Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

 

KHI NÀO THÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
THAY THẾ ĐƯỢC CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
 

Theo lý luận của V.I.Lênin thì tại những nơi chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước đạt tới trình độ phát triển cao nhất, ở đó đã có sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, nhưng hoàn toàn không thể có quá trình tự động chuyển thành chủ nghĩa xã hội.

Bởi vì, vẫn còn tồn tại nhà nước của giai cấp tư sản, tức là nhà nước của thiểu số dân cư. Nhưng nếu thay đổi được nhà nước tư sản đó bằng nhà nước của đa số nhân dân thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ thuận lợi và nhanh chóng hơn những nơi chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chưa phát triển được đầy đủ.

Vấn đề chính quyền là vấn đề người ta không thể lẫn tránh được, cũng không thể gác lại, vì chính đó là vấn đề cơ bản, vấn đề quyết định tất cả mọi cái trong sự phát triển của cách mạng. Sự thay đổi bản chất của chính quyền nhà nước chỉ có thể thực hiện được thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Có thể bằng bạo lực song cũng có thể phi bạo lực, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể? “ Chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì khác hơn là một bước tiến tiếp liền ngay sau chế độ độc quyển tư bản chủ nghĩa của nhà nước”.[1]

[1] I.V.LLênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.34, tr.256.

 

NHẮC LẠI, ĐỂ YÊU THÊM HÒA BÌNH!

         Trên 1.000 lần máy bay, trong đó có khoảng 500 lần máy bay B52-được xem là "siêu pháo đài bay" bất khả xâm phạm, niềm tự hào của quân sự Mỹ với 4 vạn tấn bom trút xuống 67 xã ngoại thành, 39 phố nội thành, 7 ga xe lửa, 4 cầu, 4 bến phà của Hà Nội vào mùa Đông năm 1972. Với đòn đánh có tính chất hủy diệt vào trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của nước ta, chính quyền Richard Nicxon lộ rõ sự bội ước và muốn dùng sức mạnh bom đạn ép chúng ta đến bàn đàm phán, hòng buộc ta chấp nhận hòa bình theo sự áp đặt phía Mỹ. Nhưng không, chúng ta đã đối mặt với thách thức để bước vào cuộc chiến đấu...
     Những gì đã diễn ra với Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc trong những ngày tháng Chạp lịch sử đó sẽ mãi mãi không quên trong ký ức những người đã vượt qua bom đạn, những người yêu hòa bình, đấu tranh vì công lý, vì sự vẹn toàn của đất nước.
     Hẳn người dân Khâm Thiên, Bạch Mai... sẽ nhớ mãi những đổ nát hoang tàn, hẳn trang sử của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai sẽ tô đậm những ngày đau thương bị oanh tạc. Rồi khu phố Hai Bà Trưng, Nhà máy Cao su Sao Vàng, sân bay Bạch Mai, và Đông Anh, Yên Viên, Khuyến Lương, Đa Phúc, Dục Nôi, Cổ Loa... những trọng điểm, địa danh thân thương ken dày hố bom. Đã có gần 2.400 người chết, 1.355 người bị thương suốt 12 ngày đêm năm ấy. Người Hà Nội sẽ không quên tiếng ầm ì báo hiệu chết chóc của B52, sẽ không quên tiếng kẻng báo động, sẽ không quên tiếng guốc mộc gõ trên những cầu thang gỗ, tiếng í ới gọi nhau xuống hầm, sẽ không quên những lần sơ tán và ngoái trông từng góc phố, từng mái nhà, vườn hoa, mỗi cửa ô đang dần xa...
     Những em bé Hà Nội ngày ấy đã hát vang bài hát "Bé bé bằng bông" như lời tâm sự, như lời hẹn ước: "Mẹ đi sơ tán, bế em đi cùng.../Bao giờ chiến thắng đưa bé về phố đông". Những lớp học vắng lặng và trên bảng đen sáng ngời dòng phấn trắng: "Lớp học thân yêu ơi, chúng em sẽ trở về...". Thế đấy, không chỉ có những người lính chiến đấu bảo vệ thủ đô, mà trong tim mỗi người Hà Nội đều đã giữ trọn lời thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Và trong cuộc điện thoại với các sư đoàn chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh rằng: "Cả nước đang hướng về. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội...". Bộ đội tên lửa, bộ đội phòng không không quân, lực lượng tự vệ ở các nhà máy, xí nghiệp, những người ở lại cứu thương, cứu hỏa, cứu người... tất cả đã sát cánh bên nhau, cùng Hà Nội làm nên chiến thắng.
     Những bản tình ca vẫn cất lên trên miệng hầm trú ẩn. Những đám cưới vẫn diễn ra giữa hai trận chiến đấu. Tiếng chuông nhà thờ vẫn vang thánh thót đêm Noel... Hà Nội đã rực lửa 12 ngày đêm, kiên cường khuất phục "siêu pháo đài bay" của Mỹ và làm nên một "Điện Biên Phủ trên không", buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, nối lại đàm phán hòa bình. Và người con gái của làng Ngọc Hà đã nở nụ cười bất diệt bên những luống hoa xuân, phía xa kia là xác chiếc "pháo đài bay" nằm bất động dưới đáy hồ Hữu Tiệp.
     50 năm đã qua. Những ngôi nhà cao tầng, những bóng cây xanh mát, những dòng người, xe hối hả đã làm nên một diện mạo thủ đô hôm nay. Đã và sẽ có những cuộc hội thảo khoa học-quân sự để nói về những điều làm nên chiến thắng. Đã và sẽ có những câu hỏi về sức mạnh quân sự, sức mạnh ý chí, sức mạnh của trí tuệ Việt Nam. Câu trả lời thật giản dị biết bao: Chúng tôi yêu hòa bình và chúng tôi yêu Tổ quốc!
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 27 THÁNG 10 NĂM 1950!

     “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”!
     Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 10/1950 tại Lam Sơm, tỉnh Cao Bằng.
     Kỷ luật là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm cho quân đội luôn có sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh đã khẳng định:“quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên là biểu hiện tập trung cao nhất của việc chấp hành nghiêm kỷ luật. Do vậy, Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương…
     Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, lời huấn thị: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng, trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân đã góp phần xây dựng Quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

  Những vấn đề cơ bản về tác chiến chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Đặc điểm cơ bản của tác chiến không gian mạng là diễn ra trong môi trường mang tính đặc thù cao, nên cần được quán triệt, hiểu rõ về nó một cách cơ bản, tổng thể trên tất cả các mặt, yếu tố, nội dung liên quan; từ đó, đề ra các nội dung, giải pháp cơ bản, nhất là nghệ thuật tác chiến cho loại hình tác chiến này phù hợp với từng đối tượng, mục tiêu, thủ đoạn tác chiến cụ thể, v.v. Thực hiện điều đó, trước hết, chúng ta cần hiểu, thống nhất những vấn đề cơ bản và chung nhất sau:

Về đối tượng, môi trường, đặc điểm tác chiến. Các thế lực thù địch, phần tử phản động, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị,... ở trong nước và ngoài nước, lực lượng tác chiến không gian mạng của địch sử dụng không gian mạng để chống phá, phá hoại, đánh phá các hoạt động về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh,... của ta cả trong thời bình và thời chiến đều được xác định là đối tượng tác chiến trong chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Hoạt động tác chiến đó được diễn ra trong môi trường tác chiến thông tin, bao gồm cơ sở hạ tầng thông tin và các hoạt động xã hội trên không gian mạng. Mặc dù, không gian mạng là môi trường tác chiến vừa mang tính hữu hình, vừa vô hình; vừa có giới hạn, vừa không có giới hạn; vừa thực, vừa ảo, song đây được coi là một trong những chiến trường quan trọng, nơi các quốc gia luôn củng cố, gia tăng sức mạnh, cạnh tranh sự ảnh hưởng. Hoạt động tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có đặc điểm chung của chiến tranh thông tin, như: khó nhận diện, đánh giá, dự báo; không giới hạn về không gian, thời gian; lực lượng tác chiến đa dạng, phức tạp; tính tri thức cao; sát thương mềm là chủ yếu với hiệu suất cao. Ngoài ra, có đặc điểm riêng đó là: mọi hoạt động (chiến thuật, kỹ thuật) đều gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông; đánh hiểm vào các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, quân sự, quốc phòng, hệ thống tự động hóa chỉ huy, điều khiển của đối phương và tác chiến hết sức linh hoạt.

Về mục tiêu, nhiệm vụ tác chiến trên không gian mạng. Mục tiêu chung là bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng; lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ độc lập, tự do, chế độ xã hội và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Mục tiêu bảo vệ cụ thể là hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, an ninh, thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, hệ thống điều khiển vũ khí; các cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia, như: viễn thông, giao thông, điện lực, ngân hàng, hàng không,… và hệ thống thông tin của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể trong tác chiến mạng, thông tin mạng, trong các tình huống cụ thể để xác định mục tiêu nào là chủ yếu, quan trọng.

Tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có nhiệm vụ thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình; nghiên cứu, tìm hiểu các phương thức tác chiến, cách đánh,... của đối tượng đấu tranh, tác chiến không gian mạng trên tất cả các môi trường tác chiến (không, bộ, biển, vũ trụ và không gian mạng). Trực tiếp chiến đấu trên không gian mạng, bảo vệ các hệ thống trinh sát, giám sát, thông tin chỉ huy, điều khiển vũ khí, hỏa lực của Quân đội. Chủ trì các hoạt động tiến công, phòng thủ, xây dựng thế trận trên không gian mạng, phối hợp với các lực lượng bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, giám sát, phát hiện, đánh giá, phân loại thông tin, cảnh báo sớm các nguồn phát tán thông tin vi phạm pháp luật; nhận định xu hướng thông tin, chủ động, tăng cường định hướng thông tin tích cực, đẩy lùi, pha loãng, hạ thấp tỷ lệ thông tin tiêu cực trên không gian mạng. Tổ chức bảo đảm công nghệ thông tin cho hoạt động quản lý, chỉ huy, điều hành, điều khiển vũ khí của các cơ quan, đơn vị.

Về nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, phương pháp tác chiến. Để tác chiến trên không gian mạng đạt hiệu quả cao, cần tuân thủ nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo “chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, trí tuệ, sáng tạo” và hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tác chiến. Về phương pháp tác chiến chung là dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, hình thành thế trận đấu tranh, tác chiến trên không gian mạng vững chắc, liên hoàn, bí mật. Chọn đúng hướng, khu vực, hệ thống thông tin, kênh, máy chủ, mục tiêu chủ yếu trong đấu tranh và tác chiến mạng. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp tác chiến, hình thức đấu tranh trong trinh sát, phòng thủ, tiến công trên không gian mạng, kết hợp giữa tác chiến và đấu tranh trong các loại hình tác chiến chiến lược, chiến dịch, trận chiến đấu; thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh chống âm mưu, hoạt động phá hoại, bạo loạn chính trị, vũ trang, lật đổ, ly khai,... ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn tác chiến, phá hoại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Về lực lượng, sử dụng lực lượng tác chiến trên không gian mạng. Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; trong đó, hiện nay lấy lực lượng của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng làm nòng cốt, kết hợp với lực lượng tác chiến không gian mạng, công nghệ thông tin quân sự, dân sự. Lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng gồm có lực lượng tác chiến không gian mạng cấp chiến lược, chiến dịch; lực lượng công nghệ thông tin các đơn vị, doanh nghiệp Quân đội.

Việc bố trí, sử dụng lực lượng tác chiến không gian mạng phải hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể, từng tình huống, trận chiến đấu, chiến dịch và giai đoạn tác chiến trong thời bình, thời chiến; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chuyên trách với lực lượng kiêm nhiệm, rộng rãi, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành thống nhất theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Tập trung sử dụng lực lượng hợp lý, đúng khả năng, thế mạnh, sở trường tác chiến trên từng hướng, khu vực, từng mạng, từ xa đến gần, rộng khắp trên cả hệ thống thông tin, kênh, máy chủ, bảo đảm đúng thời điểm, thời cơ với hiệu suất cao trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Cùng với sự ra đời, phát triển của công nghệ thông tin, cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã làm xuất hiện các hình thái chiến tranh trên không gian mạng, như: chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng máy tính,... thì tác chiến không gian mạng là loại hình tác chiến chiến lược mới, cần được quán triệt sâu sắc, nghiên cứu thấu đáo để từng bước phát triển, hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

ĐÔI NÉT VỀ VŨ KHÍ KHÔNG GIAN MẠNG

Thuật ngữ vũ khí không gian mạng ngày càng được sử dụng rộng rãi bởi các chính trị gia và các nhà quân sự khi đề cập đến hành vi tấn công mạng của quốc gia này nhằm vào cơ sở hạ tầng của quốc gia khác. Tùy theo bối cảnh, mục đích sử dụng và kẻ tấn công, bất kỳ công cụ tấn công nào cũng có thể được xác định là vũ khí không gian mạng. Theo đó, các công cụ như Duqu, Stuxnet và các mã độc tương tự dễ dàng được xác định là vũ khí không gian mạng.

Thuật ngữ vũ khí không gian mạng hiện nay đang được hiểu là một loạt các công cụ phần cứng và phần mềm, nhằm khai thác các lỗ hổng trong hệ thống xử lý và truyền tải thông tin hoặc hệ thống kỹ thuật và phần mềm.

Vũ khí không gian mạng được chia làm 4 loại: Thứ nhất - Hệ thống chọn lọc (Selective system), Thứ hai - Các hệ thống tương thích với sự điều khiển từ bên ngoài (Adaptive systems with external control), Thứ ba - Các hệ thống tương thích tự hành (Autonomous adaptive system) và Thứ tư - Hệ thống tự học tự hành (Autonomous learning system).

Một trong những ví dụ điển hình cho vũ khí không gian mạng loại thứ nhất là sâu Stuxnet. Loại sâu máy tính này nhắm đến các hệ thống máy tính công nghiệp và gây ra thiệt hại đáng kể cho chương trình hạt nhân của Iran. Hai nước được cho là có liên quan đến việc xây dựng và phát tán loại mã độc này là Mỹ và Israel.

Một sự thật rằng, Stuxnet không gây hại đối với những máy tính sử dụng hệ điều hành Windows bị lây nhiễm, bởi đây không phải mục đích chính của sâu máy tính này. Điều mà Stuxnet tìm kiếm là bộ điều khiển lập trình (Programmable Logic Controller - PLC) được tạo ra bởi hãng sản xuất thiết bị Siemens (Đức). Đây là những hệ thống điều khiển công nghiệp thực thi tất cả các quy trình tự động trên các tầng nhà máy, trong các nhà máy hóa học, nhà máy lọc dầu, tại các đường ống, các nhà máy điện hạt nhân.  Những PLC này thường được điều khiển bởi máy tính. Thời điểm đó, Stuxnet tìm kiếm phần mềm điều khiển SIMATIC WinCC/Step7 của Siemens trên những máy tính bị nhiễm.

Các chuyên gia gọi Stuxnet là tên lửa mạng cấp quân sự, bởi nó được sử dụng để tiến hành cuộc tấn công mạng chống lại chương trình hạt nhân của Iran.

Thứ vũ khí này có thể âm thầm làm hỏng uranium đang được tinh chế hoặc phá hỏng các thiết bị. Bởi một khi đã bị lây nhiễm, máy tính điều khiển máy ly tâm chạy nhanh hơn hoặc chậm hơn bình thường. Tuy nhiên, kết quả vẫn hiển thị không có gì bất thường. Ước tính 5.000 máy ly tâm của Iran tại nhà máy hạt nhân ở Natanz đã “hóa điên” trong cuộc tấn công mạng cực kỳ bất ngờ này. Điều này làm tham vọng về các dự án hạt nhân của Iran bị chậm lại khoảng 2 năm.

Qua phân tích có thể rút ra một số đặc điểm nhận dạng vũ khí không gian mạng thứ nhất là được sử dụng để vô hiệu hóa cơ sở hạ tầng quan trọng của đối phương, nhằm gia tăng hiệu quả của đòn tấn công đầu tiên Việc sử dụng vũ khí không gian mạng thứ nhất tương tự như cấu trúc của cuộc tấn công hạt nhân đầu tiên và như một vũ khí tấn công chiến lược. Tuy nhiên, loại vũ khí này không có tiềm năng răn đe; có tác động gần như tức thời, thiếu cảnh báo trong quá trình sử dụng và nhu cầu đảm bảo bí mật của sự phát triển (thực tế là có sẵn) đưa những vũ khí đó vượt ra ngoài phạm vi của các thỏa thuận hiện có.

Một vũ khí không gian mạng được xếp loại thứ nhất dường như không có tác động đến các phương pháp chiến tranh. Đối với các đơn vị quân đội, việc sử dụng các vũ khí không gian mạng như vậy là không thực tế. Bởi nó đòi hỏi nhân sự có trình độ cao, có sự chọn lọc, không thể sử dụng ở cấp chiến thuật và cực kỳ tốn kém trong công tác chỉ huy, phát triển. Nó sẽ được đưa vào kho vũ khí của các lực lượng đặc biệt và thường sẽ là các mẫu được thiết kế riêng cho các nhiệm vụ cụ thể.

Về mặt tác động: vũ khí không gian mạng thứ nhất ảnh hưởng đến hệ thống thông tin, không có sự can thiệp vật lý; hệ thống được xác định nghiêm ngặt; hệ thống có khả năng khai thác các lỗ hổng bảo mật; xảy ra trong các hệ thống hạn chế, hệ thống đóng.

Về mặt kết quả của tác động: loại vũ khí này có kết quả dự đoán và lặp lại. Bởi mục tiêu của nó nhắm vào các hệ thống, tổ hợp hoạt động theo các quy luật và thuật toán cố định được cài đặt trước (tổ hợp điều khiển làm giàu uranium, hệ thống điều khiển SCDA… với các phần mềm nhúng điều khiển).

 

 

KHÁI NIỆM CHIẾN TRANH KHÔNG GIAN MẠNG

Khái niệm chiến tranh không gian mạng được mô tả theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, chiến tranh không gian mạng là việc sử dụng thông tin trên mạng để đạt được mục đích quốc gia. Nó bao gồm mọi hoạt động chiến tranh và phi chiến tranh sử dụng công nghệ thông tin, diễn ra không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà còn cả trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, ngoại giao… Với cách hiểu này, chiến tranh không gian mạng có phạm vi rất rộng, bao hàm một phần chiến tranh thông tin.

Còn theo nghĩa hẹp, chiến tranh không gian mạng chỉ bao gồm sự đối kháng giữa các hệ thống thông tin quân sự; sử dụng các phương tiện điện tử, mạng máy tính và cả tác động tâm lý để tấn công vào toàn bộ hệ thống thông tin, vũ khí thông tin hóa (bao gồm cả con người), phá hoại luồng thông tin chiến trường nhằm làm ảnh hưởng, suy giảm và phá hủy khả năng chỉ huy, kiểm soát của chủ thể khỏi những ảnh hưởng hoạt động tương tự của đối phương.

Các quốc gia thường nhìn nhận về khái niệm này theo nghĩa rộng. Theo tài liệu khái niệm về hoạt động của các lực lượng vũ trang Liên bang Nga trên không gian mạng ban hành tháng 03/2012 xác định: “Chiến tranh không gian mạng là sự đối đầu giữa hai hay nhiều quốc gia trong không gian mạng với mục đích gây tổn hại các hệ thống, quy trình và nguồn tài nguyên thông tin cũng như các kết cấu quan trọng khác, phá hoại hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, tác động đến tâm lý của người dân, nhằm gây ra bất ổn trong xã hội và nhà nước, thậm chí buộc nhà nước phải đưa ra những quyết định có lợi cho phe đối lập”.

Còn Liên minh Châu Âu (EU) cho rằng: “Chiến tranh mạng là những “Chiến dịch quân sự ảo” có thể gây ra hậu quả nặng nề cả về mặt dân sự lẫn quân sự và sẽ là một phần của những cuộc chiến trong tương lai” (Theo nghiên cứu về chiến tranh mạng của Viện Quan hệ quốc tế Pháp (Institut Francais des Relations Internationales – IFRI).

Như vậy, có thể hiểu chiến tranh không gian mạng là hoạt động tấn công mạng do một quốc gia hay vùng lãnh thổ tiến hành nhằm vào một quốc gia khác, gây tổn hại các hệ thống, quy trình và nguồn tài nguyên thông tin cũng như các kết cấu hạ tầng quan trọng khác, phá hoại hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội, tác động đến tâm lý của người dân nhằm tạo lợi thế về quân sự, chính trị, kinh tế, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia.

 

Tác chiến không gian mạng, hình thức tác chiến mới bảo vệ Tổ quốc, loại hình tác chiến chiến lược mới 

Không gian mạng được coi là một phần lãnh thổ quốc gia, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của công nghệ thông tin hiện nay thì việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng càng trở nên cấp thiết, cần được quán triệt, triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Các quốc gia có quyền kiểm soát, đấu tranh ngăn chặn, bóc gỡ các hoạt động chống phá và tác chiến trên không gian mạng cả trong thời bình và khi xảy ra chiến tranh. Nhiều quốc gia trên thế giới coi tác chiến không gian mạng là loại hình tác chiến chủ yếu trong thế kỷ XXI, bộ phận quan trọng của tác chiến trong chiến tranh hiện đại. Học thuyết An ninh thông tin của Nga (năm 2016) xác định: tác chiến thông tin là hoạt động bảo vệ lợi ích sống còn của cá nhân, tổ chức xã hội, nhà nước trước các mối đe dọa bên trong và bên ngoài liên quan tới sử dụng không gian mạng; ngăn chặn các hành động thù địch, xâm lược từ không gian mạng, đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, v.v. Điều lệnh tác chiến mạng của Quân đội Mỹ chỉ rõ: tác chiến không gian mạng là một thành phần không thể tách rời của chiến tranh thông tin; các bên tham chiến sử dụng mạng internet, mạng máy tính dùng riêng, mạng viễn thông,... để thu thập, điều khiển, phá hoại mạng đối phương nhằm giành được các mục tiêu thông qua không gian mạng. Trung Quốc coi tác chiến không gian mạng là phương tiện chủ yếu nhằm kiểm soát không gian mạng của đối phương, bảo vệ không gian mạng của mình; là hoạt động đối kháng máy tính, gồm các hoạt động giám sát, bảo vệ và tiến công mạng; đồng thời, kết hợp với khả năng chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, máy tính, tình báo, trinh sát, giám sát (C4ISR) truyền thống, tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến liên hợp. Từ các quan niệm trên cho thấy, khái niệm tác chiến không gian mạng được tiếp cận ở nhiều góc độ, tùy thuộc vào quan điểm, chiến lược, học thuyết quân sự của từng nước và tiếp tục phát triển, hoàn thiện cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ.

Đối với nước ta, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Tập trung xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong Nghị định số 98/2015/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của lực lượng Tác chiến không gian mạng đã xác định: “Tác chiến không gian mạng là hoạt động đánh địch có tổ chức của lực lượng Tác chiến không gian mạng trên không gian mạng nằm trong thế trận chiến tranh nhân dân nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, tác chiến không gian mạng được tiến hành cả trong thời bình và thời chiến. Trong thời bình, đấu tranh trên không gian mạng nhằm bảo vệ an toàn hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; bảo vệ an toàn, an ninh thông tin, bí mật, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và sẵn sàng đối phó với các tình huống. Trong thời chiến, tác chiến không gian mạng không chỉ phá hủy hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin, hoạt động chỉ huy, điều khiển tác chiến mà còn tác động vào trạng thái tâm lý của đối phương; phối hợp, phát huy hiệu quả các hệ thống, phương tiện chỉ huy bộ đội, điều khiển vũ khí,… giành ưu thế trên chiến trường, chi viện cho tác chiến trên các chiến trường, môi trường tác chiến khác, thậm chí còn quyết định tiến trình chiến tranh. Như vậy, có thể khẳng định, tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là loại hình tác chiến chiến lược mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

FREEDOM HOUSE LẠI DIỄN TRÒ “BÁO CÁO TỰ DO INTERNET”


Ngày 18/10/2022, Tổ chức Freedom House (FH) có trụ sở chính đặt ở Mỹ, lại công bố cái gọi là “Báo cáo về tự do Internet năm 2022”. FH đã xếp Việt Nam vào nhóm nước không có tự do Internet, chỉ đạt 22/100 điểm; trong đó, 12 điểm cho danh mục “trở ngại để truy cập”, 6 điểm cho “giới hạn nội dung” và 4 điểm cho “vi phạm quyền của người dùng”. Đây là năm thứ ba liên tiếp Việt Nam bị điểm 22/100 và là năm thứ 7 liên tiếp Việt Nam không có tự do Internet.
Theo báo cáo, trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2022, Chính phủ Việt Nam đã ra lệnh cho các công ty truyền thông xã hội quốc tế gỡ bỏ hàng nghìn nội dung, đặc biệt nhằm vào những lời chỉ trích quan chức nhà nước; chính quyền áp dụng các bản án tù đối với những người bảo vệ nhân quyền và những người sử dụng Internet vì các hoạt động trực tuyến của họ...
Như vậy, cũng như những năm trước, báo cáo tiếp tục vu cáo Nhà nước Việt Nam “hạn chế quyền của người sử dụng Internet, kiểm soát nội dung trên mạng xã hội”; xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia “không có tự do Internet”. Đó thực chất vẫn là những luận điệu xuyên tạc cũ rích, vô giá trị về tình hình tự do Internet ở Việt Nam.
Thực tiễn ở nhiều quốc gia, việc thực hiện quyền tự do Internet luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Điển hình như: Ở Mỹ, Quốc hội nước này đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng Internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực, khiêu dâm trẻ em hay là vi phạm sở hữu trí tuệ. Liên minh châu Âu đã ban hành luật về bảo vệ sự riêng tư toàn cầu nhằm hạn chế hoạt động của Internet, mạng xã hội vi phạm quyền riêng tư của công dân của các nước thành viên. Năm 2021, EU cũng đã yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc...
Nhằm đảm bảo an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam, trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Công nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin mạng; Nghị định số 27/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, bổ sung điều kiện về quản lý nội dung các trang thông tin điện tử, mạng xã hội... Đặc biệt, việc ban hành Luật An ninh mạng năm 2018 là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng lợi dụng Internet vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân, điều này không chỉ phù hợp với luật pháp quốc tế quy định trên lĩnh vực này, mà còn góp phần tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển của Internet và nền kinh tế số tại Việt Nam; xây dựng một môi trường mạng lành mạnh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của công dân.
Với chính sách nhất quán Việt Nam muốn là bạn của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhằm mục tiêu mở rộng quan hệ hợp tác, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam mong muốn FH tìm hiểu, đánh giá đúng sự thật về quyền tự do Internet ở Việt Nam để không đưa ra những báo cáo lệch lạc, sai sự thật về vấn đề này, ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
ST
Có thể là hình ảnh về con rắn và văn bản cho biết 'XUYÊN TẠC INTERNET Y'
2

KHÔNG THỂ NHÂN DANH HOẠT ĐỘNG VÌ MÔI TRƯỜNG ĐỂ “BẤT TUÂN PHÁP LUẬT”


Lợi dụng sự kiện Tổng Thư ký LHQ, ông António Guterres có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam (từ ngày 21-22/10). Ngày 20/10, một nhóm gồm 14 tổ chức nhân quyền quốc tế, gồm: Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (AI), Điều 19 (Article 19), Dự án 88 (The Project 88), Người Bảo vệ nhân quyền (DTD) và 9 tổ chức phi chính phủ khác đã gửi thư ngỏ chung kêu gọi Tổng Thư ký LHQ đề nghị Nhà nước Việt Nam trả tự do cho 4 nhà hoạt động môi trường bị kết án vì cáo buộc “trốn thuế” trong năm 2022, như: Ngụy Thị Khanh, Giám đốc tổ chức xã hội dân sự Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID); Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật và Phát triển Bền vững (LPSD), Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC), và ông Bạch Hùng Dương, Phó Giám đốc MEC.
Các tổ chức này cho rằng, việc bắt giữ, kết án các đối tượng trên là “hình sự hóa”, là“tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”. Đây là những tù nhân chính trị- nạn nhân điển hình của làn sóng đàn áp mới ở Việt Nam, đe dọa tiến bộ trong việc chống biến đổi khí hậu, bảo vệ nhân quyền và việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững của LHQ.
Đây không phải là lần đầu HRV, AI… hay DTD đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Những thông tin không đúng về vụ việc, cố tình phớt lờ sự thật để xuyên tạc, vẽ ra các “thuyết âm mưu”, hướng lái dư luận về bản chất vụ việc, dựng chuyện chính quyền “bắt bớ người vô tội” để “ngăn chặn các tổ chức dân sự”...
Những cái tên được HRV, AI… hay DTD phù phép bằng cụm từ “hình sự hóa tội trốn thuế” như Ngụy Thị Khanh, Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi và Bạch Hùng Dương thực chất là những “con sâu” phá hoại nền kinh tế của Việt Nam. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là biện pháp “hình sự hóa” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện để đánh giá về Việt Nam.
Trên thực tế, không riêng Việt Nam, mà các quốc gia khác trên thế giới cũng có những quy định hết sức chặt chẽ liên quan đến thuế. Tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì người phạm tội sẽ phải chịu những chế tài tương ứng. Do đó, việc khởi tố, xét xử bản án 24 tháng tù giam đối với bị cáo Ngụy Thị Khanh - cựu Giám đốc Green ID; 5 năm tù giam đối với bị cáo Đặng Đình Bách - cựu Giám đốc LPSD; 45 tháng tù giam đối với bị cáo Mai Phan Lợi - Chủ tịch MEC và 30 tháng tù giam đối với bị cáo Bạch Hùng Dương - Phó Giám đốc MEC về tội danh “trốn thuế” là việc phải làm của cơ quan chức năng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Quá trình điều tra, xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật.
Trước khi bị khởi tố, tuyên án tù, những đối tượng trên đều là những người có chức vụ và uy tín nhất định trong xã hội. Lẽ ra, với sự nổi tiếng của bản thân, những đối tượng này càng phải có việc làm đúng quy định pháp luật để nêu gương. Thế nhưng họ lại có hành vi “trốn thuế” và việc bị kết án về tội danh này là căn cứ vào hồ sơ, tài liệu và quá trình xét xử tại tòa.
Từ những vụ việc trên cho thấy, không thể nhân danh “hoạt động vì môi trường” hay “kêu gọi tài trợ” để vi phạm pháp luật. Và không thể biện minh, cổ súy cho hành vi sai trái ấy bằng những luận điệu lố bịch, lời lẽ vô lý, xảo trá, càng không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam như cái cách mà HRV, AI… hay DTD - nhân danh là “nhà dân chủ” đang cố tình lợi dụng vấn đề "xã hội dân sự" để bao biện cho hành vi sai phạm, tạo cớ đả phá chính quyền nhân dân, cố tình dựng chuyện hòng làm giảm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'ம8 VOA Cáctổ chức quố‘c tế kêu goiHội đồng Nhân quyền LHQ yêu cầu VN cải thiện nhân quyền'
1

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Ngay sau Hội nghị thành công và khi kỳ họp thứ tư, Quốc hội Khóa XV họp tuần đầu tiên, trên 1 số diễn đàn, mạng xã hội đã có những bài viết, những ý kiến đội lốt là “nhà dân chủ”, “trí thức” đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Đây không phải là lần đầu tiên các thế lực thù địch xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tế thời gian qua cho thấy, cứ mỗi lần Đảng, Quốc hội họp, mỗi lần bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là các luận điệu chống phá về Nhà nước pháp quyền XHCN của các phần tử chống đối, thù địch lại đem ra chép lại. Thế nhưng dù có “tung hỏa mù”, có những “vỏ bọc kín đáo” thì luận điệu đó vẫn không che nổi bản chất, âm mưu thâm độc của họ.
Thực tế, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật, vì dân chủ, con người, quyền con người, quyền công dân. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2 Hiến pháp năm 2013).
Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số đối tượng còn cho rằng, “đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN”, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.
Thậm chí, một số người nhân danh “đổi mới” để vu cáo rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền”; họ còn cho rằng, “việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ”… Những luận điệu trên thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập, có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển KT-XH và quản lý đất nước trong tình hình mới. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được luận giải một cách đầy đủ và thuyết phục; ý thức chấp hành pháp luật còn chưa nghiêm; cơ chế bảo đảm vai trò chủ thể, quyền làm chủ của nhân dân, các quyền con người, quyền công dân chưa được phát huy đầy đủ; cải cách hành chính, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước; tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Quyền lực của Nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện, vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ.
Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta đã nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Để xây dựng Đề án trên, Ban Chỉ đạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, lấy ý kiến các tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cuộc tọa đàm chuyên sâu để lấy ý kiến rộng rãi. Quá trình xây dựng Đề án được đánh giá cao về cách làm bài bản, dân chủ, khoa học, tạo được sự đồng thuận cao trong các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng Đề án. Tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhất trí thông qua.
Vì thế, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ”, “trí thức” xuyên tạc về Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” mà chúng ta đang xây dựng. Chúng ta tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo của Đảng, sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, sẽ góp phần vào thành công của Đề án.
ST

BÁC CHÚC KHÔNG QUÂN CÓ NHIỀU " CỐC " HƠN NỮA



Anh hùng Phi công Nguyễn Văn Cốc sinh năm 1942 tại xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Ông trúng tuyển phi công năm 1961 và được huấn luyện tại trường dự khóa bay ở Hải Phòng. Sau chuyến huấn luyện phi công tại Liên Xô, năm 1964, ông về nước, lái máy bay MiG-17 tham gia chiến đấu. Đến năm 1965, ông được chọn học chuyển loại lái máy bay MiG-21 và trở về nằm trong biên chế Trung đoàn không quân 921 (Đoàn Sao Đỏ).
Trong đội hình biên đội máy bay MiG-21, ông thường được phân công bay vị trí số 2, với nhiệm vụ bảo vệ số 1 công kích đối phương. Tuy nhiên, ông đã cải tiến chiến thuật, cùng tham gia tấn công máy bay đối phương, nhờ đó, hiệu suất chiến đấu của phi đội tăng lên rõ rệt. Vì thế, đồng đội gọi ông bằng biệt danh “Chim cắt số 2”.
Với sự sáng tạo chiến thuật trong không chiến, chỉ riêng trong năm 1967, ông đã bắn rơi 6 máy bay đối phương. Trong tổng số 9 chiếc, có 6 chiếc ông bắn hạ khi bay ở vị trí số 2. Từ đó, chiến thuật do ông sáng tạo được đưa vào nội dung huấn luyện và thực tiễn đã mang lại kết quả tốt, giúp không quân Việt Nam nâng cao hiệu suất chiến đấu trong một thời gian dài, khiến cho các phi công Mỹ cũng khâm phục.
Ngày 18 tháng 6 năm 1969, ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam, với thành tích bắn hạ 9 máy bay Mỹ chỉ trong 2 năm. Trên chiếc MiG-21 PF, số máy bay ông bắn hạ được phía Việt Nam công bố gồm 11 chiếc, trong đó có 3 F-4, 5 F-105, 1 chiếc F-102 và 2 máy bay trinh sát không người lái. Phía Mỹ thì thừa nhận số máy bay bị ông bắn hạ gồm 9 chiếc, trong đó có 2 F-4D, 1 F-4B, 2 F-105F, 1 F-105D, 1 F-102A và 2 chiếc UAV trinh sát. Trong toàn bộ các cuộc không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam, ông có số bắn hạ máy bay cao nhất của cả Việt Nam và Mỹ. Ngoài ra, ông còn hỗ trợ đồng đội bắn hạ thêm 9 máy bay nữa. Khi đó, ông mới vừa 27 tuổi, mang quân hàm Đại úy Không quân.
Sưu tầm