Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

             Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

          Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

          Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

          Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

          Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

          Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

          Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

          Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

          Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

          Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

          Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

VTT (St)

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ TÍNH KHOA HỌC, TÍNH CÁCH MẠNG, TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                 Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, như một ngọn cờ dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng, dân tộc và nhân dân ta.

          Vì vậy, nhận thức đúng đắn những giá trị khoa học, giá trị cách mạng, giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chúng ta góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc và giục giã từ trái tim của mỗi chúng ta.

          Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

          Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), đã được ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân trang trọng kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

          Dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng cách mạng chân chính do Người sáng lập và rèn luyện, dạn dày kinh nghiệm và bản lĩnh trong đấu tranh cách mạng trước đây, trong đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần và thực hành lời dạy của Người “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm (chữ dùng của Hồ Chí Minh), cố kết sức mạnh “ý Đảng-lòng dân-phép nước” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Đó cũng là tâm nguyện, hoài bão và khát vọng phát triển của Người, được Người nêu rõ trong Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước khi trở về với tổ tiên, với Mác-Lênin ở cõi vĩnh hằng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(2).

          Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với đạo đức và phong cách của Người trong một hệ thống chỉnh thể, hữu cơ không thể tách rời. Tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn thấm nhuần trong toàn bộ hệ thống chỉnh thể ấy, thể hiện nhất quán trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhất quán giữa tư tưởng và hành động, lời nói đi đôi với việc làm, suốt đời tranh đấu, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

          Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất và đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người trên tư cách nhà tư tưởng mác xít sáng tạo, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam.

          Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh qua thử thách của thời gian trở thành những giá trị bền vững, được chứng nghiệm qua lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc ta trong thế kỷ 20 đã qua cũng như hiện nay và mai sau, là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân trong đổi mới, hội nhập và phát triển.

Giá trị, sức sống và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định ở trong nước mà còn có sức lan tỏa rộng lớn trong đời sống chính trị quốc tế, trong văn hóa của thế giới nhân loại. Việt Nam đến với thế giới và có mặt xứng đáng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhờ có Hồ Chí Minh-biểu tượng kiệt xuất cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi vì Độc lập-Tự do-Hạnh phúc của dân tộc và nhân loại.

          Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ chân lý và đạo lý

          Thế giới hiểu Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, yêu mến, tin cậy và tự hào về Việt Nam là nhờ có Hồ Chí Minh-vĩ nhân và danh nhân ở tầm vóc tư tưởng và văn hóa, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một biểu tượng kiệt xuất của văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung.

          Hồ Chí Minh đi vào lịch sử với dấu ấn không thể phai mờ, là một trong những lãnh tụ hiếm hoi đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống như đánh giá của bạn bè quốc tế.

          Khi Người qua đời, 53 năm về trước (ngày 2-9-1969), hàng nghìn bức điện và thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi tới Đảng và nhân dân ta, trong đó có Cuba anh em với đánh giá sâu sắc, thấm thía của đồng chí Fidel Castro Ruz: Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt...

“Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”, đó không chỉ là lời ngợi ca thành kính và thiêng liêng dành cho Người mà còn là chứng thực của lịch sử, vượt thời gian và không gian, từ dân tộc tới nhân loại. Đó cũng là sự khẳng định chân giá trị Hồ Chí Minh.

          Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng mà Người là một tấm gương cao cả để muôn đời noi theo mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, thôi thúc và giục giã tự trái tim của mỗi người chúng ta.

          Cuộc sống mách bảo chúng ta, đó là điều cần thiết để phê phán và bác bỏ mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đời tư và phẩm hạnh của Người từ những kẻ chống đối, những thế lực phản động với dã tâm thâm độc, bất minh, bất chính.

          Mọi sự xúc phạm Hồ Chí Minh là xúc phạm tới dân tộc, nhân dân và Đảng ta, tới lương tâm, lương tri của cả loài người tiến bộ đã từng tôn vinh những cống hiến vô giá của Người đối với lịch sử. Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất, thước đo khách quan nhất của chân lý.

          Thời gian là sự kiểm nghiệm, sự sàng lọc khách quan nhất, chân thực nhất giúp cho sự phân biệt tốt xấu, đúng sai, thật giả. Sự xuyên tạc thâm độc, thậm chí bỉ ổi của các thế lực thù địch, phản động, kể cả những kẻ phản bội, tự bán rẻ nhân cách của mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng nhân dân và dân tộc nhằm vào Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người không thể che lấp sự thật, không thể lung lạc được niềm tin và tình cảm của chúng ta đối với Hồ Chí Minh.

          Đó là niềm tin khoa học bắt nguồn từ giác ngộ chân lý, là tình cảm bền chặt đã trở thành máu thịt làm nên sự sống, trong từng nhịp đập của trái tim, của tâm hồn mỗi người chúng ta.

          Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nó phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nó phản ánh cả một thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta và của thế giới”(3)...

          Người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, người đã sống, làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm, người thấu hiểu và thấu cảm Hồ Chí Minh đã nói hộ lòng ta về niềm tin và tình cảm đối với Người...

          VTT (St)

Cái quý nhất là sự gương mẫu

 

Tuần trước tôi về quê. Vừa về đến nhà, bố tôi kể luôn chuyện về một đại tá-cựu chiến binh trong xã nhiều lần vận động ông đứng ra thành lập “Hội cán bộ cao cấp”.

XÂY DỰNG, PHÁT HUY VAI TRÒ ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO QUÂN ĐỘI

 Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội là lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước.

Những năm qua, đội ngũ này luôn đi đầu, lan tỏa phong trào học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH), nâng cao trình độ về mọi mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng xây dựng, gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng như xây dựng đội ngũ nhà giáo. Người khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa...”.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, ngành giáo dục nói chung, những người làm công tác giáo dục trong quân đội nói riêng luôn xác định rõ vị trí, vai trò của mình, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vươn lên trong công tác, thực hiện nhiệm vụ.

Những năm qua, đội ngũ nhà giáo quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, từng bước chuẩn hóa. Họ luôn ý thức xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp trồng người; được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng, phương pháp sư phạm giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách được giao.

Nhiều đồng chí cán bộ, giảng viên khẳng định rõ vai trò chuyên gia đầu ngành trong giảng dạy và NCKH. Đây chính là lực lượng quan trọng góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân cách người quân nhân cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cho đội ngũ học viên quân đội-nguồn cán bộ nòng cốt của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Theo tinh thần Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTƯ ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác GD&ĐT trong tình hình mới, các học viện, nhà trường quân đội luôn quan tâm bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng đồng bộ, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Tính đến nay, tỷ lệ cán bộ, nhà giáo các trường quân đội có trình độ đại học trở lên đạt trên 94%; trong đó gần 35% có trình độ thạc sĩ, trên 10% nhà giáo quân đội có trình độ tiến sĩ. Nhiều giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) trong quân đội được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư và con số này không ngừng tăng theo từng năm, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu về giảng dạy và NCKH trong hệ thống nhà trường quân đội.

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD vẫn còn những bất cập, như: Tỷ lệ nhà giáo có học hàm, học vị chưa đủ so với yêu cầu; một số nhà giáo trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở; số lượng giảng viên đã qua đơn vị ngày càng ít; vẫn còn giáo viên, giảng viên chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa cập nhật kiến thức, phương pháp mới; việc quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo gặp không ít khó khăn...

Bên cạnh đó, những năm gần đây, cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến đội ngũ nhà giáo nói chung, nhà giáo trong quân đội nói riêng. Một bộ phận giáo viên, giảng viên chưa thực sự say mê với nghề. Vẫn còn giảng viên thiếu tinh thần nghiêm túc, cầu thị trong NCKH, chậm đổi mới phương pháp nghiên cứu, giảng dạy. Từ đó, chất lượng của những “cỗ máy cái” trong một số nhà trường chưa thực sự được nâng cao.

Hiện nay, xu thế đổi mới GD&ĐT ngày càng mạnh mẽ. Cùng với đó, nhiều tri thức mới về khoa học quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các nhà giáo quân đội trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng, truyền thụ kinh nghiệm cho học viên

Do đó, bản thân mỗi nhà giáo quân đội cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào khi trực tiếp tham gia đào tạo, xây dựng nhân lực cho quân đội. Từ đó, giảng viên, cán bộ QLGD không ngừng phấn đấu học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; chủ động, tích cực tham gia xây dựng, đẩy mạnh phong trào NCKH, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quân sự trong giảng dạy, công tác, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các cơ quan, đơn vị.

Với phương châm “giáo dục toàn diện”, nhà giáo là người bồi đắp, truyền thụ kiến thức, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng đối với học viên. Những bài học sâu sắc nhất mà đội ngũ cán bộ tương lai có được chính là sự nêu gương của người thầy. Vì thế, hơn ai hết, đội ngũ nhà giáo phải gương mẫu trong giảng dạy, công tác, sinh hoạt, phát huy cao độ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, thực sự là tấm gương sáng để học viên noi theo.

Nỗ lực của bản thân mỗi giảng viên, cán bộ QLGD khi nhận được sự quan tâm của các học viện, nhà trường, của cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Vì thế, việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD cần được các học viện, nhà trường và cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm.

Ngoài lựa chọn những học viên giỏi để tạo nguồn, cần có các chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài vào quân đội; lựa chọn cán bộ giỏi ở đơn vị, kinh qua thực tiễn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, bổ sung cho các cơ sở đào tạo; tổ chức phối hợp, liên kết với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội để đào tạo, bồi dưỡng...

Ngoài ra, cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang bị, mô hình học cụ phục vụ dạy học sát thực tiễn; tăng cường tổ chức các hội thi, hội thao để cán bộ, giảng viên, giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nâng cao trình độ giảng dạy, quản lý và NCKH; có cơ chế, chính sách thúc đẩy các nhà giáo, cán bộ QLGD không ngừng vươn lên trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, bảo đảm "vừa hồng, vừa chuyên" sẽ là nguồn lực quan trọng quyết định hiệu quả công tác GD&ĐT trong quân đội. Thông qua công tác chuyên môn và sự nêu gương của mình, cán bộ, giảng viên các nhà trường trong toàn quân đã khẳng định rõ vai trò "cỗ máy cái" trong đào tạo nhân lực cho quân đội và đất nước, góp phần nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ cho cán bộ quân đội ngay từ khi còn là học viên.

Đây là yếu tố then chốt góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

TỰ NGUYỆN DÂNG HIẾN, HY SINH VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

 Tự nguyện đi theo con đường cách mạng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đã chọn. Đúng như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra một trong những nét đặc trưng nổi bật của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là “chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”.

1. Trong muôn vàn sự lựa chọn, có lẽ chọn sự hy sinh là cao cả và thiêng liêng nhất. Bởi hy sinh là chấp nhận khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, thậm chí mất mát. Nhưng không có sự hy sinh nào là vô nghĩa, nhất là hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì đồng đội, gia đình. Với quân nhân, lời thề danh dự thiêng liêng, cao quý đầu tiên chính là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam!”. Thế nên những người lính khi đã cất bước “ra đi đầu không ngoảnh lại”, nguyện một lòng một dạ “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Có những câu chuyện, những tấm gương hy sinh sẽ mãi được lịch sử ghi lại, các thế hệ đời đời nhớ ơn.

Mỗi khi nói đến sự hy sinh thì câu chuyện về những đồng đội ở đơn vị tôi vẫn luôn nhắc nhớ về bài học tri ân. Tôi vẫn nhớ như in một ngày giữa tháng 6-2016, trời chang chang nắng. Cái nắng lửa như thiêu đốt ruột gan thêm cồn cào, nhức nhối. Tôi cùng rất nhiều đồng đội dõi mắt lên bầu trời và đợi chờ. Thời gian như ngưng đọng, những gương mặt đăm chiêu mong ngóng người trở về. Nhưng không, máy bay Casa số hiệu 8983 thực hiện nhiệm vụ bay cứu hộ-cứu nạn đã nằm lại giữa biển khơi. Cả 9 người con ưu tú của Lữ đoàn 918 (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã ra đi mãi mãi. Biển biếc quê hương đã ôm trọn các anh vào lòng. 9 con người ra đi để lại phía sau là hậu phương, gia đình. Có vợ liệt sĩ đang mang bầu, có con liệt sĩ mới chập chững biết đi, có bố mẹ liệt sĩ mái đầu bạc trắng nhớ thương. Sự hy sinh, mất mát là rất lớn, để lại niềm tiếc thương cho đồng chí, đồng bào cả nước. Những cánh chim quả cảm đã hóa thân vào bầu trời Tổ quốc. Chuyến bay dở dang, ước nguyện chưa thành. Thế nhưng sự hy sinh của các anh đã truyền lửa tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để đồng đội tiếp tục cất cao cánh bay giữ trời Tổ quốc.

Có thể thấy giá trị nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hun đúc bởi nhiều yếu tố, trong đó đức hy sinh có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ấy là hành động nhận gian khó về mình để người khác được hưởng niềm vui, sẵn sàng hy sinh bản thân để người khác được hưởng bình yên, hạnh phúc. Trong xã hội, nếu “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”. Trả lời câu hỏi ấy, bộ đội sẽ không hề do dự. Họ sẵn sàng xung phong dấn thân vào nơi gian khổ, hiểm nguy với tinh thần “Vui gì hơn làm người lính đi đầu” (Tố Hữu). Người lính nhận về mình sự thiệt thòi để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội. Tinh thần đó, lý tưởng đó, hành động đó thật đáng trân trọng biết bao!

Sự hy sinh của bộ đội đã tạc vào lòng nhân dân hình ảnh vô cùng đẹp đẽ. Mới đây, đại dịch Covid-19 quét qua là lúc người lính xông pha diệt “giặc” nguy hiểm này. Một lần nữa, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ lại tỏa sáng, truyền thêm niềm tin cho cộng đồng xã hội. Nhân dân nhìn thấy bộ đội là thấy an lòng. Khi các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, bộ đội đến từng nhà trao quà an sinh, chữa bệnh, giúp tiêm vaccine, tuần tra, bám chốt, lo hậu sự cho người dân qua đời vì Covid-19... Chính trong thời điểm khó khăn, gian khổ đó lại càng tỏa sáng đức hy sinh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Biết bao cán bộ, chiến sĩ phải gác lại việc riêng, ngày đêm dầm mình trong sương gió canh gác, chốt chặn, phòng, chống dịch. Có nhiều đồng chí vì nhiệm vụ mà người thân ra đi không thể về chịu tang, đành vái vọng từ xa. Những sự hy sinh thầm lặng đó đâu dễ gọi tên.

2. Giữa thời bình, niềm vui ngập tràn trên từng nẻo đường, góc phố. Bình yên hiện hữu trên mỗi gương mặt người. Hạnh phúc nhân lên trong từng mái ấm. Thế nhưng xin hãy nhớ rằng, nơi biên cương, hải đảo, ở những đồn biên phòng, kho quân khí, trạm radar, nhà giàn xa xôi vẫn có những người lính ngày đêm lặng thầm thực hiện nhiệm vụ. Họ công tác, sinh hoạt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa bàn xa xôi, phức tạp, cơ sở vật chất khó khăn, thiếu thốn. Nhiều đồng chí đã gắn bó cả thanh xuân nơi miền biên viễn hay ngoài trùng khơi. Đâu chỉ khó khăn về điều kiện công tác, họ còn thiếu thốn tình cảm, hơi ấm gia đình. Những khi mọi người sum họp bên người thân, họ chỉ biết đứng lặng dõi về quê hương; những khi mọi người được vui chơi, ca hát, họ phải dầm mình trong màn sương gió lạnh; những khi mọi người quần áo tinh tươm dạo bước nơi phố phường thì họ lặng lẽ hành quân giữ chắc tay súng...

Đôi khi niềm ước mong của bộ đội rất giản dị, chỉ là một bữa cơm bên gia đình, một cái ôm thật chặt với con yêu. Ở chiều ngược lại, nơi hậu phương là sự khắc khoải đợi chờ, con mong cha, vợ ngóng chồng ngày về sum họp. Thế nên, không những người lính hy sinh mà gia đình, người thân của họ cũng phải chịu thiệt thòi. Nói đến hy sinh đâu chỉ là mất mát, ra đi, mà sự hy sinh còn biểu hiện sinh động từ những điều rất nhỏ. Ấy thế nhưng nếu không đủ mạnh mẽ, chúng ta cũng không dễ hy sinh những điều nhỏ như thế.

3. Thời nay, khi cuộc sống xã hội phát triển, sự so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa được và mất, thiệt và hơn càng rõ nét hơn, không phải ai cũng dễ dàng nhận lấy phần khó khăn, gian khổ. Bộ đội cũng không nằm ngoài những tác động từ đời sống xã hội, những áp lực vô hình ảnh hưởng đến tâm tư, nguyện vọng của mỗi người. Phía sau niềm vinh dự, tự hào vẫn còn những nỗi niềm trăn trở của người lính khi phải hy sinh những lợi ích bản thân vì nhiệm vụ chung. Bởi vậy, bộ đội rất cần sự quan tâm và chia sẻ từ xã hội. Sự động viên thể hiện ở các chính sách hỗ trợ thiết thực đối với bộ đội, nhất là chế độ về đất ở, nhà ở, tiền lương, nghỉ phép, trợ cấp... để quân nhân và gia đình họ có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn.

Trong cuộc sống hiện đại, mỗi quân nhân cũng ít nhiều chịu sự chi phối bởi các mối quan hệ. Hậu phương là một trong những nỗi lo của người lính khi xa nhà. Cha mẹ, vợ con bộ đội đang cần những sự quan tâm thiết thực như bao gia đình khác, nhưng vì điều kiện công tác xa nhà mà không phải lúc nào quân nhân cũng lo toan chu đáo, vẹn tròn. Thế nên, để bộ đội yên tâm công tác, để mỗi tổ ấm của người lính thực sự là bến neo đậu bình yên của họ, mong sao có sự chăm lo nhiều hơn nữa từ các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương. Thật ý nghĩa biết bao khi gia đình quân nhân khó khăn được kịp thời giúp đỡ, tổ ấm quân nhân hạnh phúc được tôn vinh, con em bộ đội được khuyến khích, tạo điều kiện trong học tập, công tác. Mỗi hành động, việc làm ý nghĩa từ xã hội sẽ là động lực để cán bộ, chiến sĩ quân đội và gia đình họ có thêm niềm tin vượt mọi khó khăn, tiếp tục phấn đấu, cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc và nhân dân./.


TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội đang ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Thông qua các hội, nhóm này để cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị…

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

Thực tế đang diễn ra hoàn toàn trái ngược với những gì mà các thế lực thù địch đang lu loa trên mạng xã hội. Một số dẫn hứng cụ thể đó là:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) đến Quốc hội khóa XV, có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26% và có gần 40% đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này. Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5%; cấp huyện đạt 27,9%. Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ.

Những thành tựu đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận: Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới; và là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.


PHỤ NỮ VIỆT NAM XỨNG ĐÁNG TÁM CHỮ VÀNG“ANH HÙNG– BẤT KHUẤT– TRUNG HẬU – ĐẢM ĐANG”

 Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong hàng ngàn năm lịch sử ấy phụ nữ giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Họ là những người chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, họ là những người lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, họ còn là những người sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng. Chính vì có vai trò quan trọng trong xã hội, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng việc xây dựng và phát triển tổ chức của những người phụ nữ Việt Nam. Đảng chỉ rõ: “Nếu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà chưa giải phóng phụ nữ thì cách mạng mới chỉ là một nửa”.

-Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản diễn ra từ ngày 6/1/1930 - 8/2/1930, đã quyết định thành lập các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo, trong đó có Hội phụ nữ Giải phóng. Ngay sau đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất (14 - 31/10/1930) cũng đã thông qua Nghị quyết về Phụ nữ vận động, đồng thời đề ra Điều lệ Phụ nữ Liên hiệp Hội./.

PHẢI CÓ QUYẾT TÂM CAO ĐỂ VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN LÀM TRÒN NHIỆM VỤ

Trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”... Lời dạy của Người là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ cũng như toàn quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích trong kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy vũ khí, trang bị của Quân đội ta còn thua kém địch gấp nhiều lần, nhưng nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, phấn đấu rèn luyện, bộ đội ta vừa chiến đấu, lấy vũ khí của địch đánh địch, vừa tự nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, quân đội của một nước nhỏ, trang bị thô sơ, chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, đã đánh bại đội quân nhà nghề, được trang bị hiện đại của một cường quốc thực dân.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như: Ấp Bắc, Vạn Tường, Ba Gia, Plây Me, Đường 9-Nam Lào... Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhờ vậy, bộ đội ta càng đánh càng mạnh, dũng mãnh tiến công địch rộng khắp ở cả vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ để nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ). Từ thực tiễn huấn luyện, SSCĐ và công tác, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được phát huy, lan tỏa, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao…

Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế-xã hội; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa mới trong các khu dân cư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội...

Không chỉ thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, quân đội còn nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quân đội đã triển khai hàng trăm điểm cách ly, tổ chức cách ly cho hàng trăm nghìn người dân. Để canh giữ biên cương, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ không quản nguy hiểm đến tính mạng, tổ chức hàng nghìn chốt chặn giữa rừng sâu để ngăn chặn dịch tràn vào đất nước…

Trong cuộc chiến phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ-cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, quân đội luôn xung kích đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong năm 2021, nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản gian khổ, hy sinh có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, giúp dân phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ, tìm kiếm cứu nạn. Càng trong gian khó, hiểm nguy, trong mất mát, đau thương thì tình quân dân lại càng thêm ngời sáng…

Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam cần tiếp tục học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác, tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó, không ngừng học tập và rèn luyện, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, xây dựng động cơ, quyết tâm cao, rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC TỰ HÀO!

 Việt Nam một đất nước tuyệt vời có những cánh rừng bát ngát, đồi núi trập trùng, đồng lúa rộng cánh cò bay, có đủ cả núi non biển sâu, những con sông uốn lượn xẻ dọc từng mảnh đất để chu cấp cho ta phù sa và tôm cá.

Đất nước ta đẹp thế mà có người không thích nó, không yêu nó, nỡ lòng nào mà dũ bỏ nó, tàn phá nó, nỡ lòng nào bỏ nó mà ra đi. Nếu như tất cả chúng ta bỏ nó mà đi, để nó cô quạnh, để nó bị người ta lấn chiếm và khai thác nó. Chúng ta đau, tổ tiên chúng ta cũng đau chứ!

Đất nước nào mà không trải qua những thăng trầm của lịch sử? Chỉ học qua sách vở về lịch sử nước nhà, chúng ta đã thấy tổ tiên chúng ta gìn giữ đất nước này với biết bao công sức, kể cả máu và xương. Lịch sử cận đại cũng đủ cho chúng ta thấy điều đó.

Các thế lực ngoại bang muốn chúng ta nghèo, muốn chúng ta làm nô lệ, muốn chúng ta là những kẻ tôi tớ để họ sai khiến. Những kẻ muốn chúng ta như thế đương nhiên là những kẻ vừa giàu vừa mạnh. Đâu phải chúng ta muốn nghèo, họ làm cho chúng ta kiệt quệ như vậy đấy chứ? Nếu chúng ta không vùng lên để làm chủ giang san thì chúng ta vẫn còn nghèo, vẫn là kẻ tôi tớ. Vâng, cuộc Cách mạng Dân chủ Nhân dân ra đời chính là nhằm mục đích đó.

Người Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, sẵn sàng hy sinh để đạt được điều đó. Một khi đã đạt được rồi thì chúng ta gắn bó với nó, chăm chút cho nó ngày càng giàu mạnh, ngày càng đẹp hơn. Bạn có ngôi nhà riêng để bạn chăm chút thì chúng ta có ngôi nhà chung, chúng ta mỗi người một tay chăm chút nó.

Chân lý thật đơn giản như vậy mà vẫn còn có người không hiểu. Nhiều người quên mất những năm tháng cả đất nước kiệt quệ, nghèo đói hiển hiện khắp nơi, thiên nhiên bị chất độc và bom đạn cầy xới, tàn phá. Trong hoàn cảnh nghèo đó ấy chúng ta đứng lên, rũ bùn mà đứng lên, xây dựng lại ngôi nhà chung của chúng ta.

Chỉ bằng sức lực của chúng ta, chúng ta đã dựng nên biết bao công trình – nào đào hầm xuyên núi cho việc đi lại thuận tiện hơn; nào việc cắm sâu những mũi khoan xuống đáy biển để dò tìm mạch dầu mà khai thác; nào những cây cầu dài cầu ngắn bắc qua sông cái sông con; nào lúa chất đầy kho, đang từ một nước thiếu ăn trở thành nước đứng đầu về xuất khẩu gạo, mà lại là loại gạo ngon nhất thế giới nữa chứ! Rồi mấy ngày hôm nay, hàng ngàn xe chở trái cây, hải sản chờ đợi để đưa vào một thị trường với hàng tỷ dân, mới chỉ một vụ, chúng ta đã thu về trên một tỷ USD từ thị trường này.

Ngày xưa làm gì có cảnh này? Đúng không? Nhiều người quên mất rằng để được như vậy chính là từ công sức của mỗi chúng ta chứ có người ngoài nào vào đây làm thay chúng ta? Công sức của chính chúng ta bỏ ra thế mà lại quên, lại oán lại trách!

Còn thể chế chính trị hiện nay, nó hình thành để phục vụ cho ai? Nó đâu có phục vụ cho những nhà tài phiệt, cho nhân dân đó chứ! Nếu không có thể chế chính trị này thì tài nguyên trên rừng, trong lòng đất, dưới đáy biển khơi đã nằm trong tay các nhà tư sản mại bản, như những nước có thể chế được gọi là “dân chủ” mà thực chất dân đầu có được làm chủ? Tất cả tài nguyên quốc gia chỉ nằm trong tay một số người.

Ấy thế mà người ta ca ngợi mãi cái thứ dân chủ ấy. Không lẽ dân chủ nghĩa là chia hết tài nguyên quốc gia cho trăm triệu dân để mỗi người làm chủ một ít, tự ý khai thác theo sở thích?

Một thể chế ra đời dám thách thức cả một hệ thống luôn rình rập để chống lại, để phá hoại, để làm cho nó sụp đổ. Nhưng dù vậy nó vẫn đứng vững và phát triển, và người ta đã định ra mục tiêu trong hai mươi năm nữa đất nước ta sẽ trở thành một quốc gia giàu có. Một quốc gia mà làm được như vậy là vĩ đại chứ, là đáng tự hào chứ?

Cũng buồn lòng vì trong một gia đình có những đứa con hư. Chúng nghe theo sự lôi kéo của các tổ chức chống đối ở nước ngoài, nhận những đồng tiền nhơ bẩn, vâng lời chúng về phá hoại gia trang, làm băng hoại truyền thống của dân tộc.

Cái gì làm nên sự giàu có đó? Là chúng ta, người sẽ chăm chút và giữ gìn ngôi nhà chung với sự giúp đỡ vô tư của bạn bè. Là chúng ta có tấm lòng yêu quý nó, sẵn sàng đứng ra vun đắp nó, bảo vệ nó. Nếu ai không có ý thức và tấm lòng như vậy đều là những kẻ vô ơn, không đáng để người đời tôn trọng.

Tôi tự hào về quê hương tôi, vì dân tộc tôi, vì chính quyền chúng tôi có!


ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ 8 CÂU NÓI KHẮC CỐT GHI TÂM!!!

 Mặc dù đã mãi mãi ra đi, nhưng hình ảnh về vị tướng tài cả đời lo cho dân, cho nước, hy sinh rất nhiều để người dân có được cuộc sống thái bình sẽ mãi mãi sống trong lòng hàng triệu người Việt Nam. Cùng khắc cốt ghi tâm 8 câu nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để tưởng nhớ đến Người anh hùng của Dân tộc.

1. Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó.” - Câu nói được Đại tướng nhắc đến trong ngày vị lão tướng cận kề tuổi 100, khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng các thành viên Chính phủ đến chúc thọ mong đại tướng giữ gìn sức khỏe, trí tuệ minh mẫn, trường thọ để tiếp tục có những ý kiến đóng góp quý giá cho Đảng và nhà nước.

2. “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!”

3. “Mỹ thua ở Việt Nam vì Mỹ không hiểu người Việt Nam.”

4. “Giải phóng dân tộc là nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước, của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân chúng tôi quyết tâm chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc.”

5. "Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam” - Vào ngày 9/11/1995, tại nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Robert McNamara (cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ) gặp nhau.  Khi phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?” Câu nói này đã được Đại Tướng nói ra và trở thành câu nói khắc cốt ghi tâm trong lòng người Việt.

6. “Nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng Cách mạng.”

7. “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng.”

8. “Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình"./.


NỘI CHIẾN Ư? ĐÓ LÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC TA!

     Lâu nay trên khắp các diễn đàn người ta cố nhồi nhét luồng tư tưởng của chế độ ngụy quân, ngụy quyền rằng, từ năm 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến", là '"cuộc chiến huynh đệ tương tàn". Từ đó họ gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc ta là chiến tranh Việt Nam. Mục đích cuối cùng là xuyên tạc lịch sử, xem nhẹ, phủ nhận chiến công của cha ông ta trong cuộc trường chinh vĩ đại nhất thế kỷ XX. Mới đây tại Đà Lạt, Lâm Đồng ca sĩ Khánh Ly tự do trình diễn bài hát “Gia Tài Của Mẹ”, trong đó có đoạn “hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Không phải ngẫu nhiên mà Khánh Ly hát bài hát này, đó là một sự sắp xếp có chủ ý hòng đánh bùn sang ao, vì bản thân Khánh Ly luôn tiếc nuối chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn, tham gia nhiều hội, đoàn chống cộng ở hải ngoại.

Muốn biết cuộc chiến có phải là nội chiến hay chiến tranh vệ quốc thì trước hết cần phải chiết tự cụm từ "nội chiến". Nội chiến tức là khi mâu thuẫn đối kháng, không thể điều hoà giữa các phe phái trong cùng một nước, các bên tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Ví như cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh hay cuộc nội chiến Nam - Bắc Hoa Kỳ là ví dụ điển hình của nội chiến. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới.
 
Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến!

Nói thế để hiểu rằng, từ 1954 - 1975, Mỹ mới là người quyết định chứ không phải là ngụy. Điều đó đã được minh chứng qua câu nói của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một đời anh minh và thăng hoa trong sự nghiệp, nhưng đối với ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” có thể xem như là vết đen trong sự nghiệp sáng chói của ông. Các báo, đài trong nước đồng loạt ngợi ca Khánh Ly. Công bằng mà nói thì Trịnh Công Sơn và Khánh Ly như thể được trời sinh ra để dành cho nhau. Không ngoa khi nói rằng, những ca khúc của Trịnh Công Sơn chỉ thật sự phát huy hết cái tứ của nó khi được Khánh Ly trình diễn. Tách bạch âm nhạc với chính trị thì rõ ràng là khen ngợi Khánh Ly cũng là chuyện thường tình. Thế nhưng trên đời này chẳng có thứ âm nhạc nào có thể thoát ly khỏi yếu tố xã hội, đời sống con người vì như thế thì âm nhạc chẳng khác nào thứ hư không. Do đó âm nhạc luôn gắn với chính trị, đó mới đích thực là âm nhạc. Đó mới là nghệ thuật vị nhân sinh. Khánh Ly đã hết thời, sắp hết đời. Cũng như bao ca sĩ hải ngoại từng tuyên bố “tôi sẽ không về Việt Nam chứng nào cộng sản còn”. Vậy nhưng những Chế Linh, Khánh Ly, Đan Nguyên…lũ lượt nối đuôi nhau về nước trong sự ngỡ ngàng của nhân dân Việt Nam. Chẳng có gì để ngợi ca những người chống lại quê hương đất nước, hết thời thì kéo hơi tàn về Việt Nam kiếm ăn cả./.
Yêu nước ST.

"HIỆN TƯỢNG ĐOÀN NGỌC HẢI" TẬP MỚI CHĂNG?

         Trước đây tui rất có cảm tình với anh, bởi tui thấy đó là một người cán bộ năng nổ, nhiệt tình, quyết đoán và không ngại va chạm trong công vụ, để đem lại điều hay, điều tốt đẹp cho cộng đồng. Một người cán bộ như thế, thời nào cũng đáng trân trọng, thời nay lại càng đáng quý. Khi anh quyết định "từ quan", vì nhận thấy chức vụ mới dầu to hơn chức vụ đang đảm nhiệm, nhưng không phù hợp với năng lực, sở trường của mình; khi đó nhiều ý kiến khác nhau, còn tui vẫn quý trọng anh và cho rằng anh là một con người "khí khái", không màng chuyện đua chen, chức tước. Một con người như thế thời nay không phải có nhiều. Khi nghỉ việc công rồi, anh tham gia công tác "Thiện nguyện", đó là việc làm mà không phải ai cũng dám dấn thân, bởi dễ mang điều tiếng "Thị phi" của người đời. Ngày đó giữa bao ý kiến nhiều chiều, tui đã có bài viết về anh "Hiện tượng Đoàn Ngọc Hải", để đánh giá về những việc làm của anh một cách "Công bằng" theo góc nhìn của mình.

Từ đó đến nay, trong suy nghĩ tui cảm nhận về con người thật của anh có những thay đổi (!!?), qua việc anh giao lưu, gắn bó với những thành phần "không bình thường" về tư tưởng đối với chế độ hiện tại bây giờ. Còn anh dần dần biến mình thành một con người cũng "không bình thường" trong lời nói, cũng như một số việc làm và sự "dị hợm" về mặt hình thức bên ngoài (!?). Đành rằng ý thích của mỗi cá nhân là khác nhau, nhưng sự "dị hợm" thì trong xã hội là quá ít ỏi. Thường là những người đó họ muốn tạo ra sự khác người, buộc ai cũng phải chú ý đến mình, để thực hiện một mục đích sâu xa nào đấy. Không hiểu anh muốn mọi người phải quan tâm đến anh về việc làm, hay về điều gì sâu kín bên trong !? Một sự "phản kháng" tích cực", hay ẩn ý điều gì của sự tương phản "hai mặt " trong một con người ?  

Với sự quý mến từng có, tui mong anh hãy vẫn là một con người "Bình thường" và tiếp tục làm những việc có ích cho cộng đồng, cho đất nước. "Làm Quan có số", hãy chấp nhận điều đó để nhẹ lòng mình hơn. Người như anh và những "thăng trầm, tâm tư, trầm uất" đó, là đối tượng số một cho những kẻ có mưu đồ đen tối tiếp cận, lôi kéo để sang một hướng khác, nghĩa là con đường ngược lại điều anh đã từng xác định cho cuộc đời. Khi đó dầu muốn quay đầu, e rằng cũng muộn. Mong anh vẫn là "Hiện tượng Đoàn Ngọc Hải" như trước, chứ đừng bước sang tập mới là "đi tàu suốt" luôn đó. Bởi ranh giới giữa hai tập "HIỆN TƯỢNG" là rất mong manh!



Yêu nước ST.

CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN UNCLOS 40 NĂM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

 Đặt nền móng thiết lập một trật tự quốc tế mới trên biển

 10/12/1982 đánh dấu một sự kiện pháp lý quan trọng trong quá trình phát triển của luật pháp quốc tế, đó là sự ra đời của một văn kiện được coi như bản Hiến pháp của biển và đại dương, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tiếp theo đó, ngày 16/11/1994, UNCLOS 1982 bắt đầu có hiệu lực.

Sau 4 thập kỷ ra đời, UNCLOS 1982 vẫn còn nguyên giá trị pháp lý. Đến nay đã có 167 quốc gia tham gia Công ước, trong đó có 164 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc.

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đóng vai trò quan trọng trong đời sống luật pháp quốc tế, giúp khẳng định chủ quyền trên biển của các quốc gia, từ đó góp phần gìn giữ môi trường biển, an toàn và hòa bình.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao (thành viên Ủy ban Luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2027), Công ước Luật biển năm 1982 là Hiến pháp đại dương bao gồm rất nhiều các điều khoản, bao trùm tất cả các lĩnh vực của Luật biển quốc tế.

[Việt Nam mong Nhóm bạn bè UNCLOS 1982 sẽ tiếp tục phát triển]

“Công ước đã tạo nền móng để thiết lập một trật tự quốc tế mới trên biển và cân bằng lợi ích của tất cả các quốc gia đã phát triển và đang phát triển. Đây là Công ước lần đầu tiên xác định tất cả các vùng biển ở trên thế giới,” 

Công ước cũng đưa ra những quy định chung về bảo tồn tài nguyên, phát triển tài nguyên một cách bền vững và điều chỉnh tất cả những hoạt động trên biển, bao gồm nghiên cứu khoa học biển, đặt cáp dưới đáy biển...

Cùng với đó, Công ước cũng là hiến chương, điều lệ cho việc thành lập ra tất cả những tổ chức quốc tế lớn về biển như Tòa án quốc tế về Luật Biển, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa - cơ quan quyền lực về đáy đại dương. Đặc biệt, Công ước cũng  ra cơ chế để giải quyết những tranh chấp về biển.

Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ làm rõ thêm ý nghĩa, giá trị của UNCLOS. Công ước này không chỉ là thiết lập và xác lập trật tự pháp lý trên biển mà còn đưa ra những khái niệm rất mới như đường cơ sở, những vùng đặc quyền và nhiều khái niệm khác.

“Công ước đã chấm dứt tình trạng lộn xộn, tranh chấp và từ nay mở ra một hành lang pháp lý mới để các quốc gia có thể dựa vào đấy để bảo vệ, quản lý các quyền và lợi ích hợp pháp trên biển và đại dương,” 

Giáo sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về UNCLOS 1982 cũng như Luật biển quốc tế, thuộc Đại học New South Wales, Australia cũng cho rằng: “Điểm đặc trưng duy nhất chỉ có ở UNCLOS, đó là nó đã thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc. Nếu hai bên xảy ra tranh chấp, họ có thể viện dẫn UNCLOS để giải quyết tranh chấp. Và quan trọng nhất, đây là một thỏa thuận trọn gói. Có nghĩa là khi bạn đã ký vào công ước, bạn không thể lựa chọn những phần bạn muốn tham gia. Bạn phải tuân thủ tất cả các quy định. Nếu chúng ta thực sự muốn một trật tự dựa trên luật lệ, hãy khiến UNCLOS giống như một trọng tài và khi đưa ra một thẻ đỏ, cầu thủ phải rời khỏi sân.”

Đại sứ Đặng Đình Quý, nguyên Trưởng Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc khẳng định hơn bao giờ hết, cộng đồng quốc tế cần vững vàng trong việc duy trì quy định pháp lý trên các đại dương như UNCLOS đã thiết lập. Các quốc gia đều phải tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý của Công ước.

“Muốn duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trên không gian biển, phải áp dụng UNCLOS. Đó là áp dụng theo cách mà đại đa số các nước trên thế giới đồng ý. Cho nên, UNCLOS có vai trò ngày càng quan trọng đối với việc duy trì hòa bình, an ninh trên biển, đối với việc khai thác biển một cách bền vững, vì lợi ích của từng nước và vì lợi ích của tất cả," Đại sứ Đặng Đình Quý nhấn mạnh.

Để Việt Nam tiến ra biển, trở thành quốc gia mạnh từ biển

Nhấn mạnh Việt Nam là một quốc gia biển, có bờ biển dài hơn 3.260 km, với 4000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời có đến 28 tỉnh, thành phố/63 tỉnh, thành phố giáp biển, có nhiều lợi ích gắn liền với biển, các vị khách mời cho biết nhận thức rõ tầm quan trọng của biển đảo, Việt Nam đã tích cực tham gia quá trình đàm phán xây dựng UNCLOS.

Van dung UNCLOS 1982 de dua Viet Nam tro thanh quoc gia bien manh hinh anh 2Cá ngừ đại dương được sơ chế trước khi ướp lạnh

Ngay sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chỉ hai năm sau, Việt Nam đã cử đoàn cán bộ tham dự các hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển và tiếp thu những tinh thần của dự thảo văn kiện của UNCLOS.

Điều nay đã góp phần để Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, ngày 12/5/1977.

Tiếp sau đó, đến khi Việt Nam ban hành Luật Biển năm 2012, chúng ta đã có tới có hơn 500 văn bản pháp quy ở Trung ương và địa phương liên quan đến quản lý Nhà nước về biển đảo.

“Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên mà sau này đã được khẳng định trong Luật Biển năm 2012, giúp chúng ta có cơ sở pháp lý phù hợp với Luật Biển quốc tế để tiến ra biển, trở thành quốc gia mạnh từ biển”,

Sau khi UNCLOS được thông qua, Việt Nam là một trong 107 nước đầu tiên ký và sớm tiến hành thủ tục phê chuẩn. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về việc phê chuẩn UNCLOS.

Bằng việc phê chuẩn UNCLOS, Việt Nam đã tỏ rõ ý chí thực hiện các quyền trong các giới hạn cho phép của UNCLOS, có tính đến quyền tự do của các quốc gia khác.

Trong bối cảnh đó, ngày 21/6/2012, Luật Biển Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2013. Luật Biển Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quy định của UNCLOS và pháp luật quốc tế.

Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, cũng như trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến biển đảo nói riêng.

PHAO

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ TÀ ĐẠO HIỆN NAY

 

Thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, một số người đã đứng ra thành lập và tuyên truyền một số hình thức của tà đạo như “Long Hoa Di Lặc”, “Chân không”, “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”… Hoạt động của các tà đạo này đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, nổi lên trong số này là “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo). Sau đây, Lâm Đồng Xứ Ngàn Thông xin cung cấp một số thông tin nhận diện các tà đạo để mọi người biết, cảnh giác:

          1. VỀ NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU

Luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần… Các tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện, nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người dân.

          2. VỀ LÝ THUYẾT, “GIÁO LÝ”, “GIÁO LUẬT”

Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống (đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng “nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống chế quần chúng.

          3. VỀ MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG

Hầu hết các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ” (người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng, “thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào các hoạt động chống chính quyền.

          4. VỀ NGHI LỄ HÀNH ĐẠO

Mang nặng yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ, các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục.

                                                                                      St PQ.