Thứ Hai, 10 tháng 10, 2022

Nhận diện và đấu tranh với luận điệu đòi "Đa nguyên, đan đảng mới có dân chủ"

 Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế.

 

“Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi”, bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân dân, số 1672, ngày 11 tháng 10 năm 1958.
Trong hoàn cảnh ngành nông nghiệp đứng trước nhiều thách thức, hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất tại nhiều địa phương trên cả nước. Qua nghe báo cáo và thực tế kiểm tra, Bác nhận thấy nhân dân và các cán bộ thấy lúa tốt thì ít săn sóc, thấy sâu nhiều thì ngại khó, đấy là một sự chủ quan hết sức nguy hiểm, Người đã viết bài để kịp thời nhắc nhở, phê bình và chấn chỉnh cán bộ và nhân dân không được chủ quan coi thường sâu bệnh, hạn hán để có được vụ mùa thắng lợi.
Nếu cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Đặc biệt đối với những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng... Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả, để từ đó không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Mặt khác, phải đề cao ý thức tự chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.
Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải luôn rèn luyện và thực hành tốt tính sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể, phải mắt thấy, tay sờ, tai nghe... nhất là trong chiến đấu. Có như vậy mới biết địch, biết ta, mới đưa ra được cách đánh phù hợp nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều nhất vũ khí, sinh lực địch, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân để giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sắc son lời thề danh dự “... thắng không kiêu, bại không nạn, gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, “nhiệm vụ vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. (Sưu tầm)

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản tại Việt Nam đã diễn ra tại Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị có ý nghĩa như một đại hội thành lập Đảng. Thực vậy, sau này Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 03/02 làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của các phong trào yêu nước, mở ra một thời kì mới của đất nước – thời kỳ đấu tranh cách mạng có sự lãnh đạo của Đảng.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Như vậy, chính thực tiễn đã chứng minh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là một sự thật không thể phủ nhận.

Hiện nay, trong khi toàn Đảng, toàn dân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, khơi dậy khát vọng xây dựng một đất nước Việt Nam cường thịnh, thì các thế lực thù địch vẫn không ngừng xuyên tạc, chống phá. Một trong những luận điệu chống phá cơ bản của chúng là đòi Việt Nam phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đang đảng đối lập”.

“Đa nguyên chính trị” là một khuynh hướng xã hội học - triết học xuất hiện từ đầu thế kỷ XVIII. Khuynh hướng này tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. “Đa nguyên chính trị” tất yếu gắn với “đa đảng đối lập”, bởi một hệ thống chính trị đa đảng là hệ quả tất yếu từ “đa nguyên chính trị”. Ngày nay, khẩu hiệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trở thành công cụ tư tưởng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá các nhà nước xã hội chủ nghĩa và các trào lưu tiến bộ trên thế giới. Chúng cho rằng, chế độ chỉ có một đảng lãnh đạo là độc tài, là mất dân chủ, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự trì trệ, tiêu cực của xã hội. Chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới có thể mang lại một nền “dân chủ thực sự”. Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, đây là một luận điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, thậm chí ngay cả một số cán bộ, đảng viên. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến sự chia rẽ về chính trị, tư tưởng trong xã hội, cùng với đó là sự hoài nghi, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta.

Thứ hai, mưu đồ chực chất của “đa nguyên, đa đảng” là nhằm hạn chế, từ đó dần dần thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Một khi đạt được mưu đồ đó, các thế lực phản động sẽ ngóc đầu dậy, tranh thủ kiếm chác lợi ích cho bản thân mình.

Thứ ba, nếu mất cảnh giác trước luận điệu đòi “đa nguyên, đa đảng”, hệ quả tất yếu sẽ là đất nước hỗn loạn, mất ổn định, nền kinh tế đổ vỡ, văn hóa suy đồi… Đất nước khi ấy không thể có được nền độc lập thực sự, mà sẽ bị xâu xé, bị chi phối bởi các nước lớn. Mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta đã giành được, đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh, mất mát, sẽ bị tiêu tan.

Cần khẳng định rằng, “đa nguyên, đa đảng” cũng có yếu tố tích cực của nó, song thực chất “đa nguyên, đa đảng” không hề đồng nhất với “dân chủ thật sự”. Bởi lẽ “dân chủ” là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau. Trong bất kỳ xã hội nào, dù nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng, nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, chăm lo cho nhân dân, tôn trọng nhân dân… thì xã hội đó mới có “dân chủ thật sự”. Ở Việt Nam, trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước đều thể hiện rõ quan điểm “mọi quyền lực thuộc về nhân dân”, “nhân dân lao động là người chủ đất nước”... Dân chủ ở Việt Nam hiện nay là dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ hướng về đông đảo quần chúng nhân dân, rất khác biệt so với nền dân chủ tư bản chủ nghĩa, vốn chỉ hướng đến bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản. Chính vì vậy, không thể vì một vài hạn chế, một vài hiện tượng mất dân chủ ở một số nơi rồi cố tình phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Sự ra đời của một thể chế chính trị hay một đảng phái chính trị phải do nhu cầu của thực tế xã hội, phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự thành lập của một đảng phái không thể chỉ để “làm phong phú, đa dạng thêm ý thức hệ tư tưởng” như một số kẻ rêu rao, mà tự thân nó phải làm tròn bổn phận của mình, với tư cách là một lực lượng chính trị, để mang lại lợi ích cho dân tộc, cho đất nước. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hiện nay không hề có một nhu cầu nào như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng đại diện duy nhất cho lợi ích của toàn dân tộc, ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Nhu cầu về đảng đối lập thực chất chỉ để phục vụ cho lợi ích nhỏ nhen, thấp hèn của một nhóm người chỉ vì bản thân mà bất chấp.

Tóm lại, Việt Nam là một đất nước nhỏ bé, thường xuyên bị kẻ thù nhòm ngó. Xuyên suốt lịch sử, dân tộc ta đã phải đoàn kết để dựng nước và giữ nước. Do đó, tinh thần đại đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là hiện thân cao nhất cho tinh thần đại đoàn kết ấy. Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ hoặc mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước. “Đa nguyên, đa đảng” không phù hợp với hoàn cảnh nước ta và chắc chắn không thể được nhân dân ta chấp nhận./.

 

Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.
Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản.
Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn.
Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. (trích báo QĐND)

Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất

Bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu.
Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự.
Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”.

LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG

Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.
Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo. (trích báo QĐND)

NÂN CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT


Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao", BCH Trung ương đề ra mục tiêu tổng quát hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và một số luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất; hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đồng bộ, đa mục tiêu và kết nối liên thông. Hoàn thành kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất; loại bỏ khâu trung gian, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp, kèm theo cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Giải quyết cơ bản những tồn tại, vướng mắc có liên quan đến quản lý và sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế; đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm các đô thị lớn; đất lấn biển; đất tôn giáo; đất nghĩa trang; đất kết hợp sử dụng nhiều mục đích; đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Đến năm 2030, hệ thống pháp luật về đất đai cơ bản được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khắc phục bằng được tình trạng sử dụng đất lãng phí, để đất hoang hoá, ô nhiễm, suy thoái và những tồn tại, vướng mắc về quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại.

 

Nhận diện về xã hội dân sự và tổ chức “xã hội dân sự”

 Xét về bản chất, xã hội dân sự (Civil Society) là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành, hoạt động trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Không thể phủ nhận xã hội dân sự là một bước tiến của loài người trong tổ chức cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý (nhà nước chuyển từ cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân,…) thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội đa dạng, phong phú. “Điều này phù hợp với xu thế: nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, được C. Mác đề cập trong lý luận về chủ nghĩa xã hội”. Theo đó, chặng đường tiến bộ đáng kể của nhân loại biểu hiện ở vai trò tự quản trong cộng đồng ngày càng mạnh lên. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước, đó là các bộ phận hợp thành của xã hội dân sự.

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chếđộ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý.

Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tiếp tục thực hiện âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để hướng lái, thao túng, lôi kéo, chi phối các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật; tăng cường tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức phi chính phủ với mưu đồ tác động, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng, chuẩn bị điều kiện và tiền đề nhằm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Đó là sự xuyên tạc vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.

Đường lối quốc phòng, quân sự bảo vệ Tổ quốc - Sự phát triển các quan điểm

        Một là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trước kia, tư duy của chúng ta chủ yếu về chuẩn bị và đánh thắng trong các cuộc chiến tranh với phương châm tăng cường sức mạnh quân sự là cơ bản. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã phát triển nhận thức và tư duy mới với phương châm toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn, đó là bảo vệ Tổ quốc được thực hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, cả nhân tố bên trong và bên ngoài. Đại hội Đảng lần thứ XII chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” Như vậy, chủ động bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” vừa là quan điểm, vừa là phương châm chỉ đạo của Đảng trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế sâu, rộng. Quan điểm này thể hiện yếu tố thời gian và không gian bảo vệ Tổ quốc và hàm chứa tổng thể các giải pháp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xatrong đó, giải pháp về quốc phòng, an ninh là trọng yếu và đối ngoại giữ vai trò ngày càng quan trọng. Điều đó hoàn toàn phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của từng giai đoạn cách mạng, là sự lựa chọn sáng suốt nhất trong tình hình hiện nay.

        Hai là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Đại hội XII của Đảng xác định một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tiếp đó, Đại hội XIII bổ sung và khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Đây là quan điểm cơ bản, thể hiện sự phát triển tư duy, nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng về bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm đó làm rõ hơn, sâu sắc hơn về chủ trương, biện pháp, phương châm chỉ đạo cũng như yêu cầu đối với nhiệm vụ chiến lược quan trọng này trước sự tác động của tình hình.

Xác định quan điểm này nhằm xây dựng ý chí, quyết tâm chính trị cao gắn với sự kiên trì, bền bỉ đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân để bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiệnKiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc phải trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của đất nước. Khi xảy ra chiến tranh thì “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, thực hiện chiến tranh toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

        Ba là, xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”. Đây là một trong những quan điểm cơ bản, xuyên suốt, thể hiện sự phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng “thế trận lòng dân” trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Quan điểm đó cũng thể hiện sự sắc sảo, nhạy bén của Đảng trong đánh giá, dự báo tình hình, xác định mục tiêu, nội dung, phương châm cũng như nhấn mạnh sự tác động nhiều chiều (cả tích cực và tiêu cực) của hoàn cảnh mới đối với xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu xây dựng “thế trận lòng dân” phải nhằm tạo ra nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc để tăng cường nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Nội dung xây dựng gồm: tăng cường nhận thức, ý chí, niềm tin, tinh thần yêu nước, sự đồng thuận của nhân dân; sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong quy tụ, tập hợp nhân dân; khai thác, phát huy “sức dân” phục vụ sự nghiệp cách mạng.

        Bốn là, kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở chỉ đạo thực hiện mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển toàn diện, ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn. Trong đó, Đảng nhấn mạnh sự kết hợp các nhiệm vụ: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự kết hợp này với nội hàm rộng hơn và đây chính là điểm mới, điểm phát triển trong nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm đó nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, các nguồn lực trên các lĩnh vực (nội lực) để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Trong mối quan hệ giữa các lĩnh vực trên, Đảng xác định phát triển kinh tế là trung tâm; văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh quan trọng; quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đối ngoại ngày càng có vị trí quan trọng. Mỗi lĩnh vực đó có vai trò, tầm quan trọng riêng, hỗ trợ, thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển. Vì thế, không được coi nhẹ bất cứ nhiệm vụ nào, và điều quan trọng trong quá trình chỉ đạo thực hiện phải đồng thời kết hợp chặt chẽ với nhau ở mọi cấp độ, cả vĩ mô và vi mô trong mỗi khu vực, địa bàn cũng như trên phạm vi cả nước.

        Năm là, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đây là quan điểm, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thể hiện nhận thức, tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Để bảo vệ Tổ quốc, Đảng chủ trương phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đồng thời cũng chỉ rõ, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

PHAO

Bảo tồn tiếng nói của đồng bào các Dân tộc thiểu số

Từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số (DTTS) của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các DTTS trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi DTTS ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng DTTS, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các DTTS có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các DTTS khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình, thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như Mông, Ê Đê, Gia Rai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào DTTS được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào DTTS theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người DTTS vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào DTTS hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người DTTS được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị - xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

THỦ ĐOẠN NHẰM CHIA RẺ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc, nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó, chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người DTTS tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “Bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người DTTS tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người DTTS; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người DTTS với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo Người có uy tín trong đồng bào DTTS để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng DTTS ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người DTTS”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Bắt đối tượng Trương Văn Dũng để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước

 

Bắt đối tượng Trương Văn Dũng để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước

Ngày 21/5, Công an thành phố Hà Nội cho biết, Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam và Lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng, sinh năm 1958, trú tại phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội), để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Các Quyết định và Lệnh nêu trên đã được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phê chuẩn.

Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đang tích cực điều tra, làm rõ hành vi phạm tội của Trương Văn Dũng để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật

Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội đề nghị đưa lịch sử thành môn học bắt buộc cấp THPT

 

Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội đề nghị đưa lịch sử thành môn học bắt buộc cấp THPT

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp thu và quy định môn học lịch sử cấp trung học phổ thông (THPT) trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là môn bắt buộc.

Sáng 22/5/2022, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đã tổ chức phiên họp toàn thể lần thứ 3.

Tại phiên họp, Phó Chủ nhiệm Nguyễn Thị Mai Hoa đã báo cáo về việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông đối với môn lịch sử bậc THPT.

“Đa số các ý kiến không đồng tình đối với việc đưa môn lịch sử cấp THPT thành môn lựa chọn”, báo cáo của Ủy ban nêu nhiều lý do cho quan điểm này.

Trong đó, lịch sử là môn học đặc biệt quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ; giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống văn hóa, lịch sử; bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội. Từ đó, hình thành những phẩm chất của công dân Việt Nam, công dân toàn cầu trong xu thế phát triển của thời đại.

Cạnh đó, xét về tâm sinh lý lứa tuổi, học sinh THPT (từ 15 đến 17 tuổi) có sự trưởng thành về nhận thức, khả năng tiếp nhận tốt hơn về lịch sử đất nước và lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây cũng là lứa tuổi quyết định sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, định hướng giá trị của con người.

Xét về khoa học giáo dục, việc bồi dưỡng kiến thức lịch sử cho học sinh THPT là cần thiết nhằm phát triển con người toàn diện, khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của con người Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu học sinh không lựa chọn môn lịch sử ở cấp THPT (số lượng có thể lên tới 50% học sinh), các em sẽ không được tiếp cận với những kiến thức rất quan trọng, có ý nghĩa giáo dục đối với lứa tuổi này.

Trong khi, ở nhiều nước trên thế giới, môn lịch sử trong chương trình THPT luôn là môn học bắt buộc.

Từ đó, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục cho rằng, môn lịch sử có vị trí đặc biệt, có ý nghĩa rất quan trọng trong Chương trình Giáo dục phổ thông, học sinh cần được trang bị khối lượng kiến thức này, vì vậy cần tiếp thu ý kiến đông đảo của cử tri, các tầng lớp nhân dân theo hướng quy định môn lịch sử là môn học bắt buộc đối với cấp THPT trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với khối lượng kiến thức phù hợp.

Đồng thời, thiết kế bao gồm khối lượng kiến thức lịch sử (phần bắt buộc) và khối lượng kiến thức định hướng nghề nghiệp (phần lựa chọn).

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp thu và quy định môn học lịch sử cấp THPT trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là môn học bắt buộc.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường công tác tuyên truyền về Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nói chung, chương trình môn lịch sử nói riêng; để tăng thêm sự đồng thuận, ủng hộ của xã hội trong việc triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; đồng thời truyền cảm hứng cho học sinh yêu thích môn lịch sử.

Nêu ý kiến sau đó, nhiều đại biểu bày tỏ quan điểm điểm đồng tình kiến nghị trong báo cáo về việc quy định môn học lịch sử là môn học bắt buộc.

Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương), qua tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến của giáo viên đều đồng tình nên để môn lịch sử là bắt buộc.

Bà Nga cho hay, nguyên nhân khiến học sinh phổ thông không mặn mà với môn lịch sử là chương trình nặng về kiến thức hàn lâm, cách trình bày khá tẻ nhạt, phương pháp cứ ghi nhớ sự kiện, con số…

Do đó, bà Nga đề nghị cần thay đổi cách đánh giá và cần có tư duy tiếp cận mới mẻ, khuyến khích học sinh có sự nhìn nhận, đánh giá chứ không phải chỉ thụ động tiếp thu.

Qua tổng hợp các ý kiến và nghiên cứu chương trình môn lịch sử, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội thấy, chương trình được dạy tích hợp, là nội dung bắt buộc trong toàn bộ giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học và trung học cơ sở).

Khi môn lịch sử cấp THPT là môn học lựa chọn sẽ có 3 khả năng xảy ra:

- Nếu học sinh lựa chọn môn lịch sử là 1 trong 5 môn học lựa chọn, học sinh sẽ học tổng thời lượng 210 tiết/3 năm học (tăng 70 tiết so với Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 ).

- Nếu học sinh lựa chọn môn lịch sử là 1 trong 5 môn học lựa chọn, đồng thời lựa chọn chuyên đề học tập là môn lịch sử, học sinh sẽ học tổng thời lượng 315 tiết/3 năm học (tăng 175 tiết so với Chương trình Giáo dục phổ thông 2006).

- Nếu học sinh không lựa chọn môn lịch sử thì không học thêm tiết nào. Kiến thức phổ thông dừng lại ở kiến thức chương trình tiểu học, trung học cơ sở và tích hợp ở một số môn học khác. Về thời lượng học ít hơn Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 là 140 tiết.

Nguồn: Báo Thanh Tra

 

Xác định đối tượng và mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới


    Từ tư duy, nhận thức về xác định kẻ thù đến đột phá tư duy, nhận thức về xác định đối tác, đối tượng. Trước năm 1986, quan niệm của Đảng chịu sự ảnh hưởng của tư duy “bạn - thù”, nên bối cảnh khi đó, thường xác định kẻ thù. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã phát triển nhận thức, hình thành tư duy xác định đối tác - đối tượng và đến Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), khẳng định: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác và bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Xác định đối tượng, đối tác như vậy là sự phát triển đột phá, rất mới về tư duy, nhận thức của Đảng, khắc phục được nhận thức cứng nhắc về xác định “bạn - thù”. Đồng thời, mở ra nhận thức mới về đối tượng - đối tác và sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng - đối tác. Theo đó, trong đối tượng có những mặt cần tranh thủ hợp tác, trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh. Xác định đối tác - đối tượng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế. Thực tế, qua hơn 35 năm đổi mới, trên cơ sở nhận thức mới, tư duy mới, Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, đưa nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực, góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Từ tư duy, nhận thức về xác định mục tiêu, nhiệm vụ đánh thắng trong các cuộc chiến tranh đến tư duy, nhận thức về xác định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà không cần phải tiến hành chiến tranh. Trước đổi mới, tư duy, nhận thức của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của tư duy về chiến tranh, phải đánh thắng trong các cuộc chiến tranh. Quá trình đổi mới, Đảng đã phát triển nhận thức về mục tiêu, bảo vệ Tổ quốc toàn diện hơn. Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”2. Đến Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX), sau này trong Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày càng hoàn chỉnh hơn. Đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng chỉ rõ: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”3. Xác định như trên thể hiện rõ sự phát triển tư duy, nhận thức của Đảng, gắn kết chặt chẽ giữa hai mặt tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

    Cùng với coi trọng chuẩn bị đất nước, sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh dưới mọi hình thức, quy mô (nếu xảy ra), Đảng luôn đề cao mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc mà không phải tiến hành chiến tranh. Đó là sự phát triển nhận thức, tư duy lý luận đột phá đúng đắn, phù hợp với tình hình mới.

PHAO

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch không tách rời đấu tranh với chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch đó.

 

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch không tách rời đấu tranh với chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch đó.

Trước nay, trong đấu tranh Chống “luận điệu xuyên tạc, phản động, thông tin xấu độc trên không gian mạng” gọi tắt là “phản bác quan điểm sai trái, thù địch” ta thường hay nghe nói về phương châm, phương pháp, định hướng trong đấu tranh là: “phê bình việc, không phê bình người”, “nhìn việc không nhìn người”.

(Xin mở ngoặc nói thêm cho rõ: Quan điểm "phê bình việc, không phê bình người”, “nhìn việc không nhìn người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về đấu tranh phê và tự phê bình trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước trên tinh thần đồng chí. Quan điểm này không liên quan đến quan điểm đấu tranh chống kẻ thù tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Khi đấu tranh chống kẻ thù tư tưởng của Đảng phải trên tinh thần của chuyên chính vô sản).

Cùng với thời gian, được thực tế kiểm nghiệm và trên phương diện lý luận, chúng ta thấy rằng quan điểm nêu trên không phù hợp, không những làm triệt tiêu tính chiến đấu, thủ tiêu tính đấu tranh mà còn không tạo được hiệu quả. Bởi vì, chúng ta chỉ thường tập trung vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch mà thôi. Đây chỉ là cách đấu tranh ở phần ngọn, không giải quyết được cái gốc của vấn đề. Vì nếu chúng ta phản bác được luận điểm này, chúng lại tiếp tục đưa ra các quan điểm khác, ngày càng tinh vi, xảo quyệt và thâm độc hơn. Như vậy, khi chúng ta đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch mà né tránh đấu tranh với chủ thể của những quan điểm sai trái, thù địch đó thì khác nào “bắt cóc bỏ đĩa”, sẽ như “muối bỏ bể”. Quan điểm sai trái, thù địch này bị phản bác thì quan điểm sai trái, thù địch khác lại xuất hiện, có khi còn nguy hiểm hơn quan điểm sai trái, thù địch trước.

Vì sao vậy? Vì chủ thể hay nói rõ ra là con người, tổ chức sản xuất ra quan điểm sai trái, thù địch đó vẫn tồn tại mà không bị quần chúng nhân dân nhận diện, vạch trần, tiêu diệt, vẫn tiếp tục cho ra lò những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động khác để ru ngủ, lừa bịp quần chúng.

Đến đây, hàng loạt câu hỏi được đặt ra là: Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch như thế nào mới hiệu quả? Chúng ta đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch hay với chủ thể của các quan điểm sai trái thù địch?...

Có thể khẳng định, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà với phương châm chỉ đạo là “phê bình việc, không phê bình người”, “nhìn việc không nhìn người” đã phá sản, là sai lầm, là không triệt để. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, muốn đi đến thắng lợi, muốn đạt hiệu quả cao, nhất thiết phải truy đến tận gốc, tức là phải xác định chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch để phân loại và có biện pháp đấu tranh phản bác phù hợp. Điều đó có nghĩa là phải xác định chủ thể (con người, tổ chức) của các quan điểm sai trái, thù địch để đấu tranh trực diện.

Chủ thể, nguồn phát các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay có thể chia làm bốn loại: Kẻ thù giai cấp, kẻ thù Cách mạng, những kẻ phản bội Cách mạng, những kẻ a dua, hoang tưởng về chính trị.

Đối với kẻ thù giai cấp: Chúng ta xác định đây là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng. Do đó chúng ta không dao động, không nhân nhượng, luôn kiên định mục tiêu. Kẻ thù giai cấp thì phải tiêu diệt nó bằng công cụ bạo lực và vũ khí tư tưởng của chuyên chính vô sản.

Đối với kẻ thù của Cách mạng: Chúng là những kẻ đã thất bại trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta. Những kẻ bị mất đi quyền lợi về chính trị, kinh tế, dẫn đến chống phá ta bằng bất cứ cái gì mà chúng có, chúng tạo ra.

Đối với những kẻ phản bội cách mạng: Là những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoặc là những quần chúng bị lôi kéo, mua chuộc quay lưng lại chống Đảng, chống chế độ. Đây là lực lượng nguy hiểm nhất.

Đối với những kẻ a dua, hoang tưởng về chính trị: Là những người bất mãn trong cuộc sống, những người nhẹ dạ cả tin, suy thoái về đạo đức, lối sống, công thần, ngạo mạn, chỉ coi mình là trên hết, coi thường lãnh tụ, coi thường tổ chức, theo thuyết âm mưu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ. Để giành thắng lợi, đòi hỏi trước tiên là phải có nhận thức đúng mục tiêu, đối tượng, từ đó xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp. Điều quan trọng nhất là phải có quyết tâm chính trị và niềm tin vào chiến thắng, không nôn nóng nhưng cũng không chủ quan.

Như vậy có thể khẳng định rằng, hiện nay, trong đấu tranh chống xét lại, viết lại, lật sử, tôn vinh ngụy quân nhằm chính danh cho ngụy quyền, âm mưu hạ bệ thần tượng, giật đổ tượng đài của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong đời sống xã hội dứt khoát không thể theo tư duy né tránh kiểu như “phê bình việc, không phê bình người”, “nhìn việc không nhìn người” mà phải trên quan điểm “Nhìn việc phải nhìn người”, “phê bình việc phải phê bình người”, cần truy đến tận gốc, tức là phải xác định chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch để phân loại và có biện pháp đấu tranh phản bác phù hợp. Đối với chúng, nếu không giáo dục, giác ngộ được thì phải tiêu diệt bằng công cụ bạo lực và vũ khí tư tưởng của chuyên chính vô sản và xử lý bằng chế tài pháp luật của chế độ. Đồng thời trong cuộc đấu tranh này phải trên phương châm “không có vùng cấm”, “không tạo ra vùng cấm”, dù chủ thể của quan điểm sai trái, thù địch, quan điểm đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đó là ai, có địa vị gì trong xã hội.

Công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch muốn đi đến thắng lợi áp đảo trước kẻ thù, đạt được hiệu quả cao phải thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo: Đấu tranh với tinh thần cách mạng triệt để, không khoan nhượng và luôn trên thế tiến công.

Trịnh Lê Hoài Nam

Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

 Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.

1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945.

Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng.

Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 9-3-1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại.

Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh "nếu phía Việt Nam không hiếu chiến".

Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”.

Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25-4-1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 6-7-1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fon-tai-ne-bleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Mou-tet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18-10-1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Ar-gen-lieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14-9.

Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3. Ngày 20-11-1946, Val-luy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn.

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30-4-1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất.

Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19-3-1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13-6-1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28-4-1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là "chính phủ quốc gia", “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13-5-1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”. Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đã chứng tỏ điều đó.

Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961-1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969-1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10-8-1961); ném bom miền Bắc từ ngày 5-8-1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (8-3-1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27-1-1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

4. Vào những năm 1988-1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác-Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa.

Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao.

Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”.

Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

Nguồn: PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh/Báo QĐN