Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  - Cuối năm 1929, khi các điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi. Những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất. Trước tình hình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930.

   - Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

   - Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản.
    - Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
    - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 02 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
    - Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
    - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
    - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta...


NGƯỜI CỘNG SỰ ĐẮC LỰC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

 

Cụ Hồ Tùng Mậu xuất thân trong gia đình giàu truyền thống hiếu học, khoa bảng, yêu nước và liên tục có những đóng góp, hy sinh vì sự nghiệp chống Pháp; của một gia tộc thuộc “dòng giống xứ Nghệ, thế phiệt Hoan Châu” ở đất học Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Với 55 tuổi đời (15/6/1896 - 23/7/1951), Hồ Tùng Mậu có 31 năm hoạt động cách mạng (1920-1951), trong đó hơn 14 năm bị giam cầm, đày ải trong các nhà lao đế quốc (ở Hỏa Lò, Vinh, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Trà Khê), 5 lần bị địch bắt, 2 lần bị kết án tử hình.

Bất luận trong hoàn cảnh nào, Hồ Tùng Mậu cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không màng danh lợi, hy sinh tất thảy cho cách mạng; đã “bao phen đồng cam cộng khổ”, “như tay với chân”, trở thành “anh em chí thiết” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và được đồng bào Liên khu IV gọi là “Cụ Hồ em”.

Đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá là “lãnh đạo tân tụy”, “cán bộ lão luyện”, “đồng chí trung thành”, “anh em chí thiết”, “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Điều đó thể hiện rõ thông qua những hoạt động, đóng góp của Hồ Tùng Mậu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta:

Hồ Tùng Mậu trực tiếp tham gia vào quá trình chuyển tiến từ các tổ chức tiền thân, là cộng sự đắc lực của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức và tham dự Hội nghị thành lập Đảng.

Sau khi nhận thấy tổ chức Việt Nam quang phục Hội theo chủ trương cứu nước của Phan Bội Châu không còn thích hợp với điều kiện mới, Hồ Tùng Mậu cùng với Lê Hồng Sơn, Đặng Xuân Hồng, Lê Cầu, Nguyễn Giản Khanh, Trương Quốc Huy và Nguyễn Công Viễn sáng lập Tâm Tâm xã (1923) có mục đích, tôn chỉ, điều lệ hoạt động theo phương hướng mới với mong muốn “liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân Việt Nam, không phân biệt ranh giới đảng phải, miễn là có quyết tâm hy sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người Việt Nam”.

Sau vụ ám sát Toàn quyền Đông Dương M.Méclanh ở Sa Diện - Quảng Châu do Phạm Hồng Thái đạc đạn vào tháng 6/1924 đạt mục đích, Phạm Hồng Thái hy sinh, Tâm Tâm xã rơi vào tình trạng bế tắc. Đó cũng là lúc Phan Bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội, thành lập Việt Nam quốc dân Đảng, phỏng theo hướng đi của cách mạng Tôn Trung Sơn, nhưng Hồ Tùng Mậu vẫn không lay động, quyết đi tìm hướng mới phù hợp hơn.

Đúng thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, qua tìm hiểu và có một số cuộc tiếp xúc, Người đã chọn Hồ Tùng Mậu là 1 trong 9 thanh niên xuất sắc thành lập nhóm Cộng sản đoàn vào tháng 2/1925 làm hạt nhân cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ra đời tháng 6/1925…

Hồ Tùng Mậu là trợ thủ đắc lực của Nguyễn Ái Quốc và là người lãnh đạo chủ chốt của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, được Người tin tưởng giao nhiều trọng trách như: tham gia dự thảo điều lệ của Hội, chuẩn bị phương tiện, tài liệu để xuất bản báo Thanh niên; thiết lập đường dây liên lạc giữa trong nước và cơ quan Tổng bộ của Hội, tham gia đưa người sang Quảng Châu huấn luyện; tham gia quản lý, phụ đạo, hướng dẫn thảo luận, hoạt động ngoại khóa, chuẩn bị thuốc men, bố trí ăn ở cho các lớp huấn luyện chính trị…

Cuối năm 1925, Hồ Tùng Mậu về Hải Phòng lập ra “Huệ quần thư quán” ở làm nơi liên lạc giữa Tổng bộ của Hội với các cơ sở trong nước để chọn người sang Quảng Châu huấn luyện; năm 1926, sang Xiêm tổ chức Hội trong Việt kiều ở đây và tháng 3/1927 cùng với Lê Hồng Sơn về biên giới tổ chức lớp huấn luyện ở Cống Chạp.

Khi có sự phân liệt của các tổ chức cộng sản, Hồ Tùng Mậu kịp thời ngăn chặn tình hình, liên tục viết thư kêu gọi sự hợp nhất, báo cáo để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sớm từ Xiêm về Hương Cảng tổ chức Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn tham dự Hội nghị này với tư cách là cán bộ lãnh đạo ở hải ngoại, sau đó được phân công đi Hàng Châu, Nam Kinh, Thượng Hải thiết lập cơ sở liên lạc và hoạt động cho Đảng ta.

# KT . ST




QUYẾT Đ.Á.NH, QUYẾT THẮNG QUÂN THANH, Ý CHÍ, TINH THẦN NGHĨA QUÂN TÂY SƠN BẤT DI.ỆT

 


Cách đây 234 năm, vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đã làm nên chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, ghi dấu ấn sâu đậm vào trang sử chống giặc ngoại xâ.m của dân tộc.


Hơn hai thế kỷ trước đây, trong hoàn cảnh nước ta có nhiều biến loạn, ở Đàng Ngoài chúa Trịnh lấn át vua Lê; ở Đàng Trong, chúa Nguyễn suy tàn, gian thần lộng hành, nhũng nhiễu; đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than. Lợi dụng tình cảnh ấy, nhà Thanh từ phương Bắc ào ạt đưa 29 vạn quân tràn sang nước ta hòng xâ.m chi.ếm đất đai, đồng hóa dân tộc, biến dân ta thành dân nước họ, biến nước ta thành một quận, huyện của họ.


Trong bối cảnh “nước mất nhà tan”, “triều đình phong kiến suy tàn”, lại bị nguy cơ đồng hóa, Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, đã nhanh chóng rời Phú Xuân - Bình Định, tiến công ra Bắc. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, tức 15-1-1789, đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình.


Dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn chia làm 5 đạo quân, từ căn cứ Tam Điệp, đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu 1789 đã thần tốc, táo bạo, dũng mãnh tiến công về Thăng Long. Vào lúc rạng sáng - canh Năm, ngày mùng 5 Tết. Quang Trung ra lệnh mở màn và trực tiếp chỉ huy trận đánh vỗ mặt dữ dội vào đại đồn Ngọc Hồi. Với khí thế như chẻ tre, nghĩa quân Tây Sơn tiến thẳng vào Thăng Long, đánh phá “long trời lở đất” đạo quân chốt giữ “xứ Đống Đa” và “đồn Đống Đa”, buộc thái thú Sầm Nghi Đống phải tr.eo c.ổ t.ự t.ử; đội thân binh tinh nhuệ và trung thành của họ Sầm cũng t.ự sá.t theo chủ... Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, Hoàng đế Quang Trung ngự trên lưng voi, dẫn đầu đại quân vào Kinh thành trong sự đón chào hoan hỷ của nhân dân Thăng Long.


Những kẻ xâm lược bị tiêu diệt, chiến dịch giải phóng Thăng Long đã đại thắng. Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan hàng vạn quân Thanh xâm lược, đập tan các thế lực ngoại xâ.m, sự nhu nhược và hèn yếu của các thế lực phong kiến, tay sai; giành lại giang sơn gấm vóc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân; thống nhất đất nước; mở ra một chương mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.


Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã hoàn thành sứ mệnh đánh đuổi quân x.âm lư.ợc, cứu giống nòi, giành lại giang sơn gấm vóc. Các thủ lĩnh Tây Sơn, đứng đầu là Quang Trung - Nguyễn Huệ đã được các tầng lớp nhân dân hết lòng ủng hộ, các anh hùng, hào kiệt và sĩ phu yêu nước nhiệt tình hưởng ứng; “trên thì thuận theo ý trời, dưới thì hợp lòng dân” nên cuộc khởi nghĩa mang đậm tính nhân văn, nhân đạo và chính nghĩa. Nhờ đó, nó đã nhanh chóng phát triển thành phong trào giải phóng dân tộc; đã dạy cho quân địch bài học nhớ đời: “đem quân xâ.m lư.ợc Việt Nam sẽ bị trừng trị đích đáng”.


234 năm đã đi qua nhưng trong sâu thẳm trái tim cán bộ, chiến sĩ Quân đội và hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước đều tự hào và hướng về Gò Đống Đa - nơi chiến tích đồ sộ ghi rõ chiến công hiển hách với nét vàng son độc đáo: “Chiến thắng của lòng dân, sức nước”. Nó mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, đọng lại nơi lòng dân đất Việt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vì nó khởi đầu năm mới với sự tinh túy nhất của hồn thiêng sông núi, linh khí khôn thiêng của mùa xuân, tiêu biểu cho ý chí quật cường, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, lòng quả cảm và sự sáng tạo của nhân dân ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước.


Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tỏa sáng chiến lược quân sự tài tình: bí mật, thần tốc, dũng mãnh, bất ngờ của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Đồng thời, khẳng định nghệ thuật quân sự đặc sắc, độc đáo của những người lính Tây Sơn. Đó là nghệ thuật chuyển quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc; là nghệ thuật tác chiến, chiến lược trong từng trận đánh, tiến tới tổng công kích, đập tan mộng xâ.m lư.ợc của quân Thanh, giữ vững nền độc lập dân tộc.


Từ #KT

St.

Nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Những năm qua, đặc biệt từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương và các cấp ủy đảng trong toàn Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt một số nội dung về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, đóng góp rất quan trọng vào công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Khối nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, công chức trong các cơ quan Trung ương nói riêng. Cấp ủy các cấp đã có nhận thức cao hơn về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Nhiều cấp ủy đã chủ động phối hợp với ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thành nền nếp các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp đảng, đảng viên mới theo Quy định số 54-QĐ/TW. Bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở tiếp tục được chú trọng. Việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý được tăng cường theo đúng Quy định số 164-QĐ/TW. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở các cơ quan Trung ương nói chung, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Đảng ủy Khối nói riêng được nâng lên rõ rệt. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng được bảo đảm theo đúng yêu cầu của Trung ương. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngày càng được chuẩn hóa, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; việc giảng dạy đã chú trọng vào chiều sâu, lấy học viên là trung tâm để đổi mới, tăng cường chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; học tập lý luận đã gắn liền với thực tiễn thông qua các hoạt động ngoại khóa và làm việc thực tế ở các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp… Việc cử cán bộ, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng đã từng bước gắn với yêu cầu nhiệm vụ, vị trí công tác, quy hoạch và bố trí cán bộ. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn vai trò và tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị, hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của bản thân, từ đó, đã chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu, để nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác. Học tập lý luận chính trị từng bước trở thành nhu cầu tự thân của cán bộ, đảng viên để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới… Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối còn một số hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ được giao và đóng góp thiết thực vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình hiện nay. Thể hiện trên một số mặt sau: Một là, một số cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Việc cập nhật chủ trương, văn bản mới về công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị còn chậm và chưa đầy đủ. Hai là, việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy định về phân cấp quản lý cán bộ còn khó khăn, lúng túng do chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể để áp dụng đối với cấp ủy có đặc thù như ở Đảng bộ Khối, dẫn đến sự lúng túng trong xác định đối tượng, phạm vi, thẩm quyền tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là tổ chức cập nhật kiến thức cho đối tượng cán bộ thuộc diện “ban thường vụ đảng ủy quản lý”. Trong một số cơ quan, đơn vị, công tác quy hoạch cấp ủy chưa gắn với quy hoạch cán bộ, lãnh đạo, quản lý và đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên sau quy hoạch. Ba là, công tác bồi dưỡng bí thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở một số đảng bộ chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản, đúng quy định. Bốn là, một bộ phận giảng viên, báo cáo viên chưa thực sự chú trọng vào việc quán triệt vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong các chuyên đề, bài giảng, chưa tăng tính tương tác, thảo luận về nội dung này đối với người học… Để góp phần vào việc đấu tranh từ sớm, từ xa, công tác bồi dưỡng lí luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên ở các cơ quan Trung ương là nhiệm vụ có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Do đó, nhiệm vụ đặt ra đối với các cấp ủy Đảng trong Đảng bộ Khối là cần nghiên cứu và cụ thể hóa một số nội dung sau: Thứ nhất, Đảng ủy Khối và các cấp ủy đảng trong toàn Đảng bộ cần ban hành chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Trong đó, chú trọng chỉ đạo đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên. Đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy nhất là vai trò nêu gương của người đứng đầu. Cấp ủy đảng trong Đảng bộ Khối cần phải thường xuyên nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Muốn vậy, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thường xuyên học tập lý luận chính trị; cập nhật kiến thức mới với nội dung phù hợp với vị trí đảm nhận để đáp ứng được tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Đối tượng kết nạp đảng, đảng viên mới phải được học tập lý luận chính trị theo yêu cầu chung, đồng thời, phải được trau dồi thêm những yêu cầu cao hơn, nhất là về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình, của đảng bộ, cơ quan, đơn vị mình. Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp đóng vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị Trung ương. Cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Khối có mặt bằng về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao hơn so với mặt bằng chung của cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, do vậy, nội dung, phương thức bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho đối tượng là cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương càng cần thiết phải được đổi mới sao cho phù hợp với đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng, hạn chế việc trùng lặp nội dung mà không có mở rộng, phát triển thêm gây nhàm chán cho người học, lãng phí thời gian của cán bộ, đảng viên dẫn đến việc học tập chống đối, hình thức. Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, giảng viên giảng dạy lý luận chính trị. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được khái quát hoá và mang tính trừu tượng cao, do vậy đòi hỏi mỗi giảng viên giảng dạy lý luận chính trị phải là những người thực sự am hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, có hiểu biết rộng về các lĩnh vực của đời sống xã hội, có kỹ năng, phương pháp sư phạm để giảng dạy lý luận thực sự dễ hiểu, gần gũi, thuyết phục người nghe, tránh sự nhàm chán và một chiều trong giảng dạy lý luận chính. Ngoài ra, giảng viên, báo cáo viên làm công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương phải là những người thực sự nhạy bén trong việc nhận định những quan điểm, lý luận có xu hướng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để cung cấp cho người học những luận cứ thuyết phục phản bác lại các quan điểm sai lầm đó. Trong mỗi chương trình bồi dưỡng, báo cáo viên, giảng viên cần chú trọng đưa các chuyên đề phù hợp về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” vào chương trình bồi dưỡng để học viên thảo luận làm rõ vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay. Bên cạnh đó, giảng viên lý luận chính trị nhất là giảng viên các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới trong Khối phải là những người có khả năng dẫn dắt, bồi đắp tình yêu, niềm tin với Đảng cho đội ngũ cán bộ trẻ. Yêu cầu đặt ra để chuẩn hoá đội ngũ giảng viên là ngoài các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng, phương pháp sự phạm cho đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, cần thường xuyên bồi dưỡngnâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực cho đội ngũ giảng viên trong đấu tranh bảo vệchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểmcủa Đảng. Thứ tư, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ vào bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới. Việc tụt hậu về công nghệ cũng đồng nghĩa với việc một mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bị bỏ ngỏ. Do đó, đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học, công nghệ vào công tác bồi dưỡng lý luận chính trị vừa nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy và học, tạo hứng thú trong quá trình học tập của học viên, đó cũng chính là quá trình gắn lý luận với thực tiễn, gắn những lý luận của bài giảng với sự trực quan, sinh động của internet và mạng xã hội, qua đó góp phần nâng cao trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của giảng viên, báo cáo viên và cán bộ, đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ năm, phát huy dân chủ, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên chỉ thực hiện có hiệu quả nếu người học tự ý thức được tầm quan trọng của việc học tập, chủ động và sáng tạo trong quá trình tiếp thu tri thức. Khắc phục kiểu học “thầy đọc, trò chép” và bệnh “lười học, ngại học lý luận chính trị”. Cán bộ, đảng viên trong Khối các cơ quan Trung ương phải là người nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc học, xem đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của bản thân; phải thực sự là tấm gương về việc tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, nghiên cứu; học ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”. Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở các cấp để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của Trung ương về bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo chất lượng, tránh lãng phí trong dạy và học lý luận chính trị. Có biện pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng của người học để làm cơ sở cho việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ của cơ quan, đơn vị. Để những nội dung nêu trên thực sự hiệu quả và đi vào thực tiễn, các cấp ủy đảng và mỗi cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Trung ương cần nêu cao hơn nữa ‎ý thức trách nhiệm; nêu cao tinh thần chủ động, tự học tập, tự trang bị kiến thức để đủ năng lực sẵn sàng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chỉ có như vậy thì việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Trung ương mới có kết quả và mang lại giá trị trong thực tế./.

Củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ

Đảng - Nhà nước - Nhân dân là ba thành tố có quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau; trong đó, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước đại diện cao nhất của quốc thể thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại; Nhân dân làm chủ trong thực hiện đường lối lãnh đạo, bầu cử lập ra hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và thụ hưởng thành quả lãnh đạo. Cần phải củng cố, tăng cường, củng cố mối quan hệ này xuất phát từ những khía cạnh sau: Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta chưa thật sự chú trọng đến mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố Đảng - Nhà nước và Nhân dân. Từ khi đổi mới đến nay, nhận thức về mối quan hệ này ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Với nhận thức về vị trí, vai trò của mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững và ngày càng phát huy là nhân tố định hướng sự tồn tại và phát triển của ba thành tố: Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc mới về chất so với trước đây “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được pháp luật quy định. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý và Nhân dân là chủ. Thứ hai, xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong quá trình hiện thực hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ thời gian qua. Mặc dù mối quan hệ này ngày càng được hoàn thiện, củng cố cả về lý luận và thực tiễn nhưng vẫn có tình trạng nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao tính tất yếu coi Nhân dân làm chủ như là hệ quả, là kết quả đương nhiên của sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng vai trò“đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị ấy”chưa thấy rõ, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước chưa thực sự trở thành “công bộc” của Nhân dân, mà có nơi, có lúc dường như trở thành“ông chủ”của Nhân dân; tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng ở một số nơi còn rất hình thức. Quyền lực chính trị của Đảng rất lớn nhưng cả trong Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước không quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức đảng nên dường như trong một số trường hợp chưa thực sự kiểm soát được quyền lực của người đứng đầu cấp ủy các cấp trên thực tế. Vì thế, không ít cá nhân giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước ở các cấp có điều kiện thao túng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Thứ ba, trong thời gian qua, một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc, chống phá là mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Để thực hiện các mưu đồ chống phá, các phần tử cơ hội chính trị còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng Nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng đòi hỏi phải xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam. Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ở Việt Nam trong thời gian tới. NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN TRIỂN KHAI Ngày nay, bối cảnh tác động đến mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đã có sự thay đổi căn bản. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng đã có bước phát triển nhất định, bộc lộ đầy đủ các quy luật vận động của nó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tắc mới, chủ quyền Nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước được đề cao. Dân trí và dân chủ của đông đảo các tầng lớp Nhân dân được nâng lên một trình độ mới. Hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ về kinh tế mà còn trên tất cả các mặt văn hóa, khoa học, công nghệ,... Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi tư duy và lối sống của con người. Bối cảnh đó, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức và cách thức giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Trong nội dung bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(1). Sau chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư, tại Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, Đảng ta cũng nhấn mạnh đến việc củng cố, tăng cường mối quan hệ này và xem đây là một trong những giải pháp quan trọng. Nghị quyết nêu rõ cần phải: “Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, vận hành thông suốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, của Tổng Bí thư, để củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau: Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để các thiết chế của bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể của Nhân dân theo định hướng phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân; dân chủ phải thực sự trở thành động lực của sự phát triển trong điều kiện mới. Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trước hết là kiểm soát được xã hội và sau nữa là kiểm soát được bản thân mình. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, sáng tạo, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân. Kiểm soát quyền lãnh đạo của Đảng và quyền lực nhà nước là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. Theo đó, quyền lãnh đạo của Đảng cũng như quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền là có giới hạn mà không phải vô hạn. Giới hạn đó là Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2). Do đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị. Thể chế hóa vai trò của Nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Ba là, tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ thật sự của Nhân dân. Để dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thực sự dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình và đặc biệt phải tiếp tục tạo lập môi trường và điều kiện để Nhân dân thực sự làm chủ trên thực tế. Trong mọi hoạt động, Đảng và Nhà nước luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ XHCN, quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(2). Đặc biệt, các cơ quan nhà nước cần phải “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước” (3). Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng trong việc thực hiện các quyền dân chủ cơ bản của công dân. Trong đó, sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân, như Luật Bầu cử, Luật về Hội, Luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, Luật Giám sát và phản biện xã hội... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng và Nhà nước thực sự coi đó là phương thức khắc phục những khiếm khuyết trong hoạt động của hệ thống chính trị nhất nguyên, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực trong việc mở rộng dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa để Nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Lợi ích, sức mạnh của đất nước đồng nhất với lợi ích, sức mạnh của Nhân dân. Sứ mệnh, vai trò của Đảng, Nhà nước là bảo vệ và phục vụ Nhân dân. Quyền lực của Đảng, Nhà nước là do Nhân dân ủy thác. Đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức là con em của Nhân dân, được Nhân dân nuôi dưỡng phải thực sự là “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của Nhân dân. Bốn là, tích cực, chủ động, nhạy bén nhận diện những thủ đoạn mới và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu,... chống phá thành quả cách mạng cùng những quan điểm “tư bản hóa” Việt Nam, chia rẽ Đảng với Nhân dân, xuyên tạc, phá hoại quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đồng thời củng cố, phát triển thực chất mối quan hệ này để làm căn cứ thực tiễn xác đáng, giàu tính thuyết phục đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Box: Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là sự thể hiện rõ nhất tính đặc sắc, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng. Đó là sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và toàn xã hội; là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương của Đảng và vai trò làm chủ của Nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là giải pháp cần thiết để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÔN GIÁO

LÀM MŨI NHỌN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                     

Tôn giáo được các thế lực thù địch xác định là vấn đề nhạy cảm, tín đồ tôn giáo là lực lượng xã hội dễ bị kích động và bị lừa bịp để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối. Thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch đã ra sức mua chuộc, lôi kéo các giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động chống phá cách mạng nước ta.

Trong quá khứ, khi rút khỏi Việt Nam, viên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Polga -  nói rằng: “Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì lực lượng đấu tranh với cộng sản, chủ yếu là tôn giáo...”. Những năm đầu của công cuộc đổi mới, chúng đã triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo để thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn mạnh, chưa thể chuyển hoá ngay được. Vì vậy, để làm cho Cộng sản Việt Nam suy yếu, biện pháp hữu hiệu nhất là dùng vấn đề tôn giáo và dân tộc để phá hoại an ninh, làm cho Việt Nam suy yếu...”.

Các thế lực thù địch cho rằng tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra sức hậu thuẫn mọi mặt cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo cả về tinh thần và vật chất, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Chính sự hậu thuẫn này là nhân tố giúp bọn phản động lợi dụng tôn giáo trong nước, nhất là số cực đoan, quá khích trong công giáo, lợi dụng những diễn biến phức tạp tình hình trong nước, câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo, tập hợp tín đồ để kích động tập trung, gây rối, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp.

          Hiện nay, các thế lực thù địch sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển, truyền đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch./.   

TƯỢNG ĐÀI BÁC HỒ TRÊN KHẮP HÀNH TINH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh thụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, mà còn là người anh hùng giải phóng dân tộc, được nhân dân thế giới ngưỡng mộ.

Đặc biệt nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người (19-5-1890 – 19-5-1990), Đại Hội đồng UNESCO, tại khoá họp lần thứ 24 ở Paris, Pháp từ ngày 20-10 đến 20-11- 1987, đã ra Nghị quyết số 24C/18.65 đã khẳng định Người là “Một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc, vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội” và là “hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Đồng thời Nghị quyết tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.
Từ đó, nhiều nước trên thế giới từ Á sang Âu, từ Phi châu đến Mỹ La Tinh đã tôn vinh Người ngoài việc, đặt tên Người cho đường phố, trường học, công viên, quảng trường, khu tưởng niệm...,đặc biệt dựng tượng để đời đời tưởng nhớ Người, một chiến sỹ quốc tế kiên cường suốt đời hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
Trước tiên phải nói đến trên bức tường “Những danh nhân làm nên thế kỷ XX”, rộng 880 m2, tại Paris, Pháp in chân dung 447 danh nhân thế giới của thế kỷ XX, trong đó có chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ở Ấn Độ, bức tượng bán thân bằng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại công viên rộng trên 4.700m2, ở trung tâm khu Ngoại giao đoàn, thủ đô New Delhi.
Cũng tại Ấn Độ, một bức tượng bằng đồng khác đặt trên bệ đá hoa cương mầu nâu tại một công viên đẹp của Tp. Kolkata (ảnh trên), được khánh thành năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.
Tại Mông Cổ, tượng Bác Hồ đúc bằng đồng (ảnh trên), cao 1,7m, đặt trên một bệ cao 3,33m, ở Trường Trung học Phổ thông mang tên Hồ Chí Minh, thủ đô Ulangbato.
Ngày 21/11/2011, chính quyền thành phố Mimasaka, tỉnh Okayama, Nhật Bản đã long trọng tổ chức lễ khánh thành dựng bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo đặt tại trung tâm “Không gian Việt Nam – Hồ Chí Minh”, có diện tích 70m2, phía sau là hình ảnh nhà sàn của Bác làm phong nền.
Là một nước Đông Nam Á, Philippine, đã tổ chức lễ khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh dựng tại Trường Đại học Bách khoa Laguna, thủ đô Manila, nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Và tại công viên ASEAN, thuộc khu phố cổ Intramuros, Manila cũng dựng tượng Bác Hồ nhân kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Philippine - Việt Nam.
Tại Công viên Bảo tàng Văn minh châu Á, toạ lạc bên bên bờ sông Singapore của Đảo quốc Sư Tử, bức tượng Bác Hồ lừng lững giữa trời xanh, được khánh thành vào tháng 5/2008, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người và 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Singapore - Việt Nam.
Ngày 25/11/2013, nhân dân Sri Lanka đã long trọng khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tại Thư viện thủ đô Colombo, thể hiện tinh thần hữu nghị giữa nhân dân hai nước Sri Lanka - Việt Nam, như các vị lãnh đạo Đảng Công sản Sri Lanka đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam mà còn là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Khi Thái Lan bình thường hoá quan hệ với Việt Nam năm 1976, chính quyền Thái Lan đã chủ động công khai hoá đền thờ và Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở làng Nachok (bản Mạy), tỉnh Nakhon Phanom. Đồng thời trưng bày trang trọng tượng sáp Bác Hồ bên cạnh các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới trong Công viên Tượng sáp Siam, Thái Lan, trên một khu đất rộng thuộc huyện Bangphae, tỉnh Ratcha Buri, cách Bangkok110 km về phía Tây.
Tại Trung Quốc, nơi Bác Hồ hoạt động trong nhiều năm, ngoài các khu lưu niệm về Người, nhân dân Trung Quốc còn dựng tượng người ở Sùng Tả, Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây.
Sau gần 3 năm đi đây đi đó, tháng 5/1913, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến xứ sở sương mù, làm việc tại khách sạn Carlton (khách sạn này đã bị máy bay Đức ném bom phá huỷ năm 1940. Trên nền cũ, người ta xây ngôi nhà New Zealand House), để tưởng nhớ đến Bác Hồ, nhân dân London đã gắn tấm biển màu xanh lơ, ghi dòng chữ: “Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam ngày nay, đã từng làm việc ở đây”. Cũng tại London, bức tượng Bác (ngôi ghế trúc) đạt cạnh tấm bia “Kỷ niệm 100 năm Hồ Chí Minh đến Anh” được dựng tại Công viên London.
Để kỷ niệm1năm ngày Việt Nam thống nhất (30/4/1976), Tp. Zalaegerszeg, Hungarie, đã tổ chức lễ khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trên bệ đá hoa cương, tại công viên thành phố Zalaegerszeg, cách Budapest 220 km về phía Nam. Tượng này do nhà điêu khắc nổi tiếng của Hungarie MartonLászló sáng tác, được giải thưởng của Bộ Văn hoá Hungarie năm 1977.
Tại Liên Xô, Đảng và Xô Viết tôi cao Liên Xô đã quyết định dựng tượng Bác tại nơi giao nhau giữa hai phố Dmitri Ulyanov (anh trai Lenine) vàphố “Sáu mươi Cách mạng Tháng Mười”, Matxcơva. Một tượng đài khác của Bác được đặt ở quận Zasviyazhski, Tp. Ulyanovsk, quê hương của Lenine, nằm bên bờ sông Volga, cách Matxcơva 893kmvề phía Đông. Tại Tp. St. Petersburg, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, chính quyền thành phố đã tổ chức khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khuôn viên Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Quốc gia St. Petersburg. Tại vườn hoa Borisenko, Tp. Vladivostok (Liên bang Nga) khánh thành tượng Người vào năm 2019.
Ngày 19/5/2005, nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền Tp. Montreuil, Pháp tổ chức khánh thành tượng đài của Người trong “Không gian Hồ Chí Minh” thuộc Bảo tàng Lịch sử thành phố (cách Paris 15km về phía Đông), là nơi lưu giữ những kỷ vật của Bác trong thời kỳ sống tại Pháp.
Tại lục địa đen, tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh hùng giải phóng dan tộc bị áp bức”, chính phủ và nhân dân Madagasca đã long trọng dựng tượng BácHồ tại Công viên mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô Antananarivo, tượng bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương cao 3,4m. Phía dưới ghi câu nói nói nổi tiếng của Người: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Cũng tại thủ đô Antananarivo còn có một đại lộ mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Và bên kia bán cầu, nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 122 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 2012), Chính phủ và nhân dân Argentina đã tổ chức lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ tại thủ đô Buenos Aires. Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Môi trường và Không gian Công cộng Ngài Diego Santilli bày tỏ sự khâm phục của nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Argentina nói riêng đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 6/7/2014, nhân dân Santiago đã làm lễ khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên mang tên Người, ở khu phố Hermindade la Victoria, thủ đô Santiago, Chile. Tại công viên này còn có một bức tranh Bác Hồ và một số câu thơ trong tập “Ngục trung nhật ký” của Bác, được ghép bằng những mảnh gốm sứ.
Chính phủ Cộng hoà Dominica đã khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người tại thủ đô Santo Dominigo vào ngày 13/9/2012.
Tại Cu Ba, tượng đài của Bác do kiến trúc sư Joel Diaz thiết kế được dựng vào năm 2003 nhân dịp 113 năm sinh nhật của Người, ở Công viên Hoà Bình, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm La Habana.
Ở đất nước Mexico xinh đẹp, bức tượng Bác Hồ ngồi ghế mây, đằng sau phía trên khắc dòng chữ mạ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (bằng tiếng Tây Ban Nha) với chữ ký của Người, được khánh thành vào ngày 16/01/2009, tại Công viên “Tự do cho các dân tộc”, thủ đô Mexico City.Tại miền Nam Mexico, thuộc Tp. Acapulco Guerrereo, một tượng đài khác của Bác Hồ được đặt đối diện với tượng đài người anh hùng dân tộc Mỹ La Tinh Simon Bolivar. Hồ Chí Minh còn là têngiảng đường Trường Đại học UNAM, một trong 10 trường danh giá nhất thế giới.
Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được dựng ở khu vực đặt tượng các danh nhân thế giới như Mahatma Gandhi, Khổng Tử...ở đất nước Panama.
Tại Venezuela, bức tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương cao 2m, cạnh bức tượng là cột cờ với lá quốc kỳ Việt Nam phấp phới bay, nằm trên đại lộ Simon Bolivar, thủ đô Caracas.
Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay số tượng và tượng đài tưởng niệm Bác Hồ có mặt tại 20 nước trên thế giới từ Á sang Âu, từ Phi châu đến Mỹ La Tinh.

THỰC HIỆN LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ LÀ VINH DỰ, TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN

 Quân đội là trường học lớn của thanh niên, là niềm mơ ước và mục tiêu vươn tới của không ít thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Được học tập, rèn luyện trong quân đội là niềm vinh dự, tự hào, là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Mỗi thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự là vinh dự, tự hào, bởi thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là sự cống hiến một phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp của Đảng và toàn dân tộc. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Còn gì hơn khi được tôi luyện ở môi trường quân đội, một trường học lớn để hoàn thiện nhân cách, góp phần năng lực và phẩm chất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mỗi thanh niên coi đây là vinh dự của bản thân trước gia đình, quê hương và xã hội. Do đó phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để thực sự là những hình ảnh cao đẹp của một người lính. Quân đội cũng là môi trường để người lính được hoàn thiện những phẩm chất và năng lực cần thiết, để khi rời khỏi quân ngũ thì phẩm chất và năng lực đó lại được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, gia đình, cấp ủy, chính quyền địa phương cũng như các đơn vị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên để họ sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự một cách tự giác, cống hiến phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Thanh niên lên đường nhập ngũ là nghĩa vụ công dân, khi nhập ngũ họ được học tập những kiến thức cơ bản về Đảng, Bác Hồ, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… họ phải nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù từ đó nâng cao ý thức cảnh giác và đề kháng với những luận điệu xấu độc của kẻ thù cũng như tuyên truyền giáo dục đến mọi người cùng tham gia bảo vệ Tổ quốc.
Mặt khác, thực hiện nghĩa vụ quân sự cũng là cơ hội để các bạn trẻ khẳng định chính mình và trưởng thành hơn trong môi trường quân ngũ. “Quân đội là trường học lớn”, là môi trường thuận lợi để thanh niên được học tập những đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; được tiếp thu những kiến thức chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ hữu ích cho bản thân. Từ đó, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng lập trường chính trị vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.
Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc. Do vậy, thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm với Tổ quốc, với quê hương. Đất nước ta đã hoà bình, mọi người dân luôn hướng đến sự ấm no bình đẳng, các dân tộc đoàn kết cùng chung sống, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang gặt hái được những thành tựu to lớn. Do vậy, cùng với vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải luôn đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thể lực thù địch luôn tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề quốc phòng. Vì vậy, sẵn sàng tham gia Quân đội để góp phần bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân, chính là cách để tuổi trẻ thể hiện tinh thần yêu nước, thể hiện trách nhiệm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước./.

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ MỐI QUAN HỆ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề hệ trọng không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính quy luật, dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Do vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cũng luôn tìm cách chống phá, gây mất ổn định, mong muốn chúng ta giải quyết sai, xử lý không đúng dẫn tới đổ vỡ, thất bại. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực, tách riêng các nhiệm vụ, không có quan điểm đúng, dẫn tới tập trung quá nhiều cho quốc phòng, an ninh, dẫn tới không đủ nguồn lực cho xây dựng và phát triển kinh tế, tất yếu kinh tế kém phát triển và ngược lại, nếu chỉ tập trung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ quốc phòng, an ninh dẫn tới hoặc phải dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc luôn trong tình trạng bị đe doạ, phụ thuộc. Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn của chúng là tạo ra sự mất cảnh giác, lợi dụng những khó khăn trong từng thời điểm, nhất là khó khăn về kinh tế, khó khăn về bảo vệ chủ quyền biển đảo để phê phán, xuyên tạc.

Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước….

Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần hết sức cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhận rõ âm mưu của chúng hòng gây hoang mang, dao động, mất phương hướng chính trị, chia rẽ rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân, nhân dan với Đảng … nhằm thực hiện xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 


NHẬN THỨC MỐI QUAN HỆ CỦA HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Khi đất nước chưa thống nhất, nhiệm vụ và mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc là giành độc lập dân tộc, dù có thể” đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Nhưng khi đất nước chuyển sang giai đoạn mới, đòi hỏi phải xác định lại nội hàm, mục tiêu và mối quan hệ của hai nhiệm vụ cho phù hợp, đối với mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, Đại hội VII, trong Cương lĩnh 1991 xác định: “ Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”, sự phát triển nhận thức ở đây mở rộng cả phạm vi, đối tượng; bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ của quốc phòng và cũng không chỉ là chủ quyền, lãnh thổ. Trật tự và tầm quan trọng của từng đối tượng bảo vệ cũng được sắp xếp lại, tuỳ theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào đặc điểm trong nước và quốc tế. Đại hội IX, tại hội nghị Trung ương lần thứ tám, xác định rõ 6 nội dung là: 

1. Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ;

2. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; 

3. Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; 

4. Bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc; 

5. Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; 

6. Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điểm đặc biệt trong phát triển nhận thức của Đảng ta về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự gắn kết chặt chẽ, nhuần nhuyễn hai trong một, xây dựng đi đôi với bảo vệ, xây dựng cũng là bảo vệ và ngược lại. Lấy mục tiêu phát triển đất nước làm căn cứ để xây dựng nội hàm của cả hai nhiệm vụ.

Các kỳ đại hội Đảng X, XI và đặc biệt Đại hội XII, xác định:” Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ này, là cơ sở để cụ thể hoá trong chủ trương, chính sách phát triển trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, sự kết hợp này mới chỉ xác định: kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và ngược lại trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế của cả nước và trên từng địa phương; trong quy hoạch và phát triển kinh tế vùng, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng- an ninh. Tiếp đó, bổ sung lĩnh vực an ninh và xã hội, đó là kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh, xây dựng cơ chế phù hợp để thực hiện sự kết hợp này, sau đó là kết hợp kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, và: “Phát triển kinh tế- xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng- an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng- an ninh, quốc phòng- an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội và trên từng địa bàn.

Sự gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhận thức và thực hiện càng mở rộng, đi vào chiều sâu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, gắn kết trong tổng thể phát triển của đất nước và quan hệ của Việt Nam với bên ngoài. Đại hội XII phát triển thêm sự gắn kết yếu tố văn hoá: kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội. Quá trình nước ta ra khỏi bao vây, cấm vận, từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới và tác động của hội nhập quốc tế ngày càng lớn, cả tích cực và tiêu cực đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong phát triển đất nước, đòi hỏi phải giải quyết hai nhiệm vụ này gắn kết với hoạt động đối ngoại. Việc phân loại đối tác, đối tượng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một bước tiến lớn về nhận thức, xác định lợi ích của đất nước trong xử lý mối quan hệ này. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Trải qua quá trình gần 35 năm đổi mới, trong điều kiện đất nước có hoà bình, tập trung sức xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, nguy cơ xâm lược, đe doạ đến độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn tiềm ẩn, nhất là vấn đề Biển Đông, biên giới đất liền, sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch cùng với âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ từ bên ngoài. Điều này càng cho thấy, tầm quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi xác định quan điểm mới đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế- xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận, hình thành hệ thống quan điểm đồng bộ, có bước đi, hình thức phù hợp và được thể chế hoá trong từng chủ trương, chính sách qua các giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, đem lại thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ngày hôm nay, là tiền đề cơ bản để thực hiện mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm trên của các nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, và trở thành nước đang phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045

TẦM QUAN TRỌNG, VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA HAI NHIỆM VỤ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, dưới sự lãnh đạo của Đảng cho đến nay. Ở Việt Nam, giải quyết mối quan hệ này được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, đó là khi đất nước còn chiến tranh, vừa phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc và vừa xây dựng hậu phương lớn phục vụ tiền tuyến. Tiếp đó là, thời kỳ đất nước được hoà bình, thống nhất bên cạnh nhiệm vụ to lớn đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, thì bảo vệ Tổ quốc vẫn luôn được xác định là trọng yếu, thường xuyên. Bởi vậy, ở mỗi giai đoạn, việc nhận thức và giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược này là vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là một cơ sở để làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ngày hôm nay.

      Từ truyền thống lịch sử của dân tộc, dựng nước phải đi đôi với giữ nước là bài học mang tính quy luật, được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử. Ở Việt Nam, trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bài học này được Đảng ta khái quát thành một quan điểm lớn, là nắm vững hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội lần thứ IV của Đảng, khi đất nước đã độc lập, non sông thu về một mối, Đảng ta xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đối với bảo vệ Tổ quốc”, tiếp đó, Đại hội V của Đảng, xác định: “Toàn Đảng, toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:một là, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; hai là, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta vẫn nhất quán quan điểm luôn coi trọng cả hai nhiệm vụ, nhưng bắt đầu đã có những điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới, Đại hội VII, thông qua Cương lĩnh 1991 xác định:” Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.

     Tuy nhiên, yêu cầu mới đòi hỏi phải cụ thể hoá vị trí, vai trò của từng nhiệm vụ, làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách; xác định mục tiêu trong từng thời kỳ, điều này cũng chính là bước phát triển mới về nhận thức lý luận, về mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản này. Đại hội VIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, việc chuyển hướng trọng tâm sang xây dựng, phát triển đất nước nhưng vẫn không được coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện đất nước đã có hoà bình, thống nhất, nhưng điểm xuất phát thấp, nguy cơ chiến tranh, xâm lược từ bên ngoài vẫn tiềm tàng, hai nhiệm vụ này chỉ có thể giải quyết được khi đất nước mạnh lên. Do đó, trong các nhiệm kỳ Đại hội IX, X, XI nhận thức lý luận về hai nhiệm vụ chiến lược tiếp tục được hoàn thiện, xác định nhiệm vụ xây dựng giữ vai trò nền tảng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, rằng sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng- an ninh. Đại hội XII khẳng định:” Gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế- xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

 

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM ĐƯỢC BẠN BÈ QUỐC TẾ NHÌN NHẬN TÍCH CỰC

 

Sự thật là quyền con người tại Việt Nam luôn được đảm bảo trong Hiến pháp, thể chế pháp luật, được chú trọng trong các chính sách của Nhà nước và ngày một tốt hơn trên mọi phương diện đời sống.

Tình hình nhân quyền tại Việt Nam đang được thế giới nhìn nhận ngày một khách quan hơn, bất chấp nhiều luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá. "Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên Hợp Quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới". Đó là đánh giá mới nhất về Việt Nam của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres

Còn ông Jean-Pierre Archambault, Nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp-Việt thì cho rằng: "Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận".

Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Bởi theo bà Caitlin Wiesen, nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, trong nhiều thành tựu, tiến bộ mà bà ấn tượng về Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực – đó chính là công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân. Tình trạng nghèo cùng cực tại Việt Nam đã giảm từ tỷ lệ cao nhất khoảng 40% ở những năm 1990 xuống dưới 5% vào năm 2020. Đó chính là sự thay đổi phi thường.

Ngoài ra, trong 2 năm đại dịch vừa qua, bà Caitlin Wiesen cũng đánh giá rất cao những thành tựu mà chính phủ Việt Nam đạt được trong việc đảm bảo sự an toàn cho người dân, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”:

“Chính phủ Việt Nam đã nhận được đánh giá cao của người dân và cộng đồng quốc tế vì đã chủ động dự báo được tình hình đại dịch, nhanh nhạy và thích ứng linh hoạt, hiệu quả trong việc kiểm soát được dịch bệnh Covid-19. Vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, các biện pháp nhanh chóng và minh bạch với ưu tiên hàng đầu là an toàn của người dân được coi là những yếu tố then chốt củng cố niềm tin và sự ủng hộ của người dân với chính phủ và các nhà lãnh đạo”, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh.

Cùng với đó là việc người dân, các doanh nghiệp được Chính phủ Việt Nam hỗ trợ tài chính kịp thời. Trong đại dịch, người dân được đảm bảo các quyền được tiếp cận các nhu yếu phẩm thiết yếu, quyền được chăm sóc y tế, đi lại và giáo dục trực tuyến. Kiều bào tại nước ngoài được dang rộng vòng tay trở về nước.

Còn với ông Hervé Conan - Giám đốc quốc gia  Cơ quan Phát triển Pháp – ông rất ấn tượng về những thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.

“Hình ảnh của người phụ nữ hiện nay hoàn toàn khác với hình ảnh cách đây 30 năm, vốn luôn gắn liền với công việc bếp núc và chăm lo nhà cửa. Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Việt Nam cũng cho thấy vai trò rất tích cực trong thúc đẩy bình đẳng giới trên thế giới khi là một trong những nước đầu tiên thông qua Công ước về cấm mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ cách đây hơn 40 năm và sau đó là Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995”, ông Hervé Conan phân tích thêm.

Trong khi đó, Các thành viên Ủy ban Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (CRC) cũng hoan nghênh những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực đảm bảo các quyền trẻ em, đặc biệt là việc xây dựng và cải thiện, sửa đổi luật pháp của Chính phủ khi ban hành luật trẻ em 2016 thay thế luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em năm 2004.

Nhiều chính trị gia và học giả quốc tế đã rất ấn tượng về những thành công mà Việt Nam đạt được sau 36 năm đổi mới, đặc biệt là tấm gương thành công về phát triển kinh tế xã hội, quyền con người và hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên nhiên kỷ (MDG). Theo LHQ, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Về khía cạnh quyền tự do Internet, ngôn luận, báo chí, sử dụng mạng xã hội, Việt Nam đang đứng top đầu thế giới. Như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận Internet, Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile, khoảng 70 triệu người dùng internet. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường xã. Tự do báo chí được thể hiện cụ thể với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí, hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử, hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập.

Bất chấp những luận điệu xuyên tạc, thù địch, quốc tế đang có những đánh giá cao về vấn đề nhân quyền Việt Nam – vốn đã đạt những thành tựu “không thể phủ nhận”. Với việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc lần thứ hai, Giáo sư James Borton, Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Chính sách đối ngoại, Đại học Johns Hopkins cho biết, điều này không chỉ làm sâu sắc thêm sự hội nhập vào hệ thống quốc tế mà còn đem đến cơ hội thúc đẩy hơn./.

 

 

Không thể chấp nhận sự đòi hỏi phi lý

Đòi hỏi quân đội “trung lập về chính trị” là thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu xuyên suốt của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng và lý tưởng chiến đấu.

Quân đội nhân dân là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội, trước hết bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng. Do vậy, nếu làm suy yếu Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sẽ làm cho Đảng ta mất chỗ dựa vững chắc, tin cậy và điều đó cũng có nghĩa mở đường cho việc chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, họ rêu rao quan điểm: Quân đội cần phải “trung lập về chính trị”, Quân đội “không cần sự lãnh đạo của đảng phái nào cả”, Quân đội “không cần trung thành với Đảng Cộng sản”, v.v. Để nhấn mạnh thêm “ý nghĩa” các quan điểm đó, họ bịa đặt rằng: “do phải trung thành với Đảng Cộng sản, nên Quân đội chỉ lo chống “Diễn biến hòa bình”, mà lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”? Họ “khuyên” hãy “học tập cách thức xây dựng quân đội của các nước tư bản”, v.v.

Đó là những luận điệu sai trái! Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, ai cũng biết: suốt 78 năm qua, mỗi bước trưởng thành của Quân đội đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Trong kháng chiến, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Quân đội ta cùng với toàn dân đã lập nên những chiến công hiển hách, đánh bại các đội quân xâm lược nhà nghề, có tiềm lực bậc nhất thế giới. Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, mà dân tộc, quê hương, bà con họ hàng và bản thân gia đình họ thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, vươn lên tự quyết định lấy tương lai tươi sáng của mình. Giờ đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vẫn ngày đêm vững chắc tay súng, cùng toàn dân giữ vững chủ quyền, biển đảo, vùng trời và môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cũng tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; luôn gắn bó mật thiết với Đảng, Nhà nước và nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao phó.

Yêu cầu Quân đội “trung lập về chính trị”, thực chất là hòng xóa bỏ bản chất cách mạng, xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp nhất của Quân đội nhân dân được xây đắp trong suốt mấy mươi năm qua, hơn thế, còn đẩy Quân đội đối lập với Đảng và nhân dân; vô hiệu hóa vai trò “Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mưu đồ đó, họ tập trung công kích vào những vấn đề cơ bản nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, đó là: phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; phá hoại sức mạnh đoàn kết giữa Đảng, Quân đội và nhân dân. Họ ra sức xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh; bôi nhọ, nói xấu và đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng thời, dựng chuyện, bóp méo một số sự kiện để vu khống, bôi nhọ Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Dù biết, không gì có thể phá hoại được sức mạnh đoàn kết dân tộc, cũng như không gì có thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhưng đối với họ, chí ít thì cũng gây ra sự hoài nghi đối với Đảng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, từ đó tạo sự lơ là, thiếu cảnh giác, để dễ bề lung lạc bản chất cách mạng của Quân đội ta, v.v. Những thủ đoạn đó là vô cùng nguy hiểm, cần hết sức cảnh giác; những đòi hỏi của họ là hết sức phi lý, không thể chấp nhận, cần bác bỏ!

Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng tức là làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần tiếp tục coi trọng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị; tập trung xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” và tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn mọi sự xâm nhập và phá hoại của các luận điệu thù địch, nhất là luận điệu: quân đội “trung lập về chính trị”. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân; có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng./.

30.01

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 30 THÁNG 01 NĂM 1961!

     “Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”!
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Nói chuyện tại hội nghị phổ biến nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ ba về kế hoạch nhà nước năm 1961, đăng trên Báo Nhân dân, số 2509, ngày 31-1-1961; trong bối cảnh đế quốc Mỹ đang tăng cường cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc.
     Trong bài nói chuyện, Hồ Chí Minh khẳng định mục đích cao nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là: Nâng cao không ngừng đời sống nhân dân, đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương thành kế hoạch hoạt động cụ thể, làm cho Nghị quyết của Đảng, kế hoạch của Nhà nước thấm sâu vào thực tiễn, tạo ra nhiều thắng lợi. Lời bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đại biểu dự Hội nghị quán triệt, tiếp thu nghiêm túc và nhanh chóng tuyên truyền, triển khai, cụ thể hóa thành kế hoạch hoạt động thiết thực, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong các cấp, các ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch, thúc đẩy công cuộc xây dựng miền Bắc phát triển lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
     Lời nói chuyện của Bác tại buổi phổ biến Nghị quyết Trung ương ba khóa III, được các cấp ủy đảng trong Quân đội lĩnh hội, tổ chức học tập, quán triệt và triển khai chặt chẽ. Quân đội ta đã khẩn trương xây dựng kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965); tập trung xây dựng Quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại; chủ động xây dựng các binh đoàn chủ lực có khả năng cơ động nhanh, sức chiến đấu mạnh và các binh chủng kỹ thuật... Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, Quân đội ta đã nâng cao một bước sức mạnh chiến đấu; đồng thời, đã tạo ra những cơ sở thuận lợi cho việc mở rộng lực lượng, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
     Thấm nhuần sâu sắc lời của Người năm xưa, Đảng, Nhà nước, quân đội ta vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới; toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tập trung thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; toàn quân đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, được nhân dân tin yêu, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.