Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

Thể chế và công nghệ là động lực của phát triển kinh tế số ở Việt Nam

 

Thể chế cần phải đi trước một bước khi có thể. Chính phủ kiến tạo thể chế, chính sách nhằm sẵn sàng chấp nhận và thử nghiệm cái mới một cách có kiểm soát; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới; làm điểm, làm nhanh, sau đó đánh giá và nhân rộng; thúc đẩy phát triển công nghiệp sáng tạo. Chính phủ đẩy nhanh tiến trình phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số.

Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam là lực lượng chủ lực phát triển các hạ tầng, nền tảng, dịch vụ, tư vấn, cung cấp giải pháp chuyển đổi số; đi từ ứng dụng, đến sản phm, dịch vụ, đến làm chủ một số công nghệ lõi, từ đó, vươn ra thị trường toàn cu.

Phát triển dịch vụ du lịch số, tài chính số, y tế số ở Việt Nam

 

Dịch vụ du lịch số

Du lịch 4.0 (Tourism 4.0) là phát triển du lịch một cách thông minh với sự hỗ trợ của công nghệ số, để tạo ra và cung cấp các dịch vụ thuận tiện nhất cho khách du lịch và làm du khách hài lòng như: Cá nhân hóa - yêu cầu quan trọng của chuyển đổi số ngành du lịch; ảnh hưởng của thiết bị di động; tích hợp AI, IoT, Chatbots; thực tế ảo.

Dịch vụ tài chính số

Tài chính số ứng dụng kết nối các hoạt động liên quan đến ngân hàng, đòn bẩy hoặc nợ, tín dụng, thị trường vốn, tiền và đầu tư. Về cơ bản, dịch vụ tài chính số tập trung vào các vấn đề: Mở rộng quy mô; thanh toán điện tử; sinh trắc học; tự động hóa; phân tích dữ liệu; trí tuệ nhân tạo.

Dịch vụ y tế số

Dịch vụ y tế số trong ngành y tế giúp đổi mới trong các thiết bị y tế, khả năng kết nối của chúng cũng như cải thiện chẩn đoán và cải tiến dược phẩm; gia tăng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu; phát triển của thiết bị y tế di động; quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử tốt hơn.

Nhờ công nghệ, bệnh nhân được điều trị tốt hơn với các công cụ thực tế ảo, thiết bị y tế có thể đeo được, telehealth và công nghệ di động 5G. Mặt khác, các bác sĩ có thể hợp lý hóa quy trình làm việc của họ bằng cách sử dụng các hệ thống hỗ trợ trí tuệ nhân tạo.

Phát triển dịch vụ thông tin số ở Việt Nam

 

Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ sản xuất, khai thác, phát hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số như:

Dịch vụ phân phối, phát hành sản phẩm nội dung thông tin số;

Dịch vụ nhập, cập nhật, tìm kiếm, lưu trữ và xử lý dữ liệu số;

Dịch vụ quản trị, duy trì, bảo dưỡng, bảo hành các sản phẩm nội dung thông tin số;

Dịch vụ chỉnh sửa, bổ sung tính năng, bản địa hóa các sản phẩm nội dung thông tin số;

Dịch vụ đào tạo từ xa; dịch vụ khám, chữa bệnh từ xa; dich vụ truyền thông được cung cấp trên môi trường mang;

Các dịch vụ nội dung thông tin số khác.

Phát triển công nghiệp công nghệ số ở Việt Nam

             Công nghiệp số là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm” bằng công nghệ số.

          Trong sản xuất công nghiệp, các công việc lặp đi lặp lại, vất vả và phức tạp được thực hiện bởi robot làm việc cùng với các công nhân vận hành tại công xưởng. Các công nhân vận hành cũng tốn ít thời gian chờ đợi hàng hóa hoặc quy trình xử lý hoặc điền vào tài liệu hàng ngày, bởi lẽ hệ thống thông tin giúp tối ưu hóa dòng chảy vật liệu và theo dõi các KPIs. Phân tích theo thời gian thực (real-time analytics) và điều khiển quy trình tiên tiến cho phép nhận diện các lỗi và sai sót chất lượng ngay lập tức, giảm thiểu phế liệu và việc tiến hành lại. Đồng thời hệ thống tồn kho tự động, chẳng hạn hộp kết nối không dây có máy ảnh tự động sắp xếp lại khi mức độ đầy hàng (fill level) của chúng giảm xuống dưới một mức nhất định, đảm bảo rằng tồn kho luôn chính xác, hàng hóa có thể dễ dàng xác định vị trí và lượng tồn kho an toàn nằm ở mức đủ chứ không quá cao.

Về phía khách hàng, kỹ thuật số có khả năng thay đổi sâu sắc cách mà các công ty công nghiệp tương tác với khách hàng và phục vụ họ. Thương mại điện tử và các cửa hàng online cho phép các công ty sản xuất công nghiệp dễ dàng tiếp cận lượng khách hàng ổn định để giải quyết đầu ra cho sản xuất công nghiệp.

Về phía nhà cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, nếu trước đó phải dựa vào phân tích chủ quan để hoạch định giá cả, khi ứng dụng công nghệ số họ có thể sử dụng các công cụ dữ liệu nhanh hơn để tối ưu hóa giá cả.

Các giám đốc kinh doanh có thể đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực thông minh dựa trên đầu vào cho sản kịp thời từ nhân viên bán hàng, dữ liệu về năng suất làm việc của mỗi cá nhân, và các khuyến nghị tự động từ các công cụ. Nhân viên bán hàng khi đưa ra khuyến nghị không phải dựa vào linh cảm về những nhu cầu mà khách hàng của họ muốn, mà thay vào đó, tận dụng những phân tích sâu sắc (insights) về sản phẩm và khách hàng mục tiêu và những mô phỏng minh họa cho khách hàng trong suốt quá trình tư vấn sản phẩm. Khả năng thu hút khách hàng mới, nâng cao cross - selling, và giảm rò rỉ có thể giúp tăng doanh thu từ 5 đến 15%, trong khi sự hài lòng của khách hàng có thể đạt được từ 20 đến 30%.

Can thiệp sai trái là vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người

Ngày 7/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (trú tại phường Thanh Bình, quận Hải Châu) để điều tra, làm rõ hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117, BLHS. Ngày 8/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk cũng thông báo về việc đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Đặng Đăng Phước (trú tại số nhà 19/6, đường Giải Phóng, phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột) để điều tra cùng về hành vi trên. Ngay sau đó, nhiều thông tin, luận điệu sai trái liên quan đến việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt bị can để tạm giam đã được các đối tượng xấu tung ra. Liên quan đến bị can Bùi Tuấn Lâm, trang mạng của tổ chức Việt Tân rêu rao rằng: “Nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm thường xuyên lên tiếng trước những bất công, tình hình dân chủ, vi phạm nhân quyền và có đóng góp tích cực cho phong trào dân chủ tại Việt Nam”; “việc bắt giữ Bùi Tuấn Lâm là một bằng chứng tiếp theo về sự khủng bố trắng của chính quyền đối với những công dân yêu nước”… Với bị can Đặng Đăng Phước, họ tô vẽ, tạo dựng Phước thành hình tượng một “người yêu nước”, “nhà đấu tranh”, từ đó lên tiếng vu khống chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) kêu gọi Việt Nam cần bãi bỏ Điều 117, BLHS “về sự lạm quyền”, lên tiếng đòi “ngay lập tức trả tự do cho Bùi Tuấn Lâm và những người khác”. Một số báo, đài, các trang mạng xã hội hải ngoại đăng tải thông tin phụ họa dưới dạng “kẻ tung người hứng” để gây sức ép và can thiệp, yêu cầu thả tự do cho các đối tượng bị bắt. Những luận điệu rêu rao trên là sai sự thật. Chẳng có ai bị khởi tố, bắt tạm giam chỉ vì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật, núp danh dân chủ thực hiện hành vi chống phá đất nước, chống phá chính quyền nhân dân, bị CQĐT khởi tố, điều tra. Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những hoạt động tố tụng đầu tiên của quá trình điều tra. Để xác định tính chất, mức độ hành vi phạm pháp đối với Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước, các cơ quan tố tụng sẽ phải thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ và tiến hành các bước tiếp theo. Tuy nhiên, nếu ai theo dõi hoạt động của những kẻ tự xưng “giới dân chủ” thì cũng không xa lạ gì đối với hai bị can này. Bị can Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng tài khoản mạng Facebook “Peter Lam Bui” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, phát sóng trực tiếp (livestream) có thông tin, nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ súy các hoạt động chống chính quyền; xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật. Đồng thời, đối tượng này cũng công khai ủng hộ Phạm Đoan Trang, Lê Dũng Vova, Trịnh Bá Phương – những kẻ chống phá Nhà nước, đã bị cơ quan chức năng đưa ra xét xử. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn có mối quan hệ với một số tổ chức, hội nhóm chống phá chính quyền như “Hội bầu bí tương thân”, “Con đường Việt Nam”… Tài liệu xác minh ban đầu của cơ quan điều tra cho thấy, Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự, chống phá đất nước; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình, gây rối… Việc chống phá của Bùi Tuấn Lâm mang tính quyết liệt, thể hiện rõ mục đích thay đổi chế độ. Liên quan đến bị can Đặng Đăng Phước, mặc dù là giáo viên, giảng dạy tại Trường CĐSP Đắk Lắk nhưng đối tượng này không giữ chuẩn mực nhà giáo, liên tục lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin sai sự thật. Với lăng kính nhìn nhận của Phước, mọi vấn đề trong xã hội đều trở nên đen tối, tiêu cực. Thay cho việc truyền thụ kiến thức, nhân cách cho học sinh, đối tượng này lại núp danh dân chủ, nhân quyền, đưa ra những phát ngôn xuyên tạc và thường xuyên tụ tập, tiếp xúc với các phần tử bất mãn để tuyên truyền kích động, đả phá chính quyền. Khi Luật An ninh mạng được thông qua, đối tượng này cũng là một trong số các phần tử kêu gọi tẩy chay, phản đối. Các cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở, giáo dục và yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật nhưng Đặng Đăng Phước không chấp hành, ngược lại còn tiếp tục hoạt động ngày càng quyết liệt, cực đoan hơn. Do đó, việc khởi tố, bắt tạm giam đối với Bùi Tuấn Lâm và Đặng Đăng Phước để phục vụ điều tra là tất yếu. Hoạt động của hai đối tượng này rõ ràng không phải vì mục đích thúc đẩy dân chủ, nhân quyền như những gì họ rêu rao. Thực chất, những đối tượng này luôn tìm mọi cách để chống phá, làm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Những luận điệu “tẩy trắng”, “khóc mướn” cho Bùi Tuấn Lâm và Đặng Đăng Phước suy cho cùng cũng chỉ là một chiêu trò để tạo dựng các “hình mẫu ngược”, làm nhiễu loạn tình hình, gây sức ép cho chính quyền và các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài tiến hành chống phá Đảng, Nhà nước. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho người dân. Những năm qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy quyền con người; thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách đối với nhóm người yếu thế; giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc… Cùng với đó, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Dân chủ, nhân quyền phải gắn liền với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Bảo đảm nhân quyền phải gắn chặt với phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội. Không thể tự xưng hoạt động vì dân chủ, nhân quyền để chống phá đất nước, gây mất ổn định như những gì Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước và các đối tượng khoác áo “dân chủ” đang thực hiện. Cần hành động đúng đắn, tuân thủ luật pháp Ở bất kỳ đất nước nào thì tiền đề, điều kiện để đảm bảo thực hiện tốt quyền con người đều phải gắn với pháp luật, vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính quản lý. Trong giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là những quyền cơ bản được ghi nhận và thể hiện trong hiến pháp và pháp luật của các nước. Tuy nhiên, mang danh nghĩa “đấu tranh cho dân chủ” để xâm phạm đến khách thể là quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là thủ đoạn mà một số đối tượng đã, đang triệt để lợi dụng. Như trường hợp Bùi Tuấn Lâm đã tiến hành các hoạt động đăng tải bài viết, hình ảnh, video, livestream… có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ngày 9/9/2022 vừa qua, cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với Phan Sơn Tùng về hành vi tương tự. Rõ ràng, hành vi của các đối tượng trên là phạm pháp, tác động xấu đến an ninh, trật tự xã hội nên việc tiến hành các biện pháp khởi tố, bắt tạm giam để điều tra, xử lý là việc làm bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hoạt động trên góp phần giữ gìn an ninh xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh, góp phần làm cho người dân vững tin hơn vào pháp luật. Việc kêu gọi trả tự do cho đối tượng vi phạm pháp luật là sai trái vì những lý do sau: Trước tiên, chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết là những nguyên tắc cơ bản trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến chương Liên hợp quốc (26/6/1945), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 đã để ở vị trí ưu tiên số một về quyền dân tộc tự quyết. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị quyền con người châu Á (29/3 – 2/4/1993) và một nội dung cơ bản của hội nghị quốc tế về quyền con người tổ chức tại Viên (Áo) tháng 6/1993 đã khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết dân tộc là nguyên tắc trong quan hệ quốc tế hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người… Các quốc gia, tùy theo bối cảnh lịch sử, chế độ xã hội, điều kiện kinh tế, truyền thống văn hóa mà thực hiện những vấn đề có quan hệ tới quyền con người. Việc bắt giữ các đối tượng xâm hại khách thể được Điều 117, BLHS bảo vệ là hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng, tuân thủ luật pháp và làm vững chắc thêm sức mạnh, tính tôn nghiêm của luật pháp, phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam, bối cảnh khu vực, quốc tế. Việc kêu gọi thả tự do cho đối tượng đang bị điều tra về hành vi phạm tội là trái với nguyên tắc trong quan hệ quốc tế, đồng thời là sự can thiệp vô lý đối với hoạt động tố tụng của một quốc gia. Hơn nữa, hành vi của Bùi Tuấn Lâm và các đối tượng nêu trên là xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Việc HRW cũng như các tổ chức phản động, chống phá phản đối việc bắt giữ Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đăng Phước và kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những đối tượng này dẫn đến sự vi phạm trong nguyên tắc giáo dục của pháp luật. Cụ thể, khi một người có hành vi phạm tội mà không bị xử phạt hoặc được sự bênh vực, hỗ trợ của cá nhân, tổ chức khác càng làm cho đối tượng ảo tưởng, cho rằng mình có thể đứng ngoài vòng pháp luật, thích làm gì thì làm mà chính quyền “không thể đụng tới”, từ đó gây khó khăn trong việc đảm bảo quyền con người. Đáng ra, HRW cần phải có các động thái khuyên răn, yêu cầu những ai phạm pháp thì phải từ bỏ, chấp hành luật pháp nhà nước sở tại thì mới phù hợp với ý nghĩa, nhân danh tổ chức hoạt động “vì quyền con người”. Ngược lại, khi HRW hay các tổ chức khác bất chấp sự thật, can thiệp sai trái cho đối tượng phạm pháp thì chính những tổ chức này đang vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người. HRW và các tổ chức, cá nhân đang có quan điểm, hành động sai trái cần hành động đúng đắn, phù hợp các giá trị của văn minh, tiến bộ nhân loại. Còn với những đối tượng phạm pháp, không nên chờ đợi từ sự cổ suý, can thiệp của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Chờ đợi sự cổ suý sẽ không làm họ tỉnh ngộ mà tiếp tục dấn sâu vào vết xe đổ, nối tiếp những sai lầm.

Phát triển nông nghiệp công nghệ số ở Việt Nam

             Nông nghiệp số hay nông nghiệp thông minh là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa,...); công nghệ sản xuất, bảo vệ sản phẩm an toàn (hữu cơ, theo GAP…); công nghệ quản lý, nhận diện sản phẩm theo chuỗi giá trị gắn với hệ thống trí tuệ nhân tạo.

Đặc trưng cơ bản của nông nghiệp số:      

Thứ nhất, số hóa và hiện thực hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh từ nông trại, vận chuyển, chế biến, marketing đến người tiêu dùng thông qua hệ thống kết nối internet vạn vật.

Thứ hai, kết hợp hữu cơ giữa công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ điều hành trong tổ chức nông trai, các phân xưởng, cơ sở hạ tầng, tạo giống, các tác nghiệp.

Thứ ba, tự động hoá và thông minh hóa các hệ thống điều hành giữa thế giới thực với thế giới ảo các hoạt động liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc trong chuỗi giá trị thực phẩm nông sản từ nông trại đến bàn ăn.

Thứ tư, đảm bảo cho chuỗi giá trị thực phẩm nông sản diễn ra liên tục, hiệu quả và bền vững.

Thứ năm, đổi mới và sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng nông nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế số, vòng đời của sản phẩm cùng loại ngày càng ngắn, ngày càng nhiều sản phẩm và dịch vụ bị thay thế. Vì thế, đổi mới và sáng tạo thông qua phát triển kinh tế số sẽ là động lực cho tăng trưởng của các ngành, trong đó có nông nghiệp.

Cấu thành của nông nghiệp số:

Cách mạng công nghiệp 4.0 có trọng tâm là nền công nghiệp 4.0 với sự phát triển và kết hợp không ranh giới của Công nghệ vật lý (Physical Technologies-PT), Công nghệ sinh học (Biological Technologies-BT) và Công nghệ vận hành (operational technologies-OT). Là ngành kinh tế chịu sự tác động của cuộc cách mạng này, nền nông nghiệp số bao gồm bốn bộ phận hữu cơ.

Thứ nhất, công nghiệp 4.0 trong nông nghiệp

Công nghệ rô bốt tự động (Autonomous robots): Công nghệ rô bốt thực hiện các khâu và quá trình canh tác tự động như gieo trồng, chăm sóc, vắt sữa, phối trộn thức ăn, chế biến, nông sản... đã được phát triển vượt bậc, có khả năng tương tác hữu hiệu với nhau, làm việc trực tiếp hiệu quả với con người và sẽ được ứng dụng rộng rãi trong các nông trại, cơ sở chế biến, các phân xưởng sản xuất kinh doanh, thực hiện các tác nghiệp chuẩn xác và hiệu quả.

Mô phỏng: Công nghệ mô phỏng có thể giúp xây dựng, thử nghiệm các quyết định, các thiết kế dựa trên nền tảng số liệu thực và một thế giới thực trong các mô hình ảo, được dùng phổ biến để dự tính, dự báo thị trường, sự biến đổi khí hậu, thời tiết, tính toán các phương án sản xuất, chế tạo, chọn lọc và tạo giống cây trồng và vật nuôi trong thế giới ảo trước khi có sự thay đổi thực diễn ra, do đó, hạn chế rủi ro, tăng được hiệu xuất, năng suất và chất lượng.

Kết hợp các hệ thống ngang và hệ thống dọc: Với phát triển cao của trí thông minh nhân tạo, các nông trại, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước sẽ liên kết với nhau chặt chẽ theo chiều đứng và chiều ngang để tối ưu hóa quá trình ra quyết định, quản lý và điều hành, tăng hiệu lực và hiệu quả của chuỗi giá trị trong nông nghiệp vì có sự liên kết ngang trong nội bộ của từng nhóm tác nhân và giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị với nhau.

Internet vạn vật: Sự phát triển cao của IT đã cho phép nhiều thiết bị chuyên dùng, di động kết nối và giao tiếp hiệu quả với nhau, dưới sự điều hành của trung tâm điều khiển một cách tập trung, giúp phi tập trung hóa sự phân tích và ra các quyết định kịp thời, tăng hiệu lực, hiệu suất trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp.

Đám mây điện toán: Công nghệ này đã được phát triển để lưu giữ, chia sẻ nhanh và hữu hiệu thông tin về khách hàng, thị trường, sản xuất - kinh doanh giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trong cùng một địa bàn (tỉnh, vùng, quốc gia, các châu lục), tiết kiệm được chi phí lưu giữ và chia sẻ dữ liệu.

Chế tạo tích lũy: Các công nghệ chế tạo tích lũy mà đặc biệt là công nghệ in 3D được dùng để tạo nguyên mẫu và tạo ra từng bộ phận cấu thành của sản phẩm sẽ được sử dụng rộng rãi trong thiết kế các máy móc, nông cụ, nhà xưởng và mô phỏng các quá trình sinh học để chọn tạo giống cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả.

Thực tế ảo: Các hệ thống dựa trên thực tế ảo sẽ hỗ trợ lựa chọn vật tư, thiết bị, hàng hóa và gửi hướng dẫn sử dụng, bảo trì, sửa chữa thông qua các thiết bị di động và giúp cải thiện việc ra các quyết định, quy trình làm việc, khuyến nông và chuyển giao công nghệ nông nghiệp không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và quy mô.

Cơ sở dữ liệu phân tích quy mô lớn: Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay, việc thu thập, phân tích kỹ càng các số liệu như thiên tai, thời tiết, thị trường, khách hàng, công nghệ… từ rất nhiều nguồn khác nhau, trên các quy mô khác nhau (phân xưởng, nông trại, tập đoàn, tỉnh, vùng, quốc gia, châu lục, toàn cầu...) sẽ là khả thi.

Siêu an ninh mạng: Với sự kết nối ngày càng tăng thì nhu cầu bảo vệ và bảo mật các hệ thống công - nông nghiệp, chuỗi giá trị từ sản xuất đến bàn ăn ngày càng tăng. Do vậy, đảm bảo an ninh, phát triển các giao diện tin cậy và nhận diện nhanh chóng các lỗ hổng trong bảo mật các quá trình sản xuất - kinh doanh ngày càng trở nên cấp thiết.

Thứ hai, công nghệ vật lý trong nông nghiệp

Trong nền nông nghiệp số, các công nghệ vật lý như công nghệ nano, công nghệ cảm biến và các vật liệu mới đã có sự phát triển vượt bậc. Công nghệ nano đã có sự đột phá trong thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet (1nm=10-9m), làm tăng tỉ trọng gói (Packing density). Công nghệ này có nhiều tiềm năng chế tạo những sản phẩm và vật liệu mới để tạo ra các máy móc, thiết bị, nông cụ, vật liệu làm nhà xưởng, nông trại phục vụ cho quá trình canh tác và chế biến với sức bền cao, chịu đựng trong mọi hoàn cảnh bất lợi, tăng hiệu dụng và thân thiện hơn với môi trường. Công nghệ cảm biến (Sensor technology) đã có bước đột phá quan trọng về âm thanh, nhiệt, hình ảnh, ánh sáng và thời gian và được ứng dụng trong lĩnh vực internet vạn vật, chế tạo, điều khiển và tự động hóa các quá trình sản xuất - kinh doanh và quản lý ở phạm vi một nông trại, vùng, quốc gia và toàn cầu, giúp tự động quan trắc, cảnh báo và xử lý kịp thời, chính xác các diễn biến về môi trường, từng cá thể trên đồng ruộng hay trại nuôi và toàn vùng. Tế bào quang điện (Solar cells) được phát triển sử dụng pin mặt trời, giúp điều hành quá trình quản lý sinh vật được chính xác và hiệu quả.

Thứ ba, công nghệ sinh học trong nông nghiệp

Trong nông nghiệp số, công nghệ sinh học như các công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ phân tử… đã có bước phát triển vượt bậc. Sự ra đời công nghệ “chỉnh sửa gen” để có thể thêm hay bớt axit Deoribonucleic (DNA) tại các vị trí chính xác trong bộ gen để tạo ra giống cây trồng có đặc tính trông đợi như màu sắc, hình dáng quả, chất lượng và khả năng kháng lại dịch hại.

Thứ tư, nhóm công nghệ điều hành trong nông nghiệp

Các công nghệ điều hành như phân tích và ra quyết định kinh doanh, lập kế hoạch, quản trị tác nghiệp, điều hành và giám sát một quá trình sản xuất ra một sản phẩm, vận hành một nông trại và cả hệ thống các nông trại, các phân xưởng, các chuỗi giá trị nông sản đã được thay đổi về chất. Quy trình quản lý một chuỗi giá trị cả theo chiều ngang và chiều dọc đã và đang được chuyển đổi từ công nghệ quản lý truyền thống sang công nghệ điều hành và quản trị số gắn kết các hệ thống số với hệ thống thực, giữa các hệ thống sản xuất - kinh doanh thực và hệ thống ảo trên nền tảng của IOT. Công nghệ điều hành là “bà đỡ” cho sự phát huy hiệu quả của công nghệ vật lý, công nghệ sinh học trên nền tảng của CN4.0. Hệ thống nông nghiệp thông minh đã được phát triển để tự động tính toán nhu cầu, nước, dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi và các yếu tố cần thiết khác, giúp ra các quyết đỉnh kỉp thời và hiệu quả.

Phát triển kinh tế số lõi

             Kinh tế số lõi là khả năng phát triển mạnh mẽ phần cứng và phần mềm số để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế số ngay trong nước. Đây là lĩnh vực mới nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển của nền kinh tế khi phát triển kinh tế số.

Để kinh tế số phát triển mạnh cần phát triển kinh tế số lõi, đó là khả năng phát triển mạnh mẽ phần cứng và phần mềm số để đáp ứng nhu cầu: phát triển kinh tế số ngay trong nước. Đó là phải có khả năng cung cấp tương đối tốt cho Chính phủ, các doanh nghiệp và nhân dân công nghệ số để nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn quản lý, quản trị và sản xuất kinh doanh... Hơn nữa, cần đẩy mạnh phát triển phần mềm để cung cấp đáp ứng yêu cầu ngày một cao của phát triển kinh tế số.

Bên cạnh việc sản xuất phần cứng và phần mềm cung cấp cho thị trường trong nước thì cũng phát triển phần cứng và phần mềm để cung cấp cho thị trường bên ngoài. Đây là khả năng có thể đem lại nguồn thu lớn cho các nền kinh tế, cùng như làm cho nền kinh tế có thể tự chủ được để phát triển kinh tế số.

Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn vong, vững mạnh của đất nước ta, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Đây thực sự là một hiểm họa tiềm tàng, một loại kẻ thù giấu mặt, một thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, cần được nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh. Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”. Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng – an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác. Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất. Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh. Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước. Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh. Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển… Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND. Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”… Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.

Đặc trưng của phát triển kinh tế số

             Đặc trưng của phát triển kinh tế số được tập hợp trong 3 quá trình xử lý chính đan xen với nhau, bao gồm: xử lý vật liệu; xử lý năng lượng; xử lý thông tin. 

Trong đó, việc xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng nhất và cũng là lĩnh vực dễ số hóa nhất. Tính kết nối giữa các chủ thể và chu trình kinh tế nhờ vào các thành tựu của công nghệ thông tin và Internet giúp kết nối hóa các nguồn lực, lược bỏ nhiều khâu trung gian và tăng cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Có thể dựa trên khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực.

Phát triển các loại hình kinh tế số khác

             Một là, phát triển kinh tế dịch vụ

Theo nghĩa rộng, mọi nền kinh tế đều là kinh tế dịch vụ (dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa). Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, kinh tế dịch vụ được coi như một khung lĩnh vực của kinh tế số.

Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây (cloud computing) và họ “X là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ (Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ (Platform as a Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ (Software as a Service: SaaS), Thông tin là một dịch vụ (Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ (Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ (AI as a Service: AIaaS),…

Hai là, phát triển kinh tế đuôi dài

Kinh tế “Đuôi dài” là hình ảnh minh họa sự kéo dài của rất nhiều sản phẩm hạng thấp được bán cho người tiêu dùng tạo nên một doanh thu đáng kể trong kinh tế đuôi dài. Sản phẩm điển hình trong kinh tế đuôi dài là sách, ca khúc (âm nhạc),… được số hóa. Lợi thế của số hóa là cung cấp các kho lưu trữ có dung lượng “vô hạn” và cơ chế tự phục vụ tạo nên tập các thị trường (được gọi là kinh tế đuôi dài) trong đó các sản phẩm “hạng” thấp tìm được nhiều người tiêu dùng sử dụng.

Ba là, phát triển kinh tế dữ liệu

Dữ liệu được đánh giá là “dầu mỏ của tương lai”, có vai trò nhiên liệu thô cho nền kinh tế ở thế kỷ 21 giống như dầu mỏ trong thế kỷ 20, và kết quả là, nền kinh tế dữ liệu đã hình thành và ngày càng phát triển rất nhanh chóng.

Bốn là, phát triển kinh tế thịnh vượng

Kinh tế thịnh vượng là “nền kinh tế mà vai trò nhà cung cấp và người tiêu dùng trở nên mờ nhạt để tiến tới hợp nhất (người tiêu dùng bền vững: prosumer)”, “kinh tế tuần hoàn vĩ mô có tác động xã hội và sinh thái tiêu cực hoặc tích cực tối thiểu, một hệ sinh thái của nhà sản xuất và nhà tiêu dùng bền vững có quan hệ hiệp đồng và tuần hoàn với các chuỗi/mạng cung cấp sâu rộng mà sự rò rỉ của cải ra khỏi hệ thống là cực tiểu”. Đặc trưng điển hình của kinh tế thịnh vượng là kết nối mật thiết nhà cung cấp - người tiêu dùng để triệt tiêu lãng phí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

THÚC ĐẨY “XÃ HỘI DÂN SỰ” Ở VIỆT NAM – HÌNH THỨC CHỐNG PHÁ NGUY HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Xã hội dân sự đúng nghĩa là một bước tiến quan trọng của xã hội loài người trong tiến trình hướng tới một xã hội phi nhà nước. Tuy nhiên, một số tổ chức đã mượn danh “xã hội dân sự” nhằm làm phức tạp tình hình chính trị – xã hội, hướng đến mục tiêu thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Vì vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và vạch trần thủ đoạn chống phá nguy hiểm này. Nhận diện về xã hội dân sự và tổ chức “xã hội dân sự” Xét về bản chất, xã hội dân sự (Civil Society) là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành, hoạt động trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Không thể phủ nhận xã hội dân sự là một bước tiến của loài người trong tổ chức cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý (nhà nước chuyển từ cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân,…) thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội đa dạng, phong phú. “Điều này phù hợp với xu thế: nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, được C. Mác đề cập trong lý luận về chủ nghĩa xã hội”. Theo đó, chặng đường tiến bộ đáng kể của nhân loại biểu hiện ở vai trò tự quản trong cộng đồng ngày càng mạnh lên. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước, đó là các bộ phận hợp thành của xã hội dân sự. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chếđộ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tiếp tục thực hiện âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để hướng lái, thao túng, lôi kéo, chi phối các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật; tăng cường tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức phi chính phủ với mưu đồ tác động, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng, chuẩn bị điều kiện và tiền đề nhằm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Đó là sự xuyên tạc vô căn cứ, mang nặng tính thù địch. Kiên quyết đấu tranh với hoạt động thúc đẩy “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch. Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu trên, triệt tiêu mầm mống của các hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ. Tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao nhận thức, nhận diện đúng về “xã hội dân sự”; phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực; không nhầm lẫn, đánh đồng với các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình. Nhận diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc cổ súy, lợi dụng, núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Tạo “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Đề cao cảnh giác trước âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo, kiên quyết bảo vệ Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của đất nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Phát triển kinh tế chia sẻ

 

Phát triển kinh tế chia sẻ là hình thức kinh tế cho phép và tạo điều kiện chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ.

Kinh tế chia sẻ đề cập đến một mô hình thị trường cho phép và tạo điều kiện chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ. Không giống cách thiết lập chuỗi cung ứng cổ điển (một công ty đưa ra các quyết định về hàng tồn kho và cung ứng), trong kinh tế chia sẻ, nguồn cung là cộng đồng và có thể được điều chỉnh bởi một nền tảng. Quá trình kết hợp cung - cầu với nhu cầu trong kinh tế chia sẻ đòi hỏi những phối cảnh và công cụ mới để giải quyết các thách thức và xác định các cơ hội.

Phát triển kinh tế chia sẻ là phát triển thị trường cung cấp giá trị từ việc tiếp nhận tài sản chưa được sử dụng đúng mức, làm cho tài sản được truy nhập trực tuyến để cung cấp tới cộng đồng nhằm giảm thiểu nhu cầu sở hữu tài sản đó. Năm thành tố trong kinh tế chia sẻ là tài sản còn nhàn rỗi (thời gian nhàn rỗi của bất cứ thứ gì được biến thành doanh thu), nền tảng CNTT - Internet (làm cho tài sản truy cập được), cộng đồng (không chỉ theo quan hệ cung cấp - sử dụng mà còn tin tưởng lẫn nhau, cộng tác tạo giá trị), giá trị (các bên liên quan nhận được) và tiện lợi (giảm nhu cầu sở hữu tài sản).

Phát triển kinh tế gắn kết lỏng

 

Phát triển kinh tế gắn kết lỏng là hình thức gắn kết các nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng trên cơ sở một gig (hoặc công việc) để hỗ trợ kinh doanh theo yêu cầu.

Phát triển kinh tế gắn kết lỏng (hoặc kinh tế tạm thời) được chỉ dẫn bằng rất nhiều tên gọi khác nhau như kinh tế chia sẻ (sharing economy hoặc shaeconomy), kinh tế tự do (freelance economy), kinh tế cộng tác (collaborating economy hoặc collaborative consumption), kinh tế ngang hàng (peer economy), làm việc đám đông (crowdworking), kinh tế truy cập (access economy), kinh tế theo nhu cầu (on-demand economy), kinh tế 1099 (1099 economy: tên một mẫu thuế đặc biệt mang số hiệu 1099 - MISC của Mỹ), kinh tế nền tảng (platform economy),…

Phát triển kinh tế gắn kết lỏng là phát triển các thị trường gắn kết các nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng trên cơ sở một gig (hoặc công việc) để hỗ trợ kinh doanh theo yêu cầu. Trong mô hình kinh tế gắn kết lỏng, nhân công gig ký hợp đồng chính thức với công ty theo yêu cầu để cung cấp dịch vụ tới khách hàng của công ty. Khách hàng tiềm năng yêu cầu dịch vụ thông qua một nền tảng công nghệ dựa trên Internet hoặc ứng dụng điện thoại thông minh cho phép họ tìm kiếm nhà cung cấp hoặc chỉ định các công việc. Các nhà cung cấp (nhân công gig) tham gia công ty theo yêu cầu cung cấp dịch vụ đặt ra và được hưởng thù lao theo công việc.

Đặc trưng cơ bản của phát triển kinh tế gắn kết lỏng là các cam kết ngắn hạn giữa người sử dụng lao động, nhân công và khách hàng.

NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG LẬP HỘI, NHÓM TIÊU CỰC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng đang nguy cơ gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội nói chung. Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo".


Chăm lo “cái gốc” cho Đảng

Trong những năm gần đây, trước những biến chuyển nhanh chóng của thời cuộc, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ được Đảng ta tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được Đảng ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ được quan tâm, chú trọng và đầu tư tương xứng. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua còn những hạn chế, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Nhiều nơi còn tình trạng nể nang, chưa chỉ rõ những cán bộ có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực.

Có một Hà Nội kiên cường, đoàn kết, nghĩa tình như thế

TTTĐ - Là một trong những địa phương chịu tác động nặng nề, nhiều nguy cơ rủi ro nhất cả nước trước đại dịch Covid-19 - kẻ thù vô hình dễ lây, khó phòng chống nhưng tất cả Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp Nhân dân TP Hà Nội đã cùng chung tay, chung sức, chung lòng đoàn kết để tham gia phòng, chống dịch. Chính trong hoàn cảnh khó khăn đó, những phẩm chất cao đẹp nhất của con người “không thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thành lịch cũng người Tràng An” có dịp tỏa sáng, từ những chiến sĩ nơi tuyến đầu chống dịch, đến những con người bình thường thầm lặng nơi hậu phương… Tất cả đều toát lên vẻ đẹp tâm hồn của những con người Thủ đô giàu tình nhân ái, đoàn kết, kiên cường, nhân văn và hết lòng vì cộng đồng. Bài 1: Sức mạnh từ sự đồng lòng chống "giặc" Covid-19 Có thể nói, ngay chính thời điểm này, Hà Nội đang bước vào giai đoạn chống dịch quyết liệt và căng thẳng nhất từ trước tới nay. Dù lo lắng về diễn biến của dịch bệnh nhưng ngay giữa lòng Thủ đô vẫn cảm nhận được niềm tin tưởng tuyệt đối của người dân vào những quyết sách kịp thời và giải pháp quyết liệt từ lãnh đạo thành phố, cũng như sự thực hiện chỉ đạo đúng, nghiêm túc của các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn Thủ đô. Chính sức mạnh của sự tin tưởng, đồng lòng “quyết chiến, quyết thắng” trong phòng chống dịch Covid-19 giúp Hà Nội vẫn đang trong tầm kiểm soát tốt. Những "lá khiên thép" thầm lặng chốt chặn dịch Thực hiện công điện của Chủ tịch UBND TP Hà Nội về công tác phòng, chống dịch Covid-19, từ 6h ngày 14/7, 22 chốt kiểm dịch người và phương tiện ra vào cửa ngõ Thủ đô, trong đó Công an thành phố chủ trì phối hợp với các lực lượng gồm y tế, thanh tra giao thông, cán bộ tư pháp đã triển khai nhiệm vụ 24/24 giờ tại các chốt kiểm soát. Có mặt tại chốt kiểm soát số 8, nút giao thông quốc lộ 5B - Cổ Linh, quận Long Biên (Hà Nội), một trong những cửa ngõ ra, vào Thủ đô khá đông đúc mới chứng kiến hết sự vất vả của các chiến sĩ công an tại đây. Mặc dù đã gần 5h chiều nhưng cái nắng vẫn còn chói chang, phả hơi nóng hầm hập xuống mặt đường quốc lộ khiến cho các chiến sĩ dù đã ngồi trong bạt dã chiến nhưng ai ai cũng vã mồ hôi. Một trung úy - cán bộ Đội CSGT số 5 được tăng cường ở chốt chống dịch cho biết, do người dân nắm được việc triển khai chốt kiểm soát tại các cửa ngõ lớn, đường ngang, đường nhánh, bến thuỷ nội địa nên lượng xe ô tô qua chốt vào thời điểm này giảm hơn nhưng công việc của các anh vẫn tương đối vất vả. Dừng xe vào làm thủ tục kiểm tra, lái xe T.T.H (người Bắc Giang) cho biết, trước khi di chuyển vào trung tâm thành phố, anh và các lái xe đều biết và nắm rõ quy định về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Vì thế, họ đã chuẩn bị đủ các loại giấy tờ theo quy định để có thể giúp cho các chiến sĩ công an thực hiện tốt công việc của mình một cách nhanh nhất. Anh quan sát thấy, đối với các trường hợp vi phạm, các chiến sĩ công an đều kiên quyết xử lý theo đúng quy định, yêu cầu quay xe về nơi xuất phát. Với lượng phương tiện vào Thủ đô liên tục, các chiến sĩ cùng với các thành viên khác tại chốt kiểm dịch luôn chân luôn tay, hầu như không có giây phút ngơi nghỉ với mong muốn không để lọt bất kỳ trường hợp nào có nguy cơ lây nhiễm vào thành phố. Được biết, đội CSGT số 5, Công an TP Hà Nội tham gia 2 chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid-19 tại các khu vực tiếp giáp với tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên. Ngoài việc kiểm soát phương tiện vận tải, xe ô tô cá nhân vào thành phố, bảo đảm an toàn trật tự, tổ công tác của Đội CSGT còn hướng dẫn, phân luồng giao thông; phối hợp với lực lượng y tế, quân đội dừng xe, đo thân nhiệt, yêu cầu khai báo y tế, kiểm tra việc chấp hành quy định phòng, chống dịch Covid-19 trên xe; Nhắc nhở, khuyến cáo việc chấp hành các quy định phòng, chống dịch Covid-19, thậm chí có thể test nhanh Covid-19 trong trường hợp khả nghi… Vất vả, gian nan là vậy nhưng thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội kiểm soát chặt các nguồn lây Covid-19 vào Hà Nội nhưng không “ngăn sông cấm chợ”, Phòng Cảnh sát giao thông đã quán triệt tổ trưởng 22 chốt trực tại các cửa ngõ Thủ đô, khi người dân ở tỉnh ngoài vào khu vực thành phố Hà Nội. Theo đó, để giảm phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các phương tiện ngoài khai báo y tế bằng giấy có thể khai báo qua ứng dụng Bluezone, đồng thời để cán bộ y tế đo thân nhiệt và lấy thông tin. Đó chỉ một trong vô vàn những câu chuyện điển hình liên quan đến các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại 22 chốt kiểm dịch Covid-19 tại các cửa ngõ vào thành phố. Bên cạnh đó, hàng loạt những câu chuyện khác ở các chốt kiểm dịch tại huyện, xã, phường trên địa bàn TP Hà Nội cũng cho thấy sự miệt mài, tận tâm, có tinh thần trách nhiệm, thậm chí, có nhiều người còn tự xung phong ra các chốt trực làm nhiệm vụ. Đồng lòng thực hiện giãn cách xã hội Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh rơi vào vòng xoáy Covid-19 vượt tầm kiểm soát, việc thành phố Hà Nội quyết định giãn cách từ 0h ngày 24/7 được cho là một quyết định khó khăn, dũng cảm nhưng cần thiết và sáng suốt. Quyết định này đã ngay lập tức nhận được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của người dân. Rất nhiều người đã không giấu được sự xúc động mà bày tỏ lên mạng xã hội. Một cán bộ về hưu, từng công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo sáng 24/7 khi biết thông tin Hà Nội thực hiện giãn cách xã hội toàn thành phố đã viết trên Facebook: “Hôm nay Hà Nội thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16. Sáng ra thấy một số bạn nhà báo lên Facebook thể hiện sự đồng tình. Tôi cũng đồng tình… Quyết định giãn cách hôm nay khó khăn, dũng cảm nhưng mà cần thiết và sáng suốt. Tin rằng hôm nay và những ngày tới, Hà Nội không có cảnh ùn tắc ở các nút giao thông, cảnh chen lấn xét nghiệm. Giá hàng hóa không quá tăng, đặc biệt Hà Nội kiềm chế được tốc độ lây lan của dịch. Quyết định sáng suốt trên cơ sở chủ trương đúng và kinh nghiệm đắt giá vừa qua sẽ giúp Hà Nội cùng cả nước khống chế, đẩy lùi đại dịch”. Điều đặc biệt hơn, sau khi có thông báo giãn cách, tình trạng người dân Thủ đô đổ xô đi mua hàng đã không còn. Từ người bán lẫn người mua đều không còn tâm trạng gom giữ hàng hóa hay tăng giá như đợt trước. “Có được điều này là do người dân chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào quyết sách và những cam kết của lãnh đạo thành phố. Chúng tôi tin rằng, không có một lãnh đạo thành phố nào muốn người dân của mình bị bỏ đói. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghĩ rằng mình ăn ít đi một chút cũng không sao vì đồng bào của mình ở TP HCM đang vô cùng khó khăn về lương thực. Chỉ mong TP Hà Nội vượt qua và không lặp lại câu chuyện như TP HCM là chúng tôi đã cảm ơn lắm rồi”, chị Phạm Thị Thanh Huyền, cư dân khu đô thị tại huyện Thanh Trì chia sẻ. Nói là vậy nhưng rõ ràng cuộc sống giãn cách sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống mưu sinh, công việc thậm chí đến miếng cơm manh áo của nhiều người dân trên cả nước cũng như Thủ đô Hà Nội. Không phải ai cũng có nguồn tài chính dự trữ, không phải ai cũng có cơ hội làm công việc online tại nhà mà không bị cắt giảm lương. Đặc biệt, những người làm nghề buôn bán kinh doanh tự do ở các ngành nghề khác nhau thì đây thực sự là nỗi trăn trở. Vượt lên tất cả, họ vẫn thể hiện sự lạc quan và niềm tin tưởng rằng, đây chỉ là một giai đoạn khó khăn. Chung tay thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch thì Hà Nội sẽ sớm ổn định trở lại. Một chủ chủ cơ sở lẩu Thanh Thủy ở Khu đô thị Pháp Vân, Hoàng Mai, Hà Nội cho biết: “Thời gian qua, cửa hàng phải xoay sở bán online và chỉ bán cho khách mang về. Dù doanh thu sụt giảm nhưng cơ sở vẫn duy trì 3 nhân viên để tạo việc làm cho người lao động. Khách hàng ủng hộ nên chúng tôi vẫn có việc làm. Nay phải tạm đóng cửa kể từ ngày 24/7 nhưng chúng tôi đồng lòng tuân thủ. Mong Hà Nội thành công trong trận chiến này”. Có thể thấy, hiện nay, nhiệm vụ khống chế, đẩy lùi và chiến thắng dịch Covid-19 trên địa bàn Thủ đô đang rất khó khăn và bước vào giai đoạn vô cùng quyết liệt. Tin rằng, với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trên địa bàn Hà Nội, chúng ta hoàn toàn có khả năng kiểm soát dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới.

THẾ CŨNG LÀ "TỰ DIỄN BIẾN"!

         Thấy ông Hùng mặt hầm hầm đi về xóm, ông Quang liền hỏi: - Ông đi đâu về mà mặt căng thẳng thế kia? Lại bị ai chọc tức, làm cho bực mình hả?
- Đúng rồi đấy! Tôi đang bực mình đây!
     Ông Hùng bảo ông Quang vào sân nhà mình rồi kể:
- Tôi vừa sang nhà ông Hải ở ngõ trên chơi, gặp một lão là bạn ông ấy cũng ngồi ở đó. Trò chuyện một lát, lão kia lôi chuyện Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ quốc ghi công cho các đồng chí hy sinh khi làm nhiệm vụ chữa cháy, phòng, chống lụt bão và cứu hộ, cứu nạn ra để phân tích với thái độ tiêu cực. Lão ấy cho rằng đã là bộ đội, công an, được ăn lương Nhà nước thì phải có trách nhiệm làm những công việc ấy; hy sinh là do trình độ, năng lực kém, sao lại công nhận là liệt sĩ?
- Trời, lão ấy dám nói thế hả? Bậy bạ hết sức!-ông Quang không kìm nổi sự bất bình.
- Lão ta còn khăng khăng cho rằng, người lính chỉ khi nào chiến đấu ngoài chiến trường mới được phong tặng liệt sĩ, được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Nhà nước ta công nhận liệt sĩ cho các trường hợp hy sinh khi không làm nhiệm vụ chiến đấu là để mị dân, không hợp lý!
- Thế ông phản biện thế nào? Có “quạt” cho lão ấy một trận không?
Ông Hùng chép miệng nói:
- Tôi tranh luận mấy câu, thấy lão ấy nói ngang như cua nên tôi bỏ về. Buồn quá ông ạ! Không nghĩ rằng người đã sắp già như ông ta mà lại có những suy nghĩ như vậy. Mà trông mặt rõ là đạo mạo, trí thức nữa chứ.
- Thế ông Hải chủ nhà có nói gì không?-ông Quang hỏi dồn, vẻ đầy sốt sắng.
- Ông Hải là chủ nhà nên cũng “dĩ hòa vi quý”, cứ ngồi tủm tỉm cười rồi lảng sang chuyện khác.
     Nghe bạn cùng xóm kể, “chất” lính Trường Sơn trong ông Quang bừng lên. Ông kéo tay ông Hùng, bảo:
- Tôi với ông lên nhà ông Hải để tranh luận với lão kia cho ra nhẽ. Xã hội bây giờ nhiều kẻ trông mặt mũi sáng láng, được ăn học đàng hoàng nhưng lại thiếu bản lĩnh, thậm chí “trở cờ”, chỉ tìm cách nói xấu Đảng, chế độ. Với những kiểu người ấy ta phải đấu tranh, “quạt” thẳng, không thể nhẫn nhịn, bỏ qua được. Nếu không ai đấu tranh, dạy cho bài học nhớ đời, hôm nay hắn có thể xuyên tạc chuyện này, mai lại bôi nhọ chuyện khác. Đó cũng là một biểu hiện của việc bị "diễn biến hòa bình" dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ta phải đấu tranh quyết liệt ông ạ!
     Ông Hùng nghe bạn nói vậy cũng hừng hực khí thế: “Được! Tôi đi với ông. Hôm nay hai cựu chiến binh Trường Sơn chúng ta phải dạy cho lão bị “tự diễn biến” kia một bài học, để từ lần sau không dám xuyên tạc, nói nhăng nói cuội nữa”./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

 Sự tin tưởng của quốc tế đã bác bỏ mọi hành động phá hoại, xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Với 145/189 phiếu ủng hộ, Việt Nam đã trúng cử và trở thành một trong 14 quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Sự ủng hộ, tin tưởng đó của cộng đồng quốc tế là minh chứng thuyết phục, trực tiếp bác bỏ mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp bỏ phiếu và công bố kết quả thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. (Ảnh: Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc)

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, cùng một số tổ chức thiếu thiện chí ở nước ngoài rất ưa thích để chống phá Việt Nam là vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”. Đây luôn là một trong những hướng trọng tâm được họ khai thác, tận dụng hòng làm mất uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; gia tăng hiệu quả phá hoại các chủ trương, chính sách đối nội và đối ngoại của Việt Nam.

Vào cuối tháng 02/2021, ngay sau khi Phó Thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh thông báo tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc việc Việt Nam, với tư cách ứng cử viên của ASEAN, tham gia ứng cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam đã ngay lập tức đặt ra mục tiêu ngăn cản Việt Nam ứng cử vào Hội đồng này. Họ ra sức vận động để tạo dựng “Phong trào hưởng ứng Luật Magnisky toàn cầu”1 hướng vào Việt Nam. Dưới chiêu bài bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực tăng cường lôi kéo, kích động quần chúng đòi tự do dân chủ, nhân quyền theo tiêu chí phương Tây. Dựa vào các thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo và tình hình nhân quyền do một số phần tử phản động ở trong nước, một số tổ chức phi chính phủ không thiện chí với Việt Nam, một số tổ chức phản động lưu vong chống phá Việt Nam, như: Ủy ban Cứu người vượt biển - BPSOS; “Tin lành người dân tộc thiểu số Tây Nguyên”; Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ định kỳ công bố các Báo cáo Nhân quyền, Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế, trong đó có nhiều thông tin xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Dựa vào đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi đưa Việt Nam trở lại “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo”, đòi Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả những người vi phạm pháp luật mà họ tự gọi là “tù nhân lương tâm”. Một số tổ chức phản động, thiếu thiện chí ở nước ngoài cũng đẩy mạnh các chiến dịch đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay các tiêu chuẩn về tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước,… theo tiêu chí của Mỹ và phương Tây; gắn “dân chủ”, “nhân quyền” với các vấn đề hợp tác phát triển. Một số tổ chức phi chính phủ thù địch người Việt Nam và nước ngoài có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) cũng lợi dụng diễn đàn của Hội đồng Nhân quyền để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; tổ chức trao giải cho các đối tượng chống đối  để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Việt Nam. Một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi cái gọi là “thư ngỏ” tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Tuy nhiên, bất chấp mọi sự vu cáo, xuyên tạc, ngăn cản của các tổ chức và cá nhân nói trên, tình hình nhân quyền tại Việt Nam được thế giới nhìn nhận ngày một khách quan hơn. Bởi thế, trong cuộc bỏ phiếu ngày 11/10/2022 tại trụ sở Liên hợp quốc, trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ứng viên rất quyết liệt, Đại hội đồng Liên hợp quốc vẫn đặt niềm tin và lựa chọn Việt Nam cùng 13 quốc gia khác làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025. Với gần 80% tổng số phiếu bầu, Việt Nam đứng vào nhóm nước trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó là “cái tát” đích đáng của cộng đồng quốc tế vào mặt những kẻ rắp tâm phá hoại uy tín của Việt Nam, trong đó có cả những kẻ ở trong nước nhân danh bảo vệ “nhân quyền” để phá hoại uy tín của Việt Nam. Việc Việt Nam lần thứ hai được bầu là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao, thể hiện sự khẳng định của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; đồng thời, đặt niềm tin đối với Việt Nam trong lĩnh vực này. Đánh giá cao sự kiện này, ông Gérard Daviot, nguyên Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt (AAFV) nhấn mạnh: “Việc Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là rất chính đáng, bởi Việt Nam đã vạch ra mục tiêu cho cả chặng đường và hiện thực hóa điều đó thành công; cần phải nhìn nhận rằng, đó là một sự công nhận của toàn thế giới”. Đại sứ Palestine Saadi Salama khẳng định: “Việt Nam thực sự xứng đáng vào Hội đồng Nhân quyền vì hơn bất kỳ quốc gia nào khác, Việt Nam đã nỗ lực không mệt mỏi để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào”. Còn trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, ông Daniel Kritenbrink khi chúc mừng Việt Nam trúng cử lần này cũng cho rằng: “Việt Nam sẽ tiếp tục là một thành viên quan trọng của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ hợp tác với chúng tôi trong việc thúc đẩy quyền con người”.

Việc Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong lần ứng cử này là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân ta trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán xác định con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Quan điểm đúng đắn này đã được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cũng như được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực thúc đẩy quyền con người cả trong nước và trên thế giới. Việt Nam đã đảm nhận thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, tích cực thúc đẩy đối thoại và hợp tác, để lại nhiều dấu ấn quan trọng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và kiên trì lãnh đạo tổ chức thực hiện trong suốt 36 năm qua với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cũng đều hướng vào mục tiêu bảo vệ quyền của người dân. Đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu tại Phiên toàn thể Diễn đàn cấp cao về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đầu tháng 10/2022, rằng: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người, đó là điều quan trọng nhất”. Nếu thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2021 đã đạt 3.743 USD, đứng thứ sáu trong ASEAN. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành “Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo”, về đích trước 10 năm so với thời hạn (là năm 2015). Cùng với các thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo, các vấn đề an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm chăm lo, không để ai bị bỏ lại phía sau ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần ba lần trong 35 năm qua; 91% dân số nước ta đã tham gia bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng gần 46% từ năm 1990 đến năm 2019, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. Năm 2021, HDI của Việt Nam tăng thêm hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, từ thứ 117 lên 115. Theo Báo cáo chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc năm 2020, Việt Nam đứng thứ 83/156 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 11 bậc so với năm 2019. Các chuyên gia Liên hợp quốc nhận định, chỉ số của Việt Nam đã tăng vượt bậc, bắt nguồn từ những ưu tiên, nỗ lực của Chính phủ nước này trong việc xây dựng, phát triển quyền con người, thúc đẩy bình đẳng xã hội. Trong hai năm qua, trước sự lây lan nhanh của đại dịch Covid-19, để bảo đảm quyền được sống của người dân, Chính phủ đã triển khai hành động kịp thời, quyết liệt, tiến hành nhiều biện pháp để có nguồn vắc xin và đẩy mạnh chiến dịch tiêm vắc xin miễn phí cho toàn dân, với quan điểm coi việc bảo vệ sức khỏe, quyền lợi của người dân là ưu tiên cao nhất trong mọi chính sách, chương trình hành động. Nhờ đó, từ một nước có tỷ lệ tiêm vắc xin phòng Covid-19 rất thấp, Việt Nam đã vượt lên là một trong 06 nước có tỷ lệ bao phủ tiêm vắc xin cao nhất trên thế giới. Trước thực tế đó, cộng đồng quốc tế đã ca ngợi, ghi nhận Việt Nam như là hình mẫu trong công tác phòng chống dịch Covid-19. Kết quả này có được là nhờ sự nỗ lực hành động về quyền con người, luôn đặt con người làm trung tâm trong mọi chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Bà Caitlin Wiesen, nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đánh giá rất cao những thành tựu mà chính phủ Việt Nam đạt được trong việc đảm bảo sự an toàn cho người dân, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Bà nhấn mạnh: “Chính phủ Việt Nam đã nhận được đánh giá cao của người dân và cộng đồng quốc tế vì đã chủ động dự báo được tình hình đại dịch, nhanh nhạy và thích ứng linh hoạt, hiệu quả trong việc kiểm soát được dịch bệnh Covid-19. Vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, các biện pháp nhanh chóng và minh bạch với ưu tiên hàng đầu là an toàn của người dân được coi là những yếu tố then chốt củng cố niềm tin và sự ủng hộ của người dân với Chính phủ và các nhà lãnh đạo”.

Cùng với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát triển hệ thống truyền thông, góp phần nâng cao dân trí và mức sống văn hóa của xã hội. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn  giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (năm 2019), cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ; 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế của các cá nhân, tổ chức tôn giáo ngày càng phát triển. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản VESAK 2014 và 500 năm Cải chánh đạo Tin lành 2017. Tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được bảo đảm. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Tự do báo chí được thể hiện cụ thể với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí; trong đó, có hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử; hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 67 đài phát thanh, truyền hình với 182 kênh. Việt Nam có 18.000 nhà báo được cấp thẻ và khoảng 5.000 phóng viên; 60 nhà xuất bản với tốc độ tăng bình quân số lượng xuất bản phẩm hằng năm là 05 - 10% và 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Ngoài ra, người dân Việt Nam còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, cùng nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn. Về khía cạnh quyền tự do Internet, sử dụng mạng xã hội, Việt Nam đang đứng top đầu thế giới. Như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận internet, Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile; khoảng 70 triệu người dùng internet; 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã.

Những thành tựu nói trên đã khẳng định rằng, 145/189 thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 không phải là ngẫu nhiên, mà được thẩm định chắc chắn bởi những cố gắng và nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong thời gian qua trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Ông Jean Pierre Archambault, Nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt nhấn mạnh: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”.

Lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là cơ hội lớn để Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực vào những nỗ lực chung của Liên hợp quốc, cũng như của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ và thúc đẩy những giá trị phổ quát về quyền con người, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội. Chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng chắc chắn rằng: Việt Nam sẽ thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của mình trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

                                                                                                    Nguồn: NGUYỄN NGỌC HỒI