Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

 

MẢNG TỐI CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU CỔ PHẦN TƯ BẢN CHỦ NGHĨA CẦN PHẢI NHẬN DIỆN

 Thời gian gần đây những vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực huy động vốn từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu; các “công ty ma” ….lần lượt được chỉ ra trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, nhận diện mảng tối của chế độ sở hữu cổ phần tư bản chủ nghĩa mà C. Mác đã chỉ ra từ hàng trăm năm trước là quan trọng, cấp bách và cần thiết.

Cái “lỗ hồng trong lòng xã hội tư bản” mà C.Mác từng nói đến tức là sở hữu cổ phần trong các công ty cổ đông, ngày nay được nhà nước tư sản thể chế hóa thành chế độ sở hữu cổ phân tư bản chủ nghĩa. Thể chế hóa sở hữu cổ phần tư bản chủ nghĩa, một mặt là sự nới rộng biên độ phù hợp của quan hệ sản xuất tư bản cho nghĩa với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại hơn; mặt khác, nó cũng tạo ra sự dân chủ hình thức, khi mà những người lao động hoặc bất cứ ai cũng có thể tham gia sở hữu các công ty, ngân hàng thông qua việc mua cổ phiếu, góp cổ phần Cổ tức được tính theo phần trăm chỉ nói lên tính chất pháp quyền tư sản chứ hoàn toàn không làm thay đổi gì về bản chất của quan hệ phân phối tư bản chủ nghĩa.

Về kinh tế, đó chính là cơ chế cổ phần hóa tư bản chủ nghĩa cho phép giới chủ tư bản lớn vừa huy động được cả những nguồn vốn nhỏ trong dân cư để sử dụng, vừa giữ được quyền lực khống chế qua việc nắm giữ cổ phần phủ quyết, đồng thời che đậy được một cách tinh vi bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa dưới bức màn dân chủ giả hiệu về kinh tế. Cùng một tỷ lệ cổ tức như nhau, nhưng các cổ đông nhỏ có được lợi ích và quyền lực không đáng kể nếu so với những cổ đông lớn và những thành viên trong hội đồng quản trị Kế cả các thành viên hội đồng quản trị cũng chẳng có quyền lực đáng kể gì nếu, sánh với quyền phủ quyết của chủ tịch hội đồng quản trị.

Cải tổ cơ cấu sở hữu dẫn đến những thay đổi về cơ cấu tổ chức sản xuất của các tập đoàn tư bản độc quyền và sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực chất vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ là những xí nghiệp vệ tinh, những cơ sở gia công các linh, phụ kiện cho các tập đoàn lớn. Mặc dù có đủ tư cách pháp nhân độc lập hoặc là cổ đông, nhưng không vì thế mà có thể “độc lập” hoàn toàn về mọi mặt trong quan hệ với các tập đoàn lớn.

Sự chuyển hóa các công ty độc quyền ở quy mô quốc gia thành các công ty độc quyền xuyên quốc gia làm cho quy luật lợi nhuận độc quyền cao chuyển hóa thành quy luật lợi nhuận độc quyền xuyên quốc gia. Các tập đoàn độc quyền xuyên quốc gia là tác nhân quan trọng nhất của toàn cầu hóa kinh tế. Sự bất cập về các thể chế quản lý đối với tư bản độc quyền xuyên quốc gia đã và đang là vấn đề hàng đầu trong nền kinh tế thế giới.

Vai trò mới của tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính ngày càng rõ rệt trong thế giới đương đại. Sức mạnh của tư bản tài chính cá biệt hiện nay cũng đã có không ít trường hợp vượt trội hơn cả tiềm lực kinh tế một số quốc gia đang phát triển. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI có nguyên nhân bắt nguồn từ sự lũng đoạn của bọn đầu sỏ tài chính. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với nhiều nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Sự chuyển giao công nghệ gắn với xuất khẩu tư bản ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong thời đại công nghệ cao. Độc quyền về sở hữu trí tuệ là nguồn thu nhập ngày càng quan trọng của các tập đoàn lớn và của các nước tư bản phát triển; đồng thời cũng làn nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc và thua thiệt của các nước kém phát triển. “Chủ nghĩa thực dân công nghệ” là một khái niệm : càng phổ biến hiện nay trong quan hệ kinh tế quốc tế.

Hiện tượng các nước NICs châu Á là sản phẩm đặc thù của kỷ nguyên Chiến tranh lạnh. Nó sẽ không thể lặp lại một lần nữa vì lịch sử không thể lặp lại một lần nữa kỷ nguyên đó. Các nên kinh tế mới nổi (nhóm BRICS) là một thực thế mới xuất hiện gần đây trong thế giới đương đại cũng còn xa mới đạt đến vai trò đáng kể vì lợi ích quốc gia khác biệt nhiều hơn tương đồng để có thể hợp tác với nhau chặt chẽ.

Về chính trị, thì các chính phủ, nghị viện tư sản hiện đại cũng được tổ chức như một công ty cổ phân tư bản chủ nghĩa. Sự tham dự của các đảng đối lập, kẻ cả đảng cộng sản trong chính phủ hoặc trong nghị viện cũng chỉ được chấp nhận ở mức độ chưa đe dọa quyền lực không chế của tầng lớp tư sản độc quyền. Với ý nghĩa đó, “đa nguyên tư sản” được tầng lớp tư sản độc quyền sử dụng vừa để làm dịu đi làn sóng đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống sự bóc lột, khống chế của tư bản lũng đoạn, vừa làm suy yếu sức mạnh của các lực lượng đối lập. Còn một khi thấy xuất hiện nguy cơ bị mất quyền chi phối thì ngay lập tức sẽ có giải tán chính phủ, quốc hội hoặc thiết quân luật, tình trạng khẩn cấp, thậm chí đảo chính quân sự. Những gì xảy ra ở Chilê năm 1973, nước Nga năm 1993, Thái lan, Myama.... và rất nhiều nơi khác cho thấy rõ điều đó...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét