Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

Chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang

 

 Là một loạt trận đánh diễn ra từ ngày 18 tháng 9 năm 1427 đến cuối tháng 10, năm 1427 giữa lực lượng khởi nghĩa Lam Sơn của Việt Nam và 2 đạo quân viện binh nhà Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy. Quân Lam Sơn đã giành được chiến thắng quyết định.

Chiến thắng này khiến cho tướng nhà Minh là Vương Thông hết hy vọng, quyết định giảng hoà, khi chưa được sự cho phép của triều đình nhà Minh.

Bối cảnh

Tháng 11 năm 1426, quân khởi nghĩa Lam Sơn đại phá quân Minh trong trận Tốt Động - Chúc Động. 5 vạn quân Minh bị diệt, hơn 1 vạn quân bị bắt sống, chưa kể số chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối. Bản thân Vương Thông bị thương. Kế hoạch dùng 10 vạn quân để phản công của Vương Thông bị sụp đổ khiến viên tướng này phải cố thủ trong thành Đông Quan.

Vương Thông bí thế muốn đầu hàng, bèn viết thư xin giảng hoà để rút toàn quân về. Lê Lợi đã bằng lòng cho, sai người đi làm giao ước. Tuy nhiên lúc đó các tướng người Việt là Trần Phong và Lương Nhữ Hốt sợ khi quân Minh rút về thì bản thân mình sẽ bị giết, bèn nói với Vương Thông:

Trước đây quân Ô Mã Nhi bị thua ở sông Bạch Đằng, mang toàn quân quy hàng, Hưng Đạo Vương bằng lòng cho, nhưng lại dùng kế lấy thuyền to chở quân cho về, rồi sai người bơi giỏi sung vào làm phu chở thuyền. Đang đêm ra đến ngoài biển, rình lúc quân Ô Mã Nhi ngủ say, lặn xuống đục thuyền, làm cho những người đã quy hàng chết đuối, không ai sống sót trở về được.

Vương Thông nghe vậy hoảng sợ, nghi ngờ Lê Lợi, bề ngoài tuy nói giảng hòa, nhưng bề trong sai người đào hào, rắc chông để phòng thủ và viết thư xin cầu viện vua Tuyên Đức nhà Minh.

Lê Lợi liền sai các quân ra đánh các thành, các thành Điêu Diêu, Thị Cầu, Tam Giang, Xương Giang, Ôn Khâu, chỉ còn bốn thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh là chưa bị hạ.

Theo sách Việt sử tiêu án, khi quân Minh thua trận ở Tốt Đông, Chúc Động, Thượng thư Trần Hiệp tử trận, việc đến tai vua Minh, đình thần Minh tranh nhau nói:

Từ khi Hoàng Phúc bị triệu về, trung quân Mã Kỳ sang thay, khích thành biến loạn ở Giao Chỉ, xin lại cho Hoàng Phúc sang nhậm chức cũ, thì loạn ở Giao Chỉ tự nhiên yên được.

Vua Minh nghe lời, sai Liễu Thăng đem quân cứu viện thành Đông Quan, và sai Hoàng Phúc đi tòng quân, chia làm 2 đạo quân: Liễu Thăng đi ra cửa Pha Lũy (Lạng Sơn) là chính binh, Mộc Thạnh đi ra cửa Lê Hoa (Tuyên Quang) làm quân ứng cứu cho Liễu Thăng.

Lực lượng quân Minh

Trước nguy cơ hoàn toàn thất bại, và để cứu đạo quân Vương Thông đang bị vây hãm ở Đông Quan, đầu năm 1427 nhà Minh đã quyết định phái sang Việt Nam hai đạo quân viện lớn, một đạo do Liễu Thăng chỉ huy, một đạo do Mộc Thạnh chỉ huy.

Lực lượng quân Minh theo Đại Việt sử ký toàn thư lên đến 15 vạn quân, trong đó đạo của Liễu Thăng gồm 10 vạn, đạo của Mộc Thạnh gồm 5 vạn. Theo Lam Sơn thực lục, thì quân cứu viện đông tới 20 vạn. Trong khi đó, theo Minh sử, cánh quân của Liễu Thăng chỉ gồm 7 vạn. Cả hai viên tướng Liễu Thăng và Mộc Thạnh đều đã có kinh nghiệm chinh chiến ở Việt Nam trước đây. Ngoài ra còn có Lương Minh là viên tướng thiện chiến, Lý Khánh và Hoàng Phúc là 2 viên quan cấp thượng thư làm tham mưu cho Liễu Thăng.

Lực lượng nghĩa quân Lam Sơn

Lực lượng nghĩa quân Lam sơn thực lục, lúc ấy nghĩa quân có 5 vạn tinh binh, Lê Lợi điều tất cả những vị tướng giỏi nhất của mình tham gia chiến dịch

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tổng số quân của khởi nghĩa Lam Sơn, theo lời Lê Lợi, lúc đó là 35 vạn quân.

Con số 35 vạn này có lẽ tính cả dân binh chứ không phải chỉ tính quân chính quy.

Lê Lợi chuẩn bị chống viện binh

Nghe tin viện binh nhà Minh xâm lấn, tháng 4, năm 1427 sai phòng ngự sứ Trần Ban đôn đốc tu sửa ải Lê Hoa. Ban lời dụ cầu người hiền tài, ban 10 điều quân luật cho quân lính, 3 điều răn cho quan văn võ, tuyển chọn tráng đinh bổ sung, phòng thủ nghiêm mật.

Lê Lợi cho rằng thành Xương Giang là con đường mà người Minh đi hay về tất phải qua. Ngày 8/9/1427 Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lê TriệnNguyễn Lý hạ được thành Xương Giang. Trước đó Lê Lợi hạ lệnh rằng hạ cho được thành này trước khi Liễu Thăng và Mộc Thạnh kéo sang. Nghĩa quân đã bao vây thành này trải qua hơn 6 tháng trời cầm cự với các quân Khoái Châu, Lạng Giang, quân Minh vừa đánh vừa giữ, khiến quan quân không thể lên được thành. Lê Lợi sai các tướng đắp đất, mở đường đánh nhau với giặc, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa, súng lửa, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ. Tướng giữ thành Kim Dận, Lý Nhậm tự sát, Vương Thông nghe tin, làm văn tế. Sau đó 10 ngày viện binh nhà Minh tới nhưng thành đã bị hạ.

Lê Lợi sai đắp đê Vạn Xuân để làm chiến lũy. Các tướng sĩ nhiều người khuyên Lê Lợi nên đánh gấp thành Đông Quan, nhưng Lê Lợi cho rằng:

Lê Lợi sai các đạo Lạng Sơn, Bắc Giang, Tuyên Quang, Tam Đới dọn quang cánh đồng để tránh viện binh của quân Minh, hạ lệnh cho các xứ Lạng Giang, Bắc Giang, Tam Đái, Tuyên Quang, Quy Hoá dời vợ con của quân dân đi xa để tránh viện binh giặc.

Trận Chi Lăng

Ngày 18, tháng 9, năm 1427 nhà Minh sai Tổng binh Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân đem hơn 10 vạn quân và 2 vạn ngựa đánh vào cửa Pha Lũy.

Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh, Tham tướng Hưng An bá Từ Hanh, Tân Ninh bá Đàm Trung đem 5 vạn quân và 1 vạn ngựa đánh vào cửa Lê Hoa. Cả hai đều đã tới đầu địa giới Đại Việt.

Lê Lợi họp với các tướng bàn rằng:

Giặc vốn khinh ta, cho là người nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng

 

Lê Lợi sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh LiệtLê Thụ đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng để đợi quân Minh.

Quân Minh tiến đến cửa Pha Lũy, Trần Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy quân Minh đến, lui giữ cửa ải Lưu. Quân Minh tiến đánh, Trần Lựu lại bỏ cửa Ải Lưu lui về đóng ở Chi Lăng, Liễu Thăng thừa thắng đuổi theo, đi đến đâu cũng không ai dám kháng cự, càng tỏ ra mặt kiêu ngạo.

Lê Lợi lại sai người đến quân môn của Liễu Thăng xin lập Trần Cảo, Liễu Thăng nhận thư không thèm mở xem, cứ dẫn quân thẳng tiến. Trần Dong nói với Lý Khánh rằng: Chí của Thống binh kiêu lắm rồi, quân địch quyệt trá lắm, biết đâu chúng không làm ra thế yếu để dử ta; huống chi trong sắc thư dặn rằng Lê Lợi chỉ chuyên dùng cách mai phục mà thắng, ta không nên khinh địchLý Khánh bảo với Liễu Thăng, Liễu Thăng không hề để ý.

Ngày 20 tháng 9 (10/10 dương lịch), quân Minh đánh ải Chi Lăng. Lê Sát, Lưu Nhân Chú mật sai Trần Lựu ra đánh rồi vờ thua chạy. Liễu Thăng đốc suất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có phục binh, Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặt đều nổi dậy xung vào đánh. Liễu Thăng bị chém chết ở núi Mã Yên, hơn 1 vạn quân Minh bị giết.

Trận Cần Trạm[30]

Tì tướng quân Minh là Thôi Tụ, Hoàng Phúc thu nhập tàn quân, gượng tiến đến ải núi Mã Yên. Ngày 25 tháng 9, Lê Lợi sai Nguyễn Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân tới tiếp viện. Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết quân ra đánh, chém Bảo Định Bá Lương Minh tại trận..

Trận Phố Cát[33][34]

Ngày 28, Binh bộ Thượng thư Lý Khánh chết bệnh ở trong quân. Thôi Tụ nghĩ rằng thành Xương Giang chưa bị hạ, vẫn tiếp tục kéo quân về hướng thành Xương Giang. Lê Sát mở đường cho tiến, chờ đến chỗ phục binh, mới tung quân đón đánh.

Lê Sát, Lưu Nhân Chú lại đánh bại quân Minh, chém được hơn 2 vạn người, bắt được lừa ngựa, trâu bò, quân tư khí giới nhiều không kể xiết.

Trận Xương Giang[39]

Mùa đông, tháng 10, Lê Lợi sai Nguyễn Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân bao vây bốn mặt, lại dựng rào lũy ở tả ngạn sông Xương Giang để ngăn chặn. Quân Minh tuy thua nhưng còn đông và mạnh. Thôi Tụ dự tính vào thành Xương Giang làm nơi trú quân để phối hợp với Vương Thông, nhưng khi tiến đến gần Xương Giang mới biết là thành đã bị quân Lam Sơn hạ. Thôi Tụ phải đóng quân ngoài cánh đồng Xương Giang tại nơi nay có thể là xã Tân Dĩnh (huyện Lạng Giang, Bắc Giang) và xung quanh, cách thành Xương Giang khoảng 3 km, đắp lũy đất để phòng thủ. Lại cho quân bắn pháo làm hiệu để quân ở Đông Quan đến ứng cứu.

Quân Minh ở đóng quân trong một vị trí mà phía Nam là thành Xương Giang kiên cố. Phía Tây Bắc, Tây và Tây Nam là sông Thương. Phía Đông Nam có sông Lục Nam. Phía Bắc, quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lý, Lê Văn An, sau trận Phố Cát tiếp tục bám lưng đối phương. Quân Lam Sơn còn cử các đơn vị thủy quân lên bố trí trên sông Thương và sông Lục Nam.

Lê Lợi bèn sai các quân thủy, bộ cùng tiến quân bao vây. Lại chia quân chặn hết các ải Mã Yên, Chi Lăng, Pha Lũy, Bàng Quan. Thôi Tụ và Hoàng Phúc muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng không xong, bèn giả hoà, nhưng âm mưu định chạy vào thành Chí Linh. Lê Lợi biết được quỷ kế của chúng, kiên quyết khước từ không cho hòa.

Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đứng đường vận chuyển lương thực của giặc, sai Lê Vấn, Lê Khôi đem 3 nghìn quân Thiết đột, 4 thớt voi, cùng với quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Lý, Lê Văn An tấn công.

Sách Việt sử tiêu án viết rằng: Gặp lúc có mưa gió to, người và ngựa chỉ trông nhau không đi được bước nào; Vương sai chư quân đến vây kín.

Ngày 15, tháng 10, năm 1427, quân Minh đại bại, nghĩa quân chém chết hơn 5 vạn thủ cấp, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 3 vạn người, thu được vũ khí, ngựa chiến, vàng bạc, vải lụa nhiều không kể xiết.

Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng không đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gần hết, không sót một ai.

Thôi Tụ không chịu đầu hàng, Lê Lợi sai giết đi. Còn Hoàng Phúc vì trước đã nhậm chức Bố chính, hơi được lòng dân, không nỡ gia hại. Hoàng Phúc nhân xin tương kiến với Vương Thông để điều đình việc giảng hòa bãi binh.

Đánh bại Mộc Thạnh

Tổng binh Vân Nam là Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng với bọn Phạm Văn XảoTrịnh KhảLê Trung, Lê Khuyển cầm cự nhau ở Lê Hoa. Lê Lợi liệu tính rằng Mộc Thạnh tuổi đã già, từng trải việc đời đã nhiều, lại biết tiếng nghĩa quân từ trước, nhất định còn đợi xem Liễu Thăng thành bại ra sao chứ không nhẹ dạ tiến quân, bèn gởi thư mật, bảo Trịnh Khả, Lê Khuyển cứ đặt mai phục chờ đợi, chớ giao chiến vội. Khi quân Liễu Thăng đã bị thua, Lê Lợi sai lấy 1 chỉ huy và 3 thiên hộ của quân Minh mà ta bắt được, cùng những sắc thư, phù ấn của Liễu Thăng đưa đến chỗ quân Mộc Thạnh.

Mộc Thạnh trông thấy rất hoảng sợ, trong phút chốc quân tan vỡ tháo chạy. Phạm Văn XảoTrịnh Khả thừa thắng tung quân ra đánh, phá tan quân giặc ở Lãnh Câu và Đan Xá, chém hơn 1 vạn thủ cấp, bắt sống hơn 1 nghìn người và hơn 1 nghìn con ngựa, còn bị chết đuối ở khu vực thì nhiều không kể xiết. Mộc Thạnh thì chỉ còn một mình một ngựa tháo chạy. Nghĩa quân thu được chiến khí, của cải, xe cộ nhiều hơn hẳn thành Xương Giang.

An Nam truyện trong Minh sử chép: 沐晟軍至水尾, 造船將進, 聞通已議和, 亦引退, 賊乘之, 大敗 (Mộc Thạnh quân chí Thủy Vĩ, tạo thuyền tương tiến, văn Thông dĩ nghị hòa, diệc dẫn thoái, tặc thừa chi, đại bại) nghĩa là "Mộc Thạnh kéo quân đến Thủy Vĩ, làm thuyền bè, sửa soạn để chực tiến quân. Được tin Thông đã nghị hòa, Thạnh cũng rút lui. Địch thừa thắng đổ ra đánh. Thạnh thua to.'". Theo Minh thực lục, ngày 14 tháng 12 năm 1427, Mộc Thạnh cùng thuộc hạ chạy tới Cao Trại, Thủy Vĩ thì bị quân Lam Sơn phục kích cả trên sông lẫn trên bờ, phải vất vả làm lại thuyền mới đi tiếp được.

Lê Lợi đưa Hoàng Phúc đến thành Đông Quan, Vương Thông lo sợ, tập họp tướng sĩ bàn rằng: Thành không thể giữ được, mà đánh không thể thắng, không gì bằng toàn quân trở về Bắc. Bèn sai Sơn Thọ đưa thư cầu hòa, xin mở cho con đường về nước, Lê Lợi chấp thuận.

Theo sách Đại Việt thông sử, trong chiến dịch này, công của Lê Sát đứng đầu các vị tướng.

Kết quả

Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng, đạo quân viện binh đông tới 10 vạn của quân Minh đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Bộ chỉ huy quân Minh bị chết trận hay bị đối phương bắt gần hết. Trong khi bao vây Xương Giang, quân Lam Sơn đưa tù binh của cánh Liễu Thăng lên báo tin cho Mộc Thanh. Mộc Thạnh vội vàng cho quân rút chạy. Nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phạm Văn XảoTrịnh Khả đã truy kích tiêu diệt trên 1 vạn quân Minh, làm tan rã hoàn toàn cánh quân này. Như vậy, toàn bộ lực lượng viện binh của quân Minh đã bị đại bại. Kết quả này là một trong những nhân tố quan trọng khiến Vương Thông phải chấp nhận nghị hòa và không xin phép triều đình Minh đã tự ý rút quân về nước.

 

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

Tuyên dương người tốt, việc tốt trong phong trào thi đua yêu nước


Ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn quốc. Phong trào “Người tốt, việc tốt” là sự sáng tạo tiếp theo của cuộc vận động thi đua yêu nước, góp phần làm cho hình thức, nội dung thi đua yêu nước ngày càng phong phú, hiệu quả và thiết thực.

Từ các mục như “Người mới, việc mới” sau đó đổi thành mục “Người tốt, việc tốt”, “Chuyện hay”, “Người tốt, việc hay”… trên các tờ báo Đảng, báo ngành và đoàn thể, Trung ương và địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất một hình thức tuyên dương mới: Tuyên dương người tốt, việc tốt để những việc làm bình thường nhưng ích nước lợi dân được trân trọng và nhân rộng.

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của từng thời kỳ. Mỗi khi biết tin tập thể và cá nhân đạt những thành tích cao, Người thường gửi thư biểu dương, khen ngợi và động viên kịp thời. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ chính là đại diện tiêu biểu cho “hàng triệu con người có thật trong nhân dân Việt Nam ta, ở trong nhà hay ra ngõ đều có thể gặp được… Đó là hàng triệu “người tốt việc tốt” đang chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đang cùng nhau viết nên những trang sử vô cùng oanh liệt mà con cháu ta sẽ mãi mãi tự hào”(1). Người yêu cầu: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”(2).

Như vậy, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn thực hiện tốt và hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, bên cạnh nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, thì phải hướng phong trào đi vào thực chất, tránh hình thức và bệnh thành tích, sao cho những cá nhân điển hình xuất sắc được tuyên dương không chỉ là những người đại diện xứng đáng, tiêu biểu, tiên phong trong sản xuất và chiến đấu, mà còn là tấm gương về đạo đức cách mạng.

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò nêu gương trong vận động cách mạng, cũng như đối với việc xây dựng con người cách mạng: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(3). Chính vì thế, bên cạnh hình thức tuyên dương anh hùng, chiến sĩ thi đua, Người đã đề xuất hình thức tuyên dương gương người tốt, việc tốt để động viên người người thi đua, ngành ngành thi đua, qua đó nhân lên nhiều tấm gương điển hình tiên tiến mới.

Người tốt, việc tốt theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là những việc nhỏ, bình thường, nhưng ích nước lợi dân, đó là những người thật việc thật ai cũng có thể học và làm theo được như: Có cháu bé nhặt được của rơi đem trả lại cho người bị mất; những cụ ông, cụ bà chuyên nhận nuôi những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã thành những con trâu béo khỏe có thể kéo cày, kéo gỗ được; hai cô gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau đi lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã…

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”(4).

Hằng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đều dành thời gian theo dõi, tập hợp những tấm gương người tốt, việc tốt ở các báo và bản tin rồi yêu cầu văn phòng xác minh để Người thưởng huy hiệu. Trong khoảng từ năm 1956 đến năm 1968, từ hơn 2000 bài báo về gương người tốt, việc tốt đã có 2.500 cá nhân được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu(5). Ngoài phần thưởng là huy hiệu, Bác đã thưởng cờ luân lưu cho các đơn vị, địa phương có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua. Bác còn gửi tặng ảnh chân dung của Người để làm giải thưởng thi đua và dành cả quà của mình làm phần thưởng cho thi đua: “Cảm ơn các cô, các chú đã biếu Bác bộ áo. Bác đã nhận rồi. Nay Bác gửi bộ áo ấy làm giải thưởng cho một đợt thi đua. Khi nào đợt thi đua kết thúc, do các cô các chú bình nghị, ai khá nhất thì được giải thưởng ấy”(6). Đối với ngành giáo dục, Bác còn có hình thức thưởng riêng đó là cuốn sổ “Giải thưởng Bác Hồ”, là hình thức thưởng thiết thực nhất bởi các cháu học sinh vừa có phần thưởng, vừa có vở để viết.

Đã hơn 70 năm từ sáng kiến đề xuất việc thi đua, khen thưởng và hơn 50 năm Phong trào người tốt, việc tốt của Bác Hồ, chúng ta có thể nhận thấy phong trào người tốt, việc tốt đã có sức lôi kéo, cảm hóa đáng kể mọi lực lượng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong sự nghiệp kiến quốc xây dựng đất nước và trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau này. Những việc làm tuy nhỏ nhưng lại mang ý nghĩa vô cùng cao quý đó đã góp phần cải tạo con người, loại trừ thói hư, tật xấu hướng con người tới những giá trị chân, thiện mỹ “nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta”(7).

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN 

 

XIN ĐỪNG CỔ SÚY CHO CHIẾN TRANH HÃY NHÌN VÀO 10 TRẬN ĐÁNH ĐẪM MÁU NHẤT THẾ KỶ 20

 


Các trận kịch chiến này diễn ra trong cả hai cuộc Thế chiến và các cuộc xung đột khác.

Trang web Army-technology.com đã liệt kê ra 10 trận chiến khốc liệt nhất của thế kỷ 20 dựa trên con số thương vong được ghi nhận:

1. Trận chiến Stalingrad (1942-1963)

Trận huyết chiến này gây ra khoảng 2 triệu thương vong ở cả phía quân Xô viết và phía phát xít. Trận đánh này được coi là một trong các thảm họa quân sự kinh khủng nhất của thế kỷ 20. Đó là một trong các trận đẫm máu nhất lịch sử và được coi là một trong các sự kiện quân sự chính của Thế chiến thứ 2.

Quân Đức đã bị bất ngờ trước sức mạnh quân lực của Hồng quân ở Stalingrad (nay là Volgograd) khi phía Liên Xô triển khai hơn 1 triệu binh sĩ trong Chiến dịch Uran nhằm đánh bại đội quân Đức chốt trong thành phố. Quân phe Trục đã bị Hồng quân đánh bại hoàn toàn ở Stalingrad và buộc phải rút một lực lượng lớn quân sự ở phía Tây về củng cố mặt trận phía Đông.

Con số người chết ở Stalingrad là rất lớn. Phe phát xít có khoảng 850.000 lính bị chết, mất tích hoặc bị thương. Còn phía Liên Xô có 1 triệu binh sĩ  hy sinh, mất tích hoặc bị thương. Đa phần dân thường bám trụ lại thành phố cũng thiệt mạng trong chiến trận.

2. Trận chiến Moscow (1941-1942)

Mật danh mà Đức đặt cho trận đánh này là Chiến dịch Typhoon, diễn ra trong Thế chiến 2 với khoảng 1,6 triệu thương vong.

Trận chiến bắt đầu vào tháng 10/1941, bên Xô viết chủ yếu là phòng ngự trước cuộc tấn công của Đức nhằm vào Moscow.

Trận chiến bắt đầu vào tháng 1/1942, khiến ước chừng 174.000-400.000 quân Đức và 650.000-1,2 triệu quân Liên Xô thương vong.

Việc phòng thủ Moscow đánh dấu sự thành công của quân dân Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống lại các lực lượng phe Trục. Đây cũng là thất bại của quân Đức ở cấp chiến thuật và chiến dịch.

3. Trận chiến Somme (1916)

Trận đánh Somme, còn được biết đến với cái tên Cuộc tấn công Somme, đã gây ra tổn thất hơn 1,2 triệu sinh mạng cho các đế quốc Anh, Pháp và Đức.

Trận chiến diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11/1918 gần sông Somme ở Pháp. Đó là một trong các cuộc đụng đột lớn nhất của Thế chiến thứ nhất.

Trận đánh Somme vẫn là một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, gây ra thương vong khoảng 57.000 cho lục quân Anh vào ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến. Nguyên nhân quân Anh chịu thương vong lớn là do họ thiếu kinh nghiệm và chỉ được huấn luyện một cách chắp vá.

Tổng cộng, khoảng 420.000 lính của Anh và lực lượng Khối Thịnh vượng Chung đã tử vong, bị thương hoặc mất tích trong cuộc chiến này, trong khi Pháp mất hơn 204.000 người. Còn Đế chế Đức chịu thương vong ở mức 680.000 người.

Phe Đồng minh đã phải trả một cái giá sinh mạng cực lớn chỉ để chiếm được từ tay Đức một dải đất dài 32km và rộng có hơn 10km.

4. Chiến dịch Bagration (1944)

Với tổng thương vong hơn 1,1 triệu người, Chiến dịch Bagration là một trong các trận huyết chiến khủng khiếp nhất trong lịch sử. Bagration là mật danh cho Chiến dịch Tấn công Chiến lược Belarus có mục đích quét sạch các lực lượng Đức khỏi nước Cộng hòa XHCN Xô viết Belorussia và miền đông Ba Lan trong Thế chiến 2.

Kết quả chiến dịch: 28 trong tổng số 38 sư đoàn lục quân Đức bị đánh tan tác. Khoảng 350.000-400.000 quân Đức bị tiêu diệt, bị thương hoặc bắt sống.

Trong khi đó Hồng quân hứng chịu thương vong hơn 770.000 người, gồm 180.000 người bị chết hoặc mất tích trong lúc chiến đấu.

Quân Liên Xô đã giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn khỏi ách chiếm đóng của Đức và phá hủy cơ bản Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của Đức.

5. Chiến dịch Gallipoli (1915-1916)

Trận đánh này còn được gọi là Chiến dịch Dardanelles, khiến hơn 500.000 người thương vong.

Trận chiến diễn ra trên bán đảo Gallipoli trong Thế chiến thứ 1 và biến thành một thảm họa khi quân phe Hiệp ước mất quyền kiểm soát đối với tuyến đường biển từ châu Âu sang Nga. Chiến hạm Anh và Pháp đã mở các cuộc tấn công vào Eo biển Dardanelles vào tháng 2/1915, còn quân Anh, Pháp, Australia và New Zealand xâm chiếm bán đảo Gallipoli vào tháng 4 cùng năm đó.

Các nước phe Hiệp ước hứng chịu hơn 250.000 thương vong trước khi họ thực hiện cuộc rút lui cuối cùng khỏi bán đảo Gallipoli vào tháng 1/1916. Thương vong của Đế chế Ottoman (tiền thân của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) lên tới 218.000-250.000 người.

Cuộc xâm lược kết thúc thất bại khi phe Hiệp ước hứng chịu đòn phản công dữ dội của quân Ottoman. Thời tiết xấu, đạn pháo thiếu, bản đồ và thông tin tình báo không chính xác cũng là nguyên nhân đóng góp vào thất bại của phe Hiệp ước.

6. Trận chiến Pháp (1940)

Trận này, hay được gọi là sự Thất thủ của nước Pháp, gây ra thương vong tổng cộng hơn 500.000 binh sĩ cho cả hai phe Hiệp ước và Liên minh Trung tâm. Trận chiến nước Pháp bao gồm các chiến dịch Fall Gelb và Fall Rot.

Nước Pháp thất thủ là cuộc xâm lược thành công của phát xít Đức trên lãnh thổ Pháp, cũng như Hà Lan, Bỉ, và Luxembourg. Khoảng 360.000 quân của phe Đồng minh đã bị loại khỏi vòng chiến đấu, còn phe Trục thương vong hơn 160.000 người.

Cuộc kháng cự của Pháp chấm dứt  khi quân Đức chiếm được Paris vào tháng 6/1940. Pháp sau đó bị Đức chiếm đóng theo thỏa thuận ngừng bắn ký giữa hai nước. Pháp vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của phe Trục cho đến khi được quân Đồng minh giải phóng vào năm 1944.

7. Trận chiến Kolubara (1914)

Trận đánh này còn được gọi bằng cái tên Trận đánh Suvobor. Bước ngoặt của cuộc chiến là khi một lực lượng xâm lược mạnh của Áo-Hung bị lực lượng Serbia trang bị kém đẩy lui. Trận đánh dẫn tới kết cục hơn 350.000 lính bị chết hoặc bị thương.

Trận Kolubara được coi là cuộc chiến lớn nhất giữa quân đội Serbia và quân đội Áo-Hung trong Thế chiến thứ 1. Tổng cộng 450.000 lính Áo-Hung và 250.000 lính Serbia đã được tung vào trận đánh.

Quân Áo-Hung hứng chịu 224.500 thương vong, còn quân Serbia tổn thất 133.000 lính. Trận đánh chứng tỏ năng lực phản công của Serbia trước lực lượng Áo-Trung được trang bị tốt hơn nhiều.

8. Tổng tấn công Tết Mậu thân (1968)

Người phương Tây gọi đây là Cuộc tấn công Tết. Tổng thương vong của hai phía là hơn 100.000 người.

Đây là chiến dịch lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại chế độ cũ Sài Gòn, Mỹ và các nước chư hầu, diễn ra vào năm 1968.

Tổng tấn công Mậu Thân là một trong các chiến dịch quân sự lớn nhất của Chiến tranh Việt Nam. Phía Cách mạng và phía chính quyền Sài Gòn mất tổng cộng khoảng 70.000 binh sĩ. Nhiều dân thường cũng bị thiệt mạng hoặc bị thương do kẹt giữa giao tranh của đôi bên.

Chiến dịch Tết Mậu thân đã được khẳng định là một bước ngoặt của chiến tranh Việt Nam, gây tác động lớn đến chính phủ Mỹ và cuối cùng đưa tới kết quả là quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, cho dù phía Mỹ và Sài Gòn có giành được những thắng lợi ở cấp chiến thuật.

9. Chiến dịch Market Garden (1944)

Thảm họa quân sự này xảy ra khi quân Đồng minh bao vây không thành công khu vực Ruhr. Thương vong từ trận đánh là hơn 26.000 người.

Phe Đồng minh mở Chiến dịch Market Garden vào tháng 9/1944 nhằm tạo ra một hành lang không vận dài 103km để đưa xe tăng và binh lính vào miền bắc nước Đức. Trên 20.000 lính dù và hơn 13.500 lính tàu lượn, 5.200 tấn thiết bị, 1.900 xe, 560 pháo được thả xuống mặt đất trong chiến dịch này, khiến đây trở thành chiến dịch đổ bộ đường không lớn nhất từ trước tới nay.

Quân Đồng minh chiếm thành công một số đầu cầu trong giai đoạn đầu chiến dịch, nhưng phải đối mặt với sự kháng cự của quân Đức dữ dội hơn họ tưởng. Quân Đồng minh không vượt qua nổi sông Rhine với đủ lực lượng. Kết quả là quân Đồng minh bị thương vong hơn 17.000 lính. Thiệt hại của quân Đức thấp hơn, chỉ khoảng 9.000 người.

10. Cuộc chiến 6 ngày (1967)

Cuộc chiến tranh 6 ngày, còn gọi là Chiến tranh Arab-Israel lần thứ 3, gây ra hơn 23.000 thương vong trong cuộc tấn công bất ngờ do Israel thực hiện nhằm vào Ai Cập, Jordan và Syria nhằm đáp trả các mối đe dọa xâm lược từ khối các nước Arab.

Cuộc chiến 6 ngày bắt đầu vào ngày 5/6/1967 khi Israel mở các cuộc không kích bất ngờ lên các sân bay của Ai Cập. Không quân Ai Cập, Jordan và Syria hứng chịu thiệt hại nặng do các cuộc oanh tạc này.

Israel mở một loạt các cuộc tấn công trên bộ, trên không và trên biển, giành được quyền kiểm soát đối với bán đảo Sinai, dải Gaza (từ tay Ai Cập), và Bờ Tây (từ tay Jordan), và Cao nguyên Golan (từ tay Syria).

Israel hứng chịu thương vong rất thấp, chỉ hơn 5.000 người, trong khi thương vong của Ai Cập là 15.000, Syria là 2.500 và Jordan là 800./.

 

PHƯƠNG CHÂM: “BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA”

 

 Cùng với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ Biên giới quốc gia có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Cách đây gần 4 năm, ngày 28 tháng 9 năm 2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia (Nghị quyết số 33-NQ/TW) nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là những lực lượng có liên quan trực tiếp đến bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Qua đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh sự cần thiết phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nâng hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với công tác quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Để tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, các ban, bộ, ngành, địa phương; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nắm vững các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, các ban, bộ, ngành, địa phương, nhất lừ lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo, tùy theo chức năng, nhiệm vụ tổ chức phổ biến, tuyên tuyền cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân các nội dung cơ bản của Chiến lược nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho họ; tạo động lực phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc.

Các cơ quan chức năng làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch bổ sung nội dung về bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo vào chương trình hành động; cụ thể hóa và đưa vào giảng dạy cho học sinh, sinh viên trong các nhà trường nhằm giáo dục lòng yêu nước, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm của học sinh, sinh viên đối với sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia, biển, đảo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; trách nhiệm và nghĩa vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là lực biên phòng, cảnh sát biển; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, người lao động trong việc quán triệt, chấp hành các quy định của pháp luật về xây dựng biên giới hữu nghị, quản lý và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc.

Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với công tác xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc. Các cơ quan, đơn vị chuyên trách được giao nhiệm vụ quan trọng này phối hợp với các cấp, các ngành, địa phương, các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, nhất là các cửa khẩu, đường biên, các cột mốc biên giới. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực thi pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia; bảo đảm an ninh, trật tự, kiểm soát xuất, nhập cảnh ở khu vực biên giới.

Nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, lấn chiếm, phá hoại biên giới quốc gia. Tổ chức đấu tranh phòng, chống hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát biên giới, chỉ đạo, hỗ trợ các đạo phương sản xuất các sản phẩm thông tin truyền thống phục vụ đời sống, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, hải đảo. Huy động các nguồn lực, triển khai các chương trình hoạt động hướng về biên giới, vùng biển, đảo nhằm giữ dân bảo vệ biên giới; phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới, biển, đảo; phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ biên giới, biển đảo.

Ba là, xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới quốc gia, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, tạo nền tảng xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ở khu vực biên giới. Xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới toàn dân rộng khắp, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang là nòng cốt, Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách.

Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo lực lượng Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, duy trì an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật. Triển khai kế hoạch đầu tư xây dựng đường tuần tra biên giới. Điều chỉnh quy hoạch, phân bố dân cư tại các địa bàn biên giới, hải đảo. Bố trí đầu tư phát triển theo quy hoạch, tạo công ăn, việc làm, ổn định cuộc sống cho nhân dân ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo. Chỉ đạo đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động các nguồn lực trong xã hội đóng góp xây dựng, bảo vệ biên giới quốc gia.

Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới với các nước láng giềng. Chăm lo chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở khu vực biên giới; khắc phục tình trạng “trắng” dân cư ở một số khu vực biên giới, hải đảo. Thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Bố trí cán bộ biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ các thôn, bản, ấp; tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ở khu vực biên giới.

Bốn là, hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia; nghiên cứu, hoàn thiện phương thức, phương án tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới. Các cơ quan đơn vị chức năng rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các văn bản quản lý nhà nước về bảo vệ biên giới quốc gia. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc thực thi pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia. Triển khai các hoạt động, biện pháp nghiệp vụ, dự báo các tình huống chiến lược có thể xảy ra. Kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh phương án, kế hoạch xử lý. Giải quyết hiệu quả, kịp thời các tình huống nảy sinh trên biên giới, vùng biển, đảo; không để bị động, bất ngờ.

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ biên giới quốc gia gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn, vùng trọng điểm chiến lược về quốc phòng, an ninh ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và biển, đảo. Ưu tiên dành nguồn lực phân bổ từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Phát huy thế mạnh của vùng về du lịch sinh thái, truyền thống văn hóa; đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vành đại ở khu vưc biên giới.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng và đối ngoại nhân dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo. Thực hiện có trách nhiệm các cam kết và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Tiếp tục phát triển quan hệ đối tác với các nước láng giềng, đẩy mạnh hợp tác biên phòng rộng rãi, toàn diện ngang tầm với quan hệ của Việt Nam với các nước. Tập trung vào các hoạt động diễn tập, hợp tác tuần tra chung, cứu hộ, cứu nạn trên bộ, trên biển. Đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên biên giới, đối phó với các nguy cơ có thể xảy ra trên biên giới, biển, đảo. Trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực biên phòng với các nước. Đẩy mạnh giao lưu quốc phòng, giao lưu hữu nghị biên giới; nhân rộng mô hình kết nghĩa với lực lượng bảo vệ biên giới và nhân dân các nước láng giềng. Làm tốt công tác xuất nhập cảnh, cải cách thủ tục hành chính đối với người, phương tiện tại các cửa khẩu đáp ứng yêu cầu hội nhập, hợp tác quốc tế. Xây dựng phương án hoạch định trên biên giới quốc gia; xác định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam với các nước.

Triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý quốc tế về biên giới; phân giới và cắm mốc quốc giới trên cơ sở các điều ước quốc tế về hoạch định biên giới quốc gia được ký kết với các nước láng giềng. Xây dựng và củng cố mô hình kết nghĩa giữa các các địa phương, đơn vị và nhân dân hai bên biên giới, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng biên giới quốc gia hòa bình hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia là góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Việc nhận thức đúng và thực hiện hiệu quả Chiến lược này là trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và mỗi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

DƯƠNG PHƯƠNG DUY

CHỈ RÕ KẺ ĐỘC TÀI "VIỆT TÂN"


 Mặc dù tổ chức KB "Việt Tân" luôn đi rêu rao cho rằng, một số quốc trên thế giới trong đó có Việt Nam Việt Nam... là quốc gia độc tài. Sở dĩ Chúng gọi như thế, vì xuất phát từ vai trò lãnh đạo của một Đảng. Tuy nhiên chúng lại không hiểu rằng, mặc dù chế độ chính trị một Đảng nhưng việc bầu bán, lựa chọn người vào các vị trí lãnh đạo cấp cao đều là sự lựa chọn của người dân. Cùng với đó Sự điều tiết trong lãnh đạo của tổ chức cầm quyền luôn lựa chọn những người có tài và các vị của tổ chức cầm quyền luôn lựa chọn những người có tài và các vị trí chủ chốt của quốc gia, Và dường như qua các nhiệm kỳ thì đều có sự thay đổi nhân sự.

Ngay cả một quốc gia như Mỹ, là một quốc gia hợp Chủng Quốc từ trước đến nay cũng chỉ có hai đảng lãnh đạo đó là Đảng dân chủ và Đảng Cộng Hòa, hai đảng này thay nhau cầm quyền từ khi lập quốc cho đến nay. Nhưng với tổ chức KB "Việt Tân" thì từ sau khi Hoàng cơ Minh chết cho đến nay, thì chỉ có mấy kẻ tham quyền cố vị lãnh đạo một tổ chức chuyên đi cướp phá Việt kiều ở hải ngoại. Tổ chức KB "Việt Tân" ra vẻ bầu bán rất dân chủ, dựa trên các nguyên tắc của Mỹ và các nước phương tây trong chế độ chính trị. Tuy nhiên, sự thật đã thấy rõ là một tổ chức mà những kẻ cầm đầu từ trước đến nay chỉ thay nhau để bóc lột các thành viên trong tổ chức thì cũng chẳng đáng gì là dân chủ mà thực tế chỉ là những kẻ độc tài.

Một tổ chức Nếu tự cho mình là dân chủ, thì trong việc bầu ra ban lãnh đạo phải do các thành viên trong đó bầu bán chứ không phải là việc chỉ định hay áp đặt cho những kẻ cầm đầu từ trẻ cho đến già. Trong đó Lý Thái Hùng; Hoàng Tứ Duy và Hà Đông Xuyến là những kẻ thay nhau Độc Tài cầm quyền từ trước cho đến nay. Nhiệm kỳ vừa qua ba kẻ cầm đầu tổ chức KB này công khai về vị trí lãnh Đại Hội Đảng lần thứ 9. nhiệm kỳ 3 năm (2022-2025) gồm: Chủ Tịch của tổ chức kB là: Lý Thái Hùng, vị trí phó là Hoàng Tứ Duy, Phát Ngôn Nhân: Hà Đông Xuyến... Xưa nay tổ chức KB nổi danh với việc chuyên đi cướp bóc của đồng bào ta ở nước ngoài, nhưng bên trong lại thể hiện như là những kẻ đạo đức giả để tuyên truyền cho người dân Việt Nam. Thực tế thì, những gì mà tổ chức này tiến hành chống phá Việt Nam từ những năm 80 cho đến nay thì mới thấy được chúng không thể nào đứng ra để lãnh đạo một đất nước ổn định và phát triển mà chỉ là những kẻ đi bợ đít ngoại bang để làm giàu cho những kẻ đứng đầu tổ chức mà thôi.

Công cuộc “đốt lò” của Đảng và bài học tu dưỡng của Người lãnh đạo

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

TÔN THỜ TÔN GIÁO NÀO ĐÓ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

Gần đây trên một vài trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, thường viện dẫn một số trường hợp công dân Việt Nam theo các tôn giáo vi phạm pháp luật bị các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp xử lý, để từ đó quy chụp nói rằng: “Việt Nam đàn áp tôn giáo”. Đây là một sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế, được tất cả những người có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, cụ thể như sau: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với việc khẳng định trong Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các luật, nghị định, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật.

Ở Việt Nam có hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động, với hơn 26 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số Việt Nam… Cùng với việc công nhận tư cách pháp nhân, mở mang cơ sở thờ tự, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng đường hướng hoạt động tiến bộ theo tinh thần: Gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, ủng hộ và tích cực tham gia góp phần vào công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Những đối tượng mà một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam nhắc đến họ không phải bị bắt, bị đưa ra xét xử vì lý do tôn giáo mà là họ đã lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân. Một thực tế cần nhắc lại rằng, không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới, giáo dân trước hết là công dân. Trước khi thực hiện lời răn dạy của chúa, đức phật và các đấng tối cao họ phải có bổn phận thực hiện và chấp hành đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Không ai được phép lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị chống pháp Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tôn giáo không thể đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật. Giáo dân trước hết là công dân, mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Khi phạm vào các tội được quy định trong pháp luật, thì dù công dân đó có theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, theo tôn giáo nào đều chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng. Tự do tôn giáo không thể bị đánh lận với những đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phạm pháp. Ở Việt Nam không có chuyện đàn áp vì lý do tôn giáo, mà chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam bị xử lý mà thôi.

Ý NGHĨA CỦA VIỆC LAN TOẢ THÔNG TIN TÍCH CỰC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


Chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin tích cực

     Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực…

     Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.

     Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

Chọn thông tin tích cực để lan tỏa

     Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống.

     Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.

     Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

 

Gợi ý cách lan tỏa

thông tin tích cực

     Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…

     Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. 

     Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội.

     Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị, về quê hương và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.

     Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc./.