Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968-TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ


Cách đây 55 năm (1968 - 2023), vào thời khắc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, trên Ðài Tiếng nói Việt Nam ngân vang những vần thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”.
Ðó cũng chính là lời hiệu triệu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên khắp miền Nam. Ðây là cuộc Tổng tiến công đầy táo bạo, bất ngờ, đánh thẳng vào sào huyệt của kẻ thù, thể hiện sâu sắc tư tưởng chiến lược tiến công, là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 - Dấu ấn sâu đậm trong dòng chảy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trước những thất bại liên tiếp của địch và thắng lợi dồn dập của ta trên khắp chiến trường, từ cuối năm 1966 đầu năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đi tới chủ trương tạo điều kiện tiến tới mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, “vừa đàm vừa đánh”; đó là sách lược hỗ trợ cho dấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quân và dân ta.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, khóa III, họp từ ngày 23 đến ngày 26-1-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trình bày “Đề cương báo cáo về công tác đấu tranh ngoại giao”, trong đó chỉ rõ: “Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn khéo, giành thắng lợi từng bước”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 khóa III, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về mặt ngoại giao bây giờ là đúng lúc” và chỉ rõ: “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Quan điểm của Đảng được quán triệt trong các hoạt động chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh từ giữa năm 1968 trở đi. Trước mắt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13, ngày 28-1-1967, Bộ Ngoại giao ta ra tuyên bố khẳng định lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam là kiên quyết chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do; đồng thời chỉ rõ: “Phía Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện được”.
Tháng 5-1967, ngay sau khi cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của quân Mỹ kết thúc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá tình hình, xem xét dự thảo “Kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968”.
Tiếp đó, tháng 6-1967, Hội nghị Bộ Chính trị được triệu tập và bàn bạc rất kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược này. Hội nghị nhận định, thắng lợi của quân và dân ta giành được trên cả hai miền Nam, Bắc là to lớn, toàn diện. Thắng lợi đó đã làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đẩy Mỹ vào thế lúng túng, bị động cả về chiến lược lẫn chiến dịch.
Hội nghị nhận định, về phía ta, cả thế và lực đang có những tiến bộ, cho phép ta “trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn”. Nhưng tương đối ngắn là bao lâu? Tuy bàn bạc rất tỉ mỉ về tương quan lực lượng lúc đó, Hội nghị cũng chỉ có thể dự kiến sẽ giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 theo phương hướng “ĐÁNH LỚN”. Muốn vậy, nhiệm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh.
#BQĐND

CÓ “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” CHỈ LỐI, QUÂN VÀ DÂN TA GIÀNH NHIỀU THẮNG LỢI VẺ VANG


Tác phẩm “Đường cách mệnh” là cuốn sách tập hợp các bài giảng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, do Người và Tổng bộ tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925-1927.
Cuốn sách do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927 với mục đích làm tài liệu học tập và tuyên truyền; được đồng chí Nguyễn Lương Bằng đưa về nước, cất giữ ở quê hương Hải Dương. Sau đó, bị mật thám bắt và đưa cuốn sách vào hồ sơ cấm, chuyển về lưu giữ tại Tòa án tối cao của chính quyền thực dân Pháp ở Hà Nội. Sau năm 1954, cuốn sách được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
“Đường cách mệnh” là tác phẩm lớn, một trong những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; thể hiện quan điểm của Người trong thời kỳ chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác phẩm là một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam.
Cuốn sách được in trong Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ ba, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, từ trang 277-326 (50 trang). Trên bìa sách, Người viết tay với tiêu đề “Đường Kách mệnh”. Mở đầu cuốn sách, Người trích câu nói nổi tiếng của V.I. Lênin “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” (Trích trong cuốn “Làm gì” của V.I. Lênin).
Nội dung tác phẩm rất phong phú, sinh động, được Người trình bày trong 15 vấn đề lớn, đó là: “Tư cách một người cách mệnh; “Vì sao phải viết cuốn sách này”; “Cách mệnh”; “Lịch sử cách mệnh Mỹ”; “Cách mệnh Pháp”; “Lịch sử cách mệnh nước Nga”; “Quốc tế”; “Phụ nữ quốc tế”; “Công nhân quốc tế”; “Cộng sản thanh niên quốc tế”; “Quốc tế giúp đỡ”; “Quốc tế cứu tế đỏ”; “Cách tổ chức công hội”; “Tổ chức dân cày”; “Hợp tác xã”. Trong đó, tư tưởng quan trọng nhất, nổi bật nhất của Người là xây dựng đảng mác xít kiểu mới và tư cách người đảng viên cộng sản. Người khẳng định “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Muốn vậy, cần ba thứ: tư bản cách mệnh; dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh; tức là phải học cái tốt của người ta để vận dụng vào làm cách mệnh, giúp cho nước nhà có độc lập, tự do, dân ấm no, hạnh phúc.
Theo Người, cách mệnh muốn thành công thì trước tiên phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Từ đó, Người khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Cùng với đó, để cách mệnh thành công cần phải có đội ngũ đảng viên “luôn giữ chủ nghĩa vững, mẫu mực về đạo đức cách mệnh”, “biết phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Vì vậy, tư cách “người cách mệnh” phải có đạo đức cách mệnh. Đối với mình phải cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; sẵn sàng hy sinh; ít lòng tham về vật chất và bí mật.
Đối với từng người phải khoan thứ, với tập thể thì nghiêm; có lòng bày vẽ cho người. Nhờ đó mà biết cách xem xét hoàn cảnh, nhận định, đánh giá chính xác tình hình; quyết đoán, dũng cảm và phục tùng tập thể. Có được như vậy mới hiểu biết “Lịch sử cách mệnh Mỹ”; “Cách mệnh Pháp”; “Lịch sử cách mệnh nước Nga”; “Quốc tế”; “Phụ nữ quốc tế”; “Công nhân quốc tế”; “Cộng sản thanh niên quốc tế”... lấy kiến thức tốt đẹp của họ để vận dụng vào xây dựng “tổ chức công hội”; “tổ chức dân cày”; “hợp tác xã”, làm xã hội ta phát triển, dân ta ấm no, sung túc, hạnh phúc.
“Đường cách mệnh” là tác phẩm đã được công nhận là “bảo vật quốc gia. Tác phẩm hàm chứa những tư tưởng lớn, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo, có sức sống mãnh liệt, làm rung động hàng triệu trái tim người dân nước Việt; sự ngưỡng mộ, khâm phục của bạn bè quốc tế.
Ôn cũ để biết mới, vui Xuân, đón Tết Quý Mão không quên nhiệm vụ. Để luôn tiến bộ, trưởng thành, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần đọc kỹ, hiểu sâu tác phẩm này. Bởi, nhờ có “Đường cách mệnh” chỉ lối, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Đọc sách để “sáng mắt, sáng lòng”, là phương cách tốt nhất để mãi xứng danh là “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của dân, luôn biết ơn Đảng, Bác Hồ kính yêu./.

VIỆT TÂN ĐANG HOANG TƯỞNG VÀ TRƠ CHẼN NHƯ THẾ NÀO KHI TẨY TRẮNG VÀ TÔ HỒNG LÁ CỜ VÀNG?

 

Ngày 21/01/2023, fanpage của đảng Việt Tân đã đăng một bài viết bốc thơm lá cờ vàng ba sọc đỏ thành “lá cờ gắn liền với thân phận người dân Việt Nam”. Bài viết bịa đặt trắng trợ, trơ trẽn để bôi nhọ thành tựu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta đồng thời hết lợi ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa về mọi mặt. Chẳng hạn, ngay đầu bài, ta bắt gặp đoạn sau:
“Năm 1954 sau khi cờ vàng hạ xuống tại Hà Nội thì dân Miền Bắc bị xiềng xích, hơn triệu sinh mạng thường dân phải chết vì chủ trương đi giải phóng.
Sau 1954 ở trong Nam cờ Vàng được treo trên các cột sân trường thì học sinh VN cắp sách đến trường miễn phí, thầy cô giáo tận tâm dạy học với nền giáo dục khai phóng và nhân bản. Cờ Vàng treo trên mái bệnh viện thì người dân VN được cứu chữa và được chăm sóc tận tình chu đáo. Người bác sĩ y tá dưới lá cờ vàng chính là “Lương y như từ mẫu”.”
Nếu người đọc không có kiến thức về lịch sử sẽ rất dễ ngộ nhận, nghĩ rằng bản thân được tiếp nhận những thông tin mới, với cách lập luận, dẫn chứng cụ thể, dễ hiểu của Việt Tân sẽ nghĩ rằng các quan điểm nói trên là có cơ sở, vô tình bị dẫn dắt tâm lý, quan điểm, nhận thức. Vậy sự thật là thế nào?
Đầu tiên là “Năm 1954 sau khi cờ vàng hạ xuống tại Hà Nội thì dân Miền Bắc bị xiềng xích, hơn triệu sinh mạng thường dân phải chết vì chủ trương đi giải phóng”. Việt Tân đã thể hiện là những kẻ mất gốc, đã báng bổ lịch sử, quên đi nỗi đau của tổ tiên; chúng đã quên mất rằng thực dân Pháp đã bóc lột đất nước ta, tổ tiên ta như thế nào. Cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước, đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Thế nhưng, sau gần 80 năm bóc lột tài nguyên, nhân dân ta, mặc dù đã bị đánh đuổi nhưng thực dân Pháp vẫn kéo quân quay lại hòng cướp nước ta một lần nữa. Chiến thắng Điện Biên năm 1954 của nước ta mới chính thức làm từ bỏ ý đồ đô hộ, bóc lột dân tộc Việt Nam của thực dân Pháp. Lịch sử chứng kiến biết bao nhiêu hy sinh xương máu của cha ông ta như vậy mới giành được độc lập, rõ ràng như vậy mà Việt Tân có thể mở mồm ra phát ngôn được là “dân Miền Bắc bị xiềng xích”. Còn vì sao chúng ta lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nếu như Mĩ không mưu đồ chia cắt đất nước ta, không cản trở để Việt Nam thực hiện Hiệp định Giơ – ne – vơ là hiệp thương, để nhân dân cả nước được thực hiện quyền làm chủ của mình là tổng tuyển cử trên cả nước.
Chất lượng giáo dục và y tế của chế độ Việt Nam Cộng hòa có như bài viết mô tả không? Lá cờ vàng treo ở miền Nam thì học sinh được đến trường, người ốm được chữa bệnh….chỉ một bộ phận nhỏ của nhân dân miền Nam trong khi đại bộ phận bị chính sách tố cộng, diệt cộng…của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm thực hiện ý đồ thành lập nhà nước Việt Nam Cộng hoà. Số lượng trường học, bệnh viện ở miền Nam sau 1954 không nhiều, chủ yếu tập trung ở thành phố, đô thị. Vùng nông thôn đang tranh tối tranh sáng với lực lượng cách mạng nên không thể triển khai và uy tín của chính quyền Việt Nam Cộng hoà không lôi kéo đại bộ phận nhân dân ủng hộ họ. Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chọn môt triết lý giáo dục là “nhân bản, dân tộc và khai phóng”. Điều này ghi trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967. Tuy nhiên, đó chỉ là danh nghĩa thôi, vì chính quyền Việt Nam Cộng hòa chưa ra văn bản nào để cụ thể hóa cách hiểu ba nguyên tắc đó. Ba triết lý trên nghe rất quý báu, cao cả nhưng chỉ là trên giấy, thực tế lại khác hẳn.
Chỉ khoảng 24% tổng số thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18 là được đi học. Nội san AĐS cho biết: “Cứ 100 em vào lớp đầu của bậc tiểu học thì chỉ có 3 em được học trung học đệ nhị cấp, còn 97 em bị hất ra ngoài nền giáo dục đại chúng của ông Thiệu, và trong tiểu học có 51% học sinh không được học lên lớp 4”. Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số, 30% còn lại vẫn mù chữ. Những số liệu chi tiết này, được ghi lại trong chính sách báo công khai ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, đã mô tả một thực tế khác xa với những lời tuyên truyền tô hồng của giới dân chửi.
Hệ thống y tế Việt Nam Cộng hòa nhìn chung là nhỏ bé, thường bị quá tải và thiếu thuốc men. Toàn bộ chương trình y tế công cộng của Việt Nam Cộng hòa chỉ được phân bổ khoảng 2% chi tiêu ngân sách. Theo lời cựu bộ trưởng y tế của chế độ này vào năm 1967, thì toàn miền nam khi đó chỉ có khoảng 160 bác sĩ, và chỉ có khoảng 5 nữ hộ sinh cho mỗi 100.000 người dân. Tại Huế, một bệnh viện 1.500 giường hoàn toàn không nhận được dụng cụ y tế từ Chính phủ, nó chỉ tiếp tục vận hành được nhờ sự trợ giúp từ chính phủ Tây Đức. Bác sĩ David McLanahan cho biết vào mùa hè năm 1966, Bệnh viện phẫu thuật Đà Nẵng có 350 giường bệnh nhưng chưa bao giờ có dưới 700 bệnh nhân. Toàn miền Nam chỉ có khoảng 100 bệnh viện, trạm y tế với khoảng 25.000 giường bệnh, việc 2 hoặc 3 bệnh nhân nằm chung một giường không phải là hiếm (2 bệnh nhân nằm chung một giường đã trở thành quy tắc bắt buộc tại Đà Nẵng).
Bệnh viện nhi duy nhất phải chứa khoảng 600 bệnh nhân cho 220 giường bệnh, nên nhiều trẻ phải nằm trên giấy báo và trong các bệnh viện khác, một số tờ báo và giấy gói thường được sử dụng để băng bó vết thương, vì đó là chất liệu duy nhất có sẵn. Theo luật sư William F. Pepper, viện trợ y tế của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa không thấm tháp gì so với hàng ngàn trẻ em bị bỏng nặng bởi bom napalm và bom phosphor do quân Mỹ thả xuống. Bệnh nhân bỏng nặng nhiều khi chỉ được sơ cứu rồi bị đuổi khỏi phòng bệnh để lấy chỗ cho những trường hợp nguy cấp hơn. Kết quả là nhiều trường hợp phải cắt cụt chi để đỡ tốn thời gian điều trị.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ không thuộc về bất cứ chính phủ Việt Nam độc lập nào. Trong lịch sử, nó chỉ được treo trên những vùng đất Việt Nam bị quân Pháp hoặc quân Mỹ chiếm đóng. Khi Mỹ thích, họ có thể hậu thuẫn một cuộc đảo chính để giết Ngô Đình Diệm, hoặc buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức, như thể hai “tổng thống” này là chỉ là hai con rối do họ tùy ý giật dây. Nhìn vào những khía cạnh này, ta thấy chế độ Việt Nam Cộng hòa không mấy tốt đẹp trên cả phương diện “độc lập, nhân bản” lẫn dân sinh. Giới dân chửi đã bất chấp sự thật lịch sử để tẩy trắng và tô hồng cờ vàng ba sọc đỏ.
“Khi cờ Vàng còn tuần tiễu ngoài Biển Đông thì ngư dân VN yên tâm ra khơi không sợ bị Trung Quốc giết hại.”…, chẳng nhẽ Việt Tân lại trơ trẽn đến mức quên mất rằng thực ra việc quần đảo HS bị mất trong đó có sự tiếp tay đi đêm của Mỹ và sự hèn nhát bạc nhược của sỹ quan binh lính VNCH. Lực lượng tác chiến VNCH lúc đó vượt trội hơn hẳn Trung Quốc.
Tiếp theo, chúng lại cho rằng “Từ sau ngày “Đổi mới” 1986, nhà nước mở cửa bang giao và làm ăn với các quốc gia đã từng công nhận chính phủ VNCH cùng quốc kỳ cờ Vàng trước đây, thì ngay lập tức đời sống nhân dân VN được cải thiện thấy rõ” và “Ngày nay ở những nước nào có cộng đồng cờ Vàng hiện diện thì đó là nơi bạn thường mong muốn được đi du học, mong tới du lịch và mong được định cư.”. Luận điểm này tiếp tục cách lập luận mập mờ, kiểu “Lý Thông cướp công Thạch Sanh”, “đánh lận con đen”. Thành tựu của công cuộc đổi mới là do công sức của toàn Đảng, toàn dân cùng nỗ lực phấn đấu trên con đường đi đúng đắn mà đạt được chứ không phải ngẫu nhiên mà có. Khi tiến hành đổi mới thì thế giới đã bước vào thời kì toàn cầu hóa, xu thế các nước và khu vực liên kết với nhau để phát triển, hợp tác đôi bên cùng có lợi, kết quả đạt được là do chúng ta biết tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ. Thật nực cười khi Việt Tân lập luận Việt Nam mở cửa với các nước trước đây là đời sống nhân dân được cải thiện. Cũng như vậy, thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt có mặt ở khắp nơi trên thế giới để học tập, lao động, sinh sống… phù hợp nguyện vọng, mong muốn cá nhân chứ không phải theo kiểu “nhận vơ” như của bọn chúng là vì có “cộng đồng cờ Vàng”.
Đã thiếu khối óc để có thể phân biệt được đúng sai thì Việt Tân cũng không nên đánh mất trái tim để quên đi lịch sử dân tộc mà ca ngợi “lá cờ vàng” mà thực chất là ca ngời thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những kẻ đã từng cướp bóc và gây biết bao đau thương cho dân tộc Việt Nam./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Năm 1954 sau khi cờ vàng hạ xuá‘ng tại Hà Nội thì dân Miễn Bắc oị xiêng xích, hơn triệu sinh mạng thường dân phải chết vì chủ trương đi giải phóng. Sau 1954 ở trong Nam cờ Vàng được treo trên các cột sân trường thì học sinh VN cắp sách đến trường miễ»…n phí, thày cô giáo tận tâm dạy học vỚi nền giáo dục khai phóng và nhân bản. Cờ Vàng treo trên mái bệnh viện thì người dân VN được cứu chữa và được chăm SÓC tận tình chu đáo. Người bac.. Xem thêm'

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 31/01


"… công việc nào cũng quan trọng, cũng cần thiết và những người quyết tâm làm tròn nhiệm vụ đều là chiến sĩ, anh hùng".
Đây là lời thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, ngành thương binh, cựu binh, nhân Hội nghị cán bộ ngành thương binh, cựu binh vào tháng một năm 1954; trong khi quân và dân ta đang mở các chiến dịch lớn tiến công địch trên các chiến trường toàn quốc; cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân ta tiến đến giai đoạn quyết định, cần phải tập trung xây dựng sức mạnh tổng lực, trong đó lực lượng quân sự tiếp tục được củng cố vững chắc về chính trị và tinh thần; đồng thời cần sự quan tâm, chung sức của hậu phương đối với tiền tuyến, đáp ứng yêu cầu của cuộc quyết chiến chiến lược giành thắng lợi.
Lời thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen về những việc làm tiến bộ; đồng thời chỉ rõ: "… Công việc bất kỳ to nhỏ, bất kỳ ngành nào, địa vị bất kỳ cao thấp - đều vì kháng chiến, vì dân tộc. Cho nên công việc nào cũng quan trọng, cũng cần thiết và những người quyết tâm làm tròn nhiệm vụ đều là chiến sĩ, anh hùng". Qua đó Người thẳng thắn nhắc nhở các đại biểu và tất cả cán bộ, nhân viên trong ngành thương binh, cựu binh phải hiểu thật rõ ràng khuyết điểm; phải bàn bạc kỹ càng, đặt kế hoạch thiết thực, để giúp mọi người sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm; nghiêm túc, thật thà tự phê bình và phê bình, để cố gắng thi đua làm tròn nhiệm vụ.
Lời của Người được Hội nghị và các đại biểu quán triệt, rút kinh nghiệm sâu sắc; được lãnh đạo của ngành chỉ đạo tổ chức đợt sinh hoạt kiểm điểm tự phê bình và phê bình nghiêm túc; nhận rõ vai trò quan trọng và trách nhiệm chính trị cao cả của ngành thương binh, cựu binh; xây dựng kế hoạch, đoàn kết thi đua phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc đời sống tinh thần và vật chất cho anh em thương bình, bệnh binh, góp phần củng cố vững chắc yếu tố chính trị tinh thần của quân và dân ta, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.
Quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt nhất các chính sách đối với thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng; huy động các nguồn lực xã hội tham gia chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ; đời sống của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ từng bước được cải thiện, bảo đảm cho gia đình chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của xã hội.
Với lòng quí trọng và biết ơn những người đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong thực hiện công tác chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng; tích cực tham gia có hiệu quả các hoạt động, chương trình thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa", phối hợp làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội; đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua "Quân đội chúng sức xây dựng nông thôn mới", phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", chia sẻ, giúp đỡ gia đình chính sách, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG QUAN TÂM BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

    Dù thời cuộc có nhiều biến động và thế giới có nhiều đổi thay, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

    Những luận điệu xuyên tạc ác ý, thâm độc
    Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược, Đảng ta xác định mục tiêu cao nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, thống nhất đất nước là lợi ích tối cao của toàn dân tộc. Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc được thể hiện bao trùm ở phương hướng-mục tiêu “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” gắn liền với thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
    Tuy vậy, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trên mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam đã xuất hiện những luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”. Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, “nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào”. Ác ý và thâm độc hơn, có ý kiến đổ tội cho “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu” (?!).
    Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất; thì cũng là cái nhìn thiếu khách quan, toàn diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, thậm chí lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
    Lợi ích của Đảng luôn thống nhất với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân
    Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
    Việc Đảng ta luôn trung thành và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bởi trước hết, Đảng ta là con nòi của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hơn 90 năm qua đã khẳng định, ở Việt Nam, không lực lượng chính trị nào có đủ uy tín, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi ở nước ta từng xuất hiện một số tổ chức đảng khác nhưng vì không đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, thậm chí có tổ chức đảng còn phản bội, đi ngược lại lợi ích của dân tộc nên tự đào thải và bị lịch sử loại bỏ.
    Nhờ lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 3 thập niên đổi mới mà Đảng ta đã chứng minh được vị thế, năng lực cầm quyền của mình, từ đó thuyết phục được nhân dân, lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc, của nhân dân, của quốc gia-đó là bằng chứng sinh động thể hiện “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đó cũng là lý do căn cốt, là điểm tựa niềm tin lớn nhất mà nhân dân trao quyền, ủy quyền lãnh đạo của mình cho Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Nói về vai trò của Đảng trong bảo vệ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc không thể không nhắc đến những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước. Với mức tăng GDP hằng năm trung bình khoảng 7% trong hơn 35 năm qua, hiện nay Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI). Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội.
    Vì là một đảng “tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” nên trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để ngang tầm với sứ mệnh mà nhân dân giao phó. Sai đâu sửa đấy, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, thừa nhận khuyết điểm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa khuyết điểm không chỉ là dũng khí, bản lĩnh của một đảng mác xít chân chính mà còn thể hiện tinh thần cầu thị của Đảng để không phụ lòng tin của nhân dân và dân tộc. Việc Đảng ta kịp thời sửa sai trong chủ trương thực hiện cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước; kiên quyết từ bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước và những năm gần đây thực hiện quyết liệt việc thanh lọc, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm để làm trong sạch Đảng cũng không ngoài mục đích bảo vệ những lợi ích chính đáng của đại đa số nhân dân, bảo vệ sự liêm chính của quốc gia, bảo vệ những thành quả cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam đã chung tay góp sức giành được trong gần 80 năm qua.
    Giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính
    Từ bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn đổi mới mạnh mẽ được Đảng ta khởi xướng từ năm 1986, với sự nỗ lực bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đến nay, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.
    Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và diễn biến khó lường hiện nay, Đảng ta vẫn kiên định với phương châm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc ở Việt Nam không phải là lợi ích quốc gia, dân tộc hẹp hòi, cực đoan như có kẻ từng rêu rao, xuyên tạc. Bởi lẽ, những năm qua, Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối và Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Mặt khác, trong quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Phương châm này thể hiện nhận thức nhất quán của Đảng là giải quyết hài hòa giữa lợi ích của dân tộc và lợi ích chung của nhân loại, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính của giai cấp công nhân.
    Những năm gần đây, uy tín của Việt Nam không ngừng được củng cố, tăng cường trên trường quốc tế khi được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng kinh tế-xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam đồng thời đảm nhiệm 3 trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Từ một nước gần như bị bế quan tỏa cảng, sau gần 4 thập niên, đến nay, Việt Nam đã có thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 quốc gia, trong đó thiết lập quan hệ ổn định lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện. Đặc biệt, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đã tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình (PKO) đạt nhiều kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
    Như vậy, từ những cơ sở, thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN, đồng thời đó cũng là bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.
ST


SẴN SÀNG CÁC "NỀN TẢNG" THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ


Năm 2023, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Bảo hiểm xã hội Việt Nam là "lấy người dân, doanh nghiệp làm chủ thể, trung tâm phục vụ". Theo đó, ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt mục tiêu sẽ đạt khoảng 40,2% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; khoảng 31,7% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; và tiếp tục tiến tới lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân với khoảng 93,2% dân số tham gia.
Các mục tiêu này, đòi hỏi toàn ngành tiếp tục nỗ lực và linh hoạt giải pháp trong bối cảnh năm 2023 được đánh giá là có nhiều khó khăn...
Sẵn sàng "nền tảng"…
Tại hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ công tác năm 2023 của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam, đánh giá những kết quả đạt được trong năm 2022, Trưởng Ban Quản lý Thu-Sổ thẻ (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Dương Văn Hào cho rằng: có 3 điểm nổi bật trong công tác thu mà Bảo hiểm xã hội các địa phương đã thực hiện rất tốt trong năm qua, đó là: Sự chủ động, tích cực trong phân tích dữ liệu, linh hoạt để tổ chức khai thác hiệu quả; tích cực tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền địa phương vào cuộc-tạo tiền đề quan trọng cho việc thực hiện chính sách hiệu quả trên địa bàn; bám sát chủ trương của lãnh đạo ngành, không ngại khó, ngại khổ, nhất là phân công rõ trách nhiệm cho từng cá nhân, đơn vị... Những kết quả tích cực này sẽ là nền tảng thuận lợi cơ bản cho toàn ngành trong triển khai nhiệm vụ năm 2023.
Ðặc biệt, chia sẻ thành tựu nổi bật của ngành trong công tác chuyển đổi số, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Lê Nguyên Bồng cho biết: Năm 2023 được Ban Chỉ đạo quốc gia về chuyển đổi số xác định là "Năm quốc gia về dữ liệu"; tuy nhiên với riêng Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã đạt được hệ dữ liệu bảo đảm "đủ-sạch-sống". Thời gian qua, hệ dữ liệu được Bảo hiểm xã hội Việt Nam thu thập, xây dựng từ người tham gia chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; được xây dựng theo tiêu chí rõ ràng, minh bạch. Hệ dữ liệu này bảo đảm tỷ lệ hơn 70% được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ðồng thời, với khối lượng dữ liệu và bản ghi "khổng lồ" này cho thấy công sức rất lớn của toàn ngành bảo hiểm xã hội khi liên tục cập nhật, bảo đảm hệ dữ liệu "sống"...
Chính vì vậy, năm 2022, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng các chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cơ bản đều tăng so cùng kỳ và vượt chỉ tiêu so Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Ðã có 91,074 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, đạt tỷ lệ 92,04% dân số, vượt 0,04% so với chỉ tiêu tại Nghị quyết 01/NQ-CP. Ðây là một trong 7 chỉ tiêu kinh tế-xã hội vượt kế hoạch năm 2022 được Quốc hội, Chính phủ giao. Về bảo hiểm xã hội có 17,5 triệu người tham gia, đạt 38,08% so với lực lượng lao động trong độ tuổi, vượt 1,08% so với Nghị quyết 01/NQ-CP; bảo hiểm thất nghiệp có 14,33 triệu người tham gia, đạt tỷ lệ 31,18% so với lực lượng lao động trong độ tuổi, vượt 0,18% so với chỉ tiêu tại Nghị quyết 01/NQ-CP...
Chủ động các kịch bản điều hành
Nhận định rõ những khó khăn, thách thức mà ngành phải đối mặt trong thời gian tới, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh cũng đánh giá tình hình thế giới năm 2023 dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Thực tiễn này đòi hỏi phải đổi mới phương thức, cách thức hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, "đặc biệt là việc ứng dụng, sử dụng công nghệ, chuyển đổi số để nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách trong tình hình mới, nhất là nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp".
Thực tế tại các địa phương cho thấy, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hiện có xu hướng tăng chậm, cùng với đó là lo ngại về gia tăng số người dừng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; số người rút bảo hiểm xã hội một lần... Nguyên nhân một phần là do thay đổi mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trong năm 2022, ảnh hưởng của dịch bệnh, mức giá sinh hoạt tăng cao tác động đến cuộc sống, thu nhập của người dân; cùng với đó là những biến động của thị trường lao động, tình trạng mất việc làm... Bên cạnh đó, tình trạng chi vượt trần, vượt dự toán, vượt tổng mức thanh toán vẫn còn xảy ra ở một số cơ sở khám, chữa bệnh; công tác tạm ứng, thanh quyết toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại một số địa phương còn vướng mắc...
Nhấn mạnh những kết quả "ngoạn mục" trong năm 2022 có yếu tố quan trọng là sự vào cuộc và ủng hộ sâu sát của chính quyền các địa phương, Tổng Giám đốc Nguyễn Thế Mạnh yêu cầu "lợi thế" này cần được toàn ngành tiếp tục phát huy hơn nữa trong năm 2023. Theo đó, ngành bảo hiểm xã hội sẽ phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị-xã hội thực hiện tốt chính sách, pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Ngành đề cao tính tinh thần chủ động, nắm bắt thực tiễn để có kịch bản điều hành, phương án hiệu quả nhằm triển khai quyết liệt các nhiệm vụ ngay từ đầu năm…, đặc biệt tập trung khai thác, phát huy tối đa hiệu quả công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu của ngành để kiểm tra, phòng ngừa gian lận, trục lợi quỹ; thực hiện đồng bộ các biện pháp để quản lý quỹ an toàn, tăng trưởng bền vững và hiệu quả; tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính; mở rộng các hình thức cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; đẩy nhanh chuyển đổi số; hoàn thiện và kết nối hệ thống dữ liệu chuyên ngành về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm./.
Theo Báo Nhân dân.
Có thể là hình ảnh về 7 người, mọi người đang đứng, mọi người đang ngồi và trong nhà

KỶ NIỆM 55 NĂM CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968


Tác động của Chiến dịch Mậu Thân 1968 đến chiến lược toàn cầu của Mỹ
Đêm 30, rạng sáng 31-1-1968, quân và dân ta đồng loạt nổ súng tổng tiến công, tổng khởi nghĩa vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn và các căn cứ quân sự của địch trên khắp miền Nam, trọng điểm là Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng, làm chấn động nước Mỹ.
Bằng lối đánh táo bạo và dũng mãnh, LLVT ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của địch, giáng đòn quyết liệt vào uy thế của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam, làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn, khiến cho giới lãnh đạo cao cấp Washington phải bàng hoàng, sửng sốt.
Ngày 30-3-1968, tướng Westmoreland, Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam đến Sài Gòn phổ biến chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Chính phủ Mỹ. Chủ trương này nhằm thay thế chủ trương “Mỹ hóa” chiến tranh (tức “Chiến tranh cục bộ”) của Tổng thống Johnson đã thất bại. Ngày 31-3-1968, Johnson tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai, đồng thời thông báo quyết định hạn chế hoạt động của Mỹ ở Việt Nam. Cùng với đó, ra lệnh ngừng ném bom bắn phá hạn chế miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra (đến ngày 1-11-1968 thì ngừng ném bom bắn phá hoàn toàn miền Bắc) và cử người đàm phán hai bên từ ngày 13-5-1968. Bản thông báo đó của Johnson là sự thừa nhận thất bại của Mỹ trong “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Tết Mậu Thân 1968 và những tác động mạnh mẽ của nó đã dội về nước Mỹ, cùng với những biến động ở thế giới và trong lòng nước Mỹ đã khiến giới lãnh đạo Mỹ phải soát xét lại toàn bộ đường lối, cách thức tiến hành chiến tranh ở Việt Nam cũng như chiến lược toàn cầu của mình.
Trước những yêu cầu của chiến lược toàn cầu, Mỹ phải tính toán để càng rút ngắn thời gian cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam càng tốt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã chấm dứt ảo tưởng “đánh nhanh, thắng nhanh” của chính quyền Johnson; đặt ra trước quân đội viễn chinh Mỹ triển vọng “một cuộc chiến tranh kéo dài không bao giờ dứt”, điều mà phía Mỹ không thể nào chịu đựng nổi. Từ năm 1968, trong nội bộ chính quyền Johnson, mâu thuẫn giữa nhóm chủ trương tiến hành chiến tranh đến cùng và nhóm chủ trương tìm lối thoát qua thương lượng hoặc qua một biện pháp dung hòa nào đó càng trở nên gay gắt hơn.
Nhóm cố vấn cấp cao của Mỹ về Việt Nam đã xây dựng kịch bản để Tổng thống Johnson có một cuộc rút lui chia thành nhiều đợt dài, nhằm cứu vãn danh dự và uy tín được chừng nào hay chừng ấy. Các Thượng nghị sĩ McCarthy và F.Kennedy, trên các diễn đàn ra sức thách thức vị trí đề cử của đảng đối với Johnson. Quốc hội hủy bỏ tấm chi phiếu đã trao cho Nhà Trắng trong Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Hạ viện Mỹ cũng quyết nghị rút tất cả quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất.
Sau Tết Mậu Thân 1968, phong trào phản đối chiến tranh, đòi Chính phủ rút quân ở Việt Nam của nhân dân Mỹ lại bùng lên. Đại diện truyền thông in ấn của giới kinh doanh, như tờ Wall Street Journal, ngày càng nghi vấn "sự khôn ngoan" của cuộc chiến ở Đông Dương. Mỹ đã bất chấp luật pháp quốc tế, thực hiện chiến lược toàn cầu của mình với ý đồ bành trướng thế lực và ảnh hưởng. Tuy nhiên, trên thực tế, sai lầm của Mỹ trong các chiến lược toàn cầu đã gây ra sự sai lầm ở Việt Nam. Sau khi thất bại, Mỹ mới rút ra một điều: Dù vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể thay thế tinh thần chiến đấu của người Việt. Cho tới năm 1982, có đến 70% người dân Mỹ vẫn coi cuộc chiến ở Việt Nam căn bản là sai lầm và phi đạo đức.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có tầm vóc chiến lược Xuân Mậu Thân 1968 đã gây nên một cơn chấn động làm lung lay ý chí của những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Sau Xuân Mậu Thân 1968, Mỹ đã thấy rõ rằng “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại, Chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” đứng trước nguy cơ phá sản. Ngay khi chưa bị ám sát, Kennedy cũng đã thấy Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” thí điểm ở Việt Nam không mang lại kết quả mong muốn. Và “đáp án” rõ nhất cho sự xóa sổ của Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” là sự kiện Mậu Thân 1968 ở Việt Nam, nơi mà Mỹ đã không “linh hoạt phản ứng” được trước sự tiến công bí mật, bất ngờ của quân và dân miền Nam.
NGUYỄN HÀ HẢI - Báo QĐND
Ảnh 1: Lính Mỹ bị thương khi lực lượng biệt động tiến công tòa Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu
Ảnh 2: Những người biểu tình tại Chicago (Mỹ) đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, năm 1968. Ảnh: ARTHUR ROTHSTEIN