Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC ĐẾN HỒ CHÍ MINH - LÃNH TỤ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới
MISTEN - Chủ nghĩa cá nhân làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ”
Chủ
nghĩa cá nhân là kẻ thù không đội trời chung của đạo đức cách mạng; sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm”, nguy hiểm và
chiến thắng nó còn khó khăn hơn cả chiến thắng kẻ thù cầm gươm, cầm súng trên
chiến trường; chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ,
đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng
tin của nhân dân đối với Đảng, bởi “do cá nhân chủ nghĩa mà phạm sai lầm”1.
Người cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ
đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người
yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá
nhân”2. Nó là một trong ba loại giặc vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện rất
đa dạng, lúc tinh vi, kín đáo, khi lộ liễu trắng trợn, biến báo, khó lường,
xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Phẩm
chất “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp
thế hệ cán bộ, chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh;
được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng và yêu quý dành
tặng, tôn vinh. Vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý đó, cán bộ, chiến sĩ Quân
đội nhân dân luôn trân trọng, gìn giữ, phát huy, không ngừng tô thắm, làm sáng
thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy vậy, trong thực tiễn, mặc dù
thường xuyên được giáo dục, rèn luyện và có kỷ luật nghiêm minh, song, ở một bộ
phận cán bộ, chiến sĩ do lười tu dưỡng, rèn luyện đã sa vào chủ nghĩa cá nhân -
thứ giặc “nội xâm”, trùng độc nguy hiểm ngay trong mỗi con người và trong lòng
Quân đội. Tuy không nhiều, nhưng là những “con sâu làm rầu nồi canh”, làm tổn
hại uy tín và xói mòn phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Bởi
lẽ, chủ nghĩa cá nhân nó làm cho người quân nhân không thực hiện đúng 10 Lời
thề danh dự và 12 Điều kỷ luật của quân nhân, mà biểu hiện trước hết là phai
nhạt bản chất giai cấp công nhân, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không
trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Nó hoàn toàn ngược lại tinh thần sẵn
sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân - phẩm chất cao quý, quan trọng
hàng đầu của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hệ quả của việc phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý
tưởng cách mạng sẽ dẫn đến không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, của tổ chức,
sợ gian khổ, hy sinh, không nhận nhiệm vụ, đầu hàng, chạy theo địch, mà điển
hình của những kẻ “trở cờ” phản bội là Bùi Tín, minh chứng rõ nét nhất của việc
sa vào chủ nghĩa cá nhân, phản bội Tổ quốc. Hiện nay, trước sự chống phá quyết
liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị
trường,... một số ít quân nhân không giữ được mình sa vào chủ nghĩa cá nhân,
phai nhạt, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, biểu hiện là: nói, viết và làm không
đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội;
sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công
tác, thiếu tính kỷ luật và kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai
nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả,
chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.
Chủ
nghĩa cá nhân làm cho những quân nhân sa vào chỉ biết và luôn đặt lợi ích của
bản thân, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của tập thể đơn vị,
Quân đội và của dân tộc. Đây là điều trái ngược với đạo đức cách mạng của người
quân nhân là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Lời thề luôn nêu cao
tinh thần bảo vệ của công, không tham ô, lãng phí - một giá trị cốt lõi của đạo
đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Không chỉ vậy, nó còn làm băng hoại những giá
trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: đạo đức cách mạng trong sáng, lối
sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm,
luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với
thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Biểu hiện rõ nét nhất
của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân là không quan tâm đến lợi ích
chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực
dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác
hơn mình, v.v. Để đạt mục đích, họ bất chấp tất cả, vi phạm nguyên tắc tập
trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức;
cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, v.v. Tác
hại này càng đặc biệt nguy hiểm, khi những người cá nhân chủ nghĩa lại là những
cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị. Đó chính là sự
nguy hiểm tiềm tàng làm cho Quân đội mất dần tính cách mạng, tính Đảng, tính
nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Quân đội - lực lượng chính trị
trung thành chiến đấu bảo vệ Đảng và chế độ.
Việc
chỉ biết và luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết còn biểu hiện ở sự háo danh,
tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa
vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp
giả, giấy tờ giả; thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự
phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy
trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không
sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Và, để đạt được mục đích tham danh
trục lợi, địa vị quyền hành, họ coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc
đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, mắc bệnh quan liêu,
mệnh lệnh và không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến
bộ. Trên thực tế, đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc
tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi
mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo,
hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật,
kém tinh thần trách nhiệm, v.v. Hậu quả của những hành vi trên làm cho người
mắc căn bệnh này ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa
hoa tất yếu dẫn đến việc ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế
vào quyền lực tại các cơ quan, đơn vị để kéo bè, kéo cánh, chăm chút cho lợi
ích của mình và nhóm mình mà bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, kỷ
luật Quân đội để đạt mục đích tư lợi cá nhân.
Cùng
với đó, còn là biểu hiện ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”,
“thấy sai không đấu tranh”; không có tinh thần tự phê bình và phê bình; lợi
dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê
phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều,
dân chủ hình thức,... mà thờ ơ, vô cảm, bàng quang trước những khó khăn, nguyện
vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân. Đây là cách ứng xử tiêu
cực, làm thui chột sức mạnh tập thể, giảm sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức
đảng. Nó đối lập với một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ
Hồ” là: luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám
chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn
trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị; kỷ luật tự giác, nghiêm
minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.
Những
biểu hiện trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ. Nó không chỉ đối lập với phẩm chất tốt đẹp của những người quân nhân cách
mạng đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, công tác, mà còn làm tổn hại
đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất
trong nội bộ, làm mất dân chủ trong cơ quan, đơn vị.
Ngược
dòng lịch sử, trong khi cả nước đang huy động sức người, sức của để kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược, thì Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu,
sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, tham ô, đục khoét công quỹ của
Nhà nước, đã bị Tòa án binh xử tử hình về tội tham nhũng đến nay vẫn là bài học
đắt giá, còn nguyên tính thời sự. Nhưng một số quân nhân, trong đó có cả sĩ
quan cao cấp, tướng lĩnh hiện nay không rút kinh nghiệm để tránh xa, ngược lại
chỉ lo cho bản thân “vinh thân, phì gia”, sa vào chủ nghĩa cá nhân mà vi phạm
kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Nó không chỉ trực tiếp phá hoại phẩm
chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn gây bức xúc trong dư luận, làm giảm
sự tin yêu của nhân dân với Quân đội. Bên cạnh đó, những vụ vi phạm kỷ luật
trong quan hệ quân - dân; quan hệ của cán bộ với chiến sĩ; giữa chiến sĩ cũ với
chiến sĩ mới,... ở một số cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng chính là những
việc làm đối lập với đặc trưng: chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống
nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt;
lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng
hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những vi
phạm đó lâu dần sẽ dẫn đến sự chia rẽ cán - binh, không quy tụ được sức mạnh
tổng hợp của đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong chiến đấu; nó còn
là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, phá hoại chia rẽ mối quan
hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, một bảo đảm quan trọng để Quân đội ta chiến
đấu, chiến thắng.
Hiện
nay, vẫn phải khẳng định rằng: truyền thống của Quân đội, khí phách “Bộ đội Cụ
Hồ” về cơ bản vẫn được phát huy tốt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội vẫn được nhân
dân tín nhiệm, yêu thương, đang ngày đêm bám sát nhiệm vụ canh giữ biển, trời,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Song, những sai phạm của một số quân
nhân do sa vào chủ nghĩa cá nhân thời gian qua, tuy chỉ là đơn lẻ, cá biệt ở
một vài cơ quan, đơn vị, nhưng nếu không có giải pháp quyết liệt để ngăn chặn
kịp thời, sẽ gây ra hậu quả không nhỏ, làm tổn hại và xói mòn phẩm chất, truyền
thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; làm biến dạng, méo mó các mối quan hệ và ảnh
hưởng tiêu cực đến việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự, nhất là trong xây
dựng đơn vị vững mạnh về chính trị - cơ sở nền tảng quan trọng để nâng cao chất
lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
_________________
1
- Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 547.
2
- Sđd, tr. 672.
Đằng sau tấm khiên phòng vệ của NATO
MISTEN - Chính những tính toán sai lầm của phương Tây đã mở đường cho chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine. Trong khi Ukraine đang phải trả giá cho sai lầm này, NATO cũng phải đối mặt với một thất bại thảm họa khác.
Một
tấm khiên có thể ngăn chặn kẻ thù và thể hiện sự quyết tâm. Đó cũng là thứ để
ẩn nấp đằng sau và tránh một cuộc chiến. Kể từ khi Nga phát động chiến dịch
quân sự ở Ukraine, tấm khiên NATO đã được các chính trị gia Mỹ và châu Âu sử
dụng cho cả 2 mục đích với các mức độ khác nhau.
Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu tấm khiên bị rạn nứt hoặc vỡ vụn? Các nước phương Tây có thể sắp tìm ra câu trả lời. Hội nghị thượng đỉnh của NATO tại Madrid (Tây Ban Nha) dự kiến tổ chức vào cuối tháng 6 được coi là cuộc họp mang tính “thay đổi” nhiều nhất kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Họ có thể sẽ tự chúc mừng chính mình về cách liên minh 30 quốc gia đã đoàn kết để bảo vệ “thế giới tự do” chống lại Nga. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn bỏ ngỏ.
Đằng
sau tấm khiên là sự yếu kém và chia rẽ
Phát
biểu tại Ba Lan vào tháng 3/2022, Tổng thống Mỹ Joe Biden, người được xem là
lãnh đạo trên thực tế của NATO, đã đưa ra quan điểm mạnh mẽ. Ông tuyên bố sẽ
bảo vệ “từng tấc lãnh thổ NATO bằng toàn bộ sức mạnh tập thể” đồng thời tránh
để liên minh rơi vào một cuộc chiến. Tuy nhiên, kết quả về dài hạn vẫn rất mơ
hồ.
Bộ
trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã nhắc lại tuyên bố này vào tuần trước ở
Iceland. Ông Wallace cảnh báo, Nga có thể nhắm mục tiêu tới Litva, Latvia và
Estonia như đã làm với Ukraine. Nhưng cũng giống như Mỹ, Anh không có kế hoạch
rõ ràng nào để đảm bảo rằng một Ukraine độc lập có thể tồn tại.
Trong
khi một số thành viên đứng ra gánh vác, vẫn có một số thành viên châu Âu quan
trọng trong NATO thu mình lại phía sau liên minh. Họ tận dụng liên minh để
tránh đưa ra các cam kết tốn kém với Kiev và có thể khiến Moscow tức giận.
Kỳ
vọng về quyền tự chủ chiến lược của EU nhưng Tổng thống Pháp Emmanuel Macron
dường như nói nhiều hơn làm. Thủ tướng Đức Olaf Scholz của Đức được xem là ví
dụ điển hình của sự lung lay và chậm trễ. Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, người
thường phản đối các lệnh trừng phạt của EU nhằm vào Nga, bị cho là nghiêng về
phía Moscow.
Trong
khi đó, việc thành viên “gây rối” Thổ Nhĩ Kỳ phản đối nỗ lực gia nhập liên minh
quân sự của Phần Lan và Thụy Điển cũng làm suy yếu một mặt trận thống nhất của
NATO.
Tổng
Thư ký NATO Jens Stoltenberg sẽ tìm cách hàn gắn những rạn nứt này. Ba Lan và
các quốc gia “tiền tuyến” khác muốn có một cách tiếp cận cứng rắn hơn, bao gồm
việc bố trí thêm quân thường trực, vũ khí hạng nặng và máy bay ở biên giới với
Nga. Đáp lại, các quan chức NATO hứa hẹn sẽ có những quyết định “mạnh mẽ và
mang tính lịch sử”.
Ukraine
đang phải gánh chịu hậu quả
Đối
với Ukraine, nước này gần như đã từ bỏ việc gia nhập NATO, điều từng được hứa
hẹn tại hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008 của NATO. Kiev cũng không còn
kêu gọi NATO can thiệp quân sự trực tiếp như trước đây.
“Tất
nhiên, chúng tôi vẫn sẽ nghe những lời ủng hộ… chúng tôi rất biết ơn vì điều
đó”, Ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba nói. Từng cáo buộc NATO “không làm gì
cả”, ông Kuleba không mong đợi kết quả cụ thể ở Hội nghị thượng đỉnh Madrid về
việc Kiev có thể gia nhập liên minh, thậm chí về vấn đề “an ninh Biển Đen”.
Nhận
xét của ông Kuleba đề cập đến thất bại của Mỹ và châu Âu trong việc phá thế
phong tỏa đối với các cảng của Ukraine ở Biển Đen, mở đường để Kiev xuất khẩu
lương thực ra thế giới.
Theo
ông Simon Tisdall, bình luận viên vấn đề quốc tế của Guardian, đó là một trong
nhiều vấn đề NATO có thể và cần phải gây áp lực lớn hơn đối với Nga, để buộc
Moscow chấm dứt chiến dịch quân sự hiện nay.
Vậy
tại sao NATO không làm nhiều hơn nữa? Tất cả các lý do và lời biện hộ cho sự
thụ động và không hành động đã tạo ra một bức tranh về một liên minh kém đoàn
kết, kém mạnh mẽ và có tổ chức yếu kém hơn đáng kể so với kỳ vọng.
Ban
đầu, sự ủng hộ đối với Ukraine đã tạo động lực cho NATO. Uy tín của liên minh
đã tăng từ mức thấp sau cuộc khủng hoảng rút quân ở Afghanistan năm 2021.
Nhưng
nếu xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn, nếu bế tắc ngoại giao ngày càng sâu sắc, và
nếu nguy cơ xung đột ngày càng lan rộng tăng lên, thì những điểm yếu và lỗ hổng
chưa được khắc phục từ lâu của NATO sẽ trở nên rõ ràng hơn và nguy hiểm hơn cho
những người đang nấp sau lá chắn.
Đã
đến lúc NATO thừa nhận sai lầm trong quá khứ
Ông
Tisdall nhận định, sẽ không thực tế nếu mong đợi sự nhất trí chính trị liền
mạch trong một tổ chức lớn như NATO. Nhưng thực tế mỗi thành viên đều có tiếng
nói bình đẳng đang cản trở việc đưa ra quyết định nhanh chóng và táo bạo. Ví
dụ, một hành động khiêu khích hạt nhân hoặc hóa học của Nga có thể gây ra sự
xung đột trong NATO và Nga chắc chắn biết rõ điều đó.
NATO
có sự phụ thuộc quá lớn vào Mỹ, một siêu cường quân sự mà nếu không có cái gật
đầu của Washington thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Đằng sau sức mạnh của Washington
là những thành viên muốn ẩn sau lá chắn và không muốn gánh vác trách nhiệm của
mình.
Mặt
khác, NATO cũng ngày càng bị kéo căng quá mức, bị kẹt giữa mối đe dọa của Nga ở
khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương và những thách thức từ Trung Quốc ở Ấn Độ
Dương-Thái Bình Dương.
NATO
dự kiến sẽ công bố “khái niệm chiến lược” kéo dài 10 năm về cách đối phó với
tất cả các mối đe dọa kể trên, cộng với chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia, biến
đổi khí hậu gây mất ổn định, chiến tranh mạng... Tuy nhiên, đó là mục tiêu quá
tầm với.
Chiến
lược an ninh quốc gia mới tập trung vào châu Á của chính quyền Tổng thống Biden
cũng không còn phù hợp và đã phải nhanh chóng điều chỉnh lại sau khi xung đột
Nga-Ukraine bùng phát.
Ông
Tisdall cho rằng, chính các nước phương Tây đã vô tình mở đường cho cuộc xung
đột hiện nay bằng việc để Ukraine trong tình trạng lấp lửng về tư cách thành
viên trong khi không trừng phạt Nga đủ mạnh vì vấn đề Chechnya và Syria hay
việc Nga sáp nhập Crimea năm 2014. Nếu muốn giải quyết một cách hiệu quả các
thách thức chiến lược trên nhiều mặt trận, NATO cần phải nhìn lại, thừa nhận
những sai lầm trong quá khứ và nhận phần nào trách nhiệm về cuộc khủng hoảng
hiện tại.
Nguyên nhân khiến phương Tây chia rẽ trong việc ủng hộ Ukraine đối phó Nga
MISTEN - Hơn 100 ngày kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine, những rạn nứt giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong việc ủng hộ Ukraine và chống lại Nga.
Tổng
thống Pháp Emmanuel Macron trở thành nhân vật mới nhất gây ra sự chỉ trích vì
một phát biểu về Nga, trong bối cảnh xung đột ở Ukraine đã bước sang tháng thứ
tư.
Phát biểu trước truyền thông Pháp hôm 4/6, Tổng thống Macron nói rằng: “Chúng ta không được làm bẽ mặt Nga, để khi chiến sự ngừng lại, chúng ta có thể xây dựng lối thoát thông qua các biện pháp ngoại giao”.
Ông
Macron tin rằng nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin cần được trao một lối thoát ra
khỏi cái mà ông gọi là “sai lầm lịch sử” khi phát động chiến dịch quân sự ở
Ukraine.
Phát
biểu của ông Macron làm dấy lên căng thẳng mới với Kiev trong bối cảnh Tổng
thống Zelensky hoài nghi về việc ông Macron cố gắng thuyết phục ông Putin chấm
dứt chiến dịch quân sự.
Khác
biệt trong cách tiếp cận với Nga
Sau
những thành công ban đầu trong việc thể hiện đoàn kết và ủng hộ Ukraine, sự
chia rẽ giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng.
Sự
chia rẽ đó nói lên nhiều điều về những vết sẹo tâm lý từ một thế kỷ chiến tranh
trên lục địa già cũng như về cuộc xung đột hiện tại. Nó cũng cho thấy những câu
hỏi chưa được trả lời về việc chiến sự sẽ kết thúc ra sao khi giao tranh đã kéo
dài sang tháng thứ tư với thế trận giằng co ở miền Đông Ukraine.
Một
bên là Pháp, Đức và Italy, những nước ủng hộ đàm phán và kêu gọi ngừng bắn hơn
là hỗ trợ quân sự vô điều kiện cho Ukraine. Những nước này bị cáo buộc do dự
trong việc gửi vũ khí cho Kiev hoặc quá lo lắng về những gì có thể xảy ra sau
khi xung đột Nga-Ukraine kết thúc.
Theo
một số quan chức, bằng cách cố gắng đóng vai trò trung gian đáng tin cậy, những
nước này đang tạo sự thỏa hiệp sai lầm trong một cuộc chiến với Nga – động thái
có thể khiến Moscow nghĩ rằng quyết tâm của phương Tây đang dao động.
Nhà
phân tích người Pháp Fabrice Pothier, cựu quan chức phụ trách hoạch định chính
sách của NATO, cho biết: “Đức, Pháp và Italy đều đang phải vật lộn với cái bóng
của quá khứ”.
Mong
muốn “không làm bẽ mặt nước Nga” của ông Macron được cho là ám chỉ đến những
hình phạt nghiêm khắc từng áp dụng đối với Đức sau Thế chiến thứ nhất, mà một
số nhà sử học cho rằng đã tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của Đức Quốc xã và dẫn
đến Thế chiến thứ hai.
Trong
khi đó, Đức cũng luôn nghiêng về chủ nghĩa hòa bình, xuất phát từ lịch sử của
nước này từ Thế chiến thứ hai.
Khác
với Pháp, Đức và Italy, các nước Đông Âu, trong đó có cả các nước từng thuộc
Liên Xô trước đây, có cách tiếp cận “bằng mọi giá” đối với sự thống nhất của
Ukraine. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, quan điểm của họ có thể dẫn đến một
“cuộc chiến mãi mãi” ở châu Âu và leo thang căng thẳng với nước Nga.
Ông
John C. Kornblum, Đại sứ Mỹ tại Đức thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton
cho biết: “Cho đến nay, chúng ta đã làm rất tốt, nhưng tôi không lạc quan về
những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Với thanh kiếm hạt nhân, Nga đã khiến phương Tây
lo sợ”.
Theo
ông Kornblum, những gì Mỹ và châu Âu đã làm tốt cho đến nay là các lệnh trừng
phạt, cấm vận đối với Nga, cũng như việc Phần Lan và Thụy Điển chính thức nộp
đơn xin gia nhập NATO.
Dù
vậy, các rạn nứt đang hiện hữu ngày càng rõ. Lệnh cấm vận dầu mỏ của Liên minh
châu Âu (EU) vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của một số nước, đặc biệt là Thủ
tướng Hungary Viktor Orban. Cơ hội mở rộng tới Bắc Âu của NATO cũng bị Thổ Nhĩ
Kỳ cản trở.
Chia
rẽ trong việc cung cấp vũ khí cho Ukraine
Sự
chia rẽ rõ ràng nhất giữa các nước phương Tây là việc cung cấp vũ khí cho
Ukraine.
Chính
phủ Italy hiện đang chia rẽ trong việc gửi nhiều vũ khí hơn cho Ukraine. Một
trong những nhân vật phản đối mạnh mẽ nhất là ông Matteo Salvini, lãnh đạo đảng
Liên đoàn cực hữu, người từng ký thỏa thuận hợp tác với đảng của Tổng thống Nga
Putin.
Tuần
trước, Đức tuyên bố sẽ cung cấp cho Ukraine các hệ thống radar và phòng không
tối tân. Tuy nhiên, Thủ tướng Đức Olaf Scholz vẫn bị chỉ trích vì chậm bàn giao
vũ khí cho Kiev và từ chối thừa nhận “Ukraine phải chiến thắng”.
Khi
được hỏi về sự miễn cưỡng của mình, ông Scholz nói rằng ông chỉ cố gắng “hành động
một cách khôn ngoan với cái đầu tỉnh táo”.
Phần
lớn các nước Đông Âu đã đi đầu trong việc chuyển vũ khí cho Ukraine. Những quốc
gia này lo ngại họ có thể trở thành mục tiêu tiếp theo sau Ukraine.
Cùng
với Anh, Mỹ gần đây đã đồng ý cung cấp cho Ukraine các hệ thống tên lửa tiên
tiến. Điều đáng chú ý là Tổng thống Joe Biden đặt ra điều kiện vũ khí Mỹ không
được sử dụng để tấn công vào lãnh thổ Nga.
Điều
kiện đảm bảo lãnh thổ Nga không bị tấn công bằng vũ khí của Mỹ là một động thái
khôn ngoan để ngăn chặn leo thang. Tuy nhiên, một số người xem đây là dấu hiệu
rõ ràng gửi tới Tổng thống Nga rằng ông đã khiến phương Tây lo ngại.
Theo
một số nhà quan sát châu Âu, điều kiện của Mỹ dễ dàng được chấp nhận hơn so với
Đức hay Pháp, bởi Ukraine cho rằng Berlin và Paris vẫn làm chưa đủ.
Ông
Gustav Gressel, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Áo, hiện là thành viên chính sách
cấp cao tại Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu, cho rằng, nếu điều kiện như ông
Biden đưa ra đến từ các nước châu Âu đó, chắc chắn “sẽ có một cơn giận dữ”.
“Nếu
Thủ tướng Đức Scholz cũng đưa ra điều kiện tương tự, điều đó sẽ gióng lên hồi
chuông cảnh báo về sự xoa dịu [đối với Nga]”, ông Gressel nhận định.
Vì sao Mỹ không có sự ủng hộ của Trung Đông trong cuộc chiến Nga-Ukraine?
MISTEN - Sự “im hơi lặng tiếng” của nhiều nước Trung Đông giống như “gáo nước lạnh” dội vào các nỗ lực của Mỹ nhằm vận động đồng minh và đối tác ủng hộ cho Ukraine.
Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) muốn Saudi Arabia bơm thêm dầu mỏ ra thị trường, còn Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) ngừng giúp đỡ giới tài phiệt Nga tránh biện pháp trừng phạt mà phương Tây áp đặt. Nhưng những quốc gia này vẫn không có bất cứ động tĩnh gì.
Ngay
sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine, các quan chức Mỹ được cho
là đã cố gắng dàn xếp một cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thái tử
Saudi Arabia Mohammed bin Salman. Nhưng UAE đã từ chối đề nghị này. Sau đó, ông
Mohammed bin Salman đã có cuộc trò chuyện với Tổng thống Nga Putin và Chủ tịch
Trung Quốc Tập Cận Bình.
Đây
là ví dụ mới nhất trong thời kỳ lạnh giá trong quan hệ giữa Mỹ với một số nước
xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu ở Trung Đông. Trước đó, Tổng thống Biden từng gọi
Saudi Arabia là “một quốc gia bị bài xích” và tuyên bố sẽ trừng phạt nước này
do liên quan vụ sát hại nhà báo Jamal Khashoggi.
Trung
Đông cảm thấy bị bỏ rơi
Cuộc
chiến Nga-Ukraine khiến Mỹ nhận ra rằng, họ cần phải củng cố quan hệ với Saudi
Arabia và các quốc gia khác ở Trung Đông thêm một lần nữa. Mỹ và châu Âu muốn
các đối tác ở Trung Đông bơm thêm dầu mỏ ra thị trường để hạ giá năng lượng
toàn cầu cũng như ủng hộ nghị quyết của Liên Hợp Quốc phản đối cuộc tấn công
của Nga vào Ukraine và ủng hộ các lệnh trừng phạt Nga.
Nhưng
Trung Đông không đưa ra bất cứ cam kết nào. Những quốc gia dầu mỏ như Saudi
Arabia và UAE vẫn tuân theo giới hạn về sản lượng dầu thô theo thỏa thuận đã
được nhóm OPEC + thông qua. Họ cũng lo ngại việc tăng sản lượng dầu sẽ khiến
giá dầu thô giảm và ảnh hưởng tới doanh thu của các nhà sản xuất.
Trong
khi hàng loạt quốc gia siết chặt trừng phạt Nga thì UAE lại chào đón các nhà
tài phiệt Nga, cho phép họ chuyển tài sản từ châu Âu sang Dubai. Các nước khác
trong khu vực, như Iraq, Jordan và Israel đã từ chối bỏ phiếu chống lại Nga tại
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Vậy,
điều gì khiến Mỹ - một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn ở Trung Đông trong nhiều
thập kỷ qua không thể thuyết phục các đồng minh và đối tác trong khu vực đứng
về phía họ trong cuộc xung đột Ukraine?
Kể
từ khi Thế chiến 2 kết thúc, Washington đã đánh đổi sự đảm bảo về quân sự để có
được sự đảm bảo an ninh năng lượng từ khu vực. Tuy nhiên, khi Mỹ bắt đầu tự
khai thác dầu ở trong nước kể từ năm 2019, nước này đã xuất khẩu nhiều xăng dầu
hơn là nhập khẩu, do đó vai trò của các nhà sản xuất dầu mỏ tại Trung Đông đối
với Mỹ ít quan trọng hơn.
Báo
cáo của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu (ECFR) công bố vào tháng 4 vừa qua
chỉ ra rằng, Mỹ vẫn là “nhà đảm bảo an ninh và nhà xuất khẩu vũ khí chiếm ưu
thế trong khu vực”. Washington có nhiều căn cứ quân sự lớn ở khắp Trung Đông,
với khoảng 45.000 đến 60.000 nhân viên. Nhưng sự hiện diện quân sự của nước này
trong khu vực đang giảm dần và điều đó tạo cơ hội cho các quốc gia khác lấp chỗ
trống, ECFR lưu ý.
Ông
Aaron D. Miller – thành viên cấp cao của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế cho
rằng: “Trong hơn 20 năm qua, dù Mỹ không rút hoàn toàn khỏi khu vực, nhưng các
ưu tiên của nước này đã thay đổi”.
Hy
vọng hàn gắn quan hệ
Chuyên
gia Aaron D. Miller cho rằng, Trung Đông vẫn là một trong những ưu tiên trong
chính sách đối ngoại của Mỹ song vai trò của họ không còn quá quan trọng như
trước. “Trong bối cảnh đó, các đối tác trong khu vực dường như cảm nhận được
rằng người bảo trợ an ninh – một khách hàng quen thuộc đang ít chú ý đến họ
hơn. Do vậy, họ đã tìm cách tiếp cận với những bên khác”.
Trung
Quốc đang là nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới. Trong năm 2020, 47% số dầu
thô nhập khẩu vào nước này đến từ Trung Đông. Saudi Arabia đứng đầu danh sách
quốc gia bán nhiều dầu thô nhất cho Trung Quốc.
Quốc
gia châu Á này cũng nỗ lực củng cố các mối quan hệ của họ với Trung Đông, chẳng
hạn như hỗ trợ Saudi Arabia phát triển tên lửa đạn đạo, mua lại các cơ sở sản
xuất dầu của Iraq và đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Iraq.
Ông
Bilal Saab, Giám đốc Chương trình Quốc phòng và An ninh tại Viện Trung Đông ở
Washington, lưu ý: “Các nước Trung Đông cũng có những lợi ích riêng và Mỹ không
phải là người chơi duy nhất trong sân chơi này. Họ có những lựa chọn khác. Dù
lựa chọn này có thể không tốt bằng Mỹ, nhưng luôn sẵn có”.
Tuy
nhiên, khi cuộc xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn và tình hình kinh tế toàn cầu
xấu đi (một phần do giá xăng dầu tăng cao), Mỹ đang cố gắng giành lại nền tảng
mà họ đã mất vào tay các bên khác, chẳng hạn như Trung Quốc, Nga.
Tháng
5 vừa qua, phái đoàn cấp cao do Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris dẫn đầu, đã đến
thăm UAE và gặp gỡ Tổng thống Mohammed bin Zayed Al Nahyan. Tuần này, truyền
thông Mỹ đưa tin, Tổng thống Mỹ sẽ thăm Saudia Arabia vào giữa tháng 7 tới để
gặp Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman - điều mà trước đây ông Biden luôn
ngần ngại.
Nhiều
chuyên gia cho rằng, để có thể thuyết phục các nước Trung Đông đứng về phía Mỹ
trong việc hỗ trợ Ukraine và trừng phạt Nga, Washington cần đưa ra những đề xuất
hợp tác cùng có lợi. Nhà phân tích Bilal Saab nhấn mạnh, “một trong những lĩnh
vực hợp tác tiềm năng là phát triển hệ thống phòng không và tên lửa”. Đây là
điều mà các quốc gia như Saudi và UAE cần để đối phó với các cuộc tấn công tên
lửa từ lực lượng Houthi tại Yemen từng làm gián đoạn nghiêm trọng việc khai
thác dầu mỏ của Saudi Arabia.
“Nhưng
nếu họ muốn mua lại tên lửa của các nước khác hoặc phát triển tên lửa đạn đạo
dưới sự giúp đỡ của Trung Quốc thì đề xuất mà Mỹ đưa ra có thể vô ích”, ông
Bilal Saab lưu ý.
Nguy cơ thảm hoạ kép do sai lầm ở Ukraine, Mỹ tìm kiếm lối thoát
MISTEN - Nguy cơ khủng hoảng kép - chiến lược và kinh tế - đang thúc đẩy Mỹ tìm kiếm lối thoát khỏi xung đột Ukraine.
Theo
tờ Asia Times, chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden có nguy cơ đối mặt với một
thảm họa kép khi tính toán sai lầm ở Ukraine, đó là sự suy thoái của kinh tế Mỹ
và sự bẽ mặt về chiến lược thứ hai trong vòng một năm.
Nền
kinh tế Mỹ gần như chắc chắn đang suy thoái, trong khi giá dầu thúc đẩy lạm
phát đã làm giảm lương thực tế của người lao động khoảng 6% so với cùng kỳ năm
ngoái.
Những
lời tuyên bố trước đó của Washington về việc đẩy Tổng thống Putin khỏi quyền
lực, làm suy yếu khả năng gây chiến của Moskva và giảm một nửa quy mô nền kinh
tế Nga giờ đây đã trở thành vô nghĩa.
Nền
kinh tế thế giới đang quay cuồng với những cú sốc về nguồn cung năng lượng và
lương thực do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga. Các chính sách
tiền tệ chỉ có thể giảm lạm phát bằng cách buộc người tiêu dùng ngừng mua sắm,
điều này buộc các nhà bán lẻ phải thanh lý hàng tồn kho với giá thấp hơn và làm
giảm nhu cầu về nguyên liệu thô - một phương pháp chữa trị còn tệ hơn chính căn
bệnh này.
Trong
khi đó, Nga kiếm được kỷ lục 93 tỷ euro từ xuất khẩu năng lượng trong 100 ngày
đầu tiên của cuộc chiến – theo một nghiên cứu của Phần Lan. Trung Quốc và Ấn
Độ, hai nước từ chối tham gia các lệnh trừng phạt của G-7 đối với Nga, được cho
là đang mua dầu với mức chiết khấu từ 30 đến 40 USD / thùng, trong khi người
tiêu dùng Mỹ và châu Âu thì đang phải trả đủ mức giá đã vọt cao.
Giá năng lượng trở thành động lực chính của lạm phát tại các nước G-7. Theo một nghiên cứu của trang Asia Times, những thay đổi về giá dầu kéo dài 1 đến 4 tháng giải thích 70% sự thay đổi hàng tháng của chỉ số CPI (Chỉ số giá tiêu dùng). Hơn nữa, cùng nghiên cứu này cho thấy, độ nhạy của CPI Mỹ đối với giá dầu cao gấp đôi trong khoảng thời gian từ tháng 2/2020 đến tháng 5/2022 so với 15 năm trước đó.
GDP
của Mỹ giảm ở mức 1,9% /năm trong quý đầu tiên. Sự sụt giảm bất ngờ doanh số
bán lẻ tháng 5 vừa được Bộ Thương mại báo cáo vào ngày 15/6 và mức giảm 14,4%
so với tháng trước của giá nhà ở Mỹ được báo cáo vào ngày 16/6 – báo hiệu sự
suy thoái theo đúng tiêu chuẩn. Điều đó gây ra thảm họa cho Đảng Dân chủ trong
cuộc bầu cử Hạ viện vào tháng 11 tới.
Nhưng
khủng khiếp hơn một cuộc suy thoái ở Mỹ là nguy cơ xảy ra thảm họa tài chính ở
các nền kinh tế G-7 yếu hơn.
Đồng
yen của Nhật Bản đã rơi tự do khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thắt chặt tín
dụng. Nợ chính phủ là 270% GDP, và một nửa trong số đó thuộc sở hữu của ngân
hàng trung ương Nhật Bản, tăng mạnh so với khoảng 5% vào năm 2011. Chi phí bảo
hiểm rủi ro trái phiếu chính phủ Nhật Bản trong tuần này đã tăng vọt lên mức
cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Italy,
nền kinh tế yếu nhất châu Âu, phải chịu rủi ro nợ chính phủ tăng vọt nghiêm
trọng. Ngày 15/6, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã triệu tập một cuộc họp khẩn
cấp để giải quyết tình trạng xấu đi của các thành viên yếu và hứa hẹn các biện
pháp chưa được cụ thể hóa để ngăn chặn sự "phân mảnh" của Liên minh
châu Âu.
Giới
chuyên gia cho rằng chính quyền Tổng thống Biden đã đánh giá thấp tác động lạm
phát của gói kích thích trong dịch COVID-19 trị giá 6 nghìn tỷ USD, bắt đầu
dưới thời Chính quyền Tổng thống Trump nhưng đã tăng gấp đôi dưới thời ông
Biden.
Họ
cũng đánh giá thấp khả năng phục hồi của nền kinh tế Nga và khả năng của quân
đội Nga.
Việc
trèo xuống từ mỏm đá này sẽ không dễ dàng. Ông Biden từng cáo buộc đồng cấp
Putin là tội phạm chiến tranh, cho rằng lãnh đạo Nga không thể được phép tiếp
tục tại vị và tuyên bố các lệnh trừng phạt của Mỹ sẽ cắt giảm một nửa nền kinh
tế Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin cũng khẳng định Mỹ sẽ phá hủy năng
lực gây chiến của Nga.
Lúc
này một thỏa hiệp ở Ukraine với những nhượng bộ đáng kể về lãnh thổ cho Nga -
cách duy nhất có thể hình dung để kết thúc chiến tranh – có thể sẽ khiến
Washington bẽ mặt.
Tuy
nhiên, một giải pháp thương lượng cho cuộc chiến Ukraine không phải là không
thể. Washington có thể tiếp tục thể hiện mình là người bảo vệ chủ quyền của
Ukraine trong khi khuyến khích các nhà lãnh đạo châu Âu buộc Ukraine phải đàm
phán với Moskva.
Một
gợi ý khả thi về hướng này được đưa ra vào ngày 14/6 từ Thứ trưởng Quốc phòng
Mỹ về Chính sách Colin H. Kahl. Ông Kahl tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không nói với
người Ukraine cách đàm phán, đàm phán cái gì và đàm phán khi nào. Họ sẽ đặt ra
những điều khoản đó cho chính mình”.
Những việc cơ bản, lâu dài và cấp bách phải làm ngay để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Thứ nhất, ra sức xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ và tập trung xây dựng Đảng về văn hóa. Cần phải làm cho tiềm lực về mọi mặt của Đảng trở thành niềm tin cậy của toàn dân, kích hoạt mạnh mẽ để nuôi dưỡng và phát triển nguồn trữ năng tinh thần của cả xã hội. Đó là nền móng vững chắc chống lại mọi kẻ thù phá hoại.
Thứ hai, đổi mới đồng bộ, xây dựng toàn diện đất nước phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công các đột phá chiến lược. Đó là sức khỏe vật chất, tinh thần của chế độ trên nền tảng đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dân chủ và thực hành dân chủ để phát triển.
Thứ ba, làm lành mạnh môi trường xã hội, giải quyết tình trạng suy thoái đạo đức trong xã hội, nhất là trong Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống tham nhũng, đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển. Đó là sức đề kháng mạnh mẽ của Đảng, của xã hội chống lại các vi rút gây bệnh bởi sự phá hoại của kẻ thù.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.
Thứ năm, phát triển mạnh mẽ dư luận xã hội tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt về thông tin, công nghệ thông tin, xử lý nghiêm minh theo pháp luật mọi sự vi phạm, lợi dụng các phương tiện truyền thông để gieo rắc luồng thông tin xấu độc, phản cảm, gây hậu quả tiêu cực trong xã hội./.