HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA MÁC VẪN GIỮ NGUYÊN GIÁ TRỊ
Trước sự phát triển của CNTB hiện đại, các học giả tư sản, các phần tử phản động, cơ hội liên tục tung ra những luận điệu xuyên tạc học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác, cho rằng học thuyết đã lỗi thời, không còn mang tính cách mạng và khoa học và đến nay không còn phù hợp. Hiện nay, sự xuyên tạc, chống phá đó ngày càng quyết liệt, với những quan điểm mang nặng tính chủ quan, thiên kiến, tư biện trong phương pháp xem xét. Họ đã đưa ra những hiện tượng bề ngoài, “ánh hào quang” của CNTB để nhào nặn, tô vẽ xã hội tư bản, trên cơ sở đó tiếp tục bóp méo, xuyên tạc tính khoa học và cách mạng nhằm phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
CNTB ngày nay đã có sự phát triển rất cao so với thời C.Mác. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ”. CNTB thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, bóc lột lao động làm thuê và chiếm đoạt giá trị thặng dư vẫn tồn tại như nó đã tồn tại trong suốt hơn 5 thế kỷ qua, song với những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, những điều chỉnh thích nghi cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, bóc lột và chiếm đoạt giá trị thặng dư trong xã hội tư bản đã có những biểu hiện mới.
Giai cấp tư sản đang tận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để điều chỉnh sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhiều công ty, nhà máy, cơ sở sản xuất đạt trình độ tự động hóa rất cao; các dây chuyền sản xuất với các máy móc tự động, các rôbốt thay thế con người được sử dụng ngày càng nhiều với năng suất lao động cao. Hệ thống máy tính, trí tuệ nhân tạo đã và đang dần thay thế nhiều hoạt động quản lý sản xuất, phân phối của con người, thay thế cho việc tổ chức sản xuất tập trung, hoàn chỉnh một sản phẩm như trước đây.
Quan hệ sản xuất cũng có những điều chỉnh nhất định. Hình thức sở hữu tư nhân, nền tảng của nền kinh tế TBCN không còn tồn tại dưới hình thức sở hữu của những người sản xuất độc lập, mà đã được xã hội hóa. Hình thức sở hữu cổ phần mà C.Mác xem là hình thức sở hữu quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, ngày nay càng phát triển mạnh mẽ và hiện là hình thức sở hữu phổ biến ở các nước TBCN. Quần chúng nhân dân bao gồm cả công nhân, người lao động thuộc mọi tầng lớp xã hội, đã trở thành các chủ sở hữu cổ phần lớn nhỏ khác nhau. Đương nhiên, các chủ sở hữu cổ phần lớn nhất vẫn thuộc về giai cấp tư sản. Cùng với đó, hình thức sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân, giữa các quốc gia, đã phát triển rất đa dạng, hầu như có rất ít số công ty một chủ sở hữu. Trong khi đó, sở hữu trí tuệ đã ngày càng trở nên quan trọng với những quy định pháp luật chặt chẽ mà thời C.Mác hầu như chưa có.
Trong lĩnh vực quản lý, phân phối, CNTB hiện đại cũng có những điều chỉnh đáng kể. Nhiều biện pháp đã được thực hiện như tăng tiền lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người lao động... Những người lao động không những có đủ tiền lương để đáp ứng các nhu cầu về vật chất mà còn cả nhu cầu về tinh thần. Ở hầu hết các nước tư bản phát triển, thời gian lao động mỗi tuần được rút ngắn còn khoảng 40 giờ và số ngày làm việc còn 4 đến 5 ngày. Bên cạnh đó, một bộ phận người lao động làm thuê có trình độ cao, có thu nhập cao, được đảm nhiệm các vị trí quản lý, chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau trong guồng máy sản xuất của tư bản. CNTB hiện đại thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, thông qua các thể chế, các quy định do nhà nước tư sản ban hành đã làm cho các quan hệ giữa tư bản và lao động, giữa chủ và thợ được điều chỉnh mềm dẻo hơn, nó như những chiếc “van điều áp” làm giảm thiểu những mâu thuẫn giữa tư bản với lao động, xoa dịu và tránh được những mâu thuẫn gay gắt gây nên các xung đột xã hội.
Song song với quá trình làm dịu các mâu thuẫn trong nước, CNTB hiện đại còn hướng các mâu thuẫn trong nước ra bên ngoài, với việc vươn những “chiếc vòi bạch tuộc”, thông qua con đường xuất khẩu tư bản dưới hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) để bóc lột lao động làm thuê ở các nước đang phát triển. Dòng vốn FDI lúc đầu được chảy khá mạnh ở các ngành thuộc khu vực sản xuất, nhưng càng về sau càng có xu hướng gia tăng ở những ngành thuộc khu vực dịch vụ - những ngành hiện có tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư cao. Sự chuyển hướng đó vừa làm cho tổng lợi nhuận thu được vẫn tăng lên, vừa giảm thiểu tính chất gay gắt những mâu thuẫn vốn có giữa tư bản và lao động trong lòng xã hội tư bản. Thông qua những dòng đầu tư, cho vay, các ông chủ tư bản ở các nước phát triển vẫn hàng ngày, hàng giờ bóc lột lao động làm thuê ở các nước đang phát triển, thu lợi nhuận kếch xù.
Những đề cập trên mang tính khái quát, dù chưa phản ánh được đầy đủ, toàn diện xã hội tư bản hiện đại, nhưng thông qua đó cho thấy những bước phát triển mới của CNTB hiện đại, đồng thời cũng phản ánh những nét mới về bóc lột lao động làm thuê và chiếm đoạt giá trị thặng dư của nhà tư bản đối với người công nhân, lao động. Nhìn tổng thể, những gì mà CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không nằm ngoài tính quy luật mà C.Mác đã chỉ ra.
CNTB hiện đại không thay đổi được bản chất, dù những hình thức bóc lột tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột giá trị thặng dư - tức là bóc lột lao động sống của người lao động.
Giá trị thặng dư, lợi nhuận vẫn là động lực thôi thúc các nhà tư bản, là mục tiêu để nhà tư bản bỏ vốn đầu tư. Ở đâu, chỗ nào có thể thu được giá trị thặng dư, thu được lợi nhuận thì ở đó nhất định tư bản có mặt. Nhưng sự điều chỉnh thích nghi đã làm cho chiếc bánh lợi nhuận “bé đi” tương đối. Quá trình đeo đuổi lợi nhuận tất phải tăng tích lũy tư bản. Tăng tích lũy tư bản, tức là tái sản xuất tư bản được tiến hành mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu, tuy làm tăng quy mô lợi nhuận, song lại càng làm gia tăng tình trạng bần cùng hóa người lao động, tức là làm tăng tính chất gay gắt của các mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản.
Hiện tại, trong xã hội tư bản, tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội không giảm xuống mà ngày càng gia tăng. Của cải phần lớn tập trung trong tay giai cấp tư sản, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thế giới, một nửa tổng tài sản “nằm trong tay 1% những người giàu nhất, trong khi một nửa dân số thế giới chỉ sở hữu dưới 1% tổng của cải toàn cầu”. Thu nhập bình quân của 10% dân số giàu nhất tại các nước OECD gấp khoảng 9 lần thu nhập bình quân của 10% dân số nghèo nhất.
Mặc dù thu nhập của công nhân có tăng lên, đời sống vật chất được cải thiện, nhất là công nhân ở các nước tư bản phát triển, công nhân có tay nghề cao, song so với thu nhập và mức sống của giai cấp tư sản thì ngày càng cách xa, công nhân vẫn bị bần cùng hóa tương đối và tuyệt đối như nhận định của C.Mác cách đây hơn 170 năm.
Cho đến nay, CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, đó là mâu thuẫn giữa tư bản với lao động làm thuê; mâu thuẫn giữa lợi ích của giai cấp tư sản với lợi ích của tuyệt đại đa số người lao động; mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền tư bản, giữa các công ty xuyên quốc gia, giữa các trung tâm quyền lực TBCN với nhau; mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển, chậm phát triển.
Sự phát triển của CNTB hiện nay với những khuyết tật của nó “đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.
Mặc dù CNTB ngày nay đang có nhiều thành tựu, “tăng trưởng kinh tế hiện đại và sự truyền bá tri thức đã giúp tránh được sự diệt vong theo quan điểm của C.Mác, nhưng không giúp điều chỉnh những cấu trúc tư bản sâu xa và tình trạng bất bình đẳng - hay chí ít là không nhiều như người ta đã từng hình dung trong những thập niên lạc quan sau Thế chiến II”.
Như vậy, hoàn toàn là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để từ đó phủ nhận tính khoa học và cách mạng trong học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác. Chỉ bằng sự phân tích sâu sắc, cách nhìn khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển, mới thấy được những gì ẩn đằng sau, bên trong, ở tầng sâu của xã hội tư bản hiện nay, thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, qua đó càng cho thấy tính cách mạng và khoa học trong học thuyết này.
Thực tiễn đã chứng minh, bất chấp mọi công kích, bôi nhọ, phê phán, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới, vẫn tỏ rõ là một học thuyết tràn đầy tính khoa học và cách mạng sâu sắc, chưa có học thuyết nào thay thế được. Những luận cứ, luận chứng và cách lập luận sâu sắc, logic, chặt chẽ thể hiện ở mỗi phạm trù, mỗi luận điểm trong học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác cho tới nay vẫn là chân lý được thực tiễn kiểm nghiệm.
Đối với chúng ta, những người cộng sản chân chính, cần phải hiểu đầy đủ, tường minh, sâu sắc từng luận điểm “gốc” của các nhà kinh điển mácxít, luôn luôn xem xét, nghiên cứu với thái độ khách quan, khoa học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin để đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Khắc phục triệt để căn bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí cũng như những biểu hiện xét lại và phủ nhận học thuyết Mác - Lênin. Trong cuộc đấu tranh này, không chỉ là việc phê phán, phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, mà cần phải góp phần khẳng định tính khoa học và cách mạng của nền tảng tư tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn; xây dựng, củng cố niềm tin; không ngừng đổi mới tư duy lý luận, góp phần vào bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét