, Người còn nói, trong biểu dương, phải rút được kinh nghiệm có ý nghĩa phổ biến, phê bình phải cụ thể, rõ ràng. Phê bình và tự phê bình là để sửa chữa khuyết điểm và tăng sức chiến đấu. Đặc biệt, Người khẳng định, hoạt động báo chí quan trọng nhất là tính Đảng, đây là cơ sở căn cốt để phân biệt giữa báo chí cách mạng và phản cách mạng. Theo đó, Người yêu cầu: “Báo chí ta không phải chỉ cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Chính tư tưởng và đường lối đó đã giúp cho báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động thống nhất về mặt tư tưởng và tổ chức.
Từ khi có Đảng, “báo chí của tổ chức cộng sản trước đây đều ngừng xuất bản, để theo một dòng chỉ đạo thống nhất của Đảng Cộng sản về tư tưởng chính trị của báo chí, theo đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam”(13). Sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến kiến quốc thì cũng là lúc báo chí cách mạng nước ta chuyển hướng hoạt động từ công khai sang bí mật rồi lại công khai với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, “là thời điểm đội ngũ phóng viên phải đi sâu vào thực tiễn khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội đến với công trường, nhà máy, hợp tác xã nông nghiệp”(14). Trong giai đoạn hiện nay, là tích cực tuyên truyền, phổ biến Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, tích cực, động viên người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực. Chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo… Mỗi một lĩnh vực Đảng ta điều có chủ trương chỉ đạo rõ ràng, cụ thể và phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước.
Thứ ba, không chỉ là người đưa đường dẫn lối cho báo chí cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn tham gia trực tiếp vào quá trình viết báo, tự tay ươm mầm, tự tay chăm bón cho “vườn hoa báo chí” cách mạng Việt Nam trưởng thành và phát triển.
Báo chí cách mạng Việt Nam phát triển song hành với sự phát triển và trưởng thành của Đảng. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử cách mạng nước nhà, hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam đều có những bước chuyển mang dáng dấp, hơi thở của thời đại và định hướng chiến lược của Đảng.
“Trong gần 50 năm cầm bút, Bác là tác giả của hơn 2.000 bài báo, 276 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký với gần 200 bút danh được sử dụng”(15), trong đó, mỗi con chữ là những trăn trở về con đường cứu nước, giúp dân, mỗi bài viết là lời hiệu triệu, truyền bá lý tưởng cộng sản và con đường giải phóng dân tộc. Người đã để lại nhiều bài học quý giá về nghề báo và kỹ năng làm báo cách mạng chuyên nghiệp.
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã gắn bó với nghề báo, coi báo chí là vũ khí sắc bén, là phương tiện để vận động và tập hợp lực lượng cách mạng, tổ chức và thực hiện mục tiêu cách mạng một cách nhanh chóng, sâu rộng và hiệu quả nhất. Chính vì vậy, cho dù ở hoàn cảnh, giai đoạn, tình thế khó khăn nào, Người vẫn quyết tâm sáng lập, chỉ đạo để ra đời những tờ báo, bài báo cách mạng. Ngòi bút của Người bao quát rộng lớn mọi vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Người phân tích một cách cụ thể, sắc sảo, đánh giá rõ ràng và đưa ra những giải pháp rất thiết thực. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, những bài viết của Người như những lời hiệu triệu có tác dụng vô cùng to lớn, trở thành sức mạnh tinh thần kỳ diệu, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà.
Hồ Chí Minh thực sự là nhà báo cách mạng và lãnh tụ báo chí vĩ đại!./.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới

 MISTEN - Chủ nghĩa cá nhân làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ”    

Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không đội trời chung của đạo đức cách mạng; sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm”, nguy hiểm và chiến thắng nó còn khó khăn hơn cả chiến thắng kẻ thù cầm gươm, cầm súng trên chiến trường; chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, bởi “do cá nhân chủ nghĩa mà phạm sai lầm”1. Người cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”2. Nó là một trong ba loại giặc vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện rất đa dạng, lúc tinh vi, kín đáo, khi lộ liễu trắng trợn, biến báo, khó lường, xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng và yêu quý dành tặng, tôn vinh. Vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân luôn trân trọng, gìn giữ, phát huy, không ngừng tô thắm, làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy vậy, trong thực tiễn, mặc dù thường xuyên được giáo dục, rèn luyện và có kỷ luật nghiêm minh, song, ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ do lười tu dưỡng, rèn luyện đã sa vào chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc “nội xâm”, trùng độc nguy hiểm ngay trong mỗi con người và trong lòng Quân đội. Tuy không nhiều, nhưng là những “con sâu làm rầu nồi canh”, làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Bởi lẽ, chủ nghĩa cá nhân nó làm cho người quân nhân không thực hiện đúng 10 Lời thề danh dự và 12 Điều kỷ luật của quân nhân, mà biểu hiện trước hết là phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Nó hoàn toàn ngược lại tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân - phẩm chất cao quý, quan trọng hàng đầu của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hệ quả của việc phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng sẽ dẫn đến không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, của tổ chức, sợ gian khổ, hy sinh, không nhận nhiệm vụ, đầu hàng, chạy theo địch, mà điển hình của những kẻ “trở cờ” phản bội là Bùi Tín, minh chứng rõ nét nhất của việc sa vào chủ nghĩa cá nhân, phản bội Tổ quốc. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường,... một số ít quân nhân không giữ được mình sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, biểu hiện là: nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội; sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Chủ nghĩa cá nhân làm cho những quân nhân sa vào chỉ biết và luôn đặt lợi ích của bản thân, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của tập thể đơn vị, Quân đội và của dân tộc. Đây là điều trái ngược với đạo đức cách mạng của người quân nhân là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Lời thề luôn nêu cao tinh thần bảo vệ của công, không tham ô, lãng phí - một giá trị cốt lõi của đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Không chỉ vậy, nó còn làm băng hoại những giá trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Biểu hiện rõ nét nhất của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân là không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình, v.v. Để đạt mục đích, họ bất chấp tất cả, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, v.v. Tác hại này càng đặc biệt nguy hiểm, khi những người cá nhân chủ nghĩa lại là những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị. Đó chính là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Quân đội mất dần tính cách mạng, tính Đảng, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Quân đội - lực lượng chính trị trung thành chiến đấu bảo vệ Đảng và chế độ.

Việc chỉ biết và luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết còn biểu hiện ở sự háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Và, để đạt được mục đích tham danh trục lợi, địa vị quyền hành, họ coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh và không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Trên thực tế, đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, v.v. Hậu quả của những hành vi trên làm cho người mắc căn bệnh này ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa tất yếu dẫn đến việc ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan, đơn vị để kéo bè, kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của mình và nhóm mình mà bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, kỷ luật Quân đội để đạt mục đích tư lợi cá nhân.

Cùng với đó, còn là biểu hiện ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; không có tinh thần tự phê bình và phê bình; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức,... mà thờ ơ, vô cảm, bàng quang trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân. Đây là cách ứng xử tiêu cực, làm thui chột sức mạnh tập thể, giảm sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức đảng. Nó đối lập với một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Những biểu hiện trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nó không chỉ đối lập với phẩm chất tốt đẹp của những người quân nhân cách mạng đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, công tác, mà còn làm tổn hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, làm mất dân chủ trong cơ quan, đơn vị.

Ngược dòng lịch sử, trong khi cả nước đang huy động sức người, sức của để kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thì Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, tham ô, đục khoét công quỹ của Nhà nước, đã bị Tòa án binh xử tử hình về tội tham nhũng đến nay vẫn là bài học đắt giá, còn nguyên tính thời sự. Nhưng một số quân nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, tướng lĩnh hiện nay không rút kinh nghiệm để tránh xa, ngược lại chỉ lo cho bản thân “vinh thân, phì gia”, sa vào chủ nghĩa cá nhân mà vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Nó không chỉ trực tiếp phá hoại phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sự tin yêu của nhân dân với Quân đội. Bên cạnh đó, những vụ vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân - dân; quan hệ của cán bộ với chiến sĩ; giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới,... ở một số cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng chính là những việc làm đối lập với đặc trưng: chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những vi phạm đó lâu dần sẽ dẫn đến sự chia rẽ cán - binh, không quy tụ được sức mạnh tổng hợp của đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong chiến đấu; nó còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, phá hoại chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, một bảo đảm quan trọng để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng.

Hiện nay, vẫn phải khẳng định rằng: truyền thống của Quân đội, khí phách “Bộ đội Cụ Hồ” về cơ bản vẫn được phát huy tốt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội vẫn được nhân dân tín nhiệm, yêu thương, đang ngày đêm bám sát nhiệm vụ canh giữ biển, trời, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Song, những sai phạm của một số quân nhân do sa vào chủ nghĩa cá nhân thời gian qua, tuy chỉ là đơn lẻ, cá biệt ở một vài cơ quan, đơn vị, nhưng nếu không có giải pháp quyết liệt để ngăn chặn kịp thời, sẽ gây ra hậu quả không nhỏ, làm tổn hại và xói mòn phẩm chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; làm biến dạng, méo mó các mối quan hệ và ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự, nhất là trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị - cơ sở nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

_________________

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 547.

2 - Sđd, tr. 672.

ĐÌNH PHIẾM - PHẠM TUẤN - ĐÌNH BẰNG - MINH ĐỨC - LÊ PHONG - tapchiqptd.vn 

Đằng sau tấm khiên phòng vệ của NATO

 

MISTEN - Chính những tính toán sai lầm của phương Tây đã mở đường cho chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine. Trong khi Ukraine đang phải trả giá cho sai lầm này, NATO cũng phải đối mặt với một thất bại thảm họa khác.

Một tấm khiên có thể ngăn chặn kẻ thù và thể hiện sự quyết tâm. Đó cũng là thứ để ẩn nấp đằng sau và tránh một cuộc chiến. Kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine, tấm khiên NATO đã được các chính trị gia Mỹ và châu Âu sử dụng cho cả 2 mục đích với các mức độ khác nhau.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu tấm khiên bị rạn nứt hoặc vỡ vụn? Các nước phương Tây có thể sắp tìm ra câu trả lời. Hội nghị thượng đỉnh của NATO tại Madrid (Tây Ban Nha) dự kiến tổ chức vào cuối tháng 6 được coi là cuộc họp mang tính “thay đổi” nhiều nhất kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Họ có thể sẽ tự chúc mừng chính mình về cách liên minh 30 quốc gia đã đoàn kết để bảo vệ “thế giới tự do” chống lại Nga. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn bỏ ngỏ.

Đằng sau tấm khiên là sự yếu kém và chia rẽ

Phát biểu tại Ba Lan vào tháng 3/2022, Tổng thống Mỹ Joe Biden, người được xem là lãnh đạo trên thực tế của NATO, đã đưa ra quan điểm mạnh mẽ. Ông tuyên bố sẽ bảo vệ “từng tấc lãnh thổ NATO bằng toàn bộ sức mạnh tập thể” đồng thời tránh để liên minh rơi vào một cuộc chiến. Tuy nhiên, kết quả về dài hạn vẫn rất mơ hồ.

Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã nhắc lại tuyên bố này vào tuần trước ở Iceland. Ông Wallace cảnh báo, Nga có thể nhắm mục tiêu tới Litva, Latvia và Estonia như đã làm với Ukraine. Nhưng cũng giống như Mỹ, Anh không có kế hoạch rõ ràng nào để đảm bảo rằng một Ukraine độc lập có thể tồn tại.

Trong khi một số thành viên đứng ra gánh vác, vẫn có một số thành viên châu Âu quan trọng trong NATO thu mình lại phía sau liên minh. Họ tận dụng liên minh để tránh đưa ra các cam kết tốn kém với Kiev và có thể khiến Moscow tức giận.

Kỳ vọng về quyền tự chủ chiến lược của EU nhưng Tổng thống Pháp Emmanuel Macron dường như nói nhiều hơn làm. Thủ tướng Đức Olaf Scholz của Đức được xem là ví dụ điển hình của sự lung lay và chậm trễ. Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, người thường phản đối các lệnh trừng phạt của EU nhằm vào Nga, bị cho là nghiêng về phía Moscow.

Trong khi đó, việc thành viên “gây rối” Thổ Nhĩ Kỳ phản đối nỗ lực gia nhập liên minh quân sự của Phần Lan và Thụy Điển cũng làm suy yếu một mặt trận thống nhất của NATO.

Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg sẽ tìm cách hàn gắn những rạn nứt này. Ba Lan và các quốc gia “tiền tuyến” khác muốn có một cách tiếp cận cứng rắn hơn, bao gồm việc bố trí thêm quân thường trực, vũ khí hạng nặng và máy bay ở biên giới với Nga. Đáp lại, các quan chức NATO hứa hẹn sẽ có những quyết định “mạnh mẽ và mang tính lịch sử”.

Ukraine đang phải gánh chịu hậu quả

Đối với Ukraine, nước này gần như đã từ bỏ việc gia nhập NATO, điều từng được hứa hẹn tại hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008 của NATO. Kiev cũng không còn kêu gọi NATO can thiệp quân sự trực tiếp như trước đây.

“Tất nhiên, chúng tôi vẫn sẽ nghe những lời ủng hộ… chúng tôi rất biết ơn vì điều đó”, Ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba nói. Từng cáo buộc NATO “không làm gì cả”, ông Kuleba không mong đợi kết quả cụ thể ở Hội nghị thượng đỉnh Madrid về việc Kiev có thể gia nhập liên minh, thậm chí về vấn đề “an ninh Biển Đen”.

Nhận xét của ông Kuleba đề cập đến thất bại của Mỹ và châu Âu trong việc phá thế phong tỏa đối với các cảng của Ukraine ở Biển Đen, mở đường để Kiev xuất khẩu lương thực ra thế giới.

Theo ông Simon Tisdall, bình luận viên vấn đề quốc tế của Guardian, đó là một trong nhiều vấn đề NATO có thể và cần phải gây áp lực lớn hơn đối với Nga, để buộc Moscow chấm dứt chiến dịch quân sự hiện nay.

Vậy tại sao NATO không làm nhiều hơn nữa? Tất cả các lý do và lời biện hộ cho sự thụ động và không hành động đã tạo ra một bức tranh về một liên minh kém đoàn kết, kém mạnh mẽ và có tổ chức yếu kém hơn đáng kể so với kỳ vọng.

Ban đầu, sự ủng hộ đối với Ukraine đã tạo động lực cho NATO. Uy tín của liên minh đã tăng từ mức thấp sau cuộc khủng hoảng rút quân ở Afghanistan năm 2021.

Nhưng nếu xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn, nếu bế tắc ngoại giao ngày càng sâu sắc, và nếu nguy cơ xung đột ngày càng lan rộng tăng lên, thì những điểm yếu và lỗ hổng chưa được khắc phục từ lâu của NATO sẽ trở nên rõ ràng hơn và nguy hiểm hơn cho những người đang nấp sau lá chắn.

Đã đến lúc NATO thừa nhận sai lầm trong quá khứ

Ông Tisdall nhận định, sẽ không thực tế nếu mong đợi sự nhất trí chính trị liền mạch trong một tổ chức lớn như NATO. Nhưng thực tế mỗi thành viên đều có tiếng nói bình đẳng đang cản trở việc đưa ra quyết định nhanh chóng và táo bạo. Ví dụ, một hành động khiêu khích hạt nhân hoặc hóa học của Nga có thể gây ra sự xung đột trong NATO và Nga chắc chắn biết rõ điều đó.

NATO có sự phụ thuộc quá lớn vào Mỹ, một siêu cường quân sự mà nếu không có cái gật đầu của Washington thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Đằng sau sức mạnh của Washington là những thành viên muốn ẩn sau lá chắn và không muốn gánh vác trách nhiệm của mình.

Mặt khác, NATO cũng ngày càng bị kéo căng quá mức, bị kẹt giữa mối đe dọa của Nga ở khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương và những thách thức từ Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

NATO dự kiến sẽ công bố “khái niệm chiến lược” kéo dài 10 năm về cách đối phó với tất cả các mối đe dọa kể trên, cộng với chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu gây mất ổn định, chiến tranh mạng... Tuy nhiên, đó là mục tiêu quá tầm với.

Chiến lược an ninh quốc gia mới tập trung vào châu Á của chính quyền Tổng thống Biden cũng không còn phù hợp và đã phải nhanh chóng điều chỉnh lại sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng phát.

Ông Tisdall cho rằng, chính các nước phương Tây đã vô tình mở đường cho cuộc xung đột hiện nay bằng việc để Ukraine trong tình trạng lấp lửng về tư cách thành viên trong khi không trừng phạt Nga đủ mạnh vì vấn đề Chechnya và Syria hay việc Nga sáp nhập Crimea năm 2014. Nếu muốn giải quyết một cách hiệu quả các thách thức chiến lược trên nhiều mặt trận, NATO cần phải nhìn lại, thừa nhận những sai lầm trong quá khứ và nhận phần nào trách nhiệm về cuộc khủng hoảng hiện tại.

                                                                                                                                                     vov.vn

Nguyên nhân khiến phương Tây chia rẽ trong việc ủng hộ Ukraine đối phó Nga

 MISTEN - Hơn 100 ngày kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine, những rạn nứt giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong việc ủng hộ Ukraine và chống lại Nga.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trở thành nhân vật mới nhất gây ra sự chỉ trích vì một phát biểu về Nga, trong bối cảnh xung đột ở Ukraine đã bước sang tháng thứ tư.

Phát biểu trước truyền thông Pháp hôm 4/6, Tổng thống Macron nói rằng: “Chúng ta không được làm bẽ mặt Nga, để khi chiến sự ngừng lại, chúng ta có thể xây dựng lối thoát thông qua các biện pháp ngoại giao”.

Ông Macron tin rằng nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin cần được trao một lối thoát ra khỏi cái mà ông gọi là “sai lầm lịch sử” khi phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine.

Phát biểu của ông Macron làm dấy lên căng thẳng mới với Kiev trong bối cảnh Tổng thống Zelensky hoài nghi về việc ông Macron cố gắng thuyết phục ông Putin chấm dứt chiến dịch quân sự. 

Khác biệt trong cách tiếp cận với Nga

Sau những thành công ban đầu trong việc thể hiện đoàn kết và ủng hộ Ukraine, sự chia rẽ giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng.

Sự chia rẽ đó nói lên nhiều điều về những vết sẹo tâm lý từ một thế kỷ chiến tranh trên lục địa già cũng như về cuộc xung đột hiện tại. Nó cũng cho thấy những câu hỏi chưa được trả lời về việc chiến sự sẽ kết thúc ra sao khi giao tranh đã kéo dài sang tháng thứ tư với thế trận giằng co ở miền Đông Ukraine.

Một bên là Pháp, Đức và Italy, những nước ủng hộ đàm phán và kêu gọi ngừng bắn hơn là hỗ trợ quân sự vô điều kiện cho Ukraine. Những nước này bị cáo buộc do dự trong việc gửi vũ khí cho Kiev hoặc quá lo lắng về những gì có thể xảy ra sau khi xung đột Nga-Ukraine kết thúc.

Theo một số quan chức, bằng cách cố gắng đóng vai trò trung gian đáng tin cậy, những nước này đang tạo sự thỏa hiệp sai lầm trong một cuộc chiến với Nga – động thái có thể khiến Moscow nghĩ rằng quyết tâm của phương Tây đang dao động.

Nhà phân tích người Pháp Fabrice Pothier, cựu quan chức phụ trách hoạch định chính sách của NATO, cho biết: “Đức, Pháp và Italy đều đang phải vật lộn với cái bóng của quá khứ”.

Mong muốn “không làm bẽ mặt nước Nga” của ông Macron được cho là ám chỉ đến những hình phạt nghiêm khắc từng áp dụng đối với Đức sau Thế chiến thứ nhất, mà một số nhà sử học cho rằng đã tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của Đức Quốc xã và dẫn đến Thế chiến thứ hai.

Trong khi đó, Đức cũng luôn nghiêng về chủ nghĩa hòa bình, xuất phát từ lịch sử của nước này từ Thế chiến thứ hai.

Khác với Pháp, Đức và Italy, các nước Đông Âu, trong đó có cả các nước từng thuộc Liên Xô trước đây, có cách tiếp cận “bằng mọi giá” đối với sự thống nhất của Ukraine. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, quan điểm của họ có thể dẫn đến một “cuộc chiến mãi mãi” ở châu Âu và leo thang căng thẳng với nước Nga.

Ông John C. Kornblum, Đại sứ Mỹ tại Đức thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton cho biết: “Cho đến nay, chúng ta đã làm rất tốt, nhưng tôi không lạc quan về những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Với thanh kiếm hạt nhân, Nga đã khiến phương Tây lo sợ”.

Theo ông Kornblum, những gì Mỹ và châu Âu đã làm tốt cho đến nay là các lệnh trừng phạt, cấm vận đối với Nga, cũng như việc Phần Lan và Thụy Điển chính thức nộp đơn xin gia nhập NATO.

Dù vậy, các rạn nứt đang hiện hữu ngày càng rõ. Lệnh cấm vận dầu mỏ của Liên minh châu Âu (EU) vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của một số nước, đặc biệt là Thủ tướng Hungary Viktor Orban. Cơ hội mở rộng tới Bắc Âu của NATO cũng bị Thổ Nhĩ Kỳ cản trở.

Chia rẽ trong việc cung cấp vũ khí cho Ukraine

Sự chia rẽ rõ ràng nhất giữa các nước phương Tây là việc cung cấp vũ khí cho Ukraine.

Chính phủ Italy hiện đang chia rẽ trong việc gửi nhiều vũ khí hơn cho Ukraine. Một trong những nhân vật phản đối mạnh mẽ nhất là ông Matteo Salvini, lãnh đạo đảng Liên đoàn cực hữu, người từng ký thỏa thuận hợp tác với đảng của Tổng thống Nga Putin.

Tuần trước, Đức tuyên bố sẽ cung cấp cho Ukraine các hệ thống radar và phòng không tối tân. Tuy nhiên, Thủ tướng Đức Olaf Scholz vẫn bị chỉ trích vì chậm bàn giao vũ khí cho Kiev và từ chối thừa nhận “Ukraine phải chiến thắng”.

Khi được hỏi về sự miễn cưỡng của mình, ông Scholz nói rằng ông chỉ cố gắng “hành động một cách khôn ngoan với cái đầu tỉnh táo”.

Phần lớn các nước Đông Âu đã đi đầu trong việc chuyển vũ khí cho Ukraine. Những quốc gia này lo ngại họ có thể trở thành mục tiêu tiếp theo sau Ukraine.

Cùng với Anh, Mỹ gần đây đã đồng ý cung cấp cho Ukraine các hệ thống tên lửa tiên tiến. Điều đáng chú ý là Tổng thống Joe Biden đặt ra điều kiện vũ khí Mỹ không được sử dụng để tấn công vào lãnh thổ Nga.

Điều kiện đảm bảo lãnh thổ Nga không bị tấn công bằng vũ khí của Mỹ là một động thái khôn ngoan để ngăn chặn leo thang. Tuy nhiên, một số người xem đây là dấu hiệu rõ ràng gửi tới Tổng thống Nga rằng ông đã khiến phương Tây lo ngại.

Theo một số nhà quan sát châu Âu, điều kiện của Mỹ dễ dàng được chấp nhận hơn so với Đức hay Pháp, bởi Ukraine cho rằng Berlin và Paris vẫn  làm chưa đủ.

Ông Gustav Gressel, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Áo, hiện là thành viên chính sách cấp cao tại Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu, cho rằng, nếu điều kiện như ông Biden đưa ra đến từ các nước châu Âu đó, chắc chắn “sẽ có một cơn giận dữ”.

“Nếu Thủ tướng Đức Scholz cũng đưa ra điều kiện tương tự, điều đó sẽ gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự xoa dịu [đối với Nga]”, ông Gressel nhận định.

                                                                                                                                                     vov.vn

Vì sao Mỹ không có sự ủng hộ của Trung Đông trong cuộc chiến Nga-Ukraine?

 MISTEN - Sự “im hơi lặng tiếng” của nhiều nước Trung Đông giống như “gáo nước lạnh” dội vào các nỗ lực của Mỹ nhằm vận động đồng minh và đối tác ủng hộ cho Ukraine.

Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) muốn Saudi Arabia bơm thêm dầu mỏ ra thị trường, còn Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) ngừng giúp đỡ giới tài phiệt Nga tránh biện pháp trừng phạt mà phương Tây áp đặt. Nhưng những quốc gia này vẫn không có bất cứ động tĩnh gì.

Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine, các quan chức Mỹ được cho là đã cố gắng dàn xếp một cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman. Nhưng UAE đã từ chối đề nghị này. Sau đó, ông Mohammed bin Salman đã có cuộc trò chuyện với Tổng thống Nga Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Đây là ví dụ mới nhất trong thời kỳ lạnh giá trong quan hệ giữa Mỹ với một số nước xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu ở Trung Đông. Trước đó, Tổng thống Biden từng gọi Saudi Arabia là “một quốc gia bị bài xích” và tuyên bố sẽ trừng phạt nước này do liên quan vụ sát hại nhà báo Jamal Khashoggi.

Trung Đông cảm thấy bị bỏ rơi

Cuộc chiến Nga-Ukraine khiến Mỹ nhận ra rằng, họ cần phải củng cố quan hệ với Saudi Arabia và các quốc gia khác ở Trung Đông thêm một lần nữa. Mỹ và châu Âu muốn các đối tác ở Trung Đông bơm thêm dầu mỏ ra thị trường để hạ giá năng lượng toàn cầu cũng như ủng hộ nghị quyết của Liên Hợp Quốc phản đối cuộc tấn công của Nga vào Ukraine và ủng hộ các lệnh trừng phạt Nga.

Nhưng Trung Đông không đưa ra bất cứ cam kết nào. Những quốc gia dầu mỏ như Saudi Arabia và UAE vẫn tuân theo giới hạn về sản lượng dầu thô theo thỏa thuận đã được nhóm OPEC + thông qua. Họ cũng lo ngại việc tăng sản lượng dầu sẽ khiến giá dầu thô giảm và ảnh hưởng tới doanh thu của các nhà sản xuất.

Trong khi hàng loạt quốc gia siết chặt trừng phạt Nga thì UAE lại chào đón các nhà tài phiệt Nga, cho phép họ chuyển tài sản từ châu Âu sang Dubai. Các nước khác trong khu vực, như Iraq, Jordan và Israel đã từ chối bỏ phiếu chống lại Nga tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.  

Vậy, điều gì khiến Mỹ - một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn ở Trung Đông trong nhiều thập kỷ qua không thể thuyết phục các đồng minh và đối tác trong khu vực đứng về phía họ trong cuộc xung đột Ukraine?

Kể từ khi Thế chiến 2 kết thúc, Washington đã đánh đổi sự đảm bảo về quân sự để có được sự đảm bảo an ninh năng lượng từ khu vực. Tuy nhiên, khi Mỹ bắt đầu tự khai thác dầu ở trong nước kể từ năm 2019, nước này đã xuất khẩu nhiều xăng dầu hơn là nhập khẩu, do đó vai trò của các nhà sản xuất dầu mỏ tại Trung Đông đối với Mỹ ít quan trọng hơn.

Báo cáo của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu (ECFR) công bố vào tháng 4 vừa qua chỉ ra rằng, Mỹ vẫn là “nhà đảm bảo an ninh và nhà xuất khẩu vũ khí chiếm ưu thế trong khu vực”. Washington có nhiều căn cứ quân sự lớn ở khắp Trung Đông, với khoảng 45.000 đến 60.000 nhân viên. Nhưng sự hiện diện quân sự của nước này trong khu vực đang giảm dần và điều đó tạo cơ hội cho các quốc gia khác lấp chỗ trống, ECFR lưu ý.

Ông Aaron D. Miller – thành viên cấp cao của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế cho rằng: “Trong hơn 20 năm qua, dù Mỹ không rút hoàn toàn khỏi khu vực, nhưng các ưu tiên của nước này đã thay đổi”.

Hy vọng hàn gắn quan hệ

Chuyên gia Aaron D. Miller cho rằng, Trung Đông vẫn là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ song vai trò của họ không còn quá quan trọng như trước. “Trong bối cảnh đó, các đối tác trong khu vực dường như cảm nhận được rằng người bảo trợ an ninh – một khách hàng quen thuộc đang ít chú ý đến họ hơn. Do vậy, họ đã tìm cách tiếp cận với những bên khác”.

Trung Quốc đang là nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới. Trong năm 2020, 47% số dầu thô nhập khẩu vào nước này đến từ Trung Đông. Saudi Arabia đứng đầu danh sách quốc gia bán nhiều dầu thô nhất cho Trung Quốc. 

Quốc gia châu Á này cũng nỗ lực củng cố các mối quan hệ của họ với Trung Đông, chẳng hạn như hỗ trợ Saudi Arabia phát triển tên lửa đạn đạo, mua lại các cơ sở sản xuất dầu của Iraq và đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Iraq.

Ông Bilal Saab, Giám đốc Chương trình Quốc phòng và An ninh tại Viện Trung Đông ở Washington, lưu ý: “Các nước Trung Đông cũng có những lợi ích riêng và Mỹ không phải là người chơi duy nhất trong sân chơi này. Họ có những lựa chọn khác. Dù lựa chọn này có thể không tốt bằng Mỹ, nhưng luôn sẵn có”.

Tuy nhiên, khi cuộc xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn và tình hình kinh tế toàn cầu xấu đi (một phần do giá xăng dầu tăng cao), Mỹ đang cố gắng giành lại nền tảng mà họ đã mất vào tay các bên khác, chẳng hạn như Trung Quốc, Nga.

Tháng 5 vừa qua, phái đoàn cấp cao do Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris dẫn đầu, đã đến thăm UAE và gặp gỡ Tổng thống Mohammed bin Zayed Al Nahyan. Tuần này, truyền thông Mỹ đưa tin, Tổng thống Mỹ sẽ thăm Saudia Arabia vào giữa tháng 7 tới để gặp Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman - điều mà trước đây ông Biden luôn ngần ngại.

Nhiều chuyên gia cho rằng, để có thể thuyết phục các nước Trung Đông đứng về phía Mỹ trong việc hỗ trợ Ukraine và trừng phạt Nga, Washington cần đưa ra những đề xuất hợp tác cùng có lợi. Nhà phân tích Bilal Saab nhấn mạnh, “một trong những lĩnh vực hợp tác tiềm năng là phát triển hệ thống phòng không và tên lửa”. Đây là điều mà các quốc gia như Saudi và UAE cần để đối phó với các cuộc tấn công tên lửa từ lực lượng Houthi tại Yemen từng làm gián đoạn nghiêm trọng việc khai thác dầu mỏ của Saudi Arabia.

“Nhưng nếu họ muốn mua lại tên lửa của các nước khác hoặc phát triển tên lửa đạn đạo dưới sự giúp đỡ của Trung Quốc thì đề xuất mà Mỹ đưa ra có thể vô ích”, ông Bilal Saab lưu ý.

                                                                                                                                                      vov.vn

Nguy cơ thảm hoạ kép do sai lầm ở Ukraine, Mỹ tìm kiếm lối thoát

MISTEN - Nguy cơ khủng hoảng kép - chiến lược và kinh tế - đang thúc đẩy Mỹ tìm kiếm lối thoát khỏi xung đột Ukraine.

Theo tờ Asia Times, chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden có nguy cơ đối mặt với một thảm họa kép khi tính toán sai lầm ở Ukraine, đó là sự suy thoái của kinh tế Mỹ và sự bẽ mặt về chiến lược thứ hai trong vòng một năm.

Nền kinh tế Mỹ gần như chắc chắn đang suy thoái, trong khi giá dầu thúc đẩy lạm phát đã làm giảm lương thực tế của người lao động khoảng 6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Những lời tuyên bố trước đó của Washington về việc đẩy Tổng thống Putin khỏi quyền lực, làm suy yếu khả năng gây chiến của Moskva và giảm một nửa quy mô nền kinh tế Nga giờ đây đã trở thành vô nghĩa.

Nền kinh tế thế giới đang quay cuồng với những cú sốc về nguồn cung năng lượng và lương thực do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga. Các chính sách tiền tệ chỉ có thể giảm lạm phát bằng cách buộc người tiêu dùng ngừng mua sắm, điều này buộc các nhà bán lẻ phải thanh lý hàng tồn kho với giá thấp hơn và làm giảm nhu cầu về nguyên liệu thô - một phương pháp chữa trị còn tệ hơn chính căn bệnh này.

Trong khi đó, Nga kiếm được kỷ lục 93 tỷ euro từ xuất khẩu năng lượng trong 100 ngày đầu tiên của cuộc chiến – theo một nghiên cứu của Phần Lan. Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước từ chối tham gia các lệnh trừng phạt của G-7 đối với Nga, được cho là đang mua dầu với mức chiết khấu từ 30 đến 40 USD / thùng, trong khi người tiêu dùng Mỹ và châu Âu thì đang phải trả đủ mức giá đã vọt cao.

Giá năng lượng trở thành động lực chính của lạm phát tại các nước G-7. Theo một nghiên cứu của trang Asia Times, những thay đổi về giá dầu kéo dài 1 đến 4 tháng giải thích 70% sự thay đổi hàng tháng của chỉ số CPI (Chỉ số giá tiêu dùng). Hơn nữa, cùng nghiên cứu này cho thấy, độ nhạy của CPI Mỹ đối với giá dầu cao gấp đôi trong khoảng thời gian từ tháng 2/2020 đến tháng 5/2022 so với 15 năm trước đó.

GDP của Mỹ giảm ở mức 1,9% /năm trong quý đầu tiên. Sự sụt giảm bất ngờ doanh số bán lẻ tháng 5 vừa được Bộ Thương mại báo cáo vào ngày 15/6 và mức giảm 14,4% so với tháng trước của giá nhà ở Mỹ được báo cáo vào ngày 16/6 – báo hiệu sự suy thoái theo đúng tiêu chuẩn. Điều đó gây ra thảm họa cho Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử Hạ viện vào tháng 11 tới.

Nhưng khủng khiếp hơn một cuộc suy thoái ở Mỹ là nguy cơ xảy ra thảm họa tài chính ở các nền kinh tế G-7 yếu hơn.

Đồng yen của Nhật Bản đã rơi tự do khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thắt chặt tín dụng. Nợ chính phủ là 270% GDP, và một nửa trong số đó thuộc sở hữu của ngân hàng trung ương Nhật Bản, tăng mạnh so với khoảng 5% vào năm 2011. Chi phí bảo hiểm rủi ro trái phiếu chính phủ Nhật Bản trong tuần này đã tăng vọt lên mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Italy, nền kinh tế yếu nhất châu Âu, phải chịu rủi ro nợ chính phủ tăng vọt nghiêm trọng. Ngày 15/6, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp để giải quyết tình trạng xấu đi của các thành viên yếu và hứa hẹn các biện pháp chưa được cụ thể hóa để ngăn chặn sự "phân mảnh" của Liên minh châu Âu.

Giới chuyên gia cho rằng chính quyền Tổng thống Biden đã đánh giá thấp tác động lạm phát của gói kích thích trong dịch COVID-19 trị giá 6 nghìn tỷ USD, bắt đầu dưới thời Chính quyền Tổng thống Trump nhưng đã tăng gấp đôi dưới thời ông Biden.

Họ cũng đánh giá thấp khả năng phục hồi của nền kinh tế Nga và khả năng của quân đội Nga.

Việc trèo xuống từ mỏm đá này sẽ không dễ dàng. Ông Biden từng cáo buộc đồng cấp Putin là tội phạm chiến tranh, cho rằng lãnh đạo Nga không thể được phép tiếp tục tại vị và tuyên bố các lệnh trừng phạt của Mỹ sẽ cắt giảm một nửa nền kinh tế Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin cũng khẳng định Mỹ sẽ phá hủy năng lực gây chiến của Nga.

Lúc này một thỏa hiệp ở Ukraine với những nhượng bộ đáng kể về lãnh thổ cho Nga - cách duy nhất có thể hình dung để kết thúc chiến tranh – có thể sẽ khiến Washington bẽ mặt.

Tuy nhiên, một giải pháp thương lượng cho cuộc chiến Ukraine không phải là không thể. Washington có thể tiếp tục thể hiện mình là người bảo vệ chủ quyền của Ukraine trong khi khuyến khích các nhà lãnh đạo châu Âu buộc Ukraine phải đàm phán với Moskva.

Một gợi ý khả thi về hướng này được đưa ra vào ngày 14/6 từ Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ về Chính sách Colin H. Kahl. Ông Kahl tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không nói với người Ukraine cách đàm phán, đàm phán cái gì và đàm phán khi nào. Họ sẽ đặt ra những điều khoản đó cho chính mình”.

                                                                                                                                            baotintuc.vn

Những việc cơ bản, lâu dài và cấp bách phải làm ngay để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Thứ nhất, ra sức xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ và tập trung xây dựng Đảng về văn hóa. Cần phải làm cho tiềm lực về mọi mặt của Đảng trở thành niềm tin cậy của toàn dân, kích hoạt mạnh mẽ để nuôi dưỡng và phát triển nguồn trữ năng tinh thần của cả xã hội. Đó là nền móng vững chắc chống lại mọi kẻ thù phá hoại.

Thứ hai, đổi mới đồng bộ, xây dựng toàn diện đất nước phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công các đột phá chiến lược. Đó là sức khỏe vật chất, tinh thần của chế độ trên nền tảng đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dân chủ và thực hành dân chủ để phát triển.

Thứ ba, làm lành mạnh môi trường xã hội, giải quyết tình trạng suy thoái đạo đức trong xã hội, nhất là trong Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống tham nhũng, đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển. Đó là sức đề kháng mạnh mẽ của Đảng, của xã hội chống lại các vi rút gây bệnh bởi sự phá hoại của kẻ thù.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Thứ năm, phát triển mạnh mẽ dư luận xã hội tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt về thông tin, công nghệ thông tin, xử lý nghiêm minh theo pháp luật mọi sự vi phạm, lợi dụng các phương tiện truyền thông để gieo rắc luồng thông tin xấu độc, phản cảm, gây hậu quả tiêu cực trong xã hội./.