Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

Khắc phục các loại “bệnh cá nhân”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”, mà Người còn nhấn mạnh rằng “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”. 

Tự soi để nhận diện các loại "bệnh cá nhân"  

Những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong mình là những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, họ không còn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không còn gương mẫu, tiền phong, thống nhất giữa nói và làm; không còn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. 

Bài 2: Khắc phục các loại “bệnh cá nhân”
Tranh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo. 

Họ quên mất rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, nên, trong họ cái tôi luôn được đề cao. Họ luôn coi mình là trung tâm, có quyền hưởng thụ, chăm chăm tính đếm lợi ích của cá nhân mình và người thân, dòng họ mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, khi đã để những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, thì dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là sống có lý tưởng, vì lý tưởng của Đảng mà hành động.

Họ kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ thích “nhìn từ trên xuống” khi phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình. Họ sợ tự phê bình hay bị người khác phê bình sẽ làm mất đi cái uy thế, cái thể diện, cái uy tín của họ, nên “họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh cán bộ ngoài Đảng”. Không dừng ở đó, “họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”. Thậm chí có những người còn cho rằng mình là “cứu tinh’ của dân, “công thần” của Đảng nên đã “kể công” với Đảng, “muốn Đảng phải “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ”. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, “oán trách Đảng”, vì cho rằng mình “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ. 

Trong công việc, vì không muốn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và tự cho mình quyền hành động tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, nên họ độc đoán, chuyên quyền và mắc các trọng bệnh là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh khai hội, bệnh nể nang, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp... Những chứng tật bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong nhiều bài viết, bài nói và bài phát biểu của mình; và cũng theo Người, những “bệnh cá nhân” này không chỉ gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng.  

Trong quan hệ với quần chúng, họ tự cho rằng “mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng". Họ không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, nên đóng cửa, ngồi bàn giấy, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi dùng mệnh lệnh “cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”, ép dân chúng làm. Vì tự cho mình quyền là “quan phụ mẫu”, nên những cán bộ, đảng viên để chủ nghĩa cá nhân chi phối này thậm chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện còn không bàn bạc, không giải thích với quần chúng; không cho quần chúng phát biểu, tham gia ý kiến đóng góp mà chỉ “bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh” của mình. Vì tự cho mình quyền được “ăn trên ngồi trốc”, nên những vị “cha mẹ dân” này không cần biết đến cơ sở, cũng không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến xác đáng của quần chúng... khiến “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Tất cả những chứng bệnh nêu trên đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra; đều xuất hiện ở những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tất cả những “bệnh cá nhân” này dường như không chững lại mà còn tiếp tục nảy nở cùng với thời gian. “Chúng” đã, đang và sẽ xuất hiện với những biểu hiện mới, khi công khai, khi ngấm ngầm, song dù ở dưới dạng nào thì “chúng” cũng đều trái với đạo đức cách mạng, trái với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính và vì thế “chúng” đều vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng và các nguyên tắc của một Đảng Mácxít-Lêninnít chân chính, cách mạng. Tất cả những “trọng bệnh” này đều đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi để nhận diện đúng và tự sửa/tự khắc phục bằng những phương pháp hữu hiệu theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh! 

Rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục  

Đấu tranh để trừ bỏ, khắc phục các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân là “tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”. Đó là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không được nản chí, buông xuôi. Dùng đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khắc phục những “bệnh cá nhân”, để kiên quyết loại bỏ kẻ địch nội xâm ra khỏi mỗi con người, ra khỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. 

Vì rằng, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”, cho nên để đấu tranh trừ bỏ, khắc phục những “bệnh cá nhân”, thì: 

Một là, đối với mình: Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Trong đó, chú trọng việc tự rèn mình, tự sửa mình để phòng, tránh sự kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, vì tự mãn, tự túc sẽ thoái bộ, lạc hậu, sẽ không thể tiến bộ. Đồng thời, phải tìm tòi, học hỏi trong nhân dân; trong đồng nghiệp, đồng chí; trong cấp trên và cả cấp dưới để cầu tiến bộ, để học lấy điều hay của người mà làm giàu tri thức khoa học, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý của bản thân mình, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Hai là, đối với tổ chức: Quán triệt yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, nỗ lực “rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” gắn với phát huy vai trò nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm... để kiên quyết làm đúng nghị quyết của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, trọng trách càng cao càng yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Đảng, lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trên tinh thần “đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”. 

Ba là, đối với công việc: Mỗi người đều phải “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin”, “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” và “luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Trong mọi công việc, trước khi quyết định đều phải nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra rõ ràng, xem xét kỹ lưỡng, vì lợi ích chung. Khi đã triển khai thực hiện thì phải quyết tâm làm và làm đến cùng, chứ không làm nửa vời, được chăng hay chớ; đồng thời, phải phát huy vai trò tiền phong của mình, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để khắc phục mọi khó khăn, trở ngại hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình triển khai, không vì thành tích, sự hiếu danh, hiếu vị và tiền tài mà bất chấp tổn hại, bất chấp quy luật khách quan...

Bốn là, đối với nhân dân: Một trong những phương pháp để đấu tranh thắng lợi, trừ bỏ được các “bệnh cá nhân” chính là người cán bộ, đảng viên hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng; tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hǎng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng. Vì thế, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, để giám sát cán bộ, đảng viên ở cơ quan và địa bàn cư trú cũng chính là một trong những “biệt dược” để chữa được các “bệnh cá nhân”. Và cũng vì thế, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên hướng về nhân dân, vì nhân dân hết lòng, hết sức phụng sự với tinh thần liêm chính, với phương châm “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, thì nhất định sẽ không còn sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham ô, tham nhũng, lãng phí, cũng như sẽ không còn những cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật phải xử lý như thời gian qua.

Trau dồi tinh thần “dĩ công vi thượng”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. Đó chính là tinh thần “dĩ công vi thượng”.

Giữ được tinh thần “dĩ công vi thượng” sẽ không để những thói hư, tật xấu của chủ nghĩa cá nhân chi phối bản thân mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống; là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết...”.

 "Dĩ công vi thượng” là tiêu chuẩn đảng viên

Làm cách mạng là “một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ” và “mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”, nên “dĩ công vi thượng” là yêu cầu có tính nguyên tắc mà đảng viên phải thực hiện.

“Dĩ công vi thượng” là phẩm cách cao quý của người đảng viên cộng sản chân chính, không chỉ thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”, mà còn giúp mỗi người khẳng định bản lĩnh chính trị, trí lực, thể lực và tâm lực trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. “Dĩ công vi thượng” chính là sự mẫu mực nêu gương trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm của người cán bộ, đảng viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Đó không chỉ là đặt việc công lên trên hết, trước hết; không chỉ là ứng xử với quyết định của tổ chức, với công việc của cơ quan và với mọi người trong tổ chức một cách “chí công vô tư”, mà còn phải là “làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa”. Mà muốn làm được, thì “phải: quyết tâm, tín tâm, đồng tâm” và nhất định phải “thực hành làm gương nêu ba chữ ấy”. 

Sức mạnh của tinh thần “dĩ công vi thượng” không chỉ dừng lại ở việc khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, cổ vũ và phát huy sự sáng tạo của quần chúng nhân dân nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, mà còn giúp người cán bộ, đảng viên nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc trong thực tiễn. Để phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, trừ bỏ kẻ địch luôn ẩn nấp trong mỗi người thì bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện, tự bồi dưỡng sức đề kháng, sự miễn dịch cho chính mình. Cùng với việc thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thì vacine để miễn dịch tốt nhất chống chủ nghĩa cá nhân chính là tinh thần “dĩ công vi thượng”. Vì thế, dù ở đâu hay trong bất kỳ thời điểm nào, chừng nào người cán bộ, đảng viên còn làm việc với tinh thần “dĩ công vi thượng”, còn đề cao tinh thần ấy, cốt cách ấy, thì chừng đó chủ nghĩa cá nhân nhất định được ngăn chặn và bị đẩy lùi.

Thực tế cho thấy, trong những năm nếm mật, nằm gai cùng quần chúng nhân dân đấu tranh để giành chính quyền (1930-1945); trong những cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và trong hơn 35 năm đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đều thấm nhuần sâu sắc những điều răn về đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), Sao cho được lòng dân (1945), Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (1945), Sửa đổi lối làm việc (1947), Đạo đức cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969)... ; đều tận tâm, tận lực phấn đấu, phụng sự sự nghiệp cách mạng với tinh thần “dĩ công vi thượng”.

Đó đều là những người cán bộ, đảng viên chân chính; là những người không chỉ thường xuyên, nghiêm túc trau dồi những phẩm chất đạo đức cao quý của người cộng sản mà còn ra sức phấn đấu, vượt lên mọi khó khăn, thách thức để lãnh đạo quần chúng nhân dân, chia ngọt, sẻ bùi cùng dân chúng, làm nên những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Tinh thần “dĩ công vi thượng” đó không chỉ được đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đề cao trong những năm chiến tranh, mà còn luôn được quán triệt, triển khai trong thời bình: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dù khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân (...) phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”, để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của quần chúng, nhằm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, làm cho dân giàu, nước mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.

Để “dĩ công vi thượng” trở thành sức mạnh nội sinh 

Những nhiệm kỳ gần đây, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh gắn liền với cuộc đấu tranh chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân-nguyên nhân sâu sa của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tuy nhiên, vì những hệ lụy từ yếu tố kinh tế thị trường, từ sự cám dỗ bởi vật chất, bởi lối sống thực dụng, xa hoa, hưởng lạc, nên vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Những cá nhân, tổ chức liên quan đến vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và CDC một số địa phương hay trong vụ án "Nhận hối lộ" để xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước nhằm trục lợi cá nhân xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao... là minh chứng cho thấy họ (cá nhân, tổ chức) đã không làm việc với tinh thần “dĩ công vi thượng”.

Họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền lực được trao để trục lợi cho cá nhân, nhóm lợi ích mà không màng đến lợi ích của người dân, gây bức xúc trong dư luận. Họ để chủ nghĩa cá nhân chi phối vì đã không học và làm theo tinh thần các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng như Chỉ thị số 03-CT/TW khóa XI, Chỉ thị số 05-CT/TW khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về "đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"... 

Vì thế, để “dĩ công vi thượng” trở thành sức mạnh của mỗi cá nhân, tổ chức và luôn được thực hành tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, cần thực hiện có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau: 

Một là, cùng với việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, Điều lệ Ðảng, kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (bất kể người đó là ai, đang công tác hay đã nghỉ hưu) là việc triển khai cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, để người có quyền không dám, không thể, không cần và cũng không muốn mưu cầu lợi ích riêng. Đồng thời, cũng không để nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát chỉ là hình thức, thậm chí bị vô hiệu hóa, để ý chí cá nhân, “cái tôi” cá nhân áp đặt lên tập thể trong mọi quyết định.

Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ” gắn liền với phát huy vai trò của người đứng đầu, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị...

Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”, mà còn “cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng”. Đồng thời, “phải củng cố mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Phải đề cao tinh thần kỷ luật, tinh thần nguyên tắc, tinh thần Đảng của mỗi đảng viên”, “nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”, coi đây là nhu cầu tự thân của mỗi người. Đây không chỉ là yêu cầu đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, mà còn khẳng định tính tự giác, sức mạnh nội sinh của mỗi người, bảo đảm để “dĩ công vi thượng” luôn được thực thi trong mọi lĩnh vực.

Ba là, trong từng chương trình, kế hoạch triển khai của mỗi tổ chức và cá nhân về đạo đức, “dĩ công vi thượng” đều phải được soi xét, nói và làm thống nhất trên cả 3 mối quan hệ (đối với mình, đối với người, đối với việc) và phải là một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá, xếp loại thi đua của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hằng năm. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải tự rèn mình để tránh xa, chống lại sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân (trong hoàn cảnh nào cũng không để sự kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự mãn trong mình trỗi dậy); đều phải tự soi những khiếm khuyết, hạn chế của bản thân để sửa chữa, đi liền với việc trau dồi, bồi dưỡng những ưu điểm, những điều hay từ những người xung quanh để tiến bộ.

Đối với công việc, không chỉ gương mẫu đi đầu, nói trước, làm trước, thống nhất giữa nói và làm; dám làm, dám chịu trách nhiệm mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì việc công cũng được đặt lên trên, lên trước việc tư; lợi ích của Đảng của nhân dân cũng được đặt lên trên lợi ích của cá nhân mình. Bất kỳ công việc gì được Đảng và nhân dân giao phó cũng phải nỗ lực hoàn thành và hoàn thành với tinh thần trách nhiệm cao, với tinh thần vượt khó, không màng danh lợi. Còn đối với người, thì vừa phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc, vừa phải “có lòng bày vẽ cho người”, khoan dung, độ lượng để cùng nhau hợp tác, làm việc và phát triển vì lợi ích chung.

Việc luôn tự soi, tự xét để kiểm điểm bản thân và tự sửa đổi điều dở, phát triển điều hay cũng chính là cách để người cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, nhân dân và trau dồi tinh thần “dĩ công vi thượng”!

Luận điệu bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta

 Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố. 

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo  Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.

Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.

Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái.  Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

Lật tẩy những chiêu trò tung hỏa mù, gây ngờ vực

 Tiếp tục nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng đấu tranh mạnh với tội phạm tham nhũng và kinh tế.

Một số vụ án điển hình như vụ Công ty Việt Á, những "chuyến bay giải cứu", mua sắm thiết bị trong lĩnh vực y tế, giáo dục… được phát hiện, xử lí. Qua đó, nhiều tổ chức, cá nhân bị kỉ luật; đã có những cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lí bị khởi tố, bắt giam vì cáo buộc nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Và mới đây nhất, tối 20/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố bị can, bắt tạm giam cựu Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, bà Bồ Ngọc Thu về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Đây là diễn tiến của việc mở rộng điều tra vụ án được khởi tố cuối tháng 4/2022 đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty AIC Nguyễn Thị Thanh Nhàn cùng một số bị can có hành vi thông thầu, gian lận trong đấu thầu, vi phạm Luật Đấu thầu để AIC trúng 12 gói thầu với tổng giá trị hơn 476 tỉ đồng…

Đấu tranh phòng, chống tội phạm lĩnh vực kinh tế từ đầu năm 2022, nổi lên là vụ Trịnh Văn Quyết (chủ tịch FLC) với hành vi thao túng thị trường chứng khoán; vụ Đỗ Anh Dũng, chủ tịch Tân Hoàng Minh cùng đồng phạm thông qua phát hành trái phiếu lừa đảo, chiếm đoạt hơn 8.000 tỉ đồng (khoảng 320 triệu USD); vụ Vạn Thịnh Phát với hành vi gian dối phát hành, mua bán trái phiếu, chiếm đoạt hàng nghìn tỉ đồng của nhà đầu tư…

Riêng vụ Trịnh Văn Quyết, theo kết quả điều tra bước đầu, từ năm 2014 đến năm 2016, thông qua việc tăng vốn điều lệ khống từ 1,5 tỉ đồng lên 4.300 tỷ đồng tương ứng 430 triệu cổ phần của Công ty CP Xây dựng Faros. Khi được niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn chứng khoán, Trịnh Văn Quyết và một số đồng phạm đã bán, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư hơn 6.400 tỉ đồng (khoảng 260 triệu USD).

Những vụ việc trên cho thấy, tội phạm kinh tế đã gây thiệt hại khủng khiếp đối với nền kinh tế nói chung, với các nhà đầu tư và người dân nói riêng. Đã có biết bao người khánh kiệt tài sản, bao gia đình tan nhà nát cửa vì bỗng chốc trở thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo siêu hạng.

Và việc điều tra, xử lí cương quyết nhằm ngăn chặn tội phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt là nhiệm vụ cấp bách mà Bộ Công an và các cơ quan chức năng đã và đang nỗ lực thực hiện, dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt và hiệu quả của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thực tế sờ sờ như vậy song vẫn có những luận điệu ở cả trong và ngoài nước tung hỏa mù dưới chiêu bài: Nào là, Công an Việt Nam đang hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; nào là chống tham nhũng tiêu cực ở Việt Nam vẫn chỉ “tắm từ vai” và chỉ nhằm vào những người không cùng cánh hẩu; nào là Công an sắp sửa “sờ gáy” tập đoàn này, doanh nghiệp kia, v.v. khiến một bộ phận dư luận, nhà đầu tư dao động, làm ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung.

Không chỉ tung hỏa mù, gây ngờ vực vào quyết tâm và hiệu quả chống tham nhũng, tiêu cực, các thế lực thù địch còn đặt vấn đề: Càng chống thì tiêu cực, tham nhũng càng nhiều; muốn chống tham nhũng hiệu quả, thì cần thay đổi thể chế…

Những luận điệu sai trái, trơ trẽn nêu trên được một số người triệt để khai thác, lợi dụng, nhằm mục đích “giảm cường độ” và hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảo ngược quá trình lành mạnh hóa, minh bạch hóa các hoạt động đầu tư, kinh doanh và thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế.

Nhìn lại 3 năm qua, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành khiến hàng vạn người thiệt mạng, sản xuất đình đốn, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị trùng xuống; tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, mọi mặt đời sống xã hội, quốc phòng và an ninh vẫn được bảo đảm. Đáng mừng, từ cuối năm 2021, sản xuất, xuất khẩu phục hồi, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là sáng sủa nhất ở khu vực và châu Á…

Trong đó IMF dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 đạt khoảng 7-7,5%; lạm phát trung bình thấp hơn so với mục tiêu 4% và thấp so với các nước trên thế giới và khu vực; các hoạt động sản xuất kinh doanh đang phục hồi mạnh mẽ và rộng khắp.

"Đây là điều chúng tôi không quan sát được ở các nền kinh tế khác, ví dụ, nhiều nước tăng trưởng tốt nhưng lạm phát rất cao. Chúng ta có thể thấy các tin xấu đến hằng ngày nhưng với Việt Nam thì chúng ta có căn cứ để tin tưởng rằng nhìn chung bức tranh kinh tế là tích cực bất chấp các cú sốc bên ngoài. Nếu thực hiện tốt các giải pháp thì Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua năm 2023 rất khó khăn và hướng tới năm 2024 một cách tích cực hơn nữa. Các yếu tố nền tảng của Việt Nam vẫn chắc chắn và các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào Việt Nam" – như nhận định của bà Era Dabla-Norris, Trưởng đoàn giám sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về kinh tế vĩ mô và tài chính, tiền tệ của các nước hội viên khi gặp gỡ Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội chiều 3/10/2022.

Đây là một trong nhiều ý kiến của các nhà chuyên môn, đại diện các tổ chức quốc tế uy tín với nền kinh tế Việt Nam.

Thực tế đó cho thấy kết quả, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ trong thời gian qua. Đồng thời, việc Bộ Công an khởi tố điều tra một số cá nhân, tổ chức trong các vụ án như FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát… đã góp phần bảo đảm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài chính, ngân hàng hoạt động ổn định, lành mạnh, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững; bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp.

Đây là việc làm cần thiết, đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế.

Nói một cách ngắn gọn, những hành vi như “phù phép” vài tỉ đồng thành hàng ngàn tỉ đồng thông qua việc tăng vốn điều lệ khống; sau đó, niêm yết trên sàn chứng khoán rồi bán, chiếm đoạt hàng ngàn tỉ đồng của nhà đầu tư, của người người dân… thì không thể là một giao dịch kinh tế, dân sự bình thường.

Đó là tội phạm thao túng thị trường chứng khoán, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,... cần xử lí nghiêm theo pháp luật.

Không đánh đồng vai trò phản biện xã hội của báo chí với chỉ trích cực đoan

 Các nhà báo không nên đánh đồng vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội với việc chỉ trích cực đoan, nhìn xã hội với một màu đen, với những góc nhìn tiêu cực. Báo chí cách mạng Việt Nam phải thể hiện tính khách quan, chân thật, công bằng, nhân văn, phải mang tính xây dựng, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn.

Đó là khẳng định chung của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, nhà báo uy tín lâu năm trong hội thảo khoa học quốc gia "Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí trong bối cảnh hiện nay" tại Hà Nội, ngày 16/6.

Phát huy đúng vai trò giám sát phản biện xã hội

Hội thảo do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp tổ chức. Nhà báo Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; PGS.TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS.TS Phạm Minh Sơn, Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Học viện Báo chí và Tuyên truyền; PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền chủ trì hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Lê Quốc Minh khẳng định: Ở Việt Nam, báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và là diễn đàn của quần chúng nhân dân. Nền báo chí cách mạng Việt Nam là nền báo chí trách nhiệm, phụng sự và đậm chất nhân văn. Báo chí cách mạng không chỉ thực hiện chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng tư tưởng, chức năng văn hoá - giáo dục, chức năng kinh tế - dịch vụ mà còn có vai trò, chức năng quan trọng là tham gia giám sát, phản biện xã hội.

Trong thời gian qua, nhiều cơ quan báo chí, nhà báo cách mạng tiên phong thực hiện vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội, tạo nên thương hiệu báo chí trong lòng công chúng. Nhiều nhà báo với trách nhiệm công dân cao cả đã dũng cảm dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân để điều tra tận cùng, phanh phui các vụ việc tham nhũng - tiêu cực, cùng với các cơ quan chức năng đưa ra ánh sáng nhiều tội phạm nguy hiểm gây thất thoát, tổn hại cho đất nước.

Nhà báo Lê Quốc Minh cũng cho rằng, báo chí muốn thể hiện và phát huy vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, trước hết phải đổi mới nội dung, phương thức làm báo theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Các nhà báo cần đổi mới tư duy làm báo, kết hợp tính chính thống và truyền thống với phong cách tác nghiệp hiện đại, áp dụng chiến lược nội dung đa phương tiện và đa nền tảng, nắm bắt các công nghệ làm báo mới mẻ, tăng cường tính sáng tạo trong các sản phẩm báo chí. Các nhà báo không nên đánh đồng vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội với việc chỉ trích cực đoan, nhìn xã hội với một màu đen, với những góc nhìn tiêu cực.

Báo chí cách mạng Việt Nam phải thể hiện tính khách quan, chân thật, công bằng và nhân văn, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Báo chí có vai trò định hướng tư tưởng, chính trị, dư luận xã hội theo hướng tích cực; cung cấp kiến thức, tri thức hữu ích, hướng thiện cho công chúng.

Báo chí cách mạng Việt Nam phải mang tính xây dựng, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn. Bên cạnh nhiệm vụ thực hiện các chức năng xã hội của mình, mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo cách mạng chân chính phải có trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước và nhân dân…


Nhiều bài học, giải pháp thiết thực từ các nhà báo uy tín

Tại hội thảo, các đại biểu đã cùng làm sáng rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí. Nhà báo, TS Đặng Thị Huyền, Trưởng Ban Kinh tế - Pháp luật, Báo CAND chia sẻ kinh nghiệm tác nghiệp về đề tài phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên Báo CAND.

Theo Thượng tá Đặng Thị Huyền, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, mảng thông tin về các vấn đề liên quan đến tội phạm được công chúng rất quan tâm. Thông tin về tội phạm là một dạng thông tin đặc biệt kích thích với công chúng. Trong bối cảnh báo chí đương đại với các phương thức truyền thông kỹ thuật số hiện đại thì báo chí viết về tội phạm vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ, hình thành nên một dòng báo chí đặc biệt trên thế giới - báo chí chuyên về tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm chứa đựng trong đó hành vi, hành động nguy hiểm cho xã hội, trong đó có thể là tội ác đến man rợ. Thông tin về tội phạm vì thế rất dễ sa đà vào mô tả tội ác, giật gân câu khách.

Đội ngũ những người duyệt và tổ chức thông tin của toà soạn Báo CAND nhận thức được rằng, đằng sau những thông tin "đầu rơi máu chảy", "tình, tiền, tù, tội", báo chí phải đưa ra được những bài học có tính chất cảnh báo, phòng ngừa. Đó là trách nhiệm xã hội của báo chí, đồng thời phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trong những năm qua, khi tổ chức thông tin về các vấn đề liên quan đến tội phạm và phòng, chống tội phạm, Báo CAND đã không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin nhanh của công chúng về các vụ án mà còn góp phần truyền thông đến họ các bài học cảnh giác, phòng ngừa tội phạm nhằm nâng cao năng lực nhận thức của công chúng, cổ vũ, động viên họ tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nhiều nhà báo có uy tín cũng đã chia sẻ ý kiến tâm huyết và giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí hiện nay. Trong đó, nhà báo Nguyễn Văn Hải, Thư ký toà soạn Báo Tuổi trẻ chia sẻ nhiều bài học kinh nghiệm đối với các nhà báo trẻ khi viết điều tra, giám sát phản biện xã hội về các vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn. Nhà báo Nguyễn Công Khanh, Thư ký toà soạn Báo Đại Đoàn Kết chia sẻ thực tiễn và kinh nghiệm giám sát, phản biện xã hội của báo Đại Đoàn Kết qua vụ việc lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan của "Câu lạc bộ tình người"…

Theo PGS.TS Phạm Minh Sơn, hơn 70 tham luận cùng nhiều ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà báo uy tín tại hội thảo đã góp phần tạo nên bức tranh toàn diện về vấn đề phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí. Hội thảo là cơ sở cung cấp một số luận cứ khoa học để kiến nghị với Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm tiếp tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí hiện nay và thời gian tới.

Cảnh giác trước thủ đoạn nhân danh phản biện xã hội để kích động chống phá

 Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.

PBXH thể hiện rõ trong việc nêu ý kiến góp ý, bổ sung, những vấn đề chưa tán thành của người dân đối với những chủ trương, chính sách, quyết định, phán quyết... của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Mục đích của PBXH là làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những điểm chưa hợp lý, bất cập của những chủ trương, chính sách, phán quyết, quyết định đó. Như vậy, bản chất của PBXH là thực hành dân chủ, góp phần bổ sung, sửa chữa những khiếm khuyết, tồn tại, những sai sót, đem lại những lợi ích chính đáng, hợp pháp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. PBXH có ý nghĩa chính trị sâu sắc, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và hơn thế, nó thể hiện sâu sắc dân chủ XHCN, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN - quyền lực thuộc về nhân dân. PBXH tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của các giai tầng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội, là sự thể hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, một mặt còn là thước đo trình độ phát triển, trình độ văn minh Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của PBXH, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân. Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng Hiến pháp, hệ thống luật, các cơ chế, chính sách về các vấn đề trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cùng với sự đóng góp thiết thực, có ý thức xây dựng của các tầng lớp nhân dân thì một số thành phần đã lợi dụng PBXH để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta.

Trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, lợi dụng PBXH để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập, nhân danh phản biện để phản đối, chống đối các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Âm mưu của các thế lực thù địch là bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đặc biệt là trước và trong quá trình tổ chức đại hội nhiệm kỳ của Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, các thế lực thù địch, phản động càng chống phá quyết liệt.

Trong thời gian qua, trên mạng xã hội có không ít người tự cho mình là người “phản biện”, có tư tưởng “tiến bộ”, lấy danh nghĩa PBXH để nêu những ý kiến về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, từ những vấn đề lớn của đất nước đến các chính sách, quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương. Họ đưa ra ý kiến với những cách thức như viết các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên mạng xã hội, blog, web[1]site cá nhân… Họ trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thổi phồng, bôi lem những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội. Trên cơ sở nêu vài nội dung mang tính phản biện nhưng lại thể hiện bằng ngôn ngữ miệt thị, chửi bới, công kích, bóp méo sự thật nên về thực chất là lợi dụng để xuyên tạc, chống phá chứ không còn ý nghĩa phản biện. Một số người tự xưng là “nhà lý luận” còn lợi dụng PHXH để kích động, tuyệt đối hóa tự do, dân chủ, rằng chúng ta đang xây dựng một xã hội “thiếu không gian tự do”, “tự do là không chính trị”, “dân chủ hóa, giải phóng con người là chiếc chìa khóa vạn năng”...

Ở đây, khái niệm tự do đã bị hiểu theo nghĩa không còn tổ chức, không còn quy tắc, văn hóa, pháp luật, nghĩa là không còn gì ràng buộc. Và họ vội vã kết luận mang tính quy chụp, rằng nguyên nhân trì trệ về kinh tế là do trì trệ về chính trị, nguyên nhân các tồn tại, yếu kém là “do độc Đảng”! Như vậy, bằng con đường tiếp cận sai trái, họ đã đổ lỗi cho chế độ chính trị của Việt Nam, đổ lỗi cho Đảng, hướng lái quan điểm, tâm lý người dân để gây mâu thuẫn, kích động chống phá. Thử hỏi, ở mọi quốc gia, dân chủ đều phải gắn với kỷ cương, xã hội sẽ như thế nào nếu tự do, dân chủ một cách vô nguyên tắc, phi pháp luật? Thực tế đã cho thấy, không thể áp dụng một cách máy móc kiểu “tự do”, “dân chủ” ở nước này sang nước khác do những đặc điểm riêng về lịch sử xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân.

Nguy hiểm hơn, một số trường hợp sau khi rời các vị trí, chức vụ trong Đảng, Nhà nước thì vì tư lợi hẹp hòi, vì động cơ xấu, họ lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để đưa ra những quan điểm trái khoáy, lấy cớ góp ý với Đảng, Nhà nước mà mục đích chính là nhằm làm mất niềm tin trong nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa PBXH, họ đã đưa lên báo chí nước ngoài hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, gây hoang mang dư luận. Mục đích của những trường hợp trên nhằm thu hút sự chú ý của người đọc đối với những bài viết của họ và tấn công trực diện vào các chủ trương, đường lối, chính sách, uy tín của Đảng và Nhà nước, phủ nhận tất cả những thành quả mà đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí tung ra các bài viết, bình luận bằng các ngôn từ cay độc, vô văn hóa, vô đạo đức…

Rõ ràng, PBXH nếu được thực hiện một cách có hiệu quả có thể giúp điều chỉnh xã hội từ vi mô tới vĩ mô, làm cho các chủ trương, chính sách ngày càng hoàn thiện, đem lại hiệu quả tốt hơn. PBXH là biểu thị cho tính dân chủ của xã hội. Nhưng nếu lợi dụng PBXH để kích động, thổi phồng, xuyên tạc nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây ra sự ngộ nhận, nhầm lẫn trong dư luận khiến nhiều người hiểusai về hiện tình đất nước, hiểu sai về Đảng, Nhà nước thì hành vi đó là phá hoại, cần phải đấu tranh, loại trừ.

PBXH không chỉ là sự phân tích, chỉ ra những khiếm khuyết của các chủ trương, chính sách về các vấn đề xã hội mà thông qua PBXH, khi tạo được sự góp ý, hoàn thiện, nó còn là sự thể hiện đồng thuận xã hội, sự khuyến khích, cổ vũ của xã hội với những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Chính vì vậy, làm tốt công tác PBXH sẽtạo được sức mạnh to lớn cho các phong trào hành động cách mạng.

Để PBXH đem lại hiệu quả, ý nghĩa tích cực phải dựa trên nền tảng tri thức, thái độ khách quan, lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích hướng đến. Nếu không, PBXH sẽ dễ chỉ là ý kiến chủ quan, cảm tính và phiến diện, thậm chí cực đoan, không đóng góp với tiến trình phát triển của xã hội, của đất nước.

Mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin được cho là PBXH đăng tải trên không gian mạng cần trang bị cho mình “bộ lọc” và có chủ kiến khi tiếp cận các vấn đề phản biện. Đặc biệt, với người được các thế lực xấu tung hô, ca ngợi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”… thì phải cẩn trọng thanh lọc. Không nên vội vàng đọc mà tin ngay vào các ý kiến dạng phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó. Do vậy, để nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động, trước mỗi thông tin được cho là PBXH, cần chú ý nguồn gốc thông tin đó ở đâu? Thực tế có những thông tin sai lệch không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ “nghe nói”, đồn thổi! Đặc biệt, cần cảnh giác với thông tin được đưa ra từ những người vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước.

PBXH cần phải thực hiện một cách công khai, nghiêm túc đối với các dự án luật, văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn PBXH với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển chung của đất nước. Ngược lại, mang danh PBXH để hành động chống phá, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận. Những người lợi dụng danh nghĩa PBXH để xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tuỳ tính chất, mức độ sẽ bị xử lý trước pháp luật.

THỜI CỦA CHÚNG TÔI

THỜI CỦA CHÚNG TÔI!


Thời chúng tôi chẳng được như các em

Ngô sắn độn cơm, bắt đom đóm thay đèn

Vì Tổ quốc luyện rèn nuôi chí lớn

Dưới mái trường chẳng bẩn gợn nghĩ suy.

Khi Tổ quốc mình biên giới lâm nguy

Bọn chúng tôi chẳng tiếc gì trai trẻ 

Miệng còn thơm vẫn vương mùi sữa mẹ

Gác bút nghiên, chắc tay súng lên đường.

Nhét vô ba lô vài ba cuốn văn chương

“Thép đã tôi...” đi trên đường bình luận

Đọc cho nhau nghe trước giờ xuất trận

Để hiên ngang, chí khí kiên cường.

Ngực chúng tôi chẳng cần đeo huân chương

Vì Tổ quốc nên vô thường đến vậy

Bằng Đại học cũng chẳng còn kịp lấy

Bằng Tiến sĩ kia chẳng nhìn thấy một lần.

Khi vận mệnh đất nước ngàn cân

Thời chúng tôi chẳng phân vân, suy nghĩ

Kiến thức Thầy Cô cho đã biến thành vũ khí

Xiết chặt tay nhau theo Đảng gọi lên đường.

Giữa núi rừng sống chan chứa tình thương

Chẳng đường, sữa, chẳng phòng giường máy lạnh

Tổ quốc cần, tuổi trẻ tung đôi cánh

Chẳng bon chen, toan tính thấp hèn.

Giờ về hưu chẳng thay trắng, đổi đen

Chẳng xảo trá, nhỏ nhen đòi lật sử

Chẳng bao giờ phỉ báng vào quá khứ

Biết ơn cha ông đã anh dũng quên mình.

Vì độc lập, tự do hàng triệu người hy sinh

Vì Tổ quốc triệu gia đình mất mát

Mùi hương khói vẫn nồng nàn, thơm ngát

Khắp non sông man mác nỗi đau này.

Để bây giờ có được ngày hôm nay

Là xương, máu dân tộc mình đổ xuống

Để hạt gạo thêm ngon, trĩu bông dưới ruộng

Để giọt nước thêm trong cho ta uống nên người.

TK-ST

Tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng

 Tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những chỉ dẫn quan trọng của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân, thời gian tới, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng đề ra.

 Một là, làm tốt việc giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của toàn hệ thống chính trị và lan tỏa trong nhân dân, để quan điểm, đường lối chính trị khoa học, cách mạng trở thành dòng chủ lưu chính chi phối suy nghĩ, hành động của toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng là định hướng quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cả hệ thống chính trị, góp phần bảo đảm kết quả thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng đạt yêu cầu, mục đích đề ra.

 

Thời gian qua, bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn tình trạng “việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời… Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Để khắc phục những hạn chế này, thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành phải: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, “Công tác tư tưởng phải… làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội”.

Hai là, làm tốt công tác phát triển đảng viên. Trong thời gian qua, việc “Kết nạp đảng viên một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng… Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, việc rà soát, sàng lọc đảng viên chưa thường xuyên, thiếu cương quyết”.

Để khắc phục những hạn chế đó, đồng thời nâng cao chất lượng đảng viên, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là: “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp”. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Cần làm tốt công tác lựa chọn, bồi dưỡng các quần chúng ưu tú và việc rèn luyện, thử thách cán bộ, đảng viên trong thực tiễn cách mạng. Cần tuân thủ nghiêm chỉ dẫn của V.I.Lênin trong phát triển đảng viên là “thà ít mà tốt”. Đảng vững mạnh không phải ở số lượng đông đảo đảng viên, mà ở sức mạnh to lớn, đầy thuyết phục do những thành viên xứng đáng với danh hiệu người đảng viên cộng sản thể hiện trước quần chúng nhân dân, trong thực tiễn cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, tổ chức đảng các cấp cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình,… nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Sức mạnh của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng nói riêng là ở sự đồng tâm nhất trí của tập thể cùng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ; cùng hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng; cùng giúp nhau chiến thắng những kẻ thù ẩn sâu bên trong bản thân mỗi người - những suy nghĩ mang tính cá nhân ích kỷ, không vì lý tưởng, sự nghiệp chung…

Thời gian qua, “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Để khắc phục, đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm nói trên của đảng viên, tổ chức đảng, thời gian tới cần “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng… Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”.

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng chỉ hoàn thành được sứ mệnh của mình khi luôn hướng mọi hoạt động của mình vào phục vụ nhân dân; giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thời gian qua, tổ chức đảng các cấp, bên cạnh những thành tích đạt được trong việc phục vụ nhân dân, cũng như việc bảo đảm chịu sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả thấp”. Vì thế, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đặc biệt “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên… Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”./.

 

Học và làm theo lời Bác dạy về công tác tuyên truyền

 Học và làm theo lời Bác dạy về công tác tuyên truyền

Bác dạy: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Phải dạy lý luận, công tác, chuyên môn cho cán bộ, đảng viên. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự.

NHIỆM VỤ TUYÊN TRUYỀN VÀ CÁCH TUYÊN TRUYỀN

Tuyên truyền được hiểu là tuyên truyền cách mạng. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền như thế nào? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cho ai? Ai có thể tuyên truyền? v.v.. là những câu hỏi mà những người làm công tác tuyên giáo phải luôn luôn nắm vững để trả lời có chất lượng mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Những câu hỏi này được Hồ Chí Minh nêu lên từ thập kỷ bốn mươi và thông qua lý luận - thực tiễn, Người đã đem lại những câu trả lời thuyết phục, đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị soi sáng công tác tuyên truyền nói riêng, tuyên giáo nói chung.

Công cuộc đổi mới đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế giới và đất nước ngày nay đang diễn ra những biến đổi lớn lao. Nhưng trong mọi biến đổi cũng có một số điều quan trọng không hề thay đổi. Đó là nhận thức của chúng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội với ba trụ cột là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ba trụ cột được “xây” trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với hai nhân tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và lấy dân làm gốc. Nhiệm vụ tuyên giáo và cách tuyên truyền hiện nay là làm cho nhân dân và cán bộ hiểu được những vấn đề lý luận và thực tiễn đó; làm rõ hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Để hoàn thành nhiệm vụ công tác tuyên giáo, tuyên truyền phải giản đơn, rõ ràng, cụ thể, thiết thực, đúng chỗ, đúng lúc. Tuyên truyền là để người dân hiểu, dân tin và làm được. Phải tuyên truyền cả lý luận và công tác. Tuyên truyền lý luận là dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Tuyên truyền công tác là làm cho người dân hiểu vì sao phải làm những công việc đó? Làm những gì? Làm như thế nào? Tất cả nhằm đem lại lợi cho dân và tránh hại cho dân. Những câu hỏi nêu trên phải được cụ thể hóa, hiện thực hóa. Bác dạy: “Các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”.

 

Bác phê bình những người làm công tác tuyên truyền chỉ nói nào là làm “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, nào là “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nào là “xây dựng chủ nghĩa xã hội” làm cho đồng bào khó hiểu, ít người hiểu. Bác nhắc lại câu chuyện đồng chí Đimitơrốp kể: Khi ở Đức có bãi công, Đảng cử người đến tuyên truyền. Đáng lẽ người tuyên truyền phải nói bãi công thế nào, thì lại nói chủ nghĩa Mác là gì, thặng dư giá trị là gì. “Như thế là nói không đúng chỗ, không thiết thực. May mà đồng chí đó không bị quần chúng ném đá. Tuyên truyền như thế không ăn thua gì cả”.

Hiện nay, những chứng bệnh đó vẫn tồn tại với những biểu hiện, mức độ đậm nhạt, cao thấp khác nhau. Điểm giống nhau của các căn bệnh trước và nay là tuyên truyền không đúng lúc, đúng nơi, không cụ thể, không thiết thực, không tỏ rõ được tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng và đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân. Chẳng hạn, "khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” là một điểm nhấn trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nhưng nếu tuyên truyền chỉ nhắc lại hai từ “khát vọng” thì không “thuộc bài”, “đúng bài” tuyên giáo. Đó là cách nói chung chung, kiểu “hội trường” mà Bác đã nhiều lần phê bình: “Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền, huấn luyện để mà huấn luyện”. Cái người dân cần là phải nói làm sao thiết thực, dễ hiểu, để người ta hiểu được, hiểu để làm. Tức là phải biết cách tuyên truyền. Nhiều tỉnh nói về tiềm năng, khát vọng phát triển, phải đạt tỉnh khá, tỉnh giàu, kiểu mẫu là cần thiết, nhưng tuyên truyền là phải cắt nghĩa, phân tích được vì sao hiện nay nói và nhấn mạnh những điều đó? Phát triển cái gì? Phát triển đến đâu? Theo hướng nào, bằng cách nào? Tuyên truyền phải rất thực tiễn thì mới thực hiện được khát vọng. Tuyên truyền đừng để người dân hiểu sai về cái đúng, hiểu xấu về cái tốt, cái đẹp của khát vọng thành “phong trào khát vọng”, “hội chứng khát vọng”.

Tuyên truyền không phải nhắc lại Văn kiện của Đảng, Nhà nước, mà phải làm cho quan điểm của Đảng, Nhà nước thấm sâu vào tim óc người dân, khẳng định niềm tin, khơi dậy quyết tâm và hành động. Tuyên truyền ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào còn nhiều khó khăn thiếu thốn về cơm ăn áo mặc, điện, nước, trường học, bệnh xá, đường sá…, càng phải rất thiết thực. Ý định của những người làm công tác tuyên truyền là tốt, muốn khẳng định đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính sách đúng đắn của Chính phủ, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính đột phá về lý luận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v.. Ý định tốt nhưng khi tuyên truyền phải xuất phát từ thực tế, không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của người tuyên truyền, tuyên truyền để mà tuyên truyền, tuyên truyền “lấy được”. Tuyên truyền không thiết thực, không đúng lúc, đúng chỗ, có thể biến ý định tốt thành không tốt, biến cái hay thành cái dở, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

 

Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vậy. Bác dạy: “Nói thế nào cho đồng bào hiểu được, đồng bào làm được, đó là nói được chủ nghĩa Mác - Lênin. Nói thiết thực, nói đúng lúc, đúng chỗ mới là hiểu được chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu nói không đúng chỗ không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin”. Người chỉ rõ: “Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không. Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác… Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin”. Lời Bác dạy vẹn nguyên giá trị đối với công tác tuyên giáo hiện nay.

NGƯỜI TUYÊN TRUYỀN PHẢI THƯỜNG XUYÊN TU DƯỠNG, CHỐNG THÓI BA HOA

Một trong những yêu cầu đối với người tuyên truyền, đó là phải hội đủ những phẩm chất về tri thức, phương pháp và đạo đức. Phải “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu”. Phải rèn luyện cách nói giản đơn, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có đuôi, có hồn, truyền cảm hứng, niềm tin, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được, làm được.

Bác dạy bảo những người tuyên truyền khi nói, viết phải chống thói ba hoa, biểu hiện ở chỗ dài dòng, rỗng tuếch; cầu kỳ; khô khan, lúng túng; báo cáo giả dối, thành công ít suýt ra nhiều, còn khuyết điểm thì giấu đi không nói đến; bệnh theo “sáo cũ”; nói không ai hiểu; bệnh hay nói chữ như tục ngữ có câu “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”, v.v..

Theo Bác, người tuyên truyền phải hiểu rằng mỗi khẩu hiệu của Đảng phải là ý nguyện và mục đích của hàng triệu đảng viên và của hàng triệu quần chúng. Mà muốn như thế, phải làm cho dân chúng đều hiểu, phải học cách nói của dân chúng “học ăn, học nói, học gói, học mở”, chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng. Nếu không hàng vạn khẩu hiệu cũng vô ích. Người dạy: “Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.

 

Bác thẳng thắn phê bình người đi tuyên truyền tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân. Người chỉ rõ: “Các cấp thông tin tuyên truyền thường thi hành chỉ thị cấp trên một cách máy móc, không biết áp dụng theo hoàn cảnh thiết thực trong địa phương mình. Tuyên truyền không chủ trương thực tế mà hay nói những lý luận viễn vông. Chưa có một chương trình, một kế hoạch thiết thực và đầy đủ về công tác cũng như kiểm tra”. Nói về người tuyên truyền - xét tận cùng và quan trọng nhất, quyết định nhất - phải có cái tâm, đạo đức trong sáng, xuất phát từ nhận thức về bổn phận phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới.

 

 

MẢNG TỐI CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU CỔ PHẦN TƯ BẢN CHỦ NGHĨA CẦN PHẢI NHẬN DIỆN

 Thời gian gần đây những vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực huy động vốn từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu; các “công ty ma” ….lần lượt được chỉ ra trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, nhận diện mảng tối của chế độ sở hữu cổ phần tư bản chủ nghĩa mà C. Mác đã chỉ ra từ hàng trăm năm trước là quan trọng, cấp bách và cần thiết.

Cái “lỗ hồng trong lòng xã hội tư bản” mà C.Mác từng nói đến tức là sở hữu cổ phần trong các công ty cổ đông, ngày nay được nhà nước tư sản thể chế hóa thành chế độ sở hữu cổ phân tư bản chủ nghĩa. Thể chế hóa sở hữu cổ phần tư bản chủ nghĩa, một mặt là sự nới rộng biên độ phù hợp của quan hệ sản xuất tư bản cho nghĩa với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại hơn; mặt khác, nó cũng tạo ra sự dân chủ hình thức, khi mà những người lao động hoặc bất cứ ai cũng có thể tham gia sở hữu các công ty, ngân hàng thông qua việc mua cổ phiếu, góp cổ phần Cổ tức được tính theo phần trăm chỉ nói lên tính chất pháp quyền tư sản chứ hoàn toàn không làm thay đổi gì về bản chất của quan hệ phân phối tư bản chủ nghĩa.

Về kinh tế, đó chính là cơ chế cổ phần hóa tư bản chủ nghĩa cho phép giới chủ tư bản lớn vừa huy động được cả những nguồn vốn nhỏ trong dân cư để sử dụng, vừa giữ được quyền lực khống chế qua việc nắm giữ cổ phần phủ quyết, đồng thời che đậy được một cách tinh vi bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa dưới bức màn dân chủ giả hiệu về kinh tế. Cùng một tỷ lệ cổ tức như nhau, nhưng các cổ đông nhỏ có được lợi ích và quyền lực không đáng kể nếu so với những cổ đông lớn và những thành viên trong hội đồng quản trị Kế cả các thành viên hội đồng quản trị cũng chẳng có quyền lực đáng kể gì nếu, sánh với quyền phủ quyết của chủ tịch hội đồng quản trị.

Cải tổ cơ cấu sở hữu dẫn đến những thay đổi về cơ cấu tổ chức sản xuất của các tập đoàn tư bản độc quyền và sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực chất vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ là những xí nghiệp vệ tinh, những cơ sở gia công các linh, phụ kiện cho các tập đoàn lớn. Mặc dù có đủ tư cách pháp nhân độc lập hoặc là cổ đông, nhưng không vì thế mà có thể “độc lập” hoàn toàn về mọi mặt trong quan hệ với các tập đoàn lớn.

Sự chuyển hóa các công ty độc quyền ở quy mô quốc gia thành các công ty độc quyền xuyên quốc gia làm cho quy luật lợi nhuận độc quyền cao chuyển hóa thành quy luật lợi nhuận độc quyền xuyên quốc gia. Các tập đoàn độc quyền xuyên quốc gia là tác nhân quan trọng nhất của toàn cầu hóa kinh tế. Sự bất cập về các thể chế quản lý đối với tư bản độc quyền xuyên quốc gia đã và đang là vấn đề hàng đầu trong nền kinh tế thế giới.

Vai trò mới của tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính ngày càng rõ rệt trong thế giới đương đại. Sức mạnh của tư bản tài chính cá biệt hiện nay cũng đã có không ít trường hợp vượt trội hơn cả tiềm lực kinh tế một số quốc gia đang phát triển. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI có nguyên nhân bắt nguồn từ sự lũng đoạn của bọn đầu sỏ tài chính. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với nhiều nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Sự chuyển giao công nghệ gắn với xuất khẩu tư bản ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong thời đại công nghệ cao. Độc quyền về sở hữu trí tuệ là nguồn thu nhập ngày càng quan trọng của các tập đoàn lớn và của các nước tư bản phát triển; đồng thời cũng làn nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc và thua thiệt của các nước kém phát triển. “Chủ nghĩa thực dân công nghệ” là một khái niệm : càng phổ biến hiện nay trong quan hệ kinh tế quốc tế.

Hiện tượng các nước NICs châu Á là sản phẩm đặc thù của kỷ nguyên Chiến tranh lạnh. Nó sẽ không thể lặp lại một lần nữa vì lịch sử không thể lặp lại một lần nữa kỷ nguyên đó. Các nên kinh tế mới nổi (nhóm BRICS) là một thực thế mới xuất hiện gần đây trong thế giới đương đại cũng còn xa mới đạt đến vai trò đáng kể vì lợi ích quốc gia khác biệt nhiều hơn tương đồng để có thể hợp tác với nhau chặt chẽ.

Về chính trị, thì các chính phủ, nghị viện tư sản hiện đại cũng được tổ chức như một công ty cổ phân tư bản chủ nghĩa. Sự tham dự của các đảng đối lập, kẻ cả đảng cộng sản trong chính phủ hoặc trong nghị viện cũng chỉ được chấp nhận ở mức độ chưa đe dọa quyền lực không chế của tầng lớp tư sản độc quyền. Với ý nghĩa đó, “đa nguyên tư sản” được tầng lớp tư sản độc quyền sử dụng vừa để làm dịu đi làn sóng đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống sự bóc lột, khống chế của tư bản lũng đoạn, vừa làm suy yếu sức mạnh của các lực lượng đối lập. Còn một khi thấy xuất hiện nguy cơ bị mất quyền chi phối thì ngay lập tức sẽ có giải tán chính phủ, quốc hội hoặc thiết quân luật, tình trạng khẩn cấp, thậm chí đảo chính quân sự. Những gì xảy ra ở Chilê năm 1973, nước Nga năm 1993, Thái lan, Myama.... và rất nhiều nơi khác cho thấy rõ điều đó...

 

PHẢI CHĂNG TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC NGÀY NAY 
ĐANG “GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH” THẾ GIỚI

 Những thập niên đầu của thế kỷ XXI, chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Vai trò của nhà nước và của thị trường trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương đại có những sự khác biệt tương đối (chủ nghĩa tư bản tự do ở Mỹ và Anh; kinh tế thị trường xã hội ở lục địa châu Âu: mô hình Nhật Bản và các nước NIC, châu Á. ) là một thực tế hiển nhiên.

Tuy nhiên, dù có sự khác nhau nhiều hơn cũng như đã, đang và sẽ còn có nhiều những biểu hiện mới hơn nữa, nhưng xét cho cùng, đó cũng chỉ là những thay đổi về “lượng", chưa thể đủ để đạt đến sự thay đổi về “chất” của chủ nghĩa tư bản. Sự thay đổi về “chất” đó sẽ chỉ được bắt đầu diễn ra khi và chỉ khi có sự thay đổi về bản chất của chính quyền nhà nước

Tuy nhiên, không nên lầm tưởng về tính chất ổn định và rất ít sự thay đổi trong lòng xã hội tư sản dưới tác động của chủ nghĩa từ bản độc quyền nhà nước. Ở các nước tư bản phát triển nhất, sau khi kết thúc “chiến tranh lạnh", đã có rất nhiều những thay đổi. Liên minh châu Âu và đồng tiền chung châu Âu ra đời; các khu vực thương mại tự do theo nhau xuất hiện; các định chế quốc tế từ Liên hợp quốc cho tới Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... ngày càng phát huy vai trò của nó. Tất cả những điều đó đều cần phải được xem xét từ bản chất nội tại của nó.

Nhận định về bối cảnh mới của thế giới, Đại hội XIII của Đảng nêu: “Thế giới đang trải qua những biển động to lớn, diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn….

Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đã cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cương quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhà đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối và cung ứng toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc.

Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày cảng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn".[1]

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước không thay đổi bản chất nhưng rõ ràng là có những thay đổi với tư cách là những biểu hiện: quan hệ nhân sự; về kinh tế nhà nước về các ưu tiên mong sử dụng công cụ điều tiết kinh tế, về thực hiện các chức năng mới về cơ chế xã hội và về - quan hệ kinh tế đối ngoại... Với mục đích tối cao là giá trị thăng dư, lợi nhuận; lợi ích quốc gia dân tộc và cốt lõi tận cùng là dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thì tư bản độc quyền Nhà nước đang làm cho thế giới càng bất ổn hơn bao giờ hết trong tình hình hiện nay.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr:105-107.