Thứ Năm, 13 tháng 4, 2023

chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay


Chủ nghĩa dân túy là những thủ pháp, thủ thuật của giới hoạt động chính trị nhằm lôi kéo sự chú ý của người dân, thông qua nghệ thuật diễn thuyết với nội dung mơ hồ, khó thực hiện trong thực tế, nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó có tính chất ngắn hạn, nhất thời của người dân, nhất là của giới bình dân. Đặc điểm chung của chủ nghĩa dân túy là tách rời phát ngôn với hành động, chỉ làm thỏa mãn nhu cầu trước mắt của dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng, nhanh chóng thay đổi quan điểm và không nhất quán một nguyên tắc nào. Hệ quả, thậm chí là hệ lụy của chủ nghĩa dân túy là nó thường gắn với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tinh thần quốc gia vị kỷ; chủ nghĩa bành trướng, bá quyền; sự ngạo mạn và chủ nghĩa biệt lập văn hóa, vấn đề di cư, nhập cư,... với những hình thái và mức độ biểu hiện khác nhau.

Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ ảnh hưởng sâu và tiêu cực tới Việt Nam, mặc dù ở Việt Nam chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, mà mới chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng, không thành hệ thống lý luận và chỉ biểu hiện ở phát ngôn, hành động của một số người. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam dù chưa điển hình và chưa trở thành trào lưu chi phối đời sống chính trị - xã hội, nhưng đã xuất hiện nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực. Mức độ và phạm vi ảnh hưởng tiêu cực của các quan điểm, tư tưởng và hành động của chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ tăng lên trong đời sống xã hội, có khả năng lan rộng và thấm sâu - trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ cơ hội, mị dân lợi dụng - nên rất cần nhận diện và đấu tranh phòng ngừa, xử lý kịp thời, có hiệu quả.

Từ thực tế, phải chăng, có thể thấy những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau: 

Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy. Một số phần tử phản động và cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “tầm thường hóa” lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ xúy mọi người chỉ theo đuôi thực tiễn, xem thường lý luận, làm cho mọi người không quan tâm và mất niềm tin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước.

Thứ hai, những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,... thể hiện dưới dạng những thủ đoạn và nội dung như sau: 1- Có những phát ngôn và hành động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (đòi tự do, dân chủ không giới hạn, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa,...); 2- Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, âm mưu đẩy đất nước vào bất ổn, phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước; 3- Lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để đưa ra những đòi hỏi phi lý, những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng chính sách, pháp luật, thiếu tính khả thi, xa rời thực tế; tranh thủ dư luận xã hội với dụng ý xấu, động cơ không lành mạnh, từ đó gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ; 4- Lợi dụng tình hình đời sống và sản xuất còn có khó khăn, yếu kém để kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; 5- Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để bịa đặt, tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận xã hội; lợi dụng, thổi phồng những khó khăn, hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử. Lập các trang điện tử để đăng tin, bài với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt, phản ánh sai lệch tình hình đất nước; công kích, làm mất uy tín của cán bộ lãnh đạo, kích động tâm lý bất mãn, phản đối; 6- Có những lời nói, việc làm “tạo tiếng vang”, sáo rỗng, không thực tế, thiếu trách nhiệm, lấy lòng đám đông, tạo cảm xúc, lợi dụng, kích động phản ứng của người dân trước những vấn đề bức xúc nhất định của xã hội với những dụng ý, động cơ thiếu trong sáng và vì lợi ích riêng; tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn, dao động trên một số diễn đàn và nhất là trên các trang mạng xã hội; kêu gọi biểu tình, cổ vũ tụ tập đông người với những “khẩu hiệu” “bất tuân dân sự” gây sốc, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “lấy lòng quần chúng” để giành chức quyền, mưu lợi ích riêng; bám giữ “tư duy tiểu nông”, “tiểu tư sản” trong một số trí thức và người dân, gây bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ; hô hào những người còn ngộ nhận, tự phát, bất mãn, vi phạm pháp luật, làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền; hứa suông, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, nói một đường, làm một nẻo; cơ hội, lợi dụng, tranh thủ phiếu bầu của những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thoái hóa, biến chất; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương; đưa ra những tuyên bố “gây sốc” trong cộng đồng nhằm mị dân, lấy lòng đám đông trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, đề cao những lợi ích trước mắt của một bộ phận nhân dân; nhân danh “mối quan hệ trực tiếp với nhân dân”, “ý muốn của số đông”, “đại diện cho nhân dân”, hướng hành động của người dân vào việc làm phức tạp thêm những hạn chế, bất cập của chính quyền, kích động họ có những hành động tự phát, tức thời chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, xã hội và thiệt hại cho đất nước; tác động vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào, lôi kéo, tranh thủ dư luận và đông đảo người dân; lợi dụng niềm tin của người dân để phục vụ mục đích cá nhân.

Nguyên nhân làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay là do: Một là, ảnh hưởng của những nhân tố quốc tế, như mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, thông tin mạng toàn cầu; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng nhanh, thông tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ, không rõ, không kịp nhiều vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin giả chi phối, dẫn dắt; sự lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc và chống phá, can thiệp của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Hai là, ảnh hưởng của những nhân tố trong nước, như những hạn chế, khó khăn trong phát triển đất nước; sự gia tăng tình trạng phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội; sự suy thoái, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tình trạng “lợi ích nhóm”, vi phạm dân chủ, thái độ thờ ơ, vô cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước những khó khăn của người dân; sự thiếu công khai, minh bạch trong quản lý của một số tổ chức chính quyền... Ba là, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin chưa thật sự đầy đủ, chính xác và kịp thời, trong khi trình độ văn hóa, pháp luật và trình độ dân trí nói chung trong xã hội chưa cao, nhận thức của người dân vẫn còn những hạn chế, nhất là chưa phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy.

Nếu không đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay thì hậu quả của nó sẽ vô cùng nguy hiểm: Làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân; gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với các đối tác. 

Để phòng ngừa và ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, đồng thời chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nó. Theo đó, cần: 

Thứ nhất, đẩy mạnh việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức biểu hiện, tác hại và nguyên nhân phát sinh, phát triển của chủ nghĩa dân túy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận biết được những nguy cơ, biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa dân túy; kịp thời nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam; định hướng thông tin đúng đắn trên báo chí, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực, liên tục nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. 

Thứ hai, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, toàn tâm, toàn lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”, “việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. 

Thứ ba, kiên định phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông.

Thứ tư, phát hiện, xử lý và khắc phục kịp thời những biểu hiện và hậu quả của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam./.

NTTst

NHẬN ĐỊNH MỚI NHẤT CỦA BỘ Y TẾ VỀ TÌNH HÌNH COVID-19

 Trước bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước có xu hướng tăng từ đầu tháng 4 đến nay, số mắc trong 7 ngày qua tăng 3,8 lần so với trước đó, chiều 13-4, Bộ Y tế đã có những trao đổi xung quanh công tác phòng, chống dịch.

Theo GS, TS Phan Trọng Lân, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, việc đánh giá tình hình dịch Covid-19 sẽ dựa trên 3 yếu tố. Thứ nhất, là virus SARS-CoV-2. Đến thời điểm này, biến thể phụ Omicron đã xuất hiện được 16 tháng với hơn 500 biến thể phụ khác nhau. Biến thể này hiện đang lưu hành hầu hết các nơi trên thế giới và đang chiếm ưu thế.
Các chuyên gia nhận thấy đây là biến thể có đặc tính lây lan nhanh, nhưng chưa có bằng chứng rõ ràng về tăng ca nặng. Những nơi có tăng ca nặng là do số mắc tăng tương ứng. Một điểm cần lưu ý là đặc tính hiệu quả của vaccine trong phòng lây nhiễm với biến thể Omicron còn hạn chế, tuy nhiên khả năng phòng chuyển nặng, nhập viện, tử vong thì hiệu quả.
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá những người đã tiêm chủng vaccine phòng Covid-19, đã mắc, hầu hết đều có miễn dịch – do vaccine hoặc do mắc phải. "Chính yếu tố này làm các trường hợp khi mắc phải có biểu hiện nhẹ hơn, ít hơn hoặc không có triệu chứng", GS,TS Phan Trọng Lân thông tin.
Mặc dù hiện nay tỷ lệ nặng, mắc không có sự gia tăng đáng kể, kể cả đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng cũng lưu ý, các đối tượng như người lớn tuổi, người có bệnh nền, người suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai dễ chuyển biến nặng và có nguy cơ tử vong khi mắc Covid-19. Do đó cần tuân thủ việc tiêm vaccine phòng Covid-19 đúng lịch, đủ liều theo các hướng dẫn, khuyến cáo của Bộ Y tế.
Thứ hai, là môi trường sống, hành vi của người dân. Biến thể Omicron có đặc điểm lây lan nhanh. Hiện nay hầu hết các nước đã mở cửa, nới lỏng toàn bộ các biện pháp phòng chống dịch kể cả ở những nước có sự lây nhiễm cao. Cùng đó việc giao lưu đi lại sau 3 năm đại dịch gia tăng rất lớn, thậm chí ngay trong nước cũng làm gia tăng sự giao tiếp. Những sự giao lưu này đã tạo điều kiện cho virus lây lan sang đối tượng khác.
Thời gian qua hoạt động phòng, chống dịch của chúng ta đạt hiệu quả nhờ đẩy mạnh tiêm vaccine. Vì thế, người dân có tâm lý chủ quan với biện pháp phòng, chống dịch như đeo khẩu trang, khử khuẩn, chính điều này làm gia tăng sự lây nhiễm. Trên thực tế, hiện nay tại nước ta số mắc tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc – nơi đang có sự giao mùa. Thống kê hiện nay là đã tăng khoảng gần 4 lần với tuần trước đó.
Bên cạnh đó, thời tiết hiện nay thuận lợi cho sự phát triển của virus, ý thức của con người, đặc biệt là việc đeo khẩu trang tại nơi công cộng, cơ sở khám chữa bệnh có lúc có nơi chưa đảm bảo.
Thứ ba, về biện pháp đáp ứng, vũ khí hiệu quả của Việt Nam mở sớm từ tháng 3-2022 là do chúng ta đã bao phủ vaccine phòng, chống dịch Covid-19 rất sớm. Với liều cơ bản, chúng ta bảo phủ gần như 100% cho đối tượng từ 12 tuổi trở lên, mũi 3, 4 cũng đạt tỷ lệ cao 80-90%, việc tiêm cho trẻ từ 5 đến - dưới 12 tuổi mũi 1 cũng lên đến 90%, mũi 2 là gần 70%. Tuy nhiên có nơi, có chỗ tỷ lệ tiêm chưa đạt như mong muốn, đặc biệt ở đối tượng nguy cơ cao
"Đánh giá chung tình hình thì số mắc Covid-19 trong thời gian tới có thể có sự gia tăng. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang ở cấp độ dịch 1- tất cả đều màu xanh. Cấp độ này không chỉ đánh giá trên số mắc mà còn dựa trên ca nặng, độ bao phủ vaccine và đáp ứng đảm bảo thu dung điều trị", GS, TS Phan Trọng Lân cho biết.
GS, TS Phan Trọng Lân cũng cho rằng trong bối cảnh hiện nay, cần theo dõi sát các số liệu. Các tỉnh, thành phố đẩy mạnh tăng cường rà soát cấp độ dịch, công bố thông tin để người dân biết và phòng chống, tránh sự hoang mang cũng như chủ quan của người dân. Cấp độ dịch này có ý nghĩa, ở cấp xã, phường, phát hiện sớm nhất, khoanh vùng hiệu quả nhất, xử lý dịch tại nguồn để không ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, xã hội.
Bản tin phòng chống dịch Covid-19 ngày 13-4 của Bộ Y tế cho biết, số ca mắc Covid-19 hôm nay là 497 ca. Đây là số mắc cao nhất trong khoảng 4 tháng qua ở nước ta. Trong ngày có 37 bệnh nhân khỏi, 8 ca đang thở oxy. Kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có 11.528.800 ca nhiễm, đứng thứ 13/230 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 121/230 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 116.507 ca nhiễm)./.
ST


BẢO VỆ CÁN BỘ NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO

 Thể chế hóa Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, Bộ Nội vụ đã xây dựng và đang lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Theo Bộ Nội vụ, trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cần có những cơ chế, chính sách mới để tạo niềm tin, khát vọng, ý chí phấn đấu vượt khó, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ. Vấn đề cần kíp hiện nay là phải làm sao để chủ trương quan trọng của Đảng sớm đi vào thực tiễn, trở hành động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy phát triển đất nước.
Đồng thời, quy định trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền trong việc tạo lập môi trường chính trị, xã hội để khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo và bảo vệ đội ngũ cán bộ này khi họ gặp rủi ro do những yếu tố khách quan, chủ quan.
Thực tế, trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có một bộ phận cán bộ có tư tưởng vo tròn, sợ sai, nhụt trí, giữ mình an toàn nên chần chừ, ngại đổi mới, sáng tạo. Đơn cử, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công rất thấp tại nhiều bộ, ngành, địa phương thời gian qua có một phần nguyên nhân nhiều cán bộ, lãnh đạo e ngại sợ làm sai, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.
Những năm qua, Nhà nước ta đã xác định thúc đẩy thể chế để đổi mới, sáng tạo là một trong những nội dung cốt lõi trong đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế để phát triển. Dù vậy, việc phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung của cán bộ vẫn còn hạn chế nhất định.
Thực tiễn lãnh đạo, quản lý, điều hành công việc của không ít cán bộ còn nhiều vướng mắc do một số quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chưa hoàn thiện, thậm chí nhiều quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính thống nhất, đồng bộ hoặc không còn phù hợp với thực tiễn. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được quy định dễ gây rủi ro, sai sót hoặc dễ bị lợi dụng để làm trái trong quá trình triển khai thực hiện. Trong khi đó, thiếu cơ chế để bảo vệ cán bộ trong những trường hợp quyết định sáng tạo, đột phá có sai sót.
Điều này khiến cho cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng còn chưa phát huy được hết năng lực, tinh thần đổi mới, sáng tạo, thậm chí chùn bước, không dám làm vì sợ sai, sợ bị xem xét trách nhiệm hoặc xử lý kỷ luật khi có hạn chế, thiếu sót. Không ít cán bộ chỉ căn cứ vào các quy định pháp luật để làm, không dám sáng tạo nghĩ ra kế sách, quyết sách có lợi cho nước, cho dân. Nhiều cán bộ có tư duy mới, dám đột phá nhưng không được khuyến khích, bảo vệ do ranh giới giữa “đúng” và “sai” chưa được minh định.
Do đó, việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách để khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm có thể coi là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Dư luận đánh giá cao dự thảo Nghị định quy định rõ nguyên tắc, điều kiện, trình tự thực hiện và cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Trong đó, cán bộ có ý tưởng, cách làm mới tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt và những vấn đề chưa có quy định thì được khuyến khích và bảo vệ nhưng phải bảo đảm không trái Hiến pháp, Điều lệ Đảng.
Đặc biệt, dự thảo Nghị định quy định cụ thể một số trường hợp cán bộ thực hiện đề xuất đã được cấp có thẩm quyền quyết định cho thực hiện nhưng không đạt, hoặc chỉ đạt một phần mục tiêu, hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì được miễn xử lý trách nhiệm kỷ luật Đảng và xử lý trách nhiệm trước pháp luật...
Thiết nghĩ, Nghị định khi đi vào cuộc sống sẽ góp phần hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ; quản lý cán bộ, công chức, tạo cơ sở phát huy sức mạnh trong đội ngũ cán bộ giàu năng lực, có phẩm chất lâu nay chưa được kích hoạt./.
ST


Facebooker Nguyễn Thị Bích Thủy bị phạt 8 năm tù



Theo HĐXX, thông tin bị cáo Nguyễn Thị Bích Thủy đưa ra không đúng sự thật, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 300 triệu đồng.


Ngày 11/4, TAND huyện Bình Chánh, TP.HCM, tuyên Nguyễn Thị Bích Thủy (42 tuổi, còn gọi là Bích Thủy TV) 8 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, tòa buộc bị cáo bồi thường số tiền 300 triệu đồng do số tiền này sử dụng mục đích trái pháp luật, sau khi bồi thường sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.


HĐXX nhận định bị cáo Thủy đã dùng thủ đoạn gian dối, nói mình có mối quan hệ với ông Phạm Hữu Quốc (giám đốc Bệnh viện Quận Gò Vấp) có thể lo đấu thầu bãi giữ xe. Tuy nhiên, qua xác minh, bãi giữ xe của Bệnh viện Quận Gò Vấp do một công ty trúng thầu và thực hiện từ ngày 28/11/2016 đến nay.


Theo lời khai của ông Quốc, Bệnh viện Quận Gò Vấp cũng không có chủ trương xây dựng khu phức hợp trên tầng thượng hay đấu thầu bãi giữ xe.


Theo HĐXX, thông tin bị cáo Thủy đưa ra không đúng sự thật, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 300 triệu đồng. Hành vi của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ như lời khai bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.


Quá trình công tác bị cáo Thủy có bằng khen, giấy khen, nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Liên quan việc đưa số tiền 300 triệu đồng của các cá nhân để tác động người có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật, HĐXX kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, làm rõ các cá nhân để xử lý theo quy định.


Theo cáo trạng, bà Trần Thị Loan quen biết Thủy nên khoảng giữa năm 2017, Thủy nói với bà Loan việc Bệnh viện Quận Gò Vấp, TP.HCM, chuẩn bị thay đổi đơn vị quản lý bãi giữ xe, nếu đấu thầu đúng quy định thì hết tiền tỷ. Tuy nhiên, Thủy có "mối quan hệ thân thiết với giám đốc Bệnh viện Quận Gò Vấp", nên ai muốn đấu thầu thì Thủy lo giúp với số tiền 500 triệu đồng.


Do không có khả năng tài chính, bà Loan đã giới thiệu Nguyễn Hà Thu và Nguyễn Văn Tiến cho Thủy. Sau khi đến Bệnh viện Quận Gò Vấp khảo sát, 2 người này đồng ý tham gia đấu thầu và gọi điện nhờ Thủy giúp đỡ với thỏa thuận sẽ đưa trước 300 triệu đồng, sau khi trúng thầu sẽ đưa số tiền còn lại.


Ngày 25/7/2017, khi gặp để đưa số tiền 300 triệu đồng, Thủy tự giới thiệu mình là phóng viên Đài Truyền hình TP.HCM, có quen biết giám đốc Bệnh viện Quận Gò Vấp, nên có khả năng giúp trúng thầu. Lúc này, ông Thu đưa 300 triệu đồng cho Thủy và yêu cầu viết giấy biên nhận với nội dung đúng như thỏa thuận. Đến giữa tháng 8/2017, Thủy trả lời lại không giúp được, nhưng không trả tiền và bỏ trốn.


Tháng 8/2020, ông Tiến phát hiện Thủy đang livestream sự việc tại Bình Dương nên đến địa điểm trên để đòi tiền, nhưng Thủy nói không quen biết và bỏ đi. Sau đó, ông Tiến đến công an phường trình báo vụ việc.


Tại cơ quan công an, Nguyễn Thị Bích Thủy khai được Bệnh viện Quận Gò Vấp nhờ đứng ra hỗ trợ một đội của bệnh viện tham gia gameshow. Nếu gameshow có kết quả tốt, Thủy sẽ được giao dự án khu phức hợp trên tầng thượng của bệnh viện. Cũng theo lời khai của Thủy, bị can đã nhận tiền của ông Nguyễn Hà Thu và Nguyễn Văn Tiến để cùng hợp tác dự án khu phức hợp.


Theo kết quả xác minh của cơ quan công an, Bệnh viện Quận Gò Vấp cho biết những thông tin Thủy đưa ra đều không có thật. Đài Truyền hình TP.HCM cũng trả lời không có phóng viên nào tên Nguyễn Thị Bích Thủy đang công tác tại cơ quan này./.

PBVN ST 

MỘT GIA ĐÌNH DANH GIÁ, HIẾU HỌC ĐÓ LÀ TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH HỌ CHỨ KHÔNG PHẢI PHẢN CÓ CON CHÁU QUỐC LÀ ĐƯỢC MIỄN TRỪ!

     Một GĐ danh giá, hiếu học & thành công, có nhiều người đỗ đạt, có học hàm, học vị, điều này rất đáng tự hào cho những người trong gđ đó!

Cá nhân tôi cũng không phủ nhận họ là những người tài giỏi, thành danh.

Nhưng mọi người đừng "gà mờ", ngộ nhận bảo Đất Nước này phải mang ơn họ thì thật là nực cười và hết sức tầm bậy.

Mọi người hãy hiểu một điều: Những năm khói lửa hào hùng của Dân tộc đã có hàng vạn sinh viên ưu tú của nhiều trường Đại học tình nguyện xếp bút nghiên lên đường vào Nam chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ Quốc. Trong số sinh viên năm ấy có nhiều người ngã xuống như Liệt sỹ BS Đặng Thuỳ Trâm, Liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc.., & có những người trở về từ chiến trường sau giải phóng tiếp tục con đường học vấn đỗ đạt thành tài như GS Nguyễn Cảnh Toàn…và rất rất nhiều người khác.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy có biết bao người con ưu tú của Tổ Quốc đã ngã xuống ngoài chiến trường để cho họ được học hành đỗ đạt, chính gia đình danh giá kia mới phải mang ơn cha anh chúng ta đã hy sinh xương máu để họ bình yên học hành để phục vụ lợi ích cho chính bản thân họ, họ đã hưởng quá nhiều đặc ân của Đảng & NN Việt Nam chứ không phải ai khác.

Tôi cứ tự hỏi: 
- Nếu ngày đó ai cũng viện lý do học hành như họ thì ai sẽ chiến đấu bảo vệ Đất Nước này ?
 - Nếu ai cũng mang học hàm, học vị để cho oai, để chém gió cho to thì Đất Nước này sẽ ra sao hay chẳng còn tên trên bản đồ Thế giới ?

Mọi người có thể không để ý những dấu hiệu lạ về họ nên không biết họ từng chém gió oang oang trên nghị trường để phê phán, thổi phồng những cái sai, cái bất cập của CQ và xã hội nhưng họ câm lặng trước hành vi phản bội Tổ Quốc, xuyên tạc Chính quyền, bỉ bôi LĐ, mỉa mai ĐCS & đáng nguyền rủa nhất là họ câm lặng trước hành vi phỉ báng Chủ tịch Hồ Chí Minh của con cháu họ.

Đến nay khi con cháu họ phải trả giá cho tội danh tuyên truyền chống Nhà nước VN thì họ viết thư kêu oan, họ bảo con cái họ vô tội, trong thư họ viết con họ đấu tranh vì chính nghĩa, và họ không quên kể công gđ họ đỗ đạt nọ kia...
- Chính nghĩa của họ là xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh ?
- Chính nghĩa của họ là xuyên tạc ĐCS và Chính quyền nhân dân?

Tôi phỉ nhổ vào công trạng của đám công thần, tự xưng này & cả những suy nghĩ của họ, họ chỉ là một lũ khôn lỏi, vô ơn mà thôi.

Gia đình họ có ai là Đảng viên ĐCSVN ?
Họ hưởng bổng lộc từ chế độ này, từ Đất Nước này nhưng đã bao giờ họ coi trọng & bảo vệ ĐCS, bảo vệ chế độ này?
Yêu nước ST.

Không thể phủ nhận thành quả và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám 1945

Bất chấp mọi luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động, thì thành quả của Cách mạng Tháng Tám vẫn được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bảo vệ vững chắc; những giá trị bất diệt, những bài học kinh nghiệm quý báu vẫn được phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong vòng 15 ngày (từ 14/8 đến 28/8/1945), trong đó thắng lợi ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8) có ý nghĩa quyết định. Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi to lớn đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, thời đại mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội(1) và thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với tầm vóc, ý nghĩa như vậy, mỗi dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tưởng nhớ, tri ân lớp lớp những người đã hiến dâng tuổi trẻ, sức lực, trí tuệ, tính mạng của mình để làm nên nền độc lập của dân tộc và giang sơn gấm vóc này. Đồng thời, là dịp để chúng ta nhắc nhớ, nhìn nhận sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay. Thế nhưng, “đến hẹn lại lên”, vào dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 thiêng liêng của dân tộc ta thì các thế lực phản động, thù địch với tâm địa đen tối, bằng những thủ đoạn thâm độc, nham hiểm vẫn ra sức xuyên tạc, phủ định thành quả và tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám. NHỮNG LUẬN ĐIỆU NHAM HIỂM, CŨ RÍCH Các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn chính trị vẫn “nhai đi nhai lại” những luận điệu cũ rích, rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là “sự ăn may”. Rằng, Việt Minh đã nhanh tay cướp lấy thành quả của Đồng minh chống phát xít, khi quân đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Luận điệu khác thì cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là do tinh thần dân tộc lãnh đạo, dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tốn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra. Hay có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng: thành quả Cách mạng Tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu; nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh(!)... Những luận điệu nham hiểm, cũ mòn nêu trên không chỉ là của các thế lực tư bản đế quốc lái súng, thù địch mà còn của các phần tử phản động, cơ hội chính trị, suy thoái ở trong nước mặc dù đã thụ hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Tám trong mấy chục năm qua nhưng lại phản bội, “đổi trắng thay đen”… Mục đích của họ là phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi, chia rẽ trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn trở hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng, hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa… Do vậy, tuy những luận điệu cũ rích ấy không thể đánh lừa những người nghiêm túc, tỉnh táo, am hiểu lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan nhưng cũng cần nâng cao cảnh giác, bởi trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và mạng xã hội phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp - dân tộc về tư tưởng - văn hóa vẫn diễn ra rất phức tạp, quyết liệt trên phạm vi quốc tế và các thế lực thù địch, phản động vẫn không từ bỏ chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá độc lập dân tộc và CNXH trên thế giới và ở Việt Nam. THÀNH QUẢ VĨ ĐẠI TỪ ĐẤU TRANH CỦA TOÀN DÂN TỘC DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO Lịch sử đã khẳng định, để làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm và tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc”, đã nhất tề vùng lên, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ ách thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong điều kiện thời cơ “nghìn năm có một”, tuy nhiên, thời cơ đó chỉ được tận dụng và đạt thành quả với sự chuẩn bị chủ động, lâu dài, kỹ lưỡng cả thế và lực lượng cách mạng của Đảng. Thành quả cách mạng vĩ đại này không chỉ là kết quả của 15 ngày tổng khởi nghĩa, không chỉ là kết quả của sự nghiệp cách mạng trong 15 năm (1930-1945) qua cao trào 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 (trong đó, gần như ngay từ đầu, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chủ động cùng với lực lượng đồng minh chống phát xít), mà còn là kết quả của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong gần một thế kỷ của nhân dân ta. Do đó, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự tổ chức lãnh đạo bài bản, khoa học, sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không phải là sự “ăn may” hay “cướp công” như các thế lực thù địch, phản động đã cố tình xuyên tạc, bóp méo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân, đó là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, sáng tạo trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định (chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh…); là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; là tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, kể cả sự huy động kết tinh truyền thống anh hùng, trí tuệ, bất khuất của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước..., trong đó nguyên nhân quan trọng, tiên quyết là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo mục tiêu, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ MUÔN ĐỜI Sử gia người Na Uy S.Tonesson đánh giá: “Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế”(2). Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên làm chủ cuộc đời mới, kỷ nguyên nhân dân được tự do, đất nước được độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám đã thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, các nước Phi, Mỹ La tinh, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc để giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột. Đúng như nhà sử học Mông Cổ, TS Sanomish Dashtsevel đánh giá: “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tổng công trình sư và là linh hồn của Cách mạng Tháng Tám đã khái quát và nhấn mạnh rằng: “Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày Cách mạng Tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô... Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp năm châu, bốn biển”(4). Do đó, Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng, lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(5). Với tiền đề, nền tảng của Cách mạng Tháng Tám cũng như những bài học kinh nghiệm quý báu từ cuộc cách mạng vĩ đại này, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc đoàn kết một lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi khó khăn gian khổ và tiếp tục giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thu giang sơn về một mối, đưa cả nước thống nhất quá độ lên CNXH. Đó là thắng lợi trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, dưới sự lãnh đạo đạo của Đảng, tiếp tục phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước ta đã đạt được những thành quả to lớn có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Theo đó, từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, tiến bộ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; tiềm lực của đất nước, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng nâng cao... Những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được cho thấy và khẳng định rằng, bất chấp mọi sự xuyên tạc, phủ nhận bằng nhiều thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động cả ở trong và ngoài nước, thì thành quả của Cách mạng Tháng Tám vẫn được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bảo vệ vững chắc và những giá trị bất diệt, những bài học kinh nghiệm quý báu của cuộc cách mạng này vẫn đồng hành, soi sáng và được vận dụng, phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước. “Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng sống động, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả và tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại./.

Đừng để thông tin chính thống... đi sau

Nếu không kịp thời cung cấp thông tin chính thống, chủ động định hướng dư luận thì sự nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng và đời sống xã hội sẽ mang đến nhiều hệ lụy khó lường. Thế nhưng, làm gì để minh bạch thông tin chính thống? Làm gì để cung cấp thông tin chính thống một cách chủ động, kịp thời, hiệu quả?... là những câu hỏi khó, cần sớm có lời giải và quyết liệt thực hiện. Sự “gà mờ” thông tin và hệ lụy Gần đây, một số ý kiến cho rằng “lẽ nào lực lượng thù địch đã cài cắm vào nội bộ ta?”; vì sao bọn phản động lại nắm được một số thông tin “thâm cung, bí sử” khi người dân vẫn chưa biết, chưa tỏ. Kẻ thù đã tiến hành những thủ đoạn gì để “đi guốc” trong lòng tổ chức?... Hàng loạt hoài nghi như thế xem ra cũng có tính hợp lý theo một phương diện nào đó. Bởi lẽ, sau nhiều thông tin mà thế lực thù địch tung ra trước đó, thì lại xuất hiện trong đời sống chính trị đất nước. Xin khẳng định ngay rằng: Thực chất đây là những thông tin với hàm ý xấu. Có nghĩa, trong hàng nghìn, hàng triệu thông tin nhiễu loạn trên không gian mạng thì cũng có một số thông tin đoán mò và đúng. Vấn đề đáng bàn là chính cán bộ, đảng viên, quần chúng chưa cập nhật đầy đủ thông tin, chưa nhận rõ hình hài chiêu trò mà kẻ thù ngụy tạo, rồi sinh ra sự tin tưởng mù quáng. Sự thật là, khi tung tin thất thiệt, các lực lượng chống phá chủ ý vứt bừa lên không gian mạng với vô số phương án, câu chuyện vô căn cứ; chúng cố tình nhào nặn, giả định theo nhiều chiều hoặc đối ngược, hòng trông đợi: Nếu thông tin này không đúng thì có thông tin khác mang dáng vẻ của sự thuyết phục, rồi từ đó cấy ghép thêm tin giả, chi tiết bịa đặt nhằm chèo lái, gây nhiễu loạn dư luận. Ví như, vấn đề nhân sự của một cơ quan nào đó, phương án quy hoạch rõ mười mươi là một vài nhân sự cụ thể. Rõ là như thế nên chúng bịa ra nhiều tin đồn khác nhau: Tin thì đồng chí A sẽ nhậm chức, tin khác lại cho rằng đồng chí B sẽ xoắn ghế, tin khác nữa là đồng chí C được nâng đỡ, đấu đá nên ắt thành công... Cuối cùng, thể nào cũng có một tin được cho là đúng, hòng mục đích mị dân, bôi nhọ, chia rẽ đoàn kết nội bộ tổ chức. Trong khi, dưới góc độ khoa học tâm lý, người được tiếp nhận thông tin, khi cảm thấy có cái đúng thì thường ghi nhớ khá bền vững, tưởng rằng đó là thông tin thuyết phục, có tính xây dựng, rồi hồn nhiên cổ xúy, ủng hộ. Phần đông các đối tượng tiếp nhận thông tin không hề biết, hoặc quên đi hàng loạt thông tin sai lệch, bịa đặt, quy chụp do những kẻ hiềm khích chủ ý tạo dựng nên. Nói như vậy để thấy, hệ lụy tiếp nhận thông tin theo kiểu không thể phân biệt thật-giả, đúng-sai là do chính cán bộ và quần chúng vô tình phạm phải. Nếu mỗi người thật sự có lập trường chính trị vững vàng, có niềm tin vào cái đúng tất yếu, thì đương nhiên mọi thông tin được cấy ghép dù tinh vi cũng sẽ bị miễn trừ bởi tính mục đích xấu xa của nó. Và rồi, sẽ không còn nữa hiện tượng a dua, likes, share, comment thể hiện chính kiến một cách "gà mờ", dại dột... Viện dẫn như vậy để khẳng định: Rõ ràng, nguyên nhân của hiện tượng "gà mờ" thông tin trước hết thuộc về phía chủ quan-đối tượng tiếp nhận. Thế nhưng, nguyên nhân khách quan là bởi việc cung cấp, định hướng thông tin chính thống của các cơ quan chức năng vẫn còn không ít vấn đề đáng bàn; nhất là việc chậm trễ trong cung cấp thông tin hoặc cố tình giấu giếm thông tin chính thống. Ví như, một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nảy sinh điểm nóng trên không gian mạng và hình thành đám đông quấy rối trật tự xã hội ở tỉnh Bình Thuận và một số địa phương trong năm 2018 là bởi người dân chưa có đầy đủ thông tin chính thống; chưa được định hướng từ sớm và rõ ràng về vị trí, ý nghĩa, tinh thần, nội dung và tính đúng đắn của Dự luật đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt và Dự luật An ninh mạng được Quốc hội bàn thảo vào thời điểm đó. Thực tế đó vô hình trung đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo sự thật, gây hoang mang trong cộng đồng. Kết quả khảo sát đối với đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín trên địa bàn Bình Thuận cho thấy: Vì không được thông tin kịp thời về hai dự luật nên khi trong dư luận bắt đầu có những biểu hiện tâm lý tò mò, muốn tìm hiểu về các dự luật thì cán bộ và những người có thẩm quyền không biết cách giải thích, giải quyết một cách thỏa đáng, thuyết phục. Cộng thêm những phát ngôn thiếu nhãn quan chính trị, thiếu tinh thần xây dựng của một vài cá nhân cực đoan; sự kích động, chống phá... đã khởi tạo nên dư luận xã hội tiêu cực. Bài học sâu sắc này đã được các cơ quan Trung ương nghiêm túc rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi đến các địa phương. Có nghĩa, khi đề ra chủ trương, chính sách lớn, những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến lợi ích người dân... thì công tác chuẩn bị phải hết sức kỹ lưỡng, khoa học; trong đó, nhất thiết phải xây dựng kế hoạch cho việc chủ động công khai thông tin minh bạch, chính thống về vấn đề được đề cập. Như vậy, chính việc không cung cấp hoặc chưa cung cấp kịp thời thông tin chính thống đã dẫn đến tình trạng "gà mờ" thông tin ở một bộ phận cán bộ, quần chúng. Chẳng hạn, cách đây hơn 6 năm, Hà Nội triển khai việc đánh chuyển, di dời, chặt hạ hơn 1.300 cây xanh hai bên đường Phạm Văn Đồng phục vụ dự án mở rộng đường Vành đai 3 đoạn Mai Dịch-cầu Thăng Long. Đây là chủ trương đúng, vì lợi ích chung, vậy mà chính sự thiếu thốn thông tin chính thống đã khiến một bộ phận cán bộ, quần chúng đặt điều, nghi hoặc, khiến cho dư luận một phen dậy sóng? Rồi còn nữa là hàng loạt vấn đề, sự việc dù lớn hay nhỏ, dù trong nước hay ngoài nước, nhưng do thiếu thông tin chính thống là một nguyên nhân gây nên nhiều biểu hiện tâm lý cộng đồng có tính chất cực đoan; ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và phần nào bào mòn niềm tin của quần chúng. Cùng với đó là những tổn thất về mặt kinh tế, gây mất trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị; ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và đội ngũ cán bộ. Dùng chính thống “khắc chế” nhiễu loạn Tất nhiên, giữa biển thông tin nhiễu loạn trong điều kiện xã hội số như hiện nay, việc dẫn dắt, định hướng thông tin dư luận xã hội là vấn đề không hề đơn giản. Bởi thông tin đúng-sai, thật-giả có giới hạn rất mỏng manh, thậm chí là dễ trà trộn, khó đối chứng, kiểm định. Có thông tin đúng lại bị dư luận nghi hoặc, nhưng cũng có thông tin sai lại được cộng đồng tiếp nhận, bày tỏ sự ủng hộ, đồng thuận. Trong thời gian qua, báo chí cách mạng dù khẳng định tốt chức năng, nhiệm vụ, hoạt động tích cực, có nhiều sáng tạo, đổi mới trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, nhưng chưa thể bắt kịp với tốc độ lan truyền thông tin trên không gian mạng. Nói cách khác, thông tin báo chí dù đúng đắn, chính thống là một dòng chảy thông tin chủ lực nhưng trong tổng thể các trào lưu, xu hướng thông tin đa chiều, khổng lồ, rộng khắp, nhiều khi lại chưa thật sự hấp dẫn. Do vậy, phát huy vai trò báo chí là một phương thức-một kênh quan trọng tham gia vào việc cung cấp, định hướng thông tin, cần phải đạt được mục tiêu dẫn dắt, định hướng cho nhận thức và hành động của toàn xã hội. Theo nhiều chuyên gia xã hội học, vấn đề cốt tử ở đây nằm ở phía cơ quan chức năng có trách nhiệm phát ngôn và định hướng dư luận. Nghĩa rằng, những vấn đề nhạy cảm, thiết yếu, liên quan đến quốc kế, dân sinh, lợi ích cộng đồng, vấn đề xã hội quan tâm... thì rất cần phải có những phát ngôn chủ động, kịp thời, đúng lúc, minh bạch cung cấp thông tin chính thống cho nhân dân. Cùng với đó, khi xuất hiện nhiều luồng thông tin khác nhau, nảy nở tin đồn, hình thành dư luận tiêu cực thì những phát ngôn chính thống sẽ có sức mạnh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng nhiễu loạn thông tin. Ví như, dư luận bàn về tình trạng sức khỏe của một cán bộ cấp cao đang lâm trọng bệnh, thì cơ quan thẩm quyền cần sớm công khai rõ ràng, đúng đắn về sự việc ấy. Một khi có thông tin đúng, kịp thời, công khai rộng rãi thì sự hoài nghi sẽ bị khắc chế, không để kéo dài phức tạp. Hay như những tin đồn về việc cán bộ này, quan chức nọ rơi vào tiêu cực, nhũng nhiễu dân... thì cơ quan chức năng sẽ dập tắt được tin đồn khi và chỉ khi chủ động, thẳng thắn công khai thông tin về cán bộ ấy một cách thuyết phục. Thực tế cho thấy, sở dĩ ở nhiều thời điểm, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương việc phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống chưa được tiến hành kịp thời là bởi, những người phát ngôn ở các cơ quan công quyền hiện nay đều là kiêm nhiệm; chưa có bộ phận phát ngôn chuyên nghiệp. Thậm chí, trước nhiều thông tin, sự kiện, sự việc khác nhau, ai cũng có thể phát ngôn-cung cấp thông tin một cách tự phát. Có khi, việc phát ngôn còn nặng cảm tính, thiếu nhãn quan chính trị, thiếu độ chính xác hoặc bị mâu thuẫn với nhau... càng khiến thông tin rối ren, nhiễu loạn. Trong khi, kỹ năng của những người có trách nhiệm phát ngôn vẫn còn nhiều mặt hạn chế; khả năng và điều kiện thu thập, tổng hợp thông tin chưa đầy đủ, nắm bắt vấn đề chưa chắc chắn... dẫn đến thông tin dễ bị hiểu nhầm. Hơn thế, một số tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phát ngôn, nhưng do nhiều nguyên nhân lại sinh ra biểu hiện “sợ chết vì cái miệng” nên chọn cách “im lặng là vàng”. Lại có nơi, vì một vài sai phạm nội bộ nên cố tình lấp liếm, giấu giếm khuyết điểm, không dám thẳng thừng phát ngôn, cung cấp thông tin chính xác đến với công chúng, dư luận... Sự im lặng không phải là phương cách hữu hiệu để xoa dịu dư luận mà ngược lại, điều đó còn nhen nhóm mầm mống cho sự nảy sinh tin đồn thất thiệt, suy diễn dẫn đến khó kiểm soát tâm trạng xã hội. Đến khi, ngọn lửa tiêu cực đã bùng cháy, dư luận rơi vào trạng thái bức xúc, thì giới chức năng mới hớt hải đi tháo gỡ, giải quyết theo kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Vấn đề đặt ra là phải trao quyền và gắn trách nhiệm đối với những người có trách nhiệm phát ngôn ở mỗi cơ quan. Phần việc này sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta xây dựng được một quy trình phát ngôn có hệ thống, hoạt động chuyên nghiệp, được bồi dưỡng về chuyên môn, có kỹ năng, kinh nghiệm xử lý, ứng phó trước các vấn đề, sự cố thông tin. Nên nhớ rằng: Thông tin chính thống đưa càng chậm, sự thật càng dễ bị xuyên tạc; thông tin chính thống càng lấp liếm, giấu giếm thì thông tin giả, thông tin bịa đặt càng có đất đua nhau nảy nở, làm vấy bẩn dư luận. Vậy nên, việc trước mắt là phải thống nhất nhận thức ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là những người đứng đầu, những người có thẩm quyền phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống. Dù thông tin được công khai có ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tổ chức, sự nghiệp chính trị của một vài cá nhân thì nhất thiết phải sớm cung cấp một cách đầy đủ đến đời sống xã hội. Miễn là thông tin chính thống-miễn đó là đúng sự thật thì dù nội dung có cực đoan, tiêu cực hay xấu xí thì quần chúng cũng sẽ tiếp nhận bằng sự trân trọng, chia sẻ, cảm thông. Bằng không, “cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra” và hậu quả, hệ lụy thì đã được phơi bày ra nhãn tiền. Đó là việc kẻ thù được dịp “đục nước béo cò”, lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng. Đó là việc đời sống tinh thần xã hội gặp những bất an, rủi ro, nảy sinh tiêu cực. Đặc biệt là việc quần chúng sẽ dần mất niềm tin đối với tổ chức đảng, bộ máy cầm quyền và đội ngũ cán bộ... Những hệ quả ấy chắc chắn sẽ rất nguy hại và thật sự đau lòng. Vì vậy, chủ động cung cấp thông tin chính thống là việc cần thiết và cấp thiết.

ĐẨY MẠNH ĐẤU TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG

 

 Trong giai đoạn cách mạng hiện nay đặt ra yêu cầu bảo vệ tổ quốc và nhiệm vụ của quân đội có sự phát triển mới. Bảo vệ tổ quốc gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng bảo vệ không chỉ là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà còn là sự lãnh đạo của Đảng, là chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, là sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là lợi ích quốc gia dân tộc.

Tư duy về bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, xã hội, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân để chủ động đối phó với mọi tình huống, ngăn ngừa chiến tranh, tạo môi trường hoà bình xây dựng đất nước, giữ vững an ninh, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, chuẩn bị sẵn sàng tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc.

Trong giai đoạn cách mạng mới, quân đội không chỉ là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu, mà còn cùng toàn dân chiến đấu trên mặt trận chính trị tư tưởng, kiên định giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cả trước mắt và lâu dài, nội dung của đội quân công tác ngày nay không chỉ là đội quân tuyên truyền vận động chính trị như trước đây mà còn là một đội quân tham gia vào công cuộc động viên và tổ chức toàn dân xây dựng và bảo vệ đất nước trên tất cả các mặt.

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, quân đội là một lực lượng quan trọng góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển các vùng kinh mới, tham gia xoá đói giảm nghèo, những sự phát triển đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi các tổ chức cơ sở đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để có thể hoàn thành được nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

 

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NẦNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

 

Nhận thức đúng đắn về mục đích, yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; vị trí vai trò, các mối quan hệ của từng nhân tố trong cơ chế; tính phù hợp với yêu cầu khách quan của việc thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên hiện nay. Trên cơ sở đó, đề cao trách nhiệm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 51/ NQ-TƯ của Bộ Chính trị, đồng thời đấu tranh kiên quyết với những nhận thức, t­ư tư­ởng, động cơ không đúng, khắc phục những biểu hiện giản đơn, thiếu quan tâm hoặc ngại nghiên cứu, học tập. Như vậy, mới xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tâm và tầm, đủ khả năng chống lại và chiến thắng những chống phá của kẻ thù. Sự phát triển về yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chức năng và nhiệm vụ của quân đội cũng có sự phát triển. Từ hoạt động đấu tranh vũ trang trong chiến tranh, quân đội chuyển sang hoạt động phi vũ trang, chống “diễn biến hoà bình” là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, đồng thời chuẩn bị tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô, cường độ khá nhau, các loại hình chiến tranh khác nhau.

Do vậy, vấn đề chất lư­ợng của cán bộ, có ý nghĩa trực tiếp quyết định và tạo tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện năng lực đáp ứng với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Do đó phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đào tạo theo h­ướng kết hợp tự rèn luyện tự bồi du­ỡng của chính bản thân đội ngũ cán bộ. Bởi vì nếu như­ chúng ta không khuyến khích và phát triên đ­ược việc tự rèn luyện, tự bồi d­ưỡng sẽ không thể có chất lư­ợng và hiệu quả thật.

Phải trên cơ sở không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế và kỷ luật tự giác nghiêm minh của quân đội mà củng cố niềm tin khoa học của quân nhân vào phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta trong giai đoạn mới của cách mạng.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu, để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta; lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần thực hiện tốt các nội dung biện pháp sau:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; cần tập trung chú trọng tuyên truyền Luật An ninh mạng, các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội.

          - Thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận;

          - Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.

          - Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

          - Tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả.

VAI TRÒ NÊU GƯƠNG

 

Tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh về nêu gương thể hiện rất phong phú, sinh động, rộng lớn, cụ thể, thống nhất trong mọi suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm từ nhỏ đến lớn, kết tinh thành những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Những việc lớn liên quan tới vận mệnh lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh nói là làm, làm bằng được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta! Người đã đi xa tròn nửa thế kỷ, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; sự nghiệp cao cả và  vĩ đại của Người để lại cho Đảng ta, đồng bào ta, dân tộc ta, nhân dân ta là vô cùng to lớn, quý giá, mãi mãi trường tồn.

Một trong những giá trị tinh thần, sức mạnh vật chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí và đời sống các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta hiện nay và mai sau là tấm gương sáng về sự nêu gương của Người. Người hy sinh cống hiến trọn cả đời mình cho dân, cho nước, không một chút lo toan, tính toán riêng tư cho cá nhân mình tới tận lúc Người từ biệt thế giới này.

Nói đến sự nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đều có thể nhận thức, học tập ở Người qua những câu chuyện kể về Hồ Chí Minh; qua tìm hiểu lịch sử và quá trình hoạt động của Người; qua nghiên cứu sâu sắc giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người được nâng lên ở tầm cao, chiều sâu tư tưởng, lý luận, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Song tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể khái quát ở những điểm chính sau:

Tấm gương tiền phong gương mẫu, nhận trách nhiệm về mình bất kể mọi gian khổ, nguy nan

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành 21 tuổi chứng kiến cảnh dân tộc, những người đồng bào mình bị bọn thực dân phong kiến áp bức vô cùng tàn bạo, sống quằn quại, đau thương của kiếp người nô lệ, đã tự đặt trách nhiệm cho mình phải ra đi tìm đường cứu nước, mang lại “tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc”.

Trong bối cảnh đất nước đắm chìm đau thương trong vòng nô lệ, với hai bàn tay trắng, người thanh niên ấy tự nhận trách nhiệm về mình, chấp nhận cuộc dấn thân lao vào vòng xoáy bão dông của chủ nghĩa đế quốc đang hoành hành thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân.

Một quyết định lịch sử dám chấp nhận muôn vàn thử thách, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát khao, một niềm tin sắt đá rằng dân tộc mình, Tổ quốc mình nhất định phải được sống độc lập, tự do, hạnh phúc như các dân tộc khác trên thế giới. Có niềm tin, có khát vọng, nhưng Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã là kết tinh ý chí, khí phách, phẩm giá, nhân cách, truyền thống của các dân tộc dám đứng lên, tìm đường, dẫn dắt cả dân tộc tự giải phóng mình.

Suốt hành trình mấy chục năm bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước và cả cuộc đời hoạt động lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tấm gương nêu gương của Hồ Chí Minh đã giúp Người vượt qua muôn vàn thử thách, tù đày, đánh bại những kẻ thù gian ác, hiểm độc, tàn bạo nhất hành tinh. Thực tế sinh động tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học sâu sắc, bài học đầu tiên Người dạy cán bộ, đảng viên, nhân dân ta phải chủ động, tự giác, tiên phong, gương mẫu không ngại khó khăn, gian khổ, dám hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải nêu gương trong mọi công việc từ nhỏ  đến lớn. Người thường nhắc nhở, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Sự nêu gương đi đầu dám nghĩ, dám làm, dám lao vào nơi gian khổ để quần chúng nhân dân tin, noi theo là phẩm chất, nhân cách, khí phách của người cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân, không toan tính, thu vén lợi ích riêng tư, luôn đặt lợi ích chung của nhân dân, đất nước, dân tộc lên trước hết, trên hết. Đó là cơ sở, là điểm xuất phát cho nhận thức dám hy sinh phấn đấu, tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên ở bất cứ thời điểm nào.

CHỐNG PHÁ ĐẢNG VỚI CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG DÂN TỘC, TÔN GIÁO

 

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá có thể gây ra nhiều tình huống khác, như: bạo loạn, xung đột vũ trang, lấn chiếm biên giới. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định: Chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác.

Thường xuyên phải nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; tăng cường công tác đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đập tan âm mưu lợi dụng dân tộc, tôn giáo gây biểu tình, bạo loạn của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng quân địch phát động chiến tranh xâm lược và phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển đảo.

Thực hiện đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng là phải ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thủy lợi, trường học, trạm y tế. Đồng thời, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các điểm nóng, điểm phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược.

Tăng cường các biện pháp, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ dân vận theo quy chế lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân đội. lựa chọn cán bộ có năng lực, tâm huyết, kinh nghiệm là người dân tộc thiểu số tại địa phương làm công tác dân vận. Cần thiết phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ dân vận công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, các địa bàn trọng yếu.

 

DÂN TỘC, TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Trong tình hình hiện nay, đời sống kinh tế văn hóa các vùng miền núi và các vùng dân tộc còn chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng, mức hưởng thụ về văn hóa của đồng bào còn thấp; hệ thống chính trị ở cở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu; trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, cấp ủy, chính quyền và các đoàn thế nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào. Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc, tôn giáo. Do vậy, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thường xuyên phải quan tâm giải quyết đúng mực các vấn đề dân tộc, cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên, lâu dài của cách mạng Việt NamỞ một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật, bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động lôi kéo vào các hoạt động chưa rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc..

Trong thực hiện nhiệm vụ: các hoạt động của Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, quân đội ta có vai trò và trách nhiệm rất quan trọng trong việc tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là trách nhiệm của toàn quân, của các đơn vị và mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là với các đơn vị đóng quân và hoạt động ở vùng đồng bào dân tộc tôn giáo cần phải có nhiều biện pháp phù hợp, hữu hiệu hơn trong tình hình mới.

CHIẾN TRANH THÔNG TIN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG