Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI

 

Hơn hai năm qua, trước diễn biến phức tạp và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống xã hội ở nước ta. Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng toàn dân, toàn quân và các tổ chức chính trị - xã hội đã sẻ chia, chung sức, đồng lòng, huy động mọi nguồn lực để phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ tính mạng, ổn định cuộc sống Nhân dân. Thế nhưng, dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tìm mọi cách xuyên tạc, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta; họ không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn đen tối nào; trong đó, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là thủ đoạn rất nguy hiểm.

Chúng lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, các nhà tự xưng là “dân chủ” vin cớ “bảo vệ nhân quyền” tạo ra nhiều “chiêu trò”, xuyên tạc, bóp méo sự thật về kết quả phòng, chống dịch Covid-19, đẩy mạnh chống phá Đảng và Nhà nước ta; họ dàn dựng các “kịch bản” tuyên truyền, xuyên tạc một cách công phu, tỉ mỉ, với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, Nhà nước, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ rêu rao: “Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao”; “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”; thâm hiểm hơn, họ còn tung ra những băng video phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để vu khống rằng “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”... Từ đó, họ vu khống Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, họ xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam.

Tuy nhiên, dù họ có “áp đặt, vu cáo” đến đâu thì họ cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng, Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và phát huy “dân chủ” và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của con người. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn hoạt động tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Khi đại dịch Covid -19 xảy ra, lây lan, bùng phát ở nước ta, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã chủ động, sáng tạo, phát huy vai trò nòng cốt, phối hợp với các cơ quan nhà nước ra lời kêu gọi, tuyên truyền, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái trong Nhân dân “lá lành đùm lá rách”, góp công, góp sức, góp tiền ủng hộ tuyến đầu phòng, chống dịch, bổ sung nguồn kinh phí của Chính phủ mua vaccine phòng dịch, góp phần ngăn chặn, kiềm chế sự gia tăng và đẩy lùi đại dịch Covid-19 bảo vệ tính mạng Nhân dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận và ca ngợi.

Những thành quả và quan điểm của Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là rất rõ ràng, đúng đắn. Thế nhưng trên một số trang mạng vẫn có những cá nhân, tổ chức tán phát bài viết xuyên tạc, bác bỏ, cố tình phủ nhận những thực tế về dân chủ, nhân quyền và những thành quả về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã phần nào làm thay đổi nhận thức, cách nhìn về bức tranh tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu và mở rộng. Họ phủ nhận tất cả, từ những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, một số người tự xưng mình là những người có “sứ mệnh” - những người “trung thành“ với Đảng, đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền”. Vậy thực chất quan điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” nhằm nói xấu chế độ, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong nước cấu kết với các nhóm phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài tổ chức: Diễn đàn, Thông luận cùng với “những điều kiến nghị của một công dân”, những kẻ cơ hội đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung bài xích nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước; đối lập Đảng, Nhà nước với Nhân dân và lực lượng vũ trang. Họ nhắc đi, nhắc lại luận điệu rằng, thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay là “không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo, là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; rằng, một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ.

Tình hình trên đặt ra trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; trong đó cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng và của cả hệ thống chính trị. Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch”1.

Như vậy, quan điểm của Đảng ta tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân phải thường xuyên, liên tục nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và phải đạt hiệu quả cao. Cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội đang đẩy mạnh thực hiện truyền bá những quan điểm, luận điệu sai trái, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam./.

                                                                                                       VHT.

 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CHÍNH LÀ BẢO VỆ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN.


Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đó là sự đúc kết, khái quát cô đọng và phản ánh sâu sắc nhất thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, trở thành triết lý

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Một là, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào theo đạo về đường lối, chính sách nói chung, đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước nói riêng. Đồng thời, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh, nhận diện, vạch mặt những kẻ có mưu đồ đen tối nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch”2. Đây thực sự là cuộc đấu tranh “một mất, một còn” giữa ta và các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Với phương châm chỉ đạo công tác lý luận, tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả công tác tư tưởng… Cùng với đó, Đảng ta yêu cầu: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng”3. Trên cơ sở đó, đề cao truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, ly khai,… coi đó là yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, không ngừng xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để Nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; kết hợp hài hòa ba lợi ích: cá nhân, tập thể và xã hội; huy động sức dân đi đôi với bồi dưỡng sức dân, phát huy dân chủ gắn liền với giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc, chấn chỉnh thái độ phục vụ Nhân dân; thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đất đai, môi trường.

Ba là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi. Theo đó, rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và công tác dân tộc trong giai đoạn mới. Công tác dân vận cần đổi mới, tìm ra những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả hơn nữa trong tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới, định canh, định cư, tạo việc làm cho lao động tại chỗ là người dân tộc thiểu số; hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo. Qua đó, tăng cường sự đồng thuận giữa những người theo tín ngưỡng, tôn giáo và những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động, biểu dương kịp thời những tấm gương điển hình tiên tiến, “gương người tốt, việc tốt”; động viên và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về chính trị - xã hội. Thực hiện tốt công tác quản lý xã hội, nắm chắc tình hình, phối hợp với các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, gần gũi, sát dân, nắm tâm tư, nguyện vọng của đồng bào và những vấn đề xảy ra trên địa bàn để có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả, ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng.

Chủ động phát hiện, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; từ đó củng cố nhận thức chính trị, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”4. Cùng với đó là phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, qua đó, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bồi đắp sự đồng thuận xã hội trong cộng đồng dân tộc, củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng./.

                                                                                                        VHT.

 

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống trên không gian mạng


Văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống

LỜI BÁC DẠY NGÀY 18 THÁNG 10

 

Hồ Chí Minh trong “Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai”, ngày 18 tháng 10 năm 1945, báo Cứu quốc, đăng số 71, ngày 19 tháng 10 năm 1945. Bác dạy“Đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phải tranh đấu đến cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Trước vận mệnh của chính quyền cách mạng được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”; trên cương vị Chủ tịch nước, với bộn bề lo lắng, nhưng Bác vẫn dành sự quan tâm ân cần, sâu sắc đến đồng bào các dân tộc miền núi và chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc, làm tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam.

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng to lớn, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn nhằm chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, chính đáng nhưng mang tính tự phát của quần chúng thành sự tự giác, có tổ chức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Chính sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết và xây dựng tinh thần đoàn kết đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ xây dựng tốt tinh thần đoàn kết gắn bó đồng chí, đồng đội, cấp trên với cấp dưới như ruột thịt, lúc thường cũng như lúc ra trận; đoàn kết quân với dân như cá với nước và đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung… đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, khi nào mà cấp uỷ, chỉ huy các cấp quan tâm chăm lo lãnh đạo xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, thì cơ quan, đơn vị đó luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và ngược lại. Do vậy, đặt ra yêu cầu với cấp uỷ, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

                                                                                                       VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 16 THÁNG 10

 

Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới”, đăng trên báo Nhân Dân, số 5299, ngày 16 tháng 10 năm 1968. Đây là bức thư cuối cùng Người gửi cho ngành giáo dục nước nhà.

Sau khi dựng lên sự kiện “Vinh Bắc Bộ” (1964), từ năm 1965, đế quốc Mỹ sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc; miền Bắc từ thời bình chuyển sang thời chiến, nhằm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Giữa muôn vàn khó khăn, dù tuổi Bác đã cao, sức Bác cũng đã yếu nhiều, nhưng Người vẫn luôn dành cho ngành giáo dục nước nhà sự quan tâm ần cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng để chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết nước nhà, sau khi Nam – Bắc sum họp một nhà.

Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao động, học sinh, sinh viên, học viên ngành Giáo dục và Đào tạo không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mỗi nhà giáo luôn là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, chung sức, chung lòng xây dựng một nền giáo dục vững mạnh, đã đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, xứng đáng với nhận định của Bác về nghề dạy học: “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”.. Lớp lớp các thế hệ học sinh, sinh viên, học viên… luôn tâm niệm sâu sắc lời Bác dạy năm xưa, đoàn kết, thi đua: “Học, học nữa, học mãi”, “Học để lập thân, lập nghiệp”… vươn lên giành nhiều thành tích cao trong học tập, rèn luyện. Hằng năm, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi cấp châu lục và thế giới đều đạt giải cao, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nước nhà trên trường quốc tế, thiết thực góp phần chuẩn bị tốt để đất nước hội nhập, phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Các học viện, nhà trường, giáo viên, học viên trong quân đội đã luôn chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, thi đua “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt” đào tạo kịp thời, có chất lượng hàng chục vạn cán bộ có chất lượng tốt cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đáp ứng kịp thời trong điều kiện chiến tranh cũng như giai đoạn hiện nay. Đối với các cơ quan, đơn vị, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đã cụ thể hoá thành  các phong trào thi đua: “Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

                                                                                                            VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 15 THÁNG 10

 

Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Dân vận”, ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật ngày 15 tháng 10 năm 1949.

Giữa lúc công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta ở vào thời điểm vô cùng cam go, quyết liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả dân tộc. Nhận thức sâu sắc và đánh giá cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Dân vận”. Đây là “cẩm nang” kịp thời chỉ dẫn một cách đầy đủ và sâu sắc cả về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, tính hiệu quả… của công tác dân vận đối với cán bộ, đảng viên; tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể.

Thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác, mọi cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vì nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ đó luôn chủ trương phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”“nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, để xây dựng nên khối đại đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Ngành Dân vận và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận đã luôn chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác Dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Cán bộ làm công tác Dân vận luôn tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc; âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch để tuyên truyền, vận động cho quần chúng nhân dân thông suốt, hiểu được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyết tâm cùng với toàn Đảng, toàn quân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành được những thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến, thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; luôn được dân mến, dân tin, dân giúp đỡ. Mối quan hệ quân – dân trở thành mối quan hệ mẫu mực được ví như máu thịt, như cá với nước, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tích cực hưởng ứng và làm tốt các công tác dân vận, tham gia xoá đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào, mô hình: “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… đã, đang được triển khai quyết liệt với tình cảm, trách nhiệm cáo của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước manh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

                                                                                                          VHT.

 

HỌC VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”(6). Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì đâu đó cũng vẫn còn những địa phương, cơ quan, đơn vị triển khai việc học và làm theo Bác một cách chung chung, hình thức. Cũng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, thiếu tính tiền phong, gương mẫu, quan liêu trong công tác, hách dịch, thậm chí xa rời quần chúng. Bên cạnh đó, có người còn vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng và vi phạm pháp luật như tham ô, tham nhũng hoặc rời xa lý tưởng cách mạng, cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng… dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Việc những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải dính vòng lao lý cũng là có thật. Và các vụ án tham nhũng những năm gần đây; những cán bộ, đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng, chịu án tù… đã bị các đối tượng cơ hội, phản động, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng “sự kiện đó” để chống phá Đảng và chế độ cũng là có thật.

Việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào lò” của các thế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.

Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết qủa này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương…

                                                                                                           VHT.

 

ĐẤU TRANH, BẢO VỆ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG.


Văn hóa truyền thống là hồn cốt của dân tộc, được coi như giá trị thương hiệu, quyền lực mềm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI

 

Hơn hai năm qua, trước diễn biến phức tạp và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống xã hội ở nước ta. Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng toàn dân, toàn quân và các tổ chức chính trị - xã hội đã sẻ chia, chung sức, đồng lòng, huy động mọi nguồn lực để phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ tính mạng, ổn định cuộc sống Nhân dân. Thế nhưng, dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tìm mọi cách xuyên tạc, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta; họ không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn đen tối nào; trong đó, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là thủ đoạn rất nguy hiểm.

Chúng lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, các nhà tự xưng là “dân chủ” vin cớ “bảo vệ nhân quyền” tạo ra nhiều “chiêu trò”, xuyên tạc, bóp méo sự thật về kết quả phòng, chống dịch Covid-19, đẩy mạnh chống phá Đảng và Nhà nước ta; họ dàn dựng các “kịch bản” tuyên truyền, xuyên tạc một cách công phu, tỉ mỉ, với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, Nhà nước, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ rêu rao: “Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao”; “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”; thâm hiểm hơn, họ còn tung ra những băng video phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để vu khống rằng “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”... Từ đó, họ vu khống Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, họ xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam.

Tuy nhiên, dù họ có “áp đặt, vu cáo” đến đâu thì họ cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng, Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và phát huy “dân chủ” và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của con người. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn hoạt động tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Khi đại dịch Covid -19 xảy ra, lây lan, bùng phát ở nước ta, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã chủ động, sáng tạo, phát huy vai trò nòng cốt, phối hợp với các cơ quan nhà nước ra lời kêu gọi, tuyên truyền, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái trong Nhân dân “lá lành đùm lá rách”, góp công, góp sức, góp tiền ủng hộ tuyến đầu phòng, chống dịch, bổ sung nguồn kinh phí của Chính phủ mua vaccine phòng dịch, góp phần ngăn chặn, kiềm chế sự gia tăng và đẩy lùi đại dịch Covid-19 bảo vệ tính mạng Nhân dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận và ca ngợi.

Những thành quả và quan điểm của Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là rất rõ ràng, đúng đắn. Thế nhưng trên một số trang mạng vẫn có những cá nhân, tổ chức tán phát bài viết xuyên tạc, bác bỏ, cố tình phủ nhận những thực tế về dân chủ, nhân quyền và những thành quả về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã phần nào làm thay đổi nhận thức, cách nhìn về bức tranh tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu và mở rộng. Họ phủ nhận tất cả, từ những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, một số người tự xưng mình là những người có “sứ mệnh” - những người “trung thành“ với Đảng, đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền”. Vậy thực chất quan điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” nhằm nói xấu chế độ, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong nước cấu kết với các nhóm phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài tổ chức: Diễn đàn, Thông luận cùng với “những điều kiến nghị của một công dân”, những kẻ cơ hội đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung bài xích nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước; đối lập Đảng, Nhà nước với Nhân dân và lực lượng vũ trang. Họ nhắc đi, nhắc lại luận điệu rằng, thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay là “không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo, là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; rằng, một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ.

Tình hình trên đặt ra trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; trong đó cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng và của cả hệ thống chính trị. Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch”1.

Như vậy, quan điểm của Đảng ta tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân phải thường xuyên, liên tục nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và phải đạt hiệu quả cao. Cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội đang đẩy mạnh thực hiện truyền bá những quan điểm, luận điệu sai trái, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam./.

                                                                                                       VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 12 THÁNG 10

 

Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12 tháng 10 năm 1945.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người đã chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ… Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc… đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.

                                                                                                           VHT.

KHÔNG THỂ SUY DIỄN VÀ BẺ CONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG


Thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác phát triển Đảng luôn được thực hiện nghiêm túc để Đảng thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc và bôi đen công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, phải kể đến một số luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường rêu rao là: Hiện nay, tình trạng "nhạt Đảng, xa Đoàn" trở nên phổ biến trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên; các thủ tục để trở thành đảng viên rườm rà, gây ức chế cho người muốn vào Đảng, nên quần chúng không ham; nhất là, sự bịa đặt trắng trợn rằng "vào Đảng chả ích lợi gì" nên quần chúng không muốn phấn đấu vào Đảng…


Về vấn đề này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:


ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC


Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.


Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.


Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.


Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.


Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(6), thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.


Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay” và nếu không được bổ sung nguồn sinh lực thì Đảng đâu có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để đảm đương vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo như đã hiến định trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, xuyên suốt 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác phát triển Đảng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài.


BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.


Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.


Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.


Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước" cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.


Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.


Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.


Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.


Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.


Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.


Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành 

ST

LỜI BÁC DẠY NGÀY 09 THÁNG 10

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các vấn đề đối ngoại của chính phủ mới với Đoàn đại biểu công nhân Thành Hoàng Diệu ngày 09 tháng 10 năm 1945 tại Bắc Bộ phủ, do ông Trần Danh Tuyên dẫn đầu là: “Chúng ta phải hết sức khôn khéo, đứng trước bất kỳ kẻ thù nào, người cách mạng cũng phải hiểu rõ chúng là ai; mạnh yếu chỗ nào, tranh thủ và cô lập ai?…. 

Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta và trí tuệ, tư duy sắc bén của Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ Người phải kiên trì thực hiện quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong mọi suy nghĩ và hành động. Bài học ấy một lần nữa được phát huy, góp phần cô lập kẻ thù, đồng thời tận dụng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Thấu triệt lời Bác dạy, vận dụng, phát triển quan điểm, tư tưởng của Người về bạn, thù, Đảng, Nhà nước ta đã khởi sướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ đất nước đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hơn ba mươi năm đổi mới trên đất nước ta đã có vô số cái mới không ngừng nảy nở, vun trồng, phát triển trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: mới trong tư duy lý luận; mới trong chủ trương, đường lối của Đảng; mới trong lao động sản xuất; mới trong sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của quần chúng nhân dân;… Những cái mới được hòa quyện giữa truyền thống văn hóa dân tộc với giá trị thời đại để trở thành căn cứ chủ yếu của chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm về “đối tác, đối tượng” là một trong những cái mới làm nên bước đột phá mở đầu cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi, góp phần khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng cộng sản chân chính, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xác định rõ kẻ thù, đánh giá đúng ưu điểm, thế mạnh của địch để kìm chế, phát hiện khuyết điểm, sơ hở của địch để khoét sâu, đánh hiểm; phát huy sức mạnh của ta, kết hợp giữa đánh với đàm, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân. Tăng cường đối ngoại quân sự song phương và đa phương; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, kết nghĩa đúng với tinh thần “thêm bạn, bớt thù” để góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hoà bình vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

                                                                                                            VHT.

 

LỜI BÁC DẬY NGÀY 07 THÁNG 10

 

Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài. Cách đấu tranh có thay đổi là đấu tranh trong hòa bình, mà đấu tranh trong hòa bình còn gian khổ phức tạp hơn thời kỳ chiến tranh”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội nghị cán bộ ngày 07 tháng 10 năm 1954.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954), Hiệp định Geneve được ký kết, cuộc chiến tranh kết thúc. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Geneve, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới. Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mỹ.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là khát vọng lớn lao của nhân dân ta, là yêu cầu của lịch sử giao phó, đó cũng đồng thời là nhiệm vụ của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Bởi thế, để Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò tiền phong, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, tất yếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm túc tự chỉnh đốn, nâng cao tinh thần đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng thoả mãn, công thần…

Thấu triệt lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và phức tạp; do vậy đã nghiêm túc đề cao tự phê bình và phê bình, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, xác định đường lối, chủ trương đấu tranh cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn giành được những thắng lợi vẻ vang có ý nghĩa lịch sử to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Nhớ lời Bác dạy năm xưa, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn đề cao cảnh giác cách mạng, thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, rèn luyện nghiêm, dân vận tốt, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diên, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, quyết không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, giao phó, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.

                                                                                                        VHT.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VIỆC HỌC VÀ LÀM THEO BÁC

 Việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước. Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"… trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: “Học mãi đâu có vào”, học rồi “tại sao cứ thế mãi”, “càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vị lãnh tụ gần dân, dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước không chỉ in đậm trong trái tim và khối óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(1). Tư tưởng của Người là kết quả sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…

Thực tiễn những thành tựu đạt được trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị của di sản Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết của tất cả các lực lượng chống đế quốc, thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền vững giữa các dân tộc “trên con đường tiến bộ - con đường hoà bình trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính của con người và mọi đức tính xã hội chủ nghĩa” trong thời đại mới.

Với Hồ Chí Minh, dù là người đang làm thuê trên tàu Amiran Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người “yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu. Từ cuộc đời và phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân dung một người cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả mọi lời nói, điều mà Người khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn bè, anh em, đồng chí, thậm chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó chính là “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”.

Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh, khí phách ngoan cường, ý chí bất khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh và thái độ ứng xử điêu luyện về chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán, nhanh nhạy trong những tình thế gay go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng của  dân tộc Việt Nam và tất cả các dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới. Đồng thời, lòng yêu thương con người và sự bao dung, khoan hoà của Người cũng như trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm, tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng, trong hành động, trong từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đã làm cho những người đã từng ở bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”./.

                                                                                                 

BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM TỪ XA!

 

Ông bà tôi, bố mẹ tôi trực tiếp cầm s.úng đi qua hai cuộc chiến. Còn tôi vừa cầm sú.ng và cầm bút trong thời bình. Tôi sinh ra 1972 nhưng lại vào đúng mùa hè đỏ lửa nên lọt lòng mẹ đã ngửi mùi thuốc sú.ng, không biết được sự khốc liệt của chiế.n tranh.


Hòa bình độc lập thống nhất của đất nước chỉ khi những chiếc xe tăng của QĐND Việt Nam húc đổ cổng dinh độc lập, chúng ta có hòa bình nhưng chưa có thái bình, máu tiếp tục đổ tại biên giới Tây Nam, tiếng s.úng đã vang trên bầu trời biên giới phía Bắc... máu của các chiến sỹ nhuộm đỏ cờ Tổ quốc trên bãi đá Gạc Ma...


Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Thống nhất đất nước phải trả giá bằng xương máu bao triệu người dân Việt Nam. Cái giá đó rất đắt nhưng chủ quyền quốc gia là thiêng liêng tối thượng. Dù có phải chiến đấu đến người Việt Nam cuối cùng vẫn chiến đấu vì hai tiếng Việt Nam.


Hãy cảnh giác với các luận điệu xuyên tạc, lên án đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, tuyên truyền lòng yêu nước, yêu dân tộc Việt Nam. "Tổ quốc đang bão giông từ biển, có một phần máu thịt ở Hoàng Sa".


Gửi tình yêu tới từng điểm đảo, bãi đá, nhà giàn... tới lá chắn chủ quyền Trường Sa, những nhành san hô - như xương máu các anh, những người anh hùng, những chiến sỹ hy sinh vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc./.

ST

VAI TRÒ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Thế lực thù địch đang ráo riết tung những luận điệu xuyên tạc, chúng cho rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang tổ chức xây dựng và thực hiện là một nền kinh tế thị trường “méo mó, không giống ai”. Thế nhưng, thực tiễn chúng ta đã chứng minh nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mà họ đã và đang tìm mọi cách phủ nhận đó lại là nền kinh tế tăng trưởng nhanh.

Thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá công cuộc đổi mới của nhân dân ta, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực, trong đó, lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn; với âm mưu chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chệch hướng sang quỹ đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa…; đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch nhằm diễn biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

          Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta có thái độ nghiêm túc, luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và lãnh đạo, tổ chức thực hiện phát triển nền kinh tế thi trường hiện nay là hoàn toàn phù hợp với quy luật khác quan của lịch sử, từ đó kiên quyết chống các quan điểm sai trái của các thế lực phản động hiện nay, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

          Thực tiễn đã chứng minh, khi vận dụng mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Đó là, Đảng ta đã sáng suốt vận dụng một thành tựu của nhân loại trong cách thức phát triển kinh tế đất nước, nhưng đồng thời gắn định hướng xã hội chủ nghĩa để bảo đảm xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn trong nền kinh tế thị trường.

 

 

THỦ ĐOẠN MỚI VỀ DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

 

Trong thời gian gần đây, thế lực thù địch luôn chủ động tiếp cận, chọn lọc hành động, êm thấm, chú trọng kết hợp diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ. Thủ đoạn của chúng rất tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm và thâm độc, vừa công khai, vừa ngấm ngầm, vừa điên cuồng gây sức ép. Tăng cường hoạt động là tăng cường tiến hành chiến lược phức hợp bao gồm diễn biến hoà bình với bạo loạn lật đổ, diễn biến hoà bình với răn đe quân sự, khi có điều kiện, thời cơ thì tiến hành chiến tranh xâm lược. Chúng tận dụng điều kiện khách quan thông qua mở cửa, giao lưu hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực để tiến công mạnh mẽ quyết liệt toàn diện.

Với những thủ đoạn thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tập trung vào: lĩnh vực chính trị tư tưởng; chúng xuyên tạc, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời, ra sức bôi nhọ xuyên tạc chủ nghĩa xã hội, đả kích nói xấu làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm mất uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Chúng thư­ờng sử dụng các phư­ơng tiện thông tin hiện đại kết hợp với sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý để thực hiện ý đồ chống phá ta về chính trị tư­ tư­ởng.

Địch vừa phá ta về kinh tế, phá hoại làm suy yếu nền kinh tế của ta, thông qua kinh tế để chống phá ta về chính trị. Chúng thể hiện rõ bằng, tìm cách thúc đẩy nhanh quá trình tư­ nhân hoá, hỗ trợ cho kinh tế tư­ nhân phát triển, hạn chế vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nư­ớc xã hội chủ nghĩa. Với lĩnh vực văn hoá- xã hộị, chúng thúc đẩy sự phát triển văn hoá ngoại lai, lấn át, làm suy yếu văn hoá truyền thống- thực chất đó cũng là sự xâm lăng về văn hoá, nhằm tấn công phá hoại nền tảng đạo đức- văn hoá của chủ nghĩa xã hội .

Về quốc phòng chúng tìm cách làm suy yếu tiềm lực của đất nư­ớc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với lực lư­ợng vũ trang, với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội nhằm vô hiệu hoá quân đội và công an hỗ trợ cho các hoạt động bạo loạn lật đổ. Như vậy, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” diễn ra hết sức gay go quyết liệt, phức tạp, do đó đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải nâng cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo.