Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Nghệ thuật sử dụng lực lượng trong Chiến dịch tiến công Trị - Thiên

Đầu năm 1972, ở Trị-Thiên, địch bố trí nhiều đơn vị thiện chiến và tổ chức hệ thống phòng ngự vững chắc thành 3 tuyến: Tuyến ngoài cùng (giáp ranh giữa ta và địch) kéo dài từ biển đến sát biên giới Việt-Lào. Tuyến giữa có nhiều điểm cao, các căn cứ được Mỹ dày công xây dựng, như: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Ðộng Ông Do, 241, 544... Đây là tuyến phòng ngự cơ bản quan trọng nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. Tuyến trong cùng (phòng ngự dự bị), chúng bố trí từ Đường số 1 kéo ra biển với nhiệm vụ phối hợp cùng lực lượng bảo an dân vệ kìm kẹp, đánh phá các phong trào đấu tranh, nổi dậy của quần chúng.

Trên cơ sở phân tích tình hình địch, địa hình, thực lực, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng lực lượng tiến công trên 4 hướng: Hướng Bắc (chủ yếu) sử dụng Sư đoàn 308 (thiếu 1 trung đoàn) được tăng cường một số đơn vị, phối hợp với LLVT địa phương tiêu diệt Trung đoàn 57 và Trung đoàn 2 của địch ở các điểm cao 544, Ðồi Tròn, Ðộng Mã, Cồn Tiên, sau đó tiến công các mục tiêu ở Quán Ngang, Miếu Bái Sơn và sẵn sàng đánh địch ở Hồ Khê, Ðá Bạc, Thiện Xuân, Lăng Cô, Gia Bình.

Hướng Tây, ta sử dụng Sư đoàn 304, Trung đoàn Pháo binh 38 và 4 trung đoàn pháo cao xạ đảm nhiệm tiến công tuyến phòng ngự của địch ở Ðộng Toàn, Ba Tum, vây ép Ba Hồ, sẵn sàng phối hợp với hướng Bắc đánh chiếm núi Kiếm, bao vây tiêu diệt các cứ điểm: 241, Mai Lộc, Ðầu Mầu, Ái Tử. Hướng Nam sử dụng Sư đoàn 324 (thiếu 1 trung đoàn) cùng các đơn vị phối thuộc, phối hợp chặt chẽ với lực lượng của tỉnh Quảng Trị, tiêu diệt địch ở nam và bắc sông Thạch Hãn, hỗ trợ nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Hướng Đông (thứ yếu) gồm Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, các đơn vị đặc công cùng một số lực lượng khác bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang từ phía đông, tiêu diệt căn cứ hải thuyền Cửa Việt...

Ngày 30-3-1972, Chiến dịch tiến công Trị-Thiên bắt đầu, trên các hướng, lực lượng ta thực hành đột phá liên tục kết hợp với thọc sâu, vu hồi, phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài, diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ (Quảng Trị), buộc địch phải bỏ tuyến phòng ngự Đường số 9, co về giữ Đông Hà, Ái Tử, tăng cường lực lượng phòng ngự. Ngày 2-5-1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Từ ngày 20 đến 26-6, ta mở đợt tiến công thứ ba nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá thế phòng ngự của chúng, không cho địch co cụm ở tuyến sông Bồ, tạo thế phát triển chiến đấu tiếp theo. Do địch tăng cường lực lượng, đánh phá ác liệt các đường vận chuyển và hậu phương chiến dịch của ta, đồng thời, mùa mưa đã bắt đầu, công tác vận chuyển tiếp tế hậu cần của ta gặp nhiều khó khăn, đêm 27-6-1972, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc Chiến dịch tiến công Trị-Thiên, chuyển sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng.

Kết quả chiến dịch, ta tiêu diệt và làm rã ngũ hơn 27.000 tên địch, bắt gần 3.400 tên; thu và phá hủy 636 xe tăng thiết giáp, giải phóng tỉnh Quảng Trị. Chiến dịch thắng lợi đã khẳng định việc sử dụng lực lượng đúng đắn, sáng tạo, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Sự thật cần phải được tôn trọng!

Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.

Thiết nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”, với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã trường diễn suốt bao năm qua.

Chúng ta đều biết rằng, trong "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày 10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can thiệp.

Nhưng tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan niệm của họ mà thiếu đi sự thật.

        Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống, cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn! 

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc đó là các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước; do đó, nhận diện rõ mới nghiêm trị âm mưu, hành động đó hiệu quả.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam bằng thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo, lôi kéo quần chúng có đạo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Trong lịch sử, các thế lực thực dân, đế quốc đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để đô hộ, nô dịch, cai trị nhân dân ta.

Những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam. Vì vậy, từ rất sớm, trong bài viết Giáo hội năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã lột sạch bản chất của chúng: “Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những căn cứ xâm lược của Pháp”.

Hiện nay, chúng tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “lời chứng”…  của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: Đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông độc lập”, “Nhà nước Đề Ga” (gắn với đạo Lin lành), “Quốc gia Khơmer Crôm” (gắn với Phật giáo Nam tông Khmer)… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Hai là, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo.

Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Đáng quan ngại, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự...

Ba là, lợi dụng giáo lý, giáo luật, những kẻ đứng đầu cực đoan trong một số tôn giáo và hoạt động sinh hoạt tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng. Theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa trời giảng Kinh thánh trong các ngày hành lễ; các hoà thượng, trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp…

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ xuý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng như: Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hoà Hảo)… ở đầu thế kỷ XXI.

Hiện nay, xuất hiện những kẻ chống đối quá khích, cực đoan như: Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đinh Hữu Thoại, Đặng Hữu Nam… thường xuyên kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo…

Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá.

Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hoá” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hoá” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin lành để hoạt động chống đối chính quyền.

Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hoá dân tộc, nhất là truyền đạo Tin lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp vào nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên.

Bốn là, lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, các tổ chức phi chính phủ (NGO)...  để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số có đạo chống phá chính quyền Việt Nam

Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại.

Thủ đoạn này rất tinh vi, khó nhận biết, bởi lẽ nó được núp dưới các hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”... của các tổ chức NGO trá hình.

Sẽ không có gì phải lưu tâm khi các tổ chức này hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ của nó. Vấn đề đáng chú ý là, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, khu vực nhạy cảm của nước ta để thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tiếp cận, chỉ đạo bọn phản động, cực đoan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “tự trị, ly khai” nhằm gây mất ổn định và tạo cớ can thiệp.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động trong các tôn giáo sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm ở nước ta. Nuôi dưỡng, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc thiểu số có đạo lưu vong ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam là thủ đoạn quen thuộc, xuyên suốt của các thế lực thù địch.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam như: “Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo toàn cầu (tổ chức quốc tế)”; “Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất hải ngoại”, “Liên đoàn Công giáo người Việt tại Mỹ”... Các tổ chức này đang chuyển hướng hoạt động vào trong nước. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá như: Tin lành Đề Ga (ở Tây Nguyên), Tin lành Vàng Chứ trong vùng đồng bào Mông (ở Tây Bắc), Thìn Hùng trong vùng đồng bào Dao (ở Tây Bắc)...

Điển hình, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo, với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài, đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Tóm lại, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng.

PHAO

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI LỚN NHẤT

 (TBTCO) - Theo số liệu sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 71,58 tỷ USD, tiếp theo là Mỹ (52 tỷ USD), Hàn Quốc (38 tỷ USD), Nhật Bản (19,2 tỷ USD)...

Trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các đối tác lớn nhất

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới.

Bộ Công an cảnh báo trang web giả mạo đánh bạc tinh vi cần tránh nếu không sẽ bị phạt nặng

 

Bộ Công an cảnh báo trang web giả mạo đánh bạc tinh vi cần tránh nếu không sẽ bị phạt nặng

Hiện nay, tội phạm tổ chức đánh bạc sử dụng không gian mạng làm môi trường hoạt động với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Bộ Công an mới đây đã liệt kê các thủ đoạn, trang web mạo danh để đánh bạc, mọi người cần chú ý cảnh giác và tuyệt đối không tham gia.

Thời gian qua, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an và Công an các đơn vị, địa phương đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều kế hoạch, biện pháp để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả; xử lý kịp thời hoạt động tổ chức đánh bạc và đánh bạc trên không gian mạng với quy mô lớn, phạm vi liên tỉnh, thậm chí xuyên quốc gia...

Tính riêng năm 2021, Công an các đơn vị, địa phương đã phát hiện, xử lý 694 vụ việc, triệt phá 181 chuyên án liên quan đến hoạt động tổ chức đánh bạc và đánh bạc trên mạng; trong đó, khởi tố vụ án 570 vụ, khởi tố 2.674 bị can, xử lý hành chính 154 vụ, xử phạt hành chính 1.426 đối tượng, thu giữ nhiều tiền, đồ vật, tài liệu liên quan… Phát hiện trên 20 cổng thanh toán trung gian chưa rõ nguồn gốc được sử dụng vào hoạt động tổ chức đánh bạc.

Dự báo thời gian tới, tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc sẽ sử dụng không gian mạng làm môi trường hoạt động tương đối phổ biến, với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi hơn, đáng chú ý là:

1. Tổ chức đánh bạc tín chấp (trả tiền sau): Nhà cái tổ chức đánh bạc tín chấp dưới dạng các cược thể thao, lô đề, xóc đĩa mạng…, như: Bong88, Sbobet, 3in1bet… Các nhà cái ở nước ngoài thông qua hệ thống mạng Internet tổ chức đánh bạc cho người chơi ở Việt Nam tham gia. 

Chúng liên kết với một số người Việt Nam, phần lớn là nhóm lưu manh, giang hồ, xã hội đen để quản lý, tổ chức phân mạng nhỏ với những khoản tiền vay nhất định tùy và khả năng tài chính của con bạc để tham gia đánh bạc, khi có khoản tiền ứng trước trong tài khoản, con bạc có thể đánh bạc trên trang wed do đối tượng lập ra. Sau kỳ hạn một ngày hoặc một tuần, con bạc phải đến "đại lý" để thanh toán số tiền thắng, thua.

2. Tổ chức đánh bạc thế chấp (trả tiền trước): Nhà cái tổ chức đánh bạc thế chấp với nhiều hình thức: Sòng bài (Casino), cá cược thể thao, trò chơi trực tuyến có tính chất cờ bạc, như: M88, Fun88.com, 12bet… Các nhà cái ở nước ngoài thông qua hệ thống Internet tổ chức cho người chơi ở Việt Nam tham gia. 

Phần quản trị ở nước ngoài (nhà cái) sẽ trực tiếp kiểm soát toàn bộ hoạt động đánh bạc của các tài khoản đánh bạc do người chơi lập ra. Người tham gia đánh bạc sau khi đăng ký tài khoản đánh bạc trên mạng phải mở tài khoản ngân hàng, sau đó chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của đối tượng tổ chức hoặc có thể sử dụng hình thức nạp thẻ điện thoại và làm theo hướng dẫn trên trang wed tổ chức đánh bạc. 

Các trang web này cài phần mềm tự động, số tiền nạp vào tài khoản ngân hàng của đối tượng sẽ quy ra điểm ( loại tiền ảo để cá cược) và được chuyển vào tài khoản cá cược của người đánh bạc. Người đánh bạc dùng số điểm này để cá cược trực tiếp với nhà cái.

3.Thiết lập mạng lưới các website vệ tinh, mạng ẩn danh để hoạt động, xây dựng hàng trăm tên miền website khác nhau với cùng một giao diện tổ chức đánh bạc.

4. Xây dựng, phát triển mạng lưới đại lý, quảng cáo dưới hình thức tuyển dụng nhân viên biết tiếng Việt sang các trụ sở đặt tại các trung tâm cờ bạc lớn trên thế giới để hoạt động; câu kết, móc nối với một số đối tượng trong nước để xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý tổ chức đánh bạc tại Việt Nam.

5. Sử dụng các cổng thanh toán trung gian phục vụ hoạt động cờ bạc; sử dụng các dịch vụ thanh toán tiền ảo trực tiếp trên website hoặc sử dụng qua các cổng dịch vụ thanh toán trung gian để chuyển đổi từ tiền ảo sang tiền đánh bạc.

6. Lợi dụng các ứng dụng công nghệ số để quảng cáo, lôi kéo người dân tham gia đánh bạc. Các đối tượng tổ chức đánh bạc quảng cáo qua các website viết bài hướng dẫn đánh bạc, giới thiệu đường dẫn truy cập của mạng lưới đại lý; đặt banner trên các website, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội… có nhiều lượt theo dõi.

Đánh bạc online sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Theo Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP , người có hành vi đánh bạc online có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với hành vi đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật. 

Hành vi đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép cũng bị xử phạt tương đương. Theo Điều 321 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng.

Ngoài ra nếu người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Bên cạnh đó, sẽ phạt tù từ 3 năm đến 7 năm với các trường hợp đánh bạc có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên; sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội hay tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Theo hướng dẫn của TANDTC tại Công văn 196/TANDTC-PC về tình tiết "sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội" là việc sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến. Do đó,  "sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội" là tình tiết định khung tăng nặng của tội đánh bạc, có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Như vậy, hành vi đánh bạc online có thể bị phạt tù đến 07 năm. Đồng thời có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là phạt tiền đến 50 triệu đồng.

 

CHUYÊN MỤC: LỜI BÁC HỒ DẠY

 



Trong bài viết: “Phải đẩy mạnh hơn nữa công việc vệ sinh”, với bút danh T.L. đăng trên Báo Nhân dân, số 2288, ngày 24-6-1960, Hồ Chủ tịch có viết: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải lao động tốt. Muốn lao động tốt thì phải có sức khỏe. Muốn có sức khỏe thì phải giữ gìn vệ sinh”.
Sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao giá trị của lao động đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và vai trò quan trọng của sức khỏe, của việc giữ gìn vệ sinh đối với sức khỏe của xã hội, cộng đồng và mỗi con người. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân ta từ miền xuôi cho đến miền núi, thành thị cho đến nông thôn trong khắp cả nước đã tích cực thi đua lao động sản xuất, rèn luyện thể lực, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống bệnh tật, đóng góp công sức, tài trí cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vấn đề môi trường, lao động và sức khỏe con người đang đặt ra những thách thức mới; do đó, việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đồng thời là cơ sở để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng trong xác định chủ trương, đường lối xây dựng lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa; quan tâm bảo đảm môi trường và điều kiện để phát triển con người Việt nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, hoạt động quân sự là lao động đặc biệt, cần phải có sức khỏe tốt để đáp ứng yêu cầu cao trong thực hiện nhiệm vụ.
Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi quân nhân trong quân đội phải ra sức học tập, huấn luyện, rèn luyện, không ngừng nâng cao thể lực, trình độ, năng lực, đi đôi với cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; tích cực tham gia giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp; tích cực xây dựng cơ quan, đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn

Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: 

Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. 

Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. 

Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... 

Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ.

Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật. Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép” mới.

Lắng nghe dân để chọn người 'tâm trong, trí sáng'

 

Lắng nghe dân để chọn người 'tâm trong, trí sáng'

TP - Trong cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội mới đây, khi nói đến việc lựa chọn cán bộ làm Chủ tịch Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh “phải chọn người cho đúng, cho chính xác, không phải vội vàng”. Vậy làm sao, để việc lựa chọn đó đúng và trúng, khi mà cả hai đời Chủ tịch Hà Nội liên tiếp gần đây đều bị khởi tố, PV Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tiến Dĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Bài học lớn qua 2 đời chủ tịch

Nhắc đến việc lựa chọn cán bộ để làm Chủ tịch Hà Nội, thay cho ông Chu Ngọc Anh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng: “Chuẩn bị người thay lại phải chọn người cho đúng, cho chính xác, chứ không phải vội vàng... Nếu không chín chắn thì không chính xác, nhỡ tiêu cực thì sao”. Là người từng có nhiều năm làm về công tác cán bộ, theo ông làm sao để chọn được người cho đúng và chính xác?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh: Ý kiến mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu ra là hoàn toàn xác đáng. Chọn cán bộ trong điều kiện bình thường đã khó, chọn cán bộ để đảm nhận vị trí Chủ tịch Hà Nội và Bộ trưởng Bộ Y tế trong hoàn cảnh hiện nay càng phải cẩn trọng, kỹ lưỡng. Tất nhiên, hiện nay, quy trình lựa chọn cán bộ đã rất đầy đủ, vấn đề lựa chọn sao cho đúng và phù hợp.

Thực tế thời gian qua, việc lựa chọn cán bộ đảm nhận các vị trí quan trọng ở Hà Nội, TPHCM và Bộ Y tế đều chưa thành công. Ví dụ như Hà Nội, trong nhiệm kỳ trước cả Bí thư và Chủ tịch UBND thành phố đều bị kỷ luật, trong đó Chủ tịch thành phố còn bị truy tố, phạt tù. Còn tại TPHCM, Bí thư Thành ủy nhiệm kỳ trước cũng bị cách chức, xử lý hình sự, còn nguyên Chủ tịch UBND TP (hiện giữ chức Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương) mới đây cũng bị đề nghị kỷ luật. Như thế cho thấy, việc lựa chọn cán bộ cho hai thành phố lớn nhất của đất nước thời gian qua đều chưa đúng và “trúng”. Với Bộ Y tế, ngoài ông Nguyễn Thanh Long, thì nhiều thứ trưởng và các cán bộ khác cũng bị xử lý kỷ luật, từ khiển trách, cảnh cáo, cho đến bị khởi tố, bắt tạm giam. Vì thế, việc chuẩn bị người đảm nhận chức bộ trưởng càng phải kỹ lưỡng, không nên quá vội vàng, dẫn đến chọn sai.

Tuy nhiên, không thể để chiếc ghế Bộ trưởng Bộ Y tế và Chủ tịch UBND TP Hà Nội trống lâu quá. Thủ đô Hà Nội có vị trí hết sức đặc biệt quan trọng, cần có người đứng đầu để điều hành, quyết định những vấn đề quan trọng của thành phố, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch COVID-19.

Tương tự, trong lĩnh vực y tế, dịch bệnh tuy đã được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn một số nguy cơ, không thể chủ quan. Hơn nữa, sau khi nhiều lãnh đạo trong ngành y tế bị xử lý kỷ luật, nhiều lãnh đạo CDC bị khởi tố, bắt tạm giam thì đâu đó cũng đã xuất hiện tình trạng sợ sai, không dám quyết, dám làm, nhất là trong việc mua sắm, đấu thầu thuốc men và trang thiết bị y tế. Do đó, phải sớm phân công người làm bộ trưởng để ổn định bộ máy, động viên, khích lệ tinh thần các cán bộ trong ngành y, cũng như giải quyết những khó khăn, vướng mắc đang đặt ra.

Trong bối cảnh hiện nay, có người nói rằng, “xử lý hết cán bộ thì lấy đâu người làm việc”, ông nghĩ sao về điều này?

Khi trả lời cử tri Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Không lo không có cán bộ làm việc, bởi “con chị nó đi, con dì nó lớn”. Vắng ông trưởng, ông phó tạm quyền thay. Thực tế, việc xử lý vi phạm càng nghiêm, càng có điều kiện để sàng lọc cán bộ, chọn người phù hợp. Khi cán bộ đã bị xử lý, lại không chọn kỹ người thay thế thì sẽ mất cả niềm tin, những đổ vỡ có thể còn lớn hơn nữa. Người tài trong xã hội nói chung và trong bộ máy nói riêng có rất nhiều. Vấn đề là làm sao lựa chọn cho đúng và trúng, phù hợp. Hiện nay, quy trình lựa chọn cán bộ của chúng ta đã tương đối đầy đủ, theo đúng quy trình 5 bước hết sức chặt chẽ, thận trọng. Tuy nhiên, tới đây cũng nên xem xét, lắng nghe dư luận, nhân dân nhiều chiều hơn, kỹ lưỡng hơn. Ví dụ, xem xét xem cán bộ dự kiến được phân công làm Chủ tịch Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế ở khu dân cư sinh hoạt thế nào, có thực sự gương mẫu, trách nhiệm không; tài sản, nhà cửa, rồi vợ con ra sao…?

Bộ trưởng không nhất thiết “quá” giỏi chuyên môn?

Với vị trí Chủ tịch Hà Nội và Bộ trưởng Bộ Y tế cần đặt nặng tiêu chí, tiêu chuẩn gì?

Tiêu chuẩn, tiêu chí thì quy định đã nêu đầy đủ rồi. Tuy nhiên, với vị trí là Thủ đô của cả nước, Chủ tịch Hà Nội thường là Ủy viên Trung ương. Sau khi ông Chu Ngọc Anh bị xử lý thì Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Lê Hồng Sơn được giao tạm điều hành hoạt động. Tuy nhiên, anh Sơn không phải là Ủy viên Trung ương Đảng. Vậy việc bố trí cán bộ thế nào? Theo tôi, cần phải tiếp tục bố trí một Ủy viên Trung ương làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Và với việc, 2 đời chủ tịch liên tiếp bị cách chức, kỷ luật thì cũng phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, lựa chọn sao cho đúng và đặc biệt là phải phù hợp với Thủ đô.

Đối với nhân sự Bộ trưởng Bộ Y tế, cũng phải nghiên cứu, kỹ lưỡng. Liệu có nhất thiết Bộ trưởng Bộ Y tế phải là Ủy viên Trung ương không? Tất nhiên lựa chọn được Ủy viên Trung ương là tốt nhất, song cũng không vì thế để rồi dẫn đến lựa chọn không đúng người? Trước đây chúng ta đã từng có những Bộ trưởng Bộ Y tế không phải Ủy viên Trung ương rồi. Vì thế, Bộ trưởng Bộ Y tế không nhất thiết phải là người rất giỏi về chuyên môn, phải là giáo sư, tiến sĩ. Bộ trưởng Bộ Y tế trước hết phải là người có tâm, có đức, “lương y như từ mẫu”, có năng lực trong quản trị và hoạch định chính sách.

Ngoài ra, qua những vụ việc xảy ra gần đây trong ngành y, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu lại cách thức sử dụng, lựa chọn cán bộ. Việc nhiều giáo sư, tiến sĩ, những “bàn tay vàng” trong ngành y khi làm chuyên môn rất giỏi, được nhiều người kính trọng. Khi họ được phân công làm giám đốc các bệnh viện thì lại sai phạm, vướng vòng lao lý, hết sức đau xót. Tất nhiên, vi phạm pháp luật, tư lợi cá nhân, nhận “hoa hồng” thì phải xử lý, nhưng mất mát là rất lớn. Do đó, cần nghiên cứu để tách chuyên môn với quản lý kinh tế của bệnh viện. Những người giỏi quản trị thì làm giám đốc bệnh viện, còn những người giỏi chuyên môn thì hãy cứ để họ làm chuyên môn, phụ trách chuyên môn.

Hiện nay, quy trình lựa chọn cán bộ của chúng ta đã tương đối đầy đủ, theo đúng quy trình 5 bước hết sức chặt chẽ, thận trọng. Tuy nhiên, tới đây cũng nên xem xét, lắng nghe dư luận, nhân dân nhiều chiều hơn, kỹ lưỡng hơn. Ví dụ, xem xét xem cán bộ dự kiến được phân công làm Chủ tịch Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế ở khu dân cư sinh hoạt thế nào, có thực sự gương mẫu, trách nhiệm không; tài sản, nhà cửa, rồi vợ con ra sao…?

Có ý kiến nói rằng, việc có nhiều cán bộ bị xử lý vi phạm đã và đang dẫn đến tâm lý sợ sai, không dám quyết, dám làm. Ông nghĩ sao về tình trạng này?

Sáng nay tôi cũng nghe mục điểm báo trích dẫn lại ý kiến của đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan (TPHCM) về tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế. Đại biểu Lan có nói: “Đành rằng chậm để chắc chắn là đúng quy trình nhưng như vậy thì không bảo đảm tính kịp thời trong việc khám, điều trị bệnh cho bệnh nhân. Người dân không thể bị bệnh theo quy trình cũng như chờ thuốc, thiết bị y tế theo quy trình”.

Nguyên nhân, theo tôi, chủ yếu là tâm lý sợ sệt, sợ trách nhiệm. Nhìn lại các vụ việc bị xử lý thời gian qua, nhất là liên quan vụ Việt Á, chúng ta thấy, vi phạm chủ yếu là do cán bộ đã tư lợi cá nhân, nhận “hoa hồng”. Nếu họ không nhận “hoa hồng”, làm việc vì động cơ trong sáng thì chắc chắn sẽ không bị xử lý. Hơn nữa, Đảng đã có quy định bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm nên nếu việc vì lợi ích chung, động cơ trong sáng chắc chắn sẽ được bảo vệ.

Cảm ơn ông!

 

ITALY COI VIỆT NAM LÀ ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN QUAN HỆ HÀNG ĐẦU Ở ĐÔNG NAM Á

 Việt Nam và Italy thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày 23/3/1973. Từ đó đến nay, quan hệ chính trị giữa hai nước được củng cố và phát triển nhanh chóng.

Đặc biệt, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 1/2013, hai nước tích cực thúc đẩy hợp tác thiết thực và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, khoa học, giáo dục, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, kết nối địa phương.

Hai bên duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương gồm Tham vấn chính trị thường niên cấp Thứ trưởng Ngoại giao (lần 3 vào tháng 5/2021), Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng (lần 3 năm 2019), Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế (lần 6 năm 2020).

Trao đổi đoàn cấp cao và tiếp xúc được duy trì thường xuyên. Hai năm qua, bất chấp bối cảnh dịch bệnh Covid-19, quan hệ song phương vẫn được duy trì nhờ sự linh hoạt thích ứng của cả hai bên, các tiếp xúc trao đổi qua hình thức trực tuyến.

Trong khuôn khổ Đối tác chiến lược, Việt Nam và Italy đã phối hợp tổ chức Tham vấn chính trị lần 3 (tháng 5/2021), họp Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế lần 6 (tháng 12/2020) và họp Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học và công nghệ lần 7 (tháng 7/2020).

Lãnh đạo cấp cao hai nước đã có một số dịp trao đổi tiếp xúc như Tổng thống Italy Mattarella đã có thư gửi Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng Quốc khánh Việt Nam (9/2021); Thủ tướng Italy đã có thư gửi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thông báo về việc viện trợ vaccine Covid-19 cho Việt Nam (tháng 8/2021). Đáp lại, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có điện mừng nhân dịp Tổng thống Mattarella tái đắc cử (1/2022); Tổng thống Mattarella đã có thư cảm ơn (7/2/2022); Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có thư chúc mừng Thủ tướng Italy Mario Draghi nhân dịp được bổ nhiệm là Thủ tướng (tháng 2/2021) và thư cảm ơn gửi Thủ tướng Italy đã hỗ trợ Việt Nam vaccine Covid-19 (9/2021).

Trong các dịp trao đổi cấp cao, Italy luôn khẳng định quyết tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, coi Việt Nam là nước ưu tiên phát triển quan hệ ở khu vực Đông Nam Á.

Tại các diễn đàn đa phương, hai nước thường xuyên phối hợp, ủng hộ lẫn nhau, góp tiếng nói tích cực về việc đảm bảo hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và hàng không và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Italy coi Việt Nam là ưu tiên phát triển quan hệ hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á
Lô hàng bao gồm 2.021.360 liều vaccine AstraZeneca do chính phủ Italy trao tặng Việt Nam thông qua cơ chế COVAX. (Nguồn: UNICEF)

Đối tác thương mại hàng đầu của nhau trong khu vực

Quan hệ thương mại đầu tư là điểm sáng trong quan hệ hai nước nhờ sự tích cực tạo điều kiện tối đa của chính phủ hai bên. Việt Nam là 1 trong 10 thị trường mới nổi trong ưu tiên phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của chính phủ Italy.

Hai bên luôn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực mà Italy có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu như cơ khí chế tạo, kết cấu hạ tầng, dệt may, da giày, chế biến gỗ, công nghiệp phụ trợ, vật liệu xây dựng, dầu khí, năng lượng tái tạo, chế biến thực phẩm...

Năm 2019, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 5,4 tỷ USD (tăng gấp 3 lần từ mức 1,8 tỷ USD năm 2010). Năm 2020 do ảnh hưởng của dịch covid-19, kim ngạch thương mại song phương bị suy giảm nhưng vẫn duy trì ở mức khả quan với 4,67 tỷ USD; năm 2021 đạt 5,6 tỷ USD trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Italy đạt gần 3,9 tỷ USD (xuất siêu).

Nhờ những con số ấn tượng đó, hiện Italy là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam trong EU và Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Italy trong ASEAN.

Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Italy khá đa dạng, trong đó nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như điện thoại và linh kiện, máy móc thiết bị dụng cụ, phương tiện vận tải phụ tùng, sắt thép, sản phẩm dệt may, giày dép, cà phê. Trong đó, điện thoại các loại và linh kiện là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu, chiếm khoảng 25% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Italy.

Kể từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) có hiệu lực, quan hệ thương mại-đầu tư song phương càng thêm "thăng hoa" khi một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Italy tăng mạnh do tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định.

Sau khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, hai nước đã thành lập Ủy ban hỗn hợp về Hợp tác kinh tế và đã họp 6 phiên từ 2014-2020.

Về đầu tư, tính đến hết năm 2021, Italy đứng thứ 35 trong tổng số 140 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam với 132 dự án với tổng số vốn đạt gần 404 triệu USD. Trong giai đoạn 2016-2020, đầu tư của Italy vào Việt Nam tăng từ 360 triệu USD lên 440 triệu USD trong 21 ngành nghề, chủ yếu trong các ngành giày da, xây dựng, thiết bị vệ sinh, bình nóng lạnh, chế biến thép.

Nhiều tập đoàn lớn của Italy hoạt động tích cực tại Việt Nam, những dự án lớn nhất đều nằm trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo như Bonfiglioli (sản xuất động cơ), Piaggio (sản xuất, lắp ráp xe máy), Danieli Officina (sản xuất thép), Fiat Iveco (liên doanh ôtô Mekong), Datalogic, Ariston (sản xuất bình đun nước nóng). Nhiều nhà máy sản xuất đồ gỗ, chế biến đá của Việt Nam đang sử dụng máy móc, công nghệ của Italy. Thiết bị luyện thép của hãng Danieli đã có mặt tại trên 10 dự án ở Việt Nam, trong đó có nhà máy thép Việt-Italy, nhà máy thép Phú Mỹ.

Tập đoàn năng lượng ENI có mặt tại Việt Nam từ năm 2013 đang vận hành 5 lô trong lưu vực sông Hồng và Phú Khánh ở ngoài khơi miền Trung Việt Nam và ngày càng củng cố vị thế tại Việt Nam. Bên cạnh đó có rất nhiều doanh nghiệp, địa phương Italy mong muốn có cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp, địa phương Việt Nam.

Về hợp tác phát triển, hiện Italy vẫn đang tiếp tục hỗ trợ ODA cho Việt Nam với 11 dự án đang triển khai và 6 dự án khác trong giai đoạn chuẩn bị, tổng số vốn cam kết hơn 100 triệu Euro; tập trung cho đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và quản lý nguồn nước, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, y tế, các chương trình nghiên cứu khoa học.

PHAO