Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ trẻ

(LLCT) Với tầm nhìn chiến lược và tình thương yêu to lớn đối với thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đánh giá đúng đắn vai trò của thế hệ trẻ. Tư tưởng của Người về bồi dưỡng thế hệ trẻ, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vẫn luôn mang tính thời sự, mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc

Tư tưởng của Hồ Chí Minh nằm trong dòng chảy của tư duy nhân loại trên tinh thần kế thừa có chọn lọc, nên tư tưởng bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ mà ta gọi một cách hình ảnh là tư tưởng trồng ngườicủa Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa những minh triết trong quan điểm về con người, về giáo dục của dân tộc và nhân loại, đặc biệt là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhận ra rằng cách mạng muốn thành công, trước hết phải tập hợp lực lượng cách mạng, muốn thức tỉnh dân tộc đi theo con  đường cách mạng thì trước hết phải giác ngộ cách mạng cho thanh niên và từ thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh dân tộc. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp(1925), Người đã viết: “Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Người không chỉ kêu gọi, thức tỉnh thanh niên mà còn trực tiếp đến với họ, tổ chức, dẫn dắt họ vào con đường đấu tranh. Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào trong một tổ chức thống nhất,với trù tính “nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”(1) và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh niên để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay sau khiCách mạng Tháng Tám thành công,nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những lời thiết tha trongThư gửi các học sinh nhân ngày khai trường(9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Trong thư Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán1946, Người đã dành những lời đẹp nhất để ca ngợi tuổi trẻ và vai trò của lớp trẻ: “Một năm khởi đầu từ  mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3). Trong Thư gửi các bạn thanh niênnăm 1947, Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(4).

Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò, sức mạnh của thanh niên không phải là cái có sẵn, bất biến và tất yếu. Muốn huy động sức trẻ, Đảng, Nhà nước phải thực hiện thành công chiến lược trồng người. Chiến lược đó được Hồ Chí Minh đúc kết trong Đại hội giáo viên giỏi toàn quốc năm 1958:“Vì sự nghiệp mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” xét về khía cạnh nào đó cũng giống như trồng cây. Nếu trồng cây phải chăm lo, vun xới mầm cây nhỏ bé, yếu ớt để nó phát triển thành cái cây khỏe mạnh, có ích cho đời thì “trồng người” cũng phải bắt đầu bằng việc dạy dỗ, uốn nắn, giáo dục từ khi còn thơ ấu.

Người viết: “Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân”(5); “Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên; “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ”(6), nên Hồ Chí Minh coi chiến lược “trồng người”, coi việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là quốc sách phát triển đất nước. 

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là chân lý mà còn là con đường thực hiện chân lý. Tính hành động, tính thực tiễnlà một đặc điểm trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh nên chiến lược bồi dưỡng thế hệ trẻcũng được trù tính kỹ càng và cụ thể. Người viết: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi, cát, tre gỗ… mà xây nên”(7). Theo Người, để thực hiện tốt sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ cần xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp:

Về nội dung giáo dục: Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục toàn diện, bao gồm cả đức, trí, thể, mỹ,nhưng phải đặt đạo đức, lý tưởng, tình cảm cách mạng, lối sống XHCN lên hàng đầu. Người căn dặn: “Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải làm thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(8). Người tìm hiểu rất kỹ chương trình giáo dục đạo đức ở phổ thông và đưa ra nhận xét: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dụcrất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(9). Từ đó, Người chỉ đạo: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(10); phải bồi dưỡng để thanh niên giỏi văn hóa, giỏi chuyên môn, thấu suốt về chính trị;thanh niên cần phải được rèn luyện, bồi dưỡng về thể chất bởi vì “mỗimột người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ”(11).

Về phương pháp giáo dục: Hồ Chí Minh chỉ rõ, phương pháp, biện pháp bồi dưỡng thế hệ trẻtrước hếtphải xuất phát từ những đặc điểm của chính họ. Thế hệ trẻlà lớp người trẻ tuổi, đang khát khao lý tưởng, có nhiều ước mơ, hoài bão cao đẹp, trong sáng. Đó là lớp người ham hiểu biết, ham khám phá, nhạy bén với cái mới, giàu tính sáng tạo. Đó là lớp người đang ở thời kỳ sung sức nên ham hành động, muốn thử sức, dám đón nhận thử thách, khó khăn. Bên cạnh những đặc tính tích cực, thanh niên cũng có hạn chế là xốc nổi, dễ bị tác động và do thiếu kinh nghiệm nên dễ vấp ngã, dễ nản lòng. Từ  những đặc điểm đó, Hồ Chí Minh đề ra các phương hướng,biện phápgiáo dục thế hệ trẻ:

Thứ nhất, giáo dục thanh niên phải gắn với các phong trào cách mạng, rèn luyện thanh niên trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.Nguyên tắc này bắt nguồn từ mục tiêu giáo dục là đào tạo những chiến sĩ kế thừa sự nghiệp cách mạng chứ không phải “đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(12).

Thứ hai, xây dựng, nhân rộng trong thanh niên các gương điển hình người tốt - việc tốt. Người chỉ rõ: “Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt, việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông”(13). Ở đây, cần lưu ý một điều: Mẫu người mà Hồ Chí Minh muốn thanh niên hướng tới là mẫu “người tốt” chứ không phải mẫu người siêu phàm, siêu việt. Không phải ai cũng có thể trở thành thiên tài, đấng siêu phàm nhưng nếu cố gắng thì ai cũng có thể trở thành người tốt, người có ích. Quan điểm này vừa có tính thiết thực, vừa có tính nhân văn khi đặt niềm tin vào những con người bình thường nhất. Nhưng để trở thành người tốt, con người phải có thói quen làm những việc tốt. “Gieo thói quen - gặt tính cách, gieo tính cách - gặt số phận” nên nếu con người làm nhiều việc tốt thì sẽ thành người tốt, nếu nhiều người tốt sẽ thành xã hội tốt để cuối cùng “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Suy cho cùng, “đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục”(14). Phương pháp này thật dễ hiểu, dễ làm mà hiệu quả.

Thứ ba, “Phải khéo léo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”(15) để họ bù đắp cho nhau những ưu khuyết mang tính đặc thù của tuổi tác. Rất nâng đỡ thanh niên nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập, cho nên tiến bộ rất nhanh... Không nên coi thường cán bộ trẻ”(16).

Thứ tư, “Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải làm gương mẫu cho các em trước  mọi việc”(17) vì một tấm gương tốt có giá trị hơn trăm bài văn diễn thuyết.

Thứ năm, việc đào tạo thế hệ trẻ là việc chung của toàn xã hội nhưng Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - Đoàn Thanh niên - xã hội(18).

Thứ sáu, bản thân thanh niên phải ra sức học tập, tu dưỡng mọi nơi, mọi lúc và suốt đời. Tự giáo dục là sự thể hiện trình độ làm chủ bản thân, khả năng kiềm chế và tự điều chỉnh của mỗi người trong cuộc sống. Người cũng từng dặn dò thanh niên: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”(19). Lời dặn dò của Người tuy giản dị mà ân cần, có sức lan tỏa và lay động lòng người.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(20). Trước hết, Người đặt trọn vẹn niềm tin vào đoàn viên thanh niên Việt Nam: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Người chỉ rõ, tuổi trẻ là mùa Xuân của đất nước, thanh niên là rường cột của nước nhà.

Nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ trong chiến lược xây dựng con người, trước hết là phải quan tâm và bồi dưỡng thế hệ trẻ. Xây dựng họ thành những con người hội tụ đủ cả hai yếu tố đức và tài, “hồng” và “chuyên”.

Người nhấn mạnh, thế hệ trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người quan tâm và đòi hỏi Đoàn Thanh niên phải làm tròn nhiệm vụ là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên để giúp Đảng giáo dục họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Người chỉ rõ:  muốn củng cố và phát triển thì Đoàn Thanh niên phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên, phải biết tổ chức các phong trào thi đua, tạo môi trường tốt nhất cho thanh niên cống hiến và hư­ởng thụ. Đoàn Thanh niên khi đề xuất một phong trào thi đua phải có định hướng đúng, có kế hoạch thực hiện cụ thể, có nội dung thi đua thiết thực, rõ ràng, có sự lãnh đạo, chỉ đạo theo dõi thư­ờng xuyên. Có làm như vậy phong trào của Đoàn mới thực sự phát triển, thực sự là cánh tay phải, đội hậu bị tin cậy của Đảng trong giáo dục và rèn luyện để hình thành nhân cách trong sáng cho thanh thiếu niên.

_______________

Nguồn : 

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.13.

(2), (3), (11), Sđd, t.4, tr.33,167, 212.

(4), (6) Sđd, t.5, tr.185, 102.

(5), (7), (8), (12), (13), (14), (15), (16), (20)  Sđd, t.12, tr. 555, 551, 555, 554, 556, 551, 211, 211, 498.

(9), (10)Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.105, 444.

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.74.

(18), (19) Sđd, t.7, tr.456, 455.

 

PGS, TS NGUYỄN ĐẮC VINH

Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng,

Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

 

Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

(LLCT) - Nhà nước pháp quyền là một phạm trù thuộc khoa học chính trị - pháp lý, xuất hiện khá sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, bắt nguồn từ tư tưởng về nguyên tắc cai trị bằng luật pháp hơn là nguyên tắc cai trị bằng quyền lực tuyệt đối của nhà vua hay nhà độc tài. Mặc dù ý niệm về “Nhà nước pháp quyền” được các nhà nhà triết học Hy Lạp ít nhiều đã đề cập, nhưng phải đến thời kỳ Phục hưng và Khai sáng châu Âu, khái niệm này mới được thực sự luận bàn và phát triển và làm tiền đề cho sự thịnh hành ở thế kỷ XX trở đi trên quy mô toàn cầu.

1. Khái niệm và đặc trưng của nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền (NNPQ)là một phạm trù thuộc khoa học chính trị - pháp lý, xuất hiện khá sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, bắt nguồn từ tư tưởng về nguyên tắc cai trị bằng luật pháp (rule by law) hơn là nguyên tắc cai trị bằng quyền lực tuyệt đối của nhà vua hay nhà độc tài (rule by man). Mặc dù ý niệm về “Nhà nước pháp quyền” (rule of law) được các nhà nhà triết học Hy Lạp ít nhiều đã đề cập, nhưng phải đến thời kỳ Phục hưng và Khai sáng châu Âu, khái niệm này mới được thực sự luận bàn và phát triển và làm tiền đề cho sự thịnh hành ở thế kỷ XX trở đi trên quy mô toàn cầu.

Nhà nước pháp quyền, hiểu một cách cơ bản nhất là một chế độ xã hội và một chính thể nhà nước đặt pháp luật là nguyên tắc tối thượng: không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp luật, bất kể là vua, tổng thống, thủ tướng hay người dân thường.

Toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các nhánh quyền lực của nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) nếu được thiết kế dựa trên nguyên tắc pháp quyền(rule of law) sẽ là một tiền đề quan trọng nhất cho các quyền và tự do của công dân được bảo đảm và thực thi. Nguyên tắc pháp quyền hiểu theo nghĩa rộng bao trùm toàn bộ các nguyên tắc nền tảng làm tiền đề cho việc tổ chức, hoạt động, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, tôn trọng và bảo đảm các quyền con người. Như vậy, nguyên tắc pháp quyền không chỉ là nguyên tắc đòi hỏi việc quản lý, điều hành (hay cai trị) xã hội ấy phải bằng luật pháp, mà điều quan trọng hơn là toàn bộ tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ấy phải chịu sự điều chỉnh và giám sát của luật pháp. Hơn nữa, luật pháp ấy phải là thể hiện được ý chí của đa số nhân dân. Nghĩa là các nguyên tắc pháp quyền ấy phải là sự lựa chọn và xác lập bằng các cơ chế thể hiện ý chí trực tiếp hoặc đại diện của nhân dân. Theo ý nghĩa ấy, nguyên tắc pháp quyền (rule of law) đồng nhất với chế độ pháp quyền hay nhà nước pháp quyền (law-governed state).

Liên hợp quốc và hệ thống pháp luật quốc tế ngày càng hoàn thiện, điều chỉnh các quy tắc ứng xử không chỉ giữa các công dân với nhà nước mà toàn thể cộng đồng nhân loại, các quan niệm về NNPQ ngày càng được phổ biến rộng rãi và trở thành một trong những tiền đề quan trọng nhất của cộng đồng quốc tế trong quá trình xây dựng xã hội hòa bình, tiến bộ, dân chủ và văn minh(1).

Báo cáo của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về nhà nước pháp quyền và tư pháp chuyển đổi trong các xã hội xung đột và hậu xung đột (xuất bản năm 2004), đã xác định: “Đối với Liên hợp quốc, pháp quyền là một nguyên tắc của quản trị mà ở đó tất cả các cá nhân, cơ quan và các tổ chức, công và tư, bao gồm chính nhà nước, là phải giải trình trước luật pháp được ban hành một cách công khai, được thực thi một cách bình đẳng và được xét xử một cách độc lập, và phù hợp với các quy phạm và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Cũng như nó đòi hỏi về các biện pháp đối với việc đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc về tính tối cao của pháp luật, sự bình đẳng trước pháp luật, trách nhiệm giải trình trước pháp luật, tính công bằng trong việc áp dụng pháp luật, phân chia quyền lực, tham gia vào việc ra quyết định, đảm bảo pháp lý, tránh sự tùy tiện và sự minh bạch về thủ tục và pháp lý”(2).

Quan điểm được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế hiện nay cho rằng có ba thước đo của nguyên tắc pháp quyền và NNPQ đó là: Quyền con người (đánh dấu bằng các quyền con người toàn cầu được thừa nhận rộng rãi trong Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948, các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc và công ước nhân quyền khu vực); hình thức/thể chế (bao gồm: quy định bằng luật, mang tính phổ quát và bình đẳng, áp dụng như nhau, có thể tiếp cận được công khai, đồng bộ, tương thích, dễ hiểu, mang tính tuân thủ, tòa án công tâm, trình tự, thủ tục công bằng, sự thẩm tra, giám sát của tư pháp đối với hành pháp và tiếp cận công lý); chế độ chính trị theo đó đề cao tính tối cao của Hiến pháp, sự cân bằng và đối trọng quyền lực, các cơ quan được bầu một cách dân chủ và phân chia quyền lực(3)

Sự phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền

Thời kỳ Phục hưng và Khai sáng châu Âu là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các trào lưu tư tưởng về đề cao vai trò của pháp luật trong việc xác lập các nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cho việc tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân.

Nhà nước pháp quyền theo quan niệm của các nhà tư tưởng Phục Hưng và Khai Sáng, đặc biệt là Môngtétxkiơ, đó là sự phân chia và chế ước quyền lực nhà nước thành các nhánh (lập pháp, hành pháp và tư pháp) rạch ròi, sao cho pháp luật được đề cao và thực thi hiệu quả, các quyền và tự do cơ bản của công dân được bảo đảm. Nhà nước pháp quyền là nhà nước nơi những người được ủy giao trọng trách quản lý và điều hành xã hội, hay nói chung là những người được giao cho việc cai trị, phải thông qua cơ chế phổ thông đầu phiếu, do người dân bầu ra, dù bằng hình thức bầu trực tiếp hay qua hình thức đại diện. Montesquieu đặc biệt nhấn mạnh đến sự phân chia giữa các nhánh quyền lực nhà nước và về mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp (nghị viện/quốc hội), với cơ quan hành pháp (chính phủ) và cơ quan tư pháp (tòa án) để hạn chế sự tùy tiện hay vượt quá giới hạn của bất cứ quyền lực nào, nhất là quyền hành pháp. NNPQ được thực hiện thông qua mô hình dân chủ điển hình nhất là dân chủ nghị viện, theo đó quyền lập pháp (nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (chính phủ). Như vậy chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Tương tự như vậy, quyền tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng với một số quyết định của chính phủ, đồng thời giúp công dân bảo vệ được các quyền và tự do trong trường hợp các quyền ấy bị tùy tiện tước đi bởi cơ quan hành pháp.

Trên thế giới hiện nay có ba trường phái chính hay quan niệm khác nhau về NNPQ đại diện cho ba truyền thống tư tưởng triết học - chính trị và tư duy pháp lý châu Âu: 1) Rechtsstaat (Đức); 2) Des L’Etat de Droit (Pháp); 3) Rule of Law (Anh).

Quan niệm NNPQ của truyền thống Đức (Rechtsstaat) xem NNPQ là một nhà nước trong đó các quy phạm pháp luật được sắp xếp có trật tự sao cho quyền lực phải chịu sự giới hạn. Theo đó, mỗi quy phạm có được hiệu lực từ sự tuân thủ các quy phạm cao hơn. Sự tồn tại một trật tự có thứ bậc các quy phạm tạo nên một trong những đảm bảo quan trọng bậc nhất của nhà nước pháp quyền. Trong khuôn mẫu đó, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước phải được xác định một cách rõ ràng và các quy phạm mà những cơ quan này tạo ra chỉ có hiệu lực với điều kiện tuân thủ toàn bộ các quy phạm có hiệu lực cao hơn. Cao nhất của hệ thống các quy phạm pháp luật là hiến pháp.

Trong một NNPQquyền lực của nhà nước bị hạn chế để bảo vệ công dân khỏi việc thực thi quyền lực một cách tùy tiện, công dân được hưởng các quyền tự do dân sự một cách hợp pháp và họ có thể sử dụng hệ thống tòa án để bảo vệ các quyền ấy. Một đất nước không thể là một nền dân chủ tự do nếu trước hết không phải là một NNPQ.

NNPQ theo quan điểm của châu Âu lục địa (continental law), dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng pháp luật (positive law) và theo quan điểm các nhà tư tưởng Đức, theo đó pháp luật ra đời gắn liền với nhà nước, với sự hình thành và phát triển của nhà nước, nhà nước và pháp luật không thể tách rời. Chính vì vậy, khái niệm NNPQ được cấu thành từ hai từ “reich” (luật, pháp quyền) và “state” (nhà nước).  

Quan điểm NNPQ theo truyền thống Anglo-American (Anh - Mỹ) (rule of law). Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của nhân dân; quyền lực của nhân dân là cơ sở, nguồn gốc của quyền lực nhà nước. Trong quan hệ với nhân dân, nhà nước không có quyền mà chỉ thực hiện sự uỷ quyền của nhân dân mà thôi; công dân trao cho nhà nước các quyền lực thông qua một khế ước xã hội và hoàn toàn có quyền rút lại khế ước ấy trong chừng mực nhà nước tước đi các quyền tự nhiên thiêng liêng của công dân. Vai trò của pháp luật tự nhiên là xác lập các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mọi quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền tự nhiên cơ bản của con người. Vì vậy, NNPQ là nhà nước được hình thành bằng luật tự nhiên và có nhiệm vụ tối thượng là bảo vệ các quyền tự nhiên của tất cả mọi người.

Rule of Law là nguyên tắc mà ở đó tất cả mọi người và mọi thiết chế đều phải phục tùng và chịu trách nhiệm giải trình đối với luật pháp và được áp dụng, thực thi công bằng đối với họ.

Ba nguyên tắc cơ bản và trở thành phổ biến trong truyền thống NNPQ của Anh - Mỹ và thế giới ngày nay được Dicey đưa ra vào năm 1885, đó là : 1) Không ai có thể bị trừng phạt hoặc phải chịu đựng một hình phạt ngoại trừ một hành vi trái pháp luật được chứng minh tại tòa; 2) Không ai đứng trên pháp luật và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật bất kể địa vị xã hội, kinh tế hay chính trị của họ; 3) Nguyên tắc pháp quyền bao gồm những kết quả của các quyết định tư pháp xác định các quyền của cá nhân(4). Những nguyên tắc cơ bản này đã trở thành tiêu chuẩn quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại, đặc biệt liên quan đến các chế độ bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Tiếp nối truyền thống tư duy chính trị - pháp lý dựa trên pháp luật tự nhiên (natural law) của John Locke, các nhà tư tưởng khai sáng Hoa Kỳ, như Thomas Paine, Thomas Jefferson, Madison và Abraham Lincoln,… đã đặc biệt đề cao vai trò của pháp luật, các nguyên tắc pháp quyền, nhất là tính tối cao của hiến pháp, sự phân chia quyền lực, ghi nhận và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân,… Nguyên tắc pháp quyền, Rule of Law, trong tư duy chính trị - pháp lý Hoa Kỳ được xem là xương sống cho việc tổ chức, thiết kế và vận hành của nền dân chủ Hoa Kỳ.

2. Giá trị tham khảo cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

Lý luận về NNPQ có những đặc trưng chung và có thể được áp dụng cho những mô hình phát triển xã hội khác nhau hay những đặc thù về trình độ phát triển, điều kiện văn hóa khác nhau. Đối với Việt Nam, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dựa trên một NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, những giá trị chung, phổ biến này hoàn toàn phù hợp với Việt Nam. Đó là: Tính thượng tôn của pháp luật hay pháp luật đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, đặc biệt là quan hệ kinh tế của một nền kinh tế thị trường;các quyền và tự do của công dân được tôn trọng và bảo đảm; tính minh bạch, công khai, trách nhiệm giải trình của nhà nước; quyền lực nhà nước, đặc biệt là quyền hành pháp, cần phải được kiểm soát, và tính độc lập của cơ quan tư pháp (nhất là sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử).

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm đề cao và có những tư tưởng sâu sắc về NNPQ. Ngay từ năm 1919, trong bản Yêu sách gửi các nước Đồng Minh thắng trận tại Hội nghị Vécxây, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Những tư tưởng thấm đượm các nguyên tắc chung của NNPQ tiến bộ sau đó đã không ngừng được tái khẳng định, bổ sung và phát triển trong tư tưởng của Người cũng như được thể chế trong các quan điểm của Đảng, được hiến định và luật định, đặc biệt là trong Cương lĩnh năm 1930 của Đảng và Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về NNPQ, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực từ 1-1-2014) tiếp tục tái khẳng định các nguyên tắc pháp quyền và việc xây dựng NNPQ theo con đường XHCN: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.(5) Mặc dù theo quan điểm nhà nước do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất (Điều 2), NNPQ mà chúng ta đang xây dựng vẫn chứa đựng điểm chung, đó là có sự kiểm soát về mặt quyền lực nhà nước. Sự kiểm soát ấy được hiểu là giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Một điểm mới trong Hiến pháp 2013 đó là lần đầu tiên cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện quyền tư pháp được hiến định rõ ràng và cụ thể: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102)(6). Việc bước đầu có sự phân công rạch ròi và hiến định nguyên tắc kiểm soát có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN ở nước ta.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cũng mang đặc trưng cốt lõi của NNPQ nói chung, đó làcông nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3, Hiến pháp 2013). Tuy nhiên, việc thừa nhận và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trong NNPQ XHCN Việt Nam đạt trình độ cao hơn. Về mặt chủ thể của các quyền con người là thuộc về tất cả mọi người, thuộc về nhân dân, và mục tiêu của sự phát triển đó là vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 cho đến bản Hiến pháp mới nhất (Hiến pháp năm 2013), nguyên tắc pháp quyền trong việc thừa nhận, tôn trọng và thực hiện quyền con người luôn được thể hiện rõ nét. Đây cũng là một trong những đặc trưng của bất cứ NNPQ nào trên thế giới. Điều 14 của Hiến pháp 2013 khẳng định:1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14), và “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” (Điều 14)(7).

Nhà nước pháp quyền có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, điều hành xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng, nhất là một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước pháp quyền là một tiền đề quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường, đồng thời để định hướng các quan hệ kinh tế thị trường hạn chế những tác động tiêu cực, phát huy những yếu tố tích cực như tính năng động, sáng tạo, tích cực của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, cũng như người dân. Chỉ có các nguyên tắc pháp quyền mới có thể giúp cho các quy luật kinh tế vận hành hiệu quả nhưng trên cơ sở hướng tới mục đích phục vụ lợi ích tối đa của đa số các tầng lớp nhân dân trong xã hội chứ không phải thiểu số giới chủ, giới doanh nhân và tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. NNPQ cũng chính là một nhà nước định vị vào các giá trị phúc lợi xã hội, quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người yếu thế (powerless), đặc biệt là người nghèo, và các nhóm dễ bị tổn thương.

Xu hướng xa rời định hướng XHCN cũng là một trong những thách thức vô cùng lớn mà nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam đang phải đối mặt. NNPQ hơn bao giờ hết chính là một giải pháp hữu hiệu để điều chỉnh nguy cơ “chệch hướng” và những khuyết tật cố hữu của một nền kinh tế thị trường. Việc hoàn thiện một NNPQ phụ thuộc rất lớn vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới và tăng cường tính độc lập của cơ quan tư pháp, cải cách không ngừng nền hành chính theo hướng cởi mở, minh bạch và chịu trách nhiệm giải trình. Đồng thời, NNPQ được hình thành dựa trên nỗ lực, cam kết mạnh mẽ của đội ngũ lãnh đạo và quản lý nói riêng, cũng như cán bộ, công chức nói chung, với tính cách là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạch định, thực thi chính sách.

Nhà nước pháp quyền trong một nền kinh tế thị trường luôn có sự đề cao đặc biệt của nhà nước, lực lượng thị trường (các doanh nghiệp và các quan hệ kinh tế thị trường,...) và tổ chức xã hội dân sự. Trong đó, vai trò đặc biệt quan trọng của nhà nước đó là bằng công cụ pháp luật và thông qua pháp luật, điều tiết nền kinh tế, cân bằng mối quan hệ giữa lực lượng thị trường (vốn luôn có xu hướng lấy lợi nhuận làm đầu và lấy các quan hệ kinh tế chi phối toàn bộ các quan hệ khác và mọi mặt của đời sống xã hội) với các tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân (là cầu nối, người giám sát và bảo vệ trực tiếp các quyền và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân). Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội không chỉ góp phần hiệu quả vào việc giám sát quá trình thực thi chính sách, giảm tác động tiêu cực của các lực lượng thị trường, mà điều quan trọng đó chính là việc giúp tăng cường năng lực quản trị nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, mà còn giúp trao quyền và tăng cường sự hưởng thụ và thực hiện các quyền cơ bản của công dân. Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những tiền đề quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cần tăng cường năng lực thực thi và giám sát việc thực thi quá trình chính sách, cùng với việc tăng cường các cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước hiệu quả (như Quốc hội, hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội…).

Trong một xã hội dựa trên kinh tế thị trường, xu hướng lạm quyền và vi hiến của cơ quan hành chính - nhà nước (trong việc thực thi quyền hành pháp) là rất rõ rệt. Vì vậy, NNPQ chỉ có thể được tổ chức và hoạt động theo chiều tích cực đối với hệ thống kinh tế thị trường và phát triển bền vững xã hội nếu như có các cơ chế tương đối độc lập giúp cho nó vận hành hiệu quả. Tăng cường thẩm quyền, năng lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp là một đòi hỏi vô cùng cấp thiết. Kinh nghiệm khu vực và quốc tế về tính hiệu quả của một số mô hình đặc trưng về NNPQ đề cao tính tối cao của Hiến pháp và tinh thần thượng tôn pháp luật của các cơ quan nhà nước và mỗi công dân, vai trò độc lập và tối cao của cơ quan tư pháp trong bảo vệ các nguyên tắc pháp quyền có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng một mô hình NNPQ phù hợp với điều kiện văn hóa, lịch sử, chính trị,… của một nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam hiện nay.

____________________

Nguồn

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2014

(1)Tại Hội nghị quốc tế về “Nhà nước pháp quyền” của các nước sử dụng tiếng Pháp, tổ chức tại Benin (Bê-nanh) vào tháng 9/1991, với sự tham dự của các nhà luật học và lập pháp của trên 40 nước, đã lần đầu tiên đưa ra một cách hiểu tương đối chung nhất về NNPQ như sau: “NNPQ là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người đều được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy trình và quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống toà án độc lập. NNPQ có nghĩa vụ tôn trọng giá trị của con người và đảm bảo cho công dân có khả năng, điều kiện, chống lại sự tuỳ tiện của cơ quan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước. NNPQ phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp, và pháp luật đã quy định. Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền tự do và quyền công dân”. Xem: http://democratie.francophonie.org.

(2) Report of the Secretary-General on the Rule of Law and Transitional Justice in Conflict and Post-Conflict Societies, (S/2004/616), http://www.un.org.

(3) Nicholas Booth (2010),  Quan điểm quốc tế về Nguyên tắc pháp quyền, bài tham luận HTQT “Pháp quyền, Quản trị tốt và Chống Tham nhũng”, Hà Nội 7-11-2010, Kỷ yếu Hội thảo, Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(4) Xem Palekar, S. Comparative Politics and Government,  64-65 (PHI Learning 2009).

(5), (6), (7) Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam, http://www.vietlaw.gov.vn

 

TS Hoàng Văn Nghĩa

Viện Nghiên cứu Quyền con người,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Tư tưởng của V.I.Lênin về tôn giáo trong thực tiễn Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Để tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong các lý luận đương đại về tôn giáo, những giá trị phổ quát của nhân loại đạt được trong pháp luật quốc tế về quyền con người, điều cốt yếu nhất là phải tiếp tục nghiên cứu để quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Lênin nói riêng về tôn giáo. 

Tư tưởng của V.I.Lênin về tôn giáo trong thực tiễn Việt Nam hiện nay

Cũng như C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin nghiên cứu tôn giáo không phải vì mục đích tự thân, không nhằm xây dựng một hệ thống lý luận “thuần túy” về tôn giáo mà do những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn của phong trào cách mạng. Bối cảnh nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX rất đặc biệt: trong khi CNTB đang chuyển sang giai đoạn phát triển đế quốc chủ nghĩa thì nước Nga lúc đó mới chỉ là nước tư bản có trình độ phát triển trung bình, song chế độ thống trị hết sức thối nát; giai cấp tư sản cấu kết chặt chẽ với giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột nhân dân thậm tệ và sử dụng đạo Chính Thống để kìm kẹp, nô dịch tinh thần quần chúng nhân dân. Run sợ trước phong trào cách mạng đang ngày một dâng cao, các thế lực phản động tìm cách lôi kéo, kích động các hoạt động tôn giáo nhằm đánh lạc hướng quần chúng, khiến họ xao nhãng với cuộc đấu tranh giành quyền tự do, dân chủ. Lênin đã chỉ rõ âm mưu của các thế lực phản động: “Khắp nơi bọn tư bản phản động đã chú trọng, và ở nước ta hiện nay chúng cũng bắt đầu chú trọng khêu lên những sự hằn thù tôn giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến cho họ không để ý đến vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ yếu”(1). Bên cạnh âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động, sự hoang mang, dao động của một bộ phận người tham gia sau thất bại của cuộc cách mạng 1905 đã làm xuất hiện trào lưu “tìm thần”, “tạo thần”, muốn kết hợp giữa CNXH khoa học với niềm tin tôn giáo, coi CNXH là một loại tôn giáo. Các trào lưu “tìm thần”, “tạo thần” gây tác hại lớn cho phong trào cách mạng, làm cho quần chúng mất phương hướng. Lênin chỉ rõ các trào lưu này là một dạng biện hộ cho thế lực phản động, là “độc tố ngọt ngào nhất và được che đậy khéo léo nhất trong những viên kẹo bọc bằng đủ loại giấy màu sặc sỡ”(2), khiến quần chúng nhân dân bị mê muội và cam chịu ách áp bức, bóc lột. Ngay trong Đảng Dân chủ - Xã hội Nga cũng đã xuất hiện các quan niệm “hữu khuynh”, “tả khuynh” và cơ hội, muốn thỏa hiệp với tôn giáo. Trong bối cảnh đó, Lênin đã tích cực truyền bá và đấu tranh nhằm khẳng định tính khoa học của các quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen về tôn giáo. Người đã viết nhiều bài về tôn giáo như: Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của giai cấp và của các đảng phái đối với tôn giáo, v.v.. trong đó Người đã luận giải, làm sâu sắc thêm nhiều khía cạnh liên quan đến vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo.

Kế thừa các quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen về bản chất, nguồn gốc tôn giáo, Lênin đã phân tích, làm rõ hơn nguồn gốc kinh tế - xã hội và nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Theo Người, “Nguồn gốc sâu xa nhất của các thành kiến tôn giáo là cùng khổ và dốt nát”(3); cụ thể hơn, “sự áp bức đối với quần chúng lao động về mặt xã hội, tình trạng có vẻ hoàn toàn bất lực của họ trước những thế lực mù quáng của chủ nghĩa tư bản đang hàng ngày hàng giờ gây ra cho những người lao động bình thường những nỗi khổ cực kỳ ghê gớm, những sự đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những biến cố phi thường như chiến tranh, động đất, v.v.. đó là nguồn gốc sâu xa nhất hiện nay của tôn giáo”(4).

Phản bác lại quan niệm của những người theo thuyết “tạo thần” rằng “thần” là phức hợp ý niệm làm thức tỉnh và tổ chức những tình cảm xã hội, Người chỉ rõ, “Thần (về mặt lịch sử và sinh hoạt) thì trước hết là một phức hợp những ý niệm được sản sinh ra bởi tình trạng con người chịu đè nén một cách ngoan ngoãn, bởi giới tự nhiên bên ngoài và ách áp bức giai cấp, tức là một phức hợp những ý niệm ghi nhận sự đè nén đó và xoa dịu cuộc đấu tranh giai cấp”(5).

Về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, Lênin đã chỉ rõ khả năng xuất hiện của tôn giáo nằm ngay trong đặc điểm nhận thức của con người. Người viết: “Sự phân đôi của nhận thức của con người và tính khả năng của chủ nghĩa duy tâm (của tôn giáo) đã có trong cái trừu tượng đầu tiên, tối sơ “cái nhà” nói chung và những cái nhà cá biệt”(6). Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích làm rõ ý thức tôn giáo là sự phản ánh vào đấu óc con người những  “lực lượng bên ngoài” thì Lênin lại luận giải, làm rõ hơn “cơ chế” hình thành tôn giáo ngay trong phép biện chứng của quá trình nhận thức.

Lênin đã vạch rõ tác hại của tôn giáo khi bị các thế lực phản động lợi dụng làm công cụ áp bức tinh thần quần chúng và củng cố địa vị thống trị của chúng. Người khẳng định “Phơ bách đã trả lời hết sức đúng những kẻ bênh vực tôn giáo, cho đó là nguồn “an ủi” con người, rằng an ủi con người nô lệ thì có lợi cho chủ nô; còn người bạn chân chính của nô lệ là người dạy cho họ biết phẫn nộ, biết vùng dậy, biết đánh đổ áp bức chứ tuyệt đối không “an ủi” họ”(7).

Phê phán tôn giáo với tư cách công cụ nô dịch tinh thần của giai cấp thống trị, song Lênin kiên trì với quan điểm không tuyên chiến với tôn giáo, thay vào đó, Người đề ra những nguyên tắc, phương pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề tôn giáo, vừa hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Theo Người, để tôn giáo không còn là công cụ thống trị giai cấp, giai cấp vô sản phải “làm cho tôn giáo thực sự trở thành một việc tư nhân đối với nhà nước”(8). Thực hiện tư tưởng đó, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính quyền đã về tay nhân dân, Người đã ký sắc luật “Về việc tách giáo hội khỏi nhà nước, trường học ra khỏi nhà thờ”. Lênin cho rằng, “phải trừ bỏ triệt để những mối liên hệ giữa một bên là các giai cấp bóc lột, tức bọn địa chủ và bọn tư sản, với một bên là tổ chức tuyên truyền tôn giáo là những mối liên hệ nhằm giữ quần chúng trong vòng ngu muội”(9). Người khẳng định rõ, tôn giáo là việc tư nhân đối với nhà nước, có nghĩa là nhà nước không được bao cấp cho tôn giáo, không được sử dụng tôn giáo như bộ máy nối dài để thống trị, còn đối với chính đảng của giai cấp vô sản, tôn giáo không phải là việc tư nhân. Bởi vậy, Đảng cần tiến hành cuộc đấu tranh khắc phục mặt tiêu cực của tôn giáo thông qua tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Người nhắc nhở: “Đấu tranh chống các thành kiến tôn giáo phải cực kỳ thận trọng; trong cuộc đấu tranh này, ai làm  tổn hại đến tình cảm tôn giáo, người đó sẽ gây thiệt hại lớn. Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục. Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động như vậy sẽ càng gây thêm sự chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của chúng ta là ở sự đoàn kết”(10). Theo Người, cuộc đấu tranh đó chỉ có kết quả khi chính đảng của giai cấp vô sản đoàn kết, lôi cuốn được quần chúng nhân dân vào công cuộc xây dựng xã hội mới.

Trong vấn đề tự do tín ngưỡng, Lênin không những kiên định với quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen mà còn hiện thực hóa quan điểm đó trong thực tế. Sau Cách mạng Tháng Mười, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo đã được ghi rõ trong Hiến pháp của nước Nga mới. Phát biểu trong Hội nghị Các đại biểu ngoài đảng ngày 26-12-2021, Người nhấn mạnh “theo Hiến pháp của chúng ta, theo đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa chúng ta thì quyền tự do tín ngưỡng về tôn giáo đã được tuyệt đối bảo đảm cho mọi người”(11).

Nhằm đáp ứng những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn xây dựng Đảng cầm quyền, Lênin đã nêu những luận điểm có tính đột phá trong vấn đề kết nạp đảng viên là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo. Người cho rằng, không nên cứng nhắc khi tuyên bố một linh mục có thể hay không  thể vào Đảng. Người chỉ rõ: “Nếu có linh mục nào đó cùng đi với chúng ta để cùng hoạt động chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cương lĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ của Đảng Dân chủ - Xã hội”(12).

Như vậy, Lênin đã luận giải, làm sâu sắc thêm, cụ thể hóa nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo trong chế độ mới, qua đó phát triển lý luận mác xít về tôn giáo lên một tầm mức mới. Nhờ vậy, Người đã giải quyết thành công vấn đề tôn giáo trong quá trình cách mạng, tập hợp, đoàn kết được đông đảo quần chúng có tôn giáo xung quanh đảng; hạn chế những tác động tiêu cực của các thành kiến tôn giáo; vô hiệu hóa sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, góp phần vào thắng lợi của cách mạng. Mặc dù do bối cảnh và điều kiện lịch sử, Lênin chưa đi sâu bàn về thiết chế, cơ chế bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, chưa có điều kiện làm rõ những đóng góp của tôn giáo về văn hóa, đạo đức,... nhưng quan điểm của Người về tôn giáo có giá trị khoa học và nhân văn sâu sắc, cùng với lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, trở thành cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và thực hiện chính sách đúng đắn đối với tôn giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đem lại những thành quả to lớn trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra chính sách tôn giáo với những nội dung như: tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương - giáo, đoàn kết toàn dân; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, giúp đồng bào “phần xác được ấm no, phần hồn được thong dong”; phát huy tinh thần yêu nước, khích lệ, biểu dương những tấm gương sống “tốt đời, đẹp đạo” trong các chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo; kiên quyết đấu tranh chống mê tín dị đoan và sự lợi dụng tôn giáo vào mục đích xấu. Chính sách đúng đắn đó đã có tác dụng to lớn trong đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng.  Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX đã có sự tổng kết cô đọng: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho đất nước”(13).

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, trên cơ sở vận dụng trung thành và sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, Đảng ta đã có sự đổi mới tư duy về tôn giáo, tạo bước đột phá trong chính sách đối với tôn giáo. Đảng khẳng định, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, gìn giữ và phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Đảng cũng khẳng định, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Điều đó thể hiện bước chuyển nhận thức của Đảng từ chỗ xem tôn giáo chỉ là phạm trù chính trị đơn thuần sang nhìn nhận tôn giáo còn là phạm trù dân vận, phạm trù văn hóa. Cùng với những quan điểm thể hiện sự đổi mới tư duy về tôn giáo, Đảng còn đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác tôn giáo và các giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt công tác tôn giáo như: tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo; tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở; tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường công tác tổ chức, cán bộ làm công tác tôn giáo...

Chính sách tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được bảo đảm và thực hiện ngày càng đầy đủ; khối đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Tình hình tôn giáo cơ bản ổn định, hoạt động tôn giáo dần đi vào nền nếp, nhìn chung tuân thủ pháp luật. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được tăng cường, hệ thống pháp luật, thể chế quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo, đồng thời bảo đảm xử lý, ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước.

Sau gần 30 năm đổi mới đất nước, diện mạo các vùng có đông đồng bào có đạo đã có sự thay đổi căn bản theo hướng CNH, HĐH. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo không ngừng tăng lên; cơ sở thờ tự tôn giáo được tạo điều kiện tôn tạo, sửa chữa, xây dựng mới khang trang, lộng lẫy; kinh sách tôn giáo được xuất bản đầy đủ; sinh hoạt tôn giáo của đồng bào nhộn nhịp; các lễ hội tôn giáo được tiến hành trang trọng, bảo đảm an ninh, trật tự. Đồng bào có đạo phấn khởi, tích cực tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phong trào văn hóa, xã hội, các hoạt động nhân đạo, từ thiện.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tình hình tôn giáo cũng có những diến biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, sự nghiệp đổi mới hiện nay cũng đang đặt ra yêu cầu phải phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khai thác mọi tiềm năng, mọi nguồn lực để phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Bởi vậy, trong lĩnh vực công tác tôn giáo, cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo để góp phần hạn chế các trở lực và tạo xung lực mới cho công cuộc đổi mới đất nước.

Để tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong các lý luận đương đại về tôn giáo, những giá trị phổ quát của nhân loại đạt được trong pháp luật quốc tế về quyền con người, điều cốt yếu nhất là phải tiếp tục nghiên cứu để quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Lênin nói riêng về tôn giáo. Trong việc vận dụng quan điểm của Lênin về tôn giáo cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Một là, cần nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hơn những nguyên tắc mang tính phương pháp luận mà Lênin đã đề ra trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Đương thời, trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về tôn giáo vào thực tiễn nước Nga, Lênin đã bổ sung, hoàn thiện những nguyên tắc mác xít để giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng CNXH: khắc phục dần mặt tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; phân biệt giữa nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng nhân dân và sự lợi dụng tôn giáo vào mục đích xấu; giải quyết tôn giáo phải có quan điểm lịch sử, cụ thể. Do nhiều lý do, một số cán bộ, đảng viên có nhận thức chưa đúng hoặc thực hiện chưa đầy đủ những nguyên tắc này trong thực tế. Do vậy, cần nghiên cứu, làm rõ nội dung cụ thể từng nguyên tắc cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các nguyên tắc nêu trên, từ đó quán triệt sâu rộng trong toàn đội ngũ cán bộ, đảng viên, giúp họ hiểu đúng và thực hiện đầy đủ.

Hai là, cần học tập cách Lênin vận dụng sáng tạo lý luận của C.Mác, Ph.Ănghen về tôn giáo để giải quyết vấn đề này. Tình hình thế giới và điều kiện của Việt Nam hiện nay khác xa so với bối cảnh lịch sử của thế giới và nước Nga thời Lênin, bởi vậy, nếu chỉ “tầm chương”, “trích cú”, áp dụng cứng nhắc từng luận điểm cụ thể của Lênin về tôn giáo mà bỏ qua hoàn cảnh lịch sử, cụ thể tức là đã đi ngược lại quan điểm biện chứng và do đó, dẫn tới sai lầm trong giải quyết vấn đề thực tế. Bởi vậy, vận dụng quan điểm của Người về tôn giáo cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, căn cứ vào tình hình tôn giáo cụ thể để đề ra chính sách, giải pháp giải quyết cho phù hợp, bảo đảm góp phần tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước.

Ba là, đối với những vấn đề cụ thể đang có sự thiếu thống nhất nhận thức hoặc vướng mắc giữa lý luận và thực tiễn công tác tôn giáo, cần nghiên cứu để có sự nhận thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn về quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đó; cần xem xét sự vận dụng đã thật sự đúng đắn, sáng tạo hay còn mang tính máy móc, giáo điều. Chẳng hạn, trước đây, nhiều người cho rằng đảng viên có đạo không được tham gia sinh hoạt tôn giáo, nhất là không được thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Họ cho rằng, quy định như vậy là phù hợp với quan điểm của Lênin. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ quan điểm của Lênin về vấn đề này có thể thấy, Người chỉ không cho phép đảng viên có đạo tuyên truyền tôn giáo trong nội bộ tổ chức đảng mà thôi, còn việc sinh hoạt tôn giáo là việc riêng của đảng viên đó, miễn sao họ tuân thủ cương lĩnh, điều lệ đảng. Hay hiện nay, trước hiện tượng có nhiều “đạo lạ” xuất hiện và trong số đó có không ít hiện tượng phi nhân tính, phản nhân văn, một số người cho rằng cần xem tất cả hiện tượng tôn giáo mới là “tà đạo” và phải ngăn cấm triệt để. Tuy nhiên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo có nguồn gốc từ hiện thực và nó ra đời là đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, vì vậy, không thể đơn giản quy toàn bộ hiện tượng tôn giáo mới là “tà đạo”, càng không thể giải quyết triệt để bằng biện pháp hành chính. Qua đó có thể thấy rằng, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo phải trên cơ sở có sự nhận thức đúng đắn với tư duy đổi mới thì mới mang lại tác dụng thiết thực trong giải quyết vấn đề tôn giáo.

Bốn là, cùng với việc vận dụng quan điểm của Lênin về tôn giáo, cần nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo cho phù hợp với bối cảnh của thời đại và yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Muốn vậy, cùng với việc đào sâu nhận thức về các quan điểm của Người về tôn giáo, trên cơ sở giữ vững lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cần nghiên cứu để tiếp thu có phê phán các thành tựu đương đại trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo. Đồng thời, thường xuyên có sự tổng kết thực tiễn, một mặt đánh giá sự vận dụng lý luận về tôn giáo trong thực tiễn, mặt khác đúc kết, bổ sung những quan điểm mới, góc nhìn mới về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

___________________

Nguồn : 

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2015

(1), (8) V.I.Lênin: Toàn tập, t.12, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.171, 175.

(2), (5) Sđd, t.48, tr.294, 300-301.

(3), (10) Sđd, t.37, tr.221, 221.

(4), (12) Sđd, t.17, tr.551, 519.

(6) Sđd, t.29, tr.394.

(7), (9) Sđd, t.36, tr.162, 162.

(11) Sđd, t.44, tr.410.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.45.

 

TS Lê Văn Lợi

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


BÁO THANH NIÊN LÀ TỜ BÁO CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM MÀ ĐƯA NHỮNG TIN , GIẬT TÍT GIẬT GÂN NHƯ KIỂU BÁO CỦA VIỆT TÂN LÀ SAO?

         Cái anh BÁO THANH NIÊN này trưởng thành rồi mà hỏi khờ khạo như trẻ thiểu năng vậy anh?
     Anh ăn phải bả bánh vẽ rồi càng ngày anh càng loạn ngôn. 
     Muốn biết bé đã tử vong hay chưa thì anh về xách cổ thân sinh anh thả xuống cái trụ rộng 25cm sâu 35 m để thử 15 phút xem các cụ đã theo đoàn tụ theo ông bà ông vải chưa thì có câu trả lời ngay thôi. 
     Một đứa trẻ gầy nhom 10 tuổi có 20 kg, rớt xuống cái trụ sâu 35 m, thiếu oxy, đa chấn thương và tâm thế hoảng loạn thì chưa đầy 15p đã tử vong rồi. 
     Chưa nói qua camera thăm dò đã ko nhìn thấy bé đâu vì độ sâu 8m có bùn nhão và nước. 
     Khả năng cao là bé đã bị sụt lún xuống và bị lớp bùn đất lèn chặt cứng rồi. 
     Cả một công trình đóng bao nhiêu cái trụ xuống như vây bây giờ đất xung quanh đã bị nén một cách chặt cứng. Sức nén lên đến hàng trăm nghìn tấn thì làm sao dễ dàng nhổ trụ lên được?
     Nói thật công trình không làm móng chặt thì khi hoàn thiện xong xẩy ra sụt lún anh THANH NIÊN lại có dịp ẳng thuê nữa thì sao? 
     Là người đại diện cho tiếng nói ngôn luận ngay giữa tâm bão của dư luận anh ko nói được tiếng nào mang tính truyền tải sự thấu hiểu thì anh ngụm mồm chứ sao anh lại có kiểu kích động đốt nhà như thế?
Thật mệt cái lỗ... đ...ái với anh quá!
Yêu nước ST.

HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA MÁC VẪN GIỮ NGUYÊN GIÁ TRỊ


 HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA MÁC VẪN GIỮ NGUYÊN GIÁ TRỊ

🌿🌿🌿
Trước sự phát triển của CNTB hiện đại, các học giả tư sản, các phần tử phản động, cơ hội liên tục tung ra những luận điệu xuyên tạc học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác, cho rằng học thuyết đã lỗi thời, không còn mang tính cách mạng và khoa học và đến nay không còn phù hợp. Hiện nay, sự xuyên tạc, chống phá đó ngày càng quyết liệt, với những quan điểm mang nặng tính chủ quan, thiên kiến, tư biện trong phương pháp xem xét. Họ đã đưa ra những hiện tượng bề ngoài, “ánh hào quang” của CNTB để nhào nặn, tô vẽ xã hội tư bản, trên cơ sở đó tiếp tục bóp méo, xuyên tạc tính khoa học và cách mạng nhằm phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
CNTB ngày nay đã có sự phát triển rất cao so với thời C.Mác. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ”. CNTB thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, bóc lột lao động làm thuê và chiếm đoạt giá trị thặng dư vẫn tồn tại như nó đã tồn tại trong suốt hơn 5 thế kỷ qua, song với những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, những điều chỉnh thích nghi cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, bóc lột và chiếm đoạt giá trị thặng dư trong xã hội tư bản đã có những biểu hiện mới.
Giai cấp tư sản đang tận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để điều chỉnh sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhiều công ty, nhà máy, cơ sở sản xuất đạt trình độ tự động hóa rất cao; các dây chuyền sản xuất với các máy móc tự động, các rôbốt thay thế con người được sử dụng ngày càng nhiều với năng suất lao động cao. Hệ thống máy tính, trí tuệ nhân tạo đã và đang dần thay thế nhiều hoạt động quản lý sản xuất, phân phối của con người, thay thế cho việc tổ chức sản xuất tập trung, hoàn chỉnh một sản phẩm như trước đây.
Quan hệ sản xuất cũng có những điều chỉnh nhất định. Hình thức sở hữu tư nhân, nền tảng của nền kinh tế TBCN không còn tồn tại dưới hình thức sở hữu của những người sản xuất độc lập, mà đã được xã hội hóa. Hình thức sở hữu cổ phần mà C.Mác xem là hình thức sở hữu quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, ngày nay càng phát triển mạnh mẽ và hiện là hình thức sở hữu phổ biến ở các nước TBCN. Quần chúng nhân dân bao gồm cả công nhân, người lao động thuộc mọi tầng lớp xã hội, đã trở thành các chủ sở hữu cổ phần lớn nhỏ khác nhau. Đương nhiên, các chủ sở hữu cổ phần lớn nhất vẫn thuộc về giai cấp tư sản. Cùng với đó, hình thức sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân, giữa các quốc gia, đã phát triển rất đa dạng, hầu như có rất ít số công ty một chủ sở hữu. Trong khi đó, sở hữu trí tuệ đã ngày càng trở nên quan trọng với những quy định pháp luật chặt chẽ mà thời C.Mác hầu như chưa có.
Trong lĩnh vực quản lý, phân phối, CNTB hiện đại cũng có những điều chỉnh đáng kể. Nhiều biện pháp đã được thực hiện như tăng tiền lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người lao động... Những người lao động không những có đủ tiền lương để đáp ứng các nhu cầu về vật chất mà còn cả nhu cầu về tinh thần. Ở hầu hết các nước tư bản phát triển, thời gian lao động mỗi tuần được rút ngắn còn khoảng 40 giờ và số ngày làm việc còn 4 đến 5 ngày. Bên cạnh đó, một bộ phận người lao động làm thuê có trình độ cao, có thu nhập cao, được đảm nhiệm các vị trí quản lý, chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau trong guồng máy sản xuất của tư bản. CNTB hiện đại thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, thông qua các thể chế, các quy định do nhà nước tư sản ban hành đã làm cho các quan hệ giữa tư bản và lao động, giữa chủ và thợ được điều chỉnh mềm dẻo hơn, nó như những chiếc “van điều áp” làm giảm thiểu những mâu thuẫn giữa tư bản với lao động, xoa dịu và tránh được những mâu thuẫn gay gắt gây nên các xung đột xã hội.
Song song với quá trình làm dịu các mâu thuẫn trong nước, CNTB hiện đại còn hướng các mâu thuẫn trong nước ra bên ngoài, với việc vươn những “chiếc vòi bạch tuộc”, thông qua con đường xuất khẩu tư bản dưới hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) để bóc lột lao động làm thuê ở các nước đang phát triển. Dòng vốn FDI lúc đầu được chảy khá mạnh ở các ngành thuộc khu vực sản xuất, nhưng càng về sau càng có xu hướng gia tăng ở những ngành thuộc khu vực dịch vụ - những ngành hiện có tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư cao. Sự chuyển hướng đó vừa làm cho tổng lợi nhuận thu được vẫn tăng lên, vừa giảm thiểu tính chất gay gắt những mâu thuẫn vốn có giữa tư bản và lao động trong lòng xã hội tư bản. Thông qua những dòng đầu tư, cho vay, các ông chủ tư bản ở các nước phát triển vẫn hàng ngày, hàng giờ bóc lột lao động làm thuê ở các nước đang phát triển, thu lợi nhuận kếch xù.
Những đề cập trên mang tính khái quát, dù chưa phản ánh được đầy đủ, toàn diện xã hội tư bản hiện đại, nhưng thông qua đó cho thấy những bước phát triển mới của CNTB hiện đại, đồng thời cũng phản ánh những nét mới về bóc lột lao động làm thuê và chiếm đoạt giá trị thặng dư của nhà tư bản đối với người công nhân, lao động. Nhìn tổng thể, những gì mà CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không nằm ngoài tính quy luật mà C.Mác đã chỉ ra.
CNTB hiện đại không thay đổi được bản chất, dù những hình thức bóc lột tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột giá trị thặng dư - tức là bóc lột lao động sống của người lao động.
Giá trị thặng dư, lợi nhuận vẫn là động lực thôi thúc các nhà tư bản, là mục tiêu để nhà tư bản bỏ vốn đầu tư. Ở đâu, chỗ nào có thể thu được giá trị thặng dư, thu được lợi nhuận thì ở đó nhất định tư bản có mặt. Nhưng sự điều chỉnh thích nghi đã làm cho chiếc bánh lợi nhuận “bé đi” tương đối. Quá trình đeo đuổi lợi nhuận tất phải tăng tích lũy tư bản. Tăng tích lũy tư bản, tức là tái sản xuất tư bản được tiến hành mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu, tuy làm tăng quy mô lợi nhuận, song lại càng làm gia tăng tình trạng bần cùng hóa người lao động, tức là làm tăng tính chất gay gắt của các mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản.
Hiện tại, trong xã hội tư bản, tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội không giảm xuống mà ngày càng gia tăng. Của cải phần lớn tập trung trong tay giai cấp tư sản, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thế giới, một nửa tổng tài sản “nằm trong tay 1% những người giàu nhất, trong khi một nửa dân số thế giới chỉ sở hữu dưới 1% tổng của cải toàn cầu”. Thu nhập bình quân của 10% dân số giàu nhất tại các nước OECD gấp khoảng 9 lần thu nhập bình quân của 10% dân số nghèo nhất.
Mặc dù thu nhập của công nhân có tăng lên, đời sống vật chất được cải thiện, nhất là công nhân ở các nước tư bản phát triển, công nhân có tay nghề cao, song so với thu nhập và mức sống của giai cấp tư sản thì ngày càng cách xa, công nhân vẫn bị bần cùng hóa tương đối và tuyệt đối như nhận định của C.Mác cách đây hơn 170 năm.
Cho đến nay, CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, đó là mâu thuẫn giữa tư bản với lao động làm thuê; mâu thuẫn giữa lợi ích của giai cấp tư sản với lợi ích của tuyệt đại đa số người lao động; mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền tư bản, giữa các công ty xuyên quốc gia, giữa các trung tâm quyền lực TBCN với nhau; mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển, chậm phát triển.
Sự phát triển của CNTB hiện nay với những khuyết tật của nó “đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.
Mặc dù CNTB ngày nay đang có nhiều thành tựu, “tăng trưởng kinh tế hiện đại và sự truyền bá tri thức đã giúp tránh được sự diệt vong theo quan điểm của C.Mác, nhưng không giúp điều chỉnh những cấu trúc tư bản sâu xa và tình trạng bất bình đẳng - hay chí ít là không nhiều như người ta đã từng hình dung trong những thập niên lạc quan sau Thế chiến II”.
Như vậy, hoàn toàn là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để từ đó phủ nhận tính khoa học và cách mạng trong học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác. Chỉ bằng sự phân tích sâu sắc, cách nhìn khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển, mới thấy được những gì ẩn đằng sau, bên trong, ở tầng sâu của xã hội tư bản hiện nay, thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, qua đó càng cho thấy tính cách mạng và khoa học trong học thuyết này.
Thực tiễn đã chứng minh, bất chấp mọi công kích, bôi nhọ, phê phán, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới, vẫn tỏ rõ là một học thuyết tràn đầy tính khoa học và cách mạng sâu sắc, chưa có học thuyết nào thay thế được. Những luận cứ, luận chứng và cách lập luận sâu sắc, logic, chặt chẽ thể hiện ở mỗi phạm trù, mỗi luận điểm trong học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác cho tới nay vẫn là chân lý được thực tiễn kiểm nghiệm.
Đối với chúng ta, những người cộng sản chân chính, cần phải hiểu đầy đủ, tường minh, sâu sắc từng luận điểm “gốc” của các nhà kinh điển mácxít, luôn luôn xem xét, nghiên cứu với thái độ khách quan, khoa học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin để đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Khắc phục triệt để căn bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí cũng như những biểu hiện xét lại và phủ nhận học thuyết Mác - Lênin. Trong cuộc đấu tranh này, không chỉ là việc phê phán, phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, mà cần phải góp phần khẳng định tính khoa học và cách mạng của nền tảng tư tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn; xây dựng, củng cố niềm tin; không ngừng đổi mới tư duy lý luận, góp phần vào bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới.

 

Hồ Chí Minh là một nhân cách cao đẹp, bởi Người có đức trong, trí sáng, cống hiến trọn đời cho dân tộc và nhân loại tiến bộ, luôn hiện hữu với người Việt Nam yêu nước. Dù ai đó cố tình đặt điều nói xấu, xuyên tạc và tung tin ngụy tạo về Người, thì cũng chỉ là một hành động “bàn tay không che nổi mặt trời”

Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, con người hằng ngày, hằng giờ bị tống nhập biết bao tin tức, tin đúng nhiều và tin xuyên tạc sự thật cũng không ít. Len lỏi vào các kênh thông tin ấy, lợi dụng diễn đàn mở cũng như sự lan truyền rộng, nhanh của mạng in-tơ-nét, các thế lực thù địch đã trổ hết các “ngón nghề” thâm độc nhằm bôi xấu nhân cách Hồ Chí Minh. Nhưng, bôi làm sao được, khi cả cuộc đời của Người vô cùng trong sáng và đẹp đẽ; là tấm gương sáng không một chút bụi mờ, đã trở thành giá trị văn hóa thẩm thấu một cách tự nhiên vào đời sống của người Việt Nam yêu nước, như lớp lớp phù sa bồi đắp cho “cánh đồng” văn hóa của dân tộc càng thêm phì nhiêu.

Đạo đức trong sáng

Nói đến đạo đức Hồ Chí Minh thì không chỉ người Việt Nam chân chính, mà rất nhiều người trên thế giới, thậm chí cả những người không cùng chiến tuyến với Người đều phải nể trọng. Bởi lẽ, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái cao cả, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Người luôn tìm cách giác ngộ cho mọi người về quyền con người, tố cáo mạnh mẽ tội ác, áp bức, bất công của thực dân, đế quốc xâm lược và nô dịch những dân tộc nhược tiểu với bằng chứng thuyết phục nhất. Vì lẽ đó, Người là một chiến sĩ tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh chống xâm lược, giải trừ chủ nghĩa thực dân, chống mọi áp bức đối với con người; đồng thời, luôn có khát vọng xây dựng một xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm nồng hậu và sự chăm lo mọi bề đối với người lao động, đặc biệt là những người bị yếu thế trong cuộc sống. Người luôn gần dân, hiểu dân, vì dân, phấn đấu cho sự cường thịnh của dân tộc, trung thành với lý tưởng của Đảng: đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa cộng sản. Người hiến cả đời cho dân tộc và “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người luôn lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ. Hồ Chí Minh đưa ra và tích cực thực hành quan điểm: Đảng phải “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”; người cách mạng phải là người phục vụ nhân dân, “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”. Người nói: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đầy tớ cho quần chúng và phải làm cho ra trò, nếu không quần chúng sẽ đá đít”. Ngay cả chức Chủ tịch nước của mình, Người cũng nói là “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”5. Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất trên thế giới có cuộc sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - những đặc tính cao đẹp của con người chân chính như một lẽ tự nhiên: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/ Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/ Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/ Thiếu một mùa, thì không thành trời/ Thiếu một phương, thì không thành đất/ Thiếu một đức, thì không thành người”.

Trí tuệ sáng trong

Nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh còn được tăng thêm, tôn đẹp lên bởi trí tuệ của Người. Trí tuệ ấy là kết tinh của tri thức nhân loại, là kết quả của quá trình kế thừa giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để không ngừng phát triển, sáng tạo trong thời đại mới. Trong nhân cách của Người, ta thấy sự sâu sắc của một nhà hiền triết phương Đông, sự uyên bác như một nhà thông thái phương Tây và sự nhạy bén của một nhà cách mạng lỗi lạc. Người để lại cho đời sau di sản tư tưởng, lý luận đồ sộ, hàm chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc trong cuộc sống và là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Người là nhà lãnh đạo cách mạng, nhà ngoại giao, nhà báo, nhà thơ,… Ở vai trò nào, Người cũng cho ta những chỉ dẫn sáng suốt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Điều đó chỉ có được ở một nhân cách vĩ đại, lấy việc học tập suốt đời để nâng cao nhận thức, coi việc rèn luyện trong thực tiễn để hoàn thiện bản thân. Người học trong đường đời, học mọi lúc, mọi nơi; học ở nhân dân, ở nhân loại cần lao. Động lực và mục đích của việc học tập, tu dưỡng của Người là vì dân, vì nước, vì tiến bộ của nhân loại mà không hề mưu lợi cho bản thân; học để làm việc, làm người, làm cán bộ; để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại; luôn đem trí tuệ của mình phục vụ cách mạng. Điều đó làm cho trí tuệ của Hồ Chí Minh sáng trong muôn đời, tô đậm thêm nhân cách cao đẹp của Người. Nhân cách ấy chỉ có ở người có chí lớn, luôn hướng thiện và sẵn lòng phục vụ cho sự tiến bộ - nhân cách của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, điều kiện sống của con người có sự phát triển lớn, nhưng vẫn còn đó những điều đáng lo ngại cho sự xuống cấp về đạo đức, nhân cách con người. Đâu đó trên thế giới, máu vẫn đổ trong những cuộc tranh chấp, chiến tranh, khủng bố; vũ khí hạt nhân, máy bay, xe tăng, tên lửa,… vẫn còn là những phương tiện để con người ứng xử với nhau. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu, sự phát triển của tri thức khoa học phải phục vụ cho tiến bộ nhân loại; trí và đức phải là hai nhân tố quyện chặt với nhau thành một thể thống nhất cho quá trình hình thành, phát triển nhân cách và là sự vận hành của thế giới đương đại. Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, không ai có thể phủ nhận tư tưởng và nhân cách của Người đã trở thành những giá trị tiến bộ của thế giới; không những là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam mà còn là giá trị chung cho sự phát triển của nhân loại. Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc và là một nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam; biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người đã đóng góp về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một cuốn truyện chân thực của một biểu tượng về chân - thiện - mỹ, mà bất cứ người chân chính nào cũng thấy xúc động và mong muốn hoàn thiện mình như thế

Hồ Chí Minh là người mẫu mực về việc nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói; ở chỗ tự giác dấn thân vào sự nghiệp cách mạng, suốt đời tự rèn luyện mình theo những tiêu chí đạo đức cách mạng trong mọi hoàn cảnh, trọn đời vì nước, vì dân, có nhân cách cao cả và trong sáng. Điều này là không thể phủ nhận! Thế nhưng, vẫn có những kẻ nhẫn tâm xuyên tạc phẩm chất, nhân cách cao đẹp của Người. Nói xấu Hồ Chí Minh là điều trái với sự thật, bởi cuộc đời Người như một chân lý của cái đẹp, cái tốt. Bởi vậy, ai đó có tâm xấu muốn đặt điều vu khống, nói xấu, “bôi đen” về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh trên các phương tiện truyền thông, thậm chí viết cả sách, dựng cả phim cho việc này, đều gặp phải cái cảnh “ngược sáng” khi quy chiếu vào cuộc đời, phẩm chất đạo đức của Người và chẳng khác nào như những con bọ húc đầu vào núi. Với cái tâm đen tối của mình, những kẻ đó tìm mọi mưu ma chước quỷ để dựng chuyện bôi xấu, xuyên tạc theo nhiều cách rất tinh vi, thâm độc. Họ cắt ghép tài liệu, hình ảnh, dựng nên những nhân chứng giả để chứng minh cho điều họ viết, họ nói, tạo nên sự nhiễu loạn thông tin, khiến người nghe hoang mang, nghi ngờ, v.v. Ví như câu chuyện có người cho rằng, không có chuyện UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh. Nhưng sự thật, Nghị quyết vẫn được lưu trữ trong kho của UNESCO và được đại diện UNESCO tại Việt Nam nhắc lại trong dịp Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Người. Một sự thật hiển nhiên vậy mà họ còn rắp tâm cố tình xuyên tạc, huống hồ ở đây là vấn đề nhân cách của Người. Họ lừa được ai? Họ chỉ lừa được những người cùng cảnh với họ và những người còn hạn chế về nhận thức.

Sự thật tự đã nói lên tất cả, bản chất vấn đề luôn là cái bất biến - nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh luôn trường tồn. Dù có bị xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa thì nhân cách cao cả và sáng ngời của Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện hữu với mọi người. Sự xuyên tạc, nếu có thu được, theo một số người tự cho là “thành công”, thì cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Những kẻ cố tình xuyên tạc, đi ngược lại với sự thật thì cũng chẳng khác nào dùng bàn tay mà che mặt trời vậy!