Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

 CHUYẾN THĂM CUBA CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VIỆT NAM CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG

 Đại sứ Cuba Orlando Hernández Guillén nhấn mạnh, chuyến thăm Cuba của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ Cuba-Việt Nam trên nhiều lĩnh vực

Trong bối cảnh Việt Nam và Cuba chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chuyến thăm lịch sử của lãnh tụ Cuba Fidel Castro đến thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam tại Quảng Trị (9/1973 - 9/2023), Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ sẽ có chuyến thăm chính thức Cuba theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Esteban Lazo Hernándes.

Trả lời phỏng vấn trước thềm chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, từ ngày 18/4 tới đây, Đại sứ Cuba Orlando Nicolás Hernández Guillén khẳng định chuyến thăm có ý nghĩa rất quan trọng, bởi đây là chuyến thăm của một trong những lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam tới Cuba.

Đại sứ Orlando Hernández Guillén nhấn mạnh chuyến thăm sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ Cuba-Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, cũng như tăng cường quan hệ giữa Quốc hội hai nước.

Chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Cuba đang chuẩn bị tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm của lãnh tụ Fidel Castro tới Quảng Trị và kỷ niệm 60 năm thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25/9/1963).

Đại sứ Cuba nhấn mạnh Fidel Castro là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sự xuất hiện của lãnh tụ Fidel Castro tại vùng "đất lửa" Quảng Trị, chỉ ít tháng sau khi Hiệp định hòa bình Paris được ký kết và câu nói bất hủ của Fidel Castro tại Cao điểm 241 Tân Lâm "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình" đã trở thành biểu tượng cho tình đoàn kết anh em gắn bó, hết mực thủy chung của hai dân tộc, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

Đại sứ Orlando Hernández Guillén một lần nữa khẳng định chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ có "tầm quan trọng lịch sử," cùng với sự tham gia của đông đảo đại diện nhiều lĩnh vực tháp tùng trong chuyến đi, sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa hai nước.

Đề cập sự kiện Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ sẽ phát biểu tại Quốc hội Cuba đúng vào ngày 19/4, ngày Chiến thắng Girón (19/4/1961 - 19/4/2023) và cũng là ngày Quốc hội Cuba khóa X sẽ tổ chức kỳ họp đầu tiên sau cuộc tổng tuyển cử diễn ra ngày 26/3 vừa qua, Đại sứ Orlando Hernández Guillén cho rằng đây là một "sự kiện lịch sử" và "vô cùng đặc biệt" vì điều này chỉ có thể xảy ra bởi đó là quan hệ Cuba-Việt Nam và bởi mối quan hệ "vô cùng đặc biệt" giữa hai nước.

Cuba và Việt Nam có mối quan hệ anh em, đoàn kết, luôn ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì phát triển, bảo vệ chủ quyền và độc lập.

Trước đây, Cuba luôn ủng hộ Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiện nay, khi Cuba gặp nhiều khó khăn, Việt Nam cũng luôn giúp đỡ, thể hiện đoàn kết với nhân dân Cuba. Đó chính là những đặc điểm nổi bật của mối quan hệ anh em giữa hai nước, theo Đại sứ Cuba.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba và Đảng Cộng sản Việt Nam, Cuba và Việt Nam, hai nước xã hội chủ nghĩa, cùng theo đuổi mục đích phấn đấu vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân và vì công bằng xã hội, với mô hình phát triển riêng của mình.

Điều này cho chúng ta cơ hội trao đổi sâu rộng kinh nghiệm phát triển thông qua mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.

Việt Nam đã trải qua nhiều năm đổi mới và đạt được nhiều kết quả ấn tượng về kinh tế và xã hội. Đây là một mô hình kinh nghiệm mà Cuba có thể tiếp cận và chúng ta có thể hợp tác trong lĩnh vực này, Đại sứ Cuba nhấn mạnh.

Đại sứ Orlando Hernández Guillén cũng cho biết Cuba và Việt Nam có nhiều lĩnh vực hợp tác mang tính bổ trợ cho nền kinh tế của hai nước. Việt Nam cung cấp nhiều nhu yếu phẩm quan trọng cho Cuba, đặc biệt là lúa gạo, rất thiết yếu trong đảm bảo an ninh lương thực của Cuba.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cung cấp nhiều sản phẩm công nghệ cho Cuba nhờ sự phát triển công nghiệp và công nghệ cao của các bạn, góp phần bình ổn nguồn cung thiết bị ở nhiều thị trường, trong đó có Cuba.

Trong khi đó, Cuba có nhiều sản phẩm nổi tiếng trên thế giới, bao gồm các sản phẩm truyền thống như xì gà và rượu rum, cũng như các sản phẩm công nghệ gen, sinh học và dược phẩm. Đây là những lĩnh vực mà chúng ta có thể bổ trợ và cùng hợp tác phát huy thế mạnh của nhau.

Đề cập tới hợp tác giữa hai quốc hội Việt Nam và Cuba, Đại sứ Orlando Hernández Guillén bày tỏ cơ quan lập pháp hai nước có mối quan hệ sâu rộng từ rất nhiều năm, được thiết lập giữa các đại biểu quốc hội, được các cử tri bầu chọn dân chủ và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Những mối quan hệ hợp tác sâu sắc này sẽ góp phần đáng kể vào việc trao đổi kinh nghiệm phát triển với Cuba từ những thực tế và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong những năm qua.

Đại sứ Orlando Hernández Guillén cũng cho biết trong khuôn khổ chuyến thăm Cuba của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, hai bên sẽ trao đổi về nhiều lĩnh vực hợp tác cũng như ký kết nhiều thỏa thuận quan trọng.

Ngăn chặn trẻ hóa bệnh suy thoái

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, với phương châm lấy xây để chống, phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngăn chặn sự lây lan, phát triển của căn bệnh suy thoái trong giới trẻ đang đặt ra những yêu cầu, thách thức mới... Thời gian gần đây, dư luận tích cực trên không gian mạng bày tỏ bức xúc trước việc nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều còn trẻ. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những trí thức trẻ, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc. Dù chỉ là những thành phần cá biệt, nhưng thực trạng này cho thấy khi căn bệnh suy thoái trẻ hóa, mức độ nguy hiểm đối với môi trường chính trị và đời sống xã hội là vô cùng lớn. Hằng ngày, hằng giờ, chúng ra rả các luận điệu phản động trên không gian mạng làm cho một bộ phận giới trẻ trong nước bị tác động, ảnh hưởng bởi tư tưởng thù địch, dẫn đến dao động, bi quan, phai nhạt niềm tin. Nhìn rộng ra, sâu hơn những vụ án tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, chúng ta thấy hành vi tham nhũng, suy thoái đều liên quan đến những cán bộ có chức quyền. Cán bộ có chức quyền càng to, ảnh hưởng của suy thoái càng lớn. Tuy nhiên, để đến lúc phải điều tra, xử lý thì đó là giải pháp “trị bệnh”. Làm sao để cán bộ, đảng viên không “nhúng chàm” thì phải coi trọng “phòng bệnh”, ngăn ngừa các mầm mống dẫn đến suy thoái ngay từ khi còn trẻ. Biểu hiện phổ biến của tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trẻ thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Thực trạng này ở một bộ phận không nhỏ người trẻ đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, đó là “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Khi một người trẻ bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường. Thực tế đã chứng minh không ít người giàu có sau khi có chân trong hệ thống chính trị, hành vi kiểu “trọc phú” của họ đã gây ra những hệ lụy phức tạp cho tổ chức. Đối với những người trẻ “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, từ suy thoái đạo đức, lối sống đến suy thoái tư tưởng chính trị là khoảng cách rất mong manh. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc...

Cảnh giác với âm mưu xúi giục, kích động thanh niên

Có thể thấy, âm mưu lợi dụng “tự do, dân chủ” để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là vấn đề không mới. Tuy nhiên, dịp này, các thế lực phản động tập trung hướng vào kêu gọi, kích động đối tượng thanh niên càng cho thấy dã tâm và sự nham hiểm của chúng. Nếu những người trẻ tuổi thiếu hiểu biết và bản lĩnh sẽ dẫn tới hoài nghi, dao động, phai nhạt lý tưởng, bị kẻ xấu kích động, lôi kéo. Thực tiễn đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, chăm lo cho lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước luôn đặt niềm tin và đánh giá cao vai trò, vị trí, sứ mệnh to lớn của thanh niên; xác định thanh niên là rường cột của nước nhà, Đoàn Thanh niên là cánh tay đắc lực, là đội hậu bị tin cậy của Đảng. Cả hệ thống chính trị quan tâm, chăm lo cho thanh niên và tổ chức đoàn, phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện cho thanh niên có đại diện của mình trong các cơ quan Nhà nước, đồng thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát huy quyền làm chủ và lắng nghe ý kiến của thanh niên... Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, tin tưởng giao nhiệm vụ, thử thách, cổ vũ, động viên thanh niên và các tổ chức của thanh niên thực hiện những chương trình, dự án, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh... tạo thuận lợi để thanh niên trưởng thành, đảm trách những vị trí ngày càng quan trọng trong hệ thống chính trị. Thực tế trên là rất rõ ràng và không ai có thể phủ nhận. Qua đó càng cho thấy, luận điệu quy chụp “Đảng, Nhà nước chà đạp lên tự do, dân chủ của thanh niên” là hoàn toàn sai trái. Âm mưu xúi giục, kích động thanh niên "đứng lên đòi tự do, dân chủ, chống độc tài” của các thế lực thù địch là hết sức phản động, thâm độc. Do vậy, mỗi người dân nói chung, thanh niên nói riêng cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không rơi vào cái bẫy nham hiểm của những kẻ dã tâm chống phá đất nước, luôn tìm mọi cách "chọc gậy bánh xe", gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ nước ta./.

Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”. Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ. Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Lợi dụng chính các hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng chống phá công tác cán bộ của Đảng. Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm,những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng lại càng được lợi dụng triệt để. Trên thực tế, trong công tác cán bộ thời gian vừa qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Những sai phạm trong thực hiện quy trình cán bộ liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… vẫn còn xảy ra một số cơ quan, đơn vị gây bức xúc trong dư luận xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”. Những hạn chế này có nguyên nhân là bởi một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm… Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhận thức và năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu kém và trong nhiều trường hợp còn chịu sự chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dẫn đến sai sót trong việc thực hiện các quy trình của công tác cán bộ. Đặc biệt, đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm bị xử lý, kỷ luật là do chính họ không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tổn hại đến lợi ích của đất nước, nhân dân. Đó tuyệt đối không phải là sai lầm của chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ… như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn… Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị - xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả

Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Trong đó, công tác phòng, chống tham nhũng đóng vai trò hết sức quan trọng, được coi là cuộc “tự cách mạng” triệt để, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, bảo đảm không có vùng cấm, qua đó đã tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Đặc biệt, là Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị rất cao và mẫu mực nêu gương, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Qua đó, tạo được sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và nhân dân với tinh thần “tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; không chấp nhận những cán bộ, đảng viên ngả nghiêng, dao động. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn những mặt hạn chế cần phải thẳng thắn nhìn nhận và quyết tâm khắc phục bằng được để ngăn chặn hiệu quả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái, biến chất, vi phạm pháp luật và đạo đức, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, đồng thời là cái cớ để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá nhằm thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta. Trước hết, chúng ta cần thấy rằng, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng thời gian qua có mặt còn hạn chế, nhất là trong vận động xây dựng văn hóa sống liêm khiết, tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của các tổ chức trong phòng, chống tham nhũng, thiếu tự giác chấp hành. Vẫn còn tình trạng thờ ơ, ngại đấu tranh với biểu hiện tham nhũng trong nội bộ; trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện nghiêm túc, tính tiền phong, gương mẫu chưa cao; một bộ phận không nhỏ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lợi dụng chức vụ, quyền hạn và những sơ hở của chính sách, pháp luật, sự lơi lỏng trong công tác quản lý để tham nhũng, trục lợi. Thực tế những vụ án nổi cộm về tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á và các "chuyến bay giải cứu", hay trong hoạt động đăng kiểm ô tô vừa qua đã cho thấy rõ điều này. Cùng với đó, các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ ở một số cơ quan, tổ chức; những quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn chậm được triển khai và chưa thực hiện quyết liệt. Việc kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra theo phân cấp còn chưa thường xuyên và thiếu nghiêm túc; có nơi chưa chủ động phát hiện, xử lý chưa kiên quyết và dứt điểm đối với các trường hợp vi phạm, dẫn đến từ vi phạm nhỏ thành vi phạm lớn... Vẫn để xảy ra một số vụ việc, vụ án tham nhũng phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế; đồng thời là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(1). Đảng đưa công tác phòng, chống tham nhũng lên tầm cao hơn, là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể nhân dân, với tinh thần phải làm quyết liệt, thể hiện qua 3 vấn đề: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự. Công tác phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, nhiều khó khăn, phức tạp, phải tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì ở tất cả các cấp, ngành, lĩnh vực, với những cách làm vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Đảng ta chủ trương phải xây dựng được cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; bảo đảm chế độ chính sách để “không cần tham nhũng” và xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn tham nhũng”. Theo tinh thần thực hiện đồng bộ "4 không" nêu trên, trước hết chúng ta cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về đạo đức công vụ, sự liêm chính, chí công vô tư, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, trọng danh dự, liêm sỉ, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là sự gương mẫu của người đứng đầu và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Cần nghiên cứu đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên, hình thành đức tính liêm chính từ lúc còn trẻ tuổi. Chú trọng tuyên truyền, nhân rộng cá nhân điển hình tiên tiến; bảo vệ, khen thưởng, động viên khích lệ những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cùng với thông tin kịp thời, minh bạch về những vụ án, vụ việc tham nhũng, cần chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Về hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, đầu tiên chúng ta cần kiên quyết chỉ đạo rà soát, bổ sung quy chế làm việc của các cấp ủy, chính quyền bảo đảm chặt chẽ, công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý, lãnh đạo, điều hành và chấp hành. Hoàn thiện các cơ chế về kiểm soát quyền lực trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức. Bảo đảm kịp thời tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, tố cáo của người dân, doanh nghiệp đối với những hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà của tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ... Việc vô cùng quan trọng là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, có kiến thức, năng lực toàn diện, đặc biệt là có đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham vọng quyền lực và tham nhũng, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ. Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ quy hoạch vào vị trí lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo. Phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, những vấn đề nổi cộm gây bức xúc trong xã hội. Kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Cuối cùng, như người xưa đã đúc rút: "Có thực mới vực được đạo", chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, có ý thức tự giác “không cần tham nhũng”. Thực tế cho thấy, mức thu nhập chính thức của đại đa số cán bộ, công chức hiện nay còn rất thấp so với nhu cầu cuộc sống bình thường, nên không ít người thiếu bản lĩnh đã có tư tưởng kiếm chác, làm liều để lo cho cuộc sống gia đình, dễ bị cám dỗ, mua chuộc, dẫn đến thoái hóa, biến chất. Đảng, Nhà nước cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế này để nghiên cứu chế độ chính sách chăm lo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp, khắc phục tình trạng "đói ăn vụng, túng làm liều" và tư tưởng "hy sinh đời bố, củng cố đời con" theo chiều hướng tiêu cực. Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" (không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng) thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các thế lực thù địch cũng không còn cớ để lợi dụng quy chụp, xuyên tạc nhằm chống phá nước ta.

Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thứ nhất, biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tế Theo Tổng Bí thư, trong công tác PCTN, trước hết phải có quyết tâm chính trị cao và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất của Đảng, mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (nay là Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực). Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Phải biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN”. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Tham nhũng liên quan đến lợi ích, tiền tài, chức vụ, danh vọng, uy tín của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, phải có quyết tâm chính trị rất cao, phải kiên quyết, không khoan nhượng và hành động quyết liệt, cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn. Thứ hai, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, không nghỉ, không ngừng PCTN là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”. Trong đấu tranh PCTN, không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không “ngừng”, không “nghỉ”, thiếu quyết liệt; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng, vừa phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý Theo Tổng Bí thư, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là đột phá, quan trọng. Trong phát hiện, xử lý phải quán triệt nguyên tắc: Có vụ việc thì phải xác minh làm rõ; tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó; xử lý cả hành vi tham nhũng và hành vi dung túng, bao che cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Có dấu hiệu phạm tội thì phải khởi tố, điều tra; kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật; vụ việc chưa đến mức xử lý hình sự thì xử lý kỷ luật nghiêm theo quy định của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Phải tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, đoàn thể và xử lý hình sự. Kỷ luật của Đảng phải thực hiện trước, là tiền đề để xử lý kỷ luật hành chính của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự. Từ năm 2012 đến 2022, qua công tác thanh tra, kiểm toán, đã xử lý, thu hồi được hơn 975.000 tỷ đồng, gần 76.000 ha đất; xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân; chuyển cho cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu phạm tội... Thứ tư, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh PCTN Để PCTN có hiệu quả, cần phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cơ quan và đại biểu dân cử, MTTQ và các tổ chức thành viên, nhân dân, cơ quan truyền thông và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân... Phải “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc tiếp thu cái đúng, nhưng không chạy theo dư luận. Triển khai có hiệu quả hoạt động PCTN ra khu vực ngoài Nhà nước; tăng cường hợp tác quốc tế về PCTN. Từ năm 2013 đến 2022, Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của Đảng đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và PCTN; Quốc hội ban hành hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.600 nghị định, quyết định, chỉ thị; cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương ban hành hơn 45.000 văn bản; các bộ, ngành, địa phương ban hành gần 100.000 văn bản để cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành, tổ chức thực hiện công tác này. Qua đó, đã xử lý nhiều vụ việc nổi cộm như vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm, vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm, vụ án Vũ Việt Hùng và đồng phạm, vụ án Vũ Quốc Hảo và đồng phạm, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm, vụ án Giang Kim Đạt và đồng phạm, vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm, vụ án Hà Văn Thắm và đồng phạm, vụ án Châu Thị Thu Nga và đồng phạm, vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm, vụ án Trần Phương Bình, vụ án Phan Văn Anh Vũ, vụ án Đinh Ngọc Hệ, vụ án Nguyễn Văn Dương và Phan Sào Nam, vụ án Hứa Thị Phấn, vụ án tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone, vụ án tại Công ty Hải Thành,..., và mới đây là vụ Công ty Việt Á, FLC, Tân Hoàng Minh. Thứ năm, tăng cường kiểm soát quyền lực Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc đến vấn đề kiểm soát được việc thực hiện quyền lực nhà nước, đồng thời phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan chức năng PCTN. Ban chỉ đạo các cấp phải thực sự là trung tâm chỉ đạo, điều hòa phối hợp hoạt động, là chỗ dựa vững chắc để các cơ quan chức năng PCTN thực thi nhiệm vụ được giao. Kiểm soát quyền lực và thực hành liêm chính trước hết phải được tiến hành có hiệu quả trong các cơ quan này, phải chống tham nhũng ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Trong đó, đội ngũ cán bộ làm công tác PCTN phải có bản lĩnh vững vàng, có dũng khí đấu tranh, phải trung thực, liêm chính, “chí công vô tư”, thực sự là “thanh bảo kiếm” của Đảng, Nhà nước trong công tác này. Nhờ đó, trong 10 năm qua, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm gần 16.000 vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế với hơn 30.300 bị cáo. Riêng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, đã đưa ra xét xử sơ thẩm 120 vụ án, 1.083 bị cáo, trong đó có 37 cán bộ diện Trung ương quản lý, bị xử lý hình sự (1 ủy viên Bộ Chính trị, 10 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 6 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...). Thứ sáu, các giải pháp PCTN, tiêu cực phải phù hợp với đặc điểm, tình hình ở Việt Nam Các giải pháp PCTN phải phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam và truyền thống văn hóa của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài. Đồng thời, phải xây dựng được văn hóa công vụ của mỗi ngành, cơ quan, đơn vị. Trong từng giai đoạn khác nhau phải xác định những nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá, phù hợp với tình hình của đất nước, của địa phương để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Điều này góp phần đánh tan các luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam đang thực hiện công tác PCTN rập khuôn của nước khác. Trên thực tế, chúng ta luôn nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tiếp thu các cách làm hay của tất cả các nước và vận dụng phù hợp với tình hình của Việt Nam. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, nhất là khoảng 10 năm trở lại đây, công tác đấu tranh PCTN được tiến hành ráo riết, quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ, được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Thực tiễn đó thực sự có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước và tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục phát triển theo các mục tiêu đã được xác định tại Đại hội XIII của Đảng.

Giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, đồi hỏi của tình hình mới, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau đây: Thứ nhất, tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Vì bối cảnh thực tiễn đã có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết nên để tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lớn về những vấn đề cơ bản, nền tảng nhằm tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần chắt lọc, đề xuất những vấn đề cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta giai đoạn hiện nay. Thứ hai, kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh việc khẳng định, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tiếp tục đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần hệ thống hóa các nội dung đang bị các thế lực chống phá, từ đó xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác trên từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, chuyển trọng tâm của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên mặt trận tư tưởng, lý luận truyền thống là chủ yếu sang đấu tranh trên internet và mạng xã hội. Đây là một sự chuyển hướng cần thiết nhằm nắm bắt xu thế tất yếu của thời đại. Đó là sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến mạng xã hội trở thành không gian tranh chấp chính trên trận tuyến đặc biệt quan trọng này. Thứ ba, phát huy thế trận toàn dân, ra sức tập hợp lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, các cấp ủy đảng cần chủ động xây dựng kế hoạch, nội dung đấu tranh trọng tâm, sát với sự chỉ đạo của Đảng; dự báo kịp thời với sự phát triển của tình hình; phát huy triệt để các lực lượng xung kích, các chuyên gia khoa học hàng đầu, đội ngũ cán bộ đầu ngành, các nhà khoa học, nhà báo và đông đảo các cộng tác viên nhiệt huyết, có bản lĩnh cùng tham gia đấu tranh. Mỗi cơ quan chuyên ngành, mỗi nhà khoa học, lãnh đạo và quản lý, trước những tư tưởng phản động, thù địch có liên quan đến trực tiếp chuyên ngành, lĩnh vực của mình phụ trách cần chủ động định hướng nội dung và triển khai tổ chức, lực lượng đấu tranh kịp thời. Thứ tư, kết hợp đa dạng, mở rộng các hình thức đấu tranh với giáo dục, tuyên truyền rộng khắp trong quần chúng nhân dân, làm cho cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của hệ thống chính trị mà còn là hành động tự giác của nhân dân. Do đó, phải huy động hết thảy những người dân thực sự có tinh thần yêu nước chân chính, có năng lực và dũng khí cùng tham gia đấu tranh trở thành một phong trào toàn dân đấu tranh, áp đảo chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân cần trở thành người chiến sĩ đấu tranh tích cực ngay từ cơ sở, tổ chức nhiều “vệt” đấu tranh tư tưởng, lý luận phục vụ kịp thời cho các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại quan trọng của đất nước. Thứ năm, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là internet và mạng xã hội. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mạng internet, ngăn ngừa các trang mạng độc hại kết hợp với tăng cường mở mới, đa dạng các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh tư tưởng, lý luận của ta với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; tăng cường các giải pháp kỹ thuật để ngăn chặn tận “gốc” nguồn tuyên truyền, phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; quản lý chặt chẽ, không để lộ, lọt, sơ hở về đăng tải thông tin theo quy định của Nhà nước; theo dõi, kịp thời xử lý, khống chế có hiệu quả các trang mạng có nội dung phản động; phối hợp cùng các cơ quan tuyên truyền từng bước làm chủ thế trận tiến công về tư tưởng, lý luận trên mạng Internet. Theo quy luật tất yếu, thực tiễn luôn vận động và biến đổi không ngừng. Do đó, đòi hỏi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng cần có sự điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu đặt ra của thực tiễn. Đây tuy là một nhiệm vụ rất khó khăn, nhiều thử thách nhưng với sự kiên trì, kiên định về lập trường tư tưởng; với ý chí, bản lĩnh, sáng tạo và tinh thần quyết tâm, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trong thời gian tới.

Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được đặt ra ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng và trở thành nhiệm vụ xuyên suốt trong suốt hơn 90 năm qua. So với những giai đoạn trước đây, thực tiễn trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi nên đã đặt ra những yêu cầu mới cho nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhận định, trong những năm qua và cả những năm tiếp theo, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo. Tuy hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ yếu song thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như “chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên”[3], các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn, đại dịch Covid-19 vẫn có những diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu… Đặc biệt, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”[4]. Gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những “điểm nóng” trên các lĩnh vực của Việt Nam nhằm xuyên tạc tình hình phát triển của đất nước, hướng lái những tư tưởng và hành động sai trái, chống đối, bất tuân, bạo lực và bạo động trong cộng đồng nhân dân và xã hội; từ đó lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can dự vào công việc nội bộ của Việt Nam. Ngoài ra, chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Trong khi đó, “những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình hình tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... còn diễn biến phức tạp”[5]. Nghiêm trọng hơn, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”[6]. Đây là những thách thức rất lớn đang đặt ra đối với công tác bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng giai đoạn hiện nay.

Nội hàm của “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Tuy nhiên, ở Việt Nam, cương lĩnh, đường lối của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 35 năm qua chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Do đó, nội hàm của “nền tảng tư tưởng của Đảng” ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn bao hàm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Theo Từ điển tiếng Việt, “bảo vệ” là “chống lại mọi xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn”, “bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến, quan điểm”[2]. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là việc sử dụng tổng hợp các lực lượng và các biện pháp kiên quyết, kiên trì giữ gìn, duy trì, củng cố bản chất cách mạng và khoa học, phát huy, phát triển sáng tạo những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời chống lại sự xuyên tạc, phá hoại và cả những nhận thức sai trái của các lực lượng bên ngoài và bên trong nhằm làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng thấm sâu, ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là học thuyết, tư tưởng cách mạng mà còn phải bảo vệ thành tựu và biểu hiện cụ thể của nền tảng tư tưởng đó trong thực tiễn đổi mới đất nước. Với ý nghĩa đó, Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 11/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã khẳng định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng "không có tư tưởng Hồ Chí Minh".

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam". Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tổ chức UNESCO khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau". Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.

Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại "tôn vinh" tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.

Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.

Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi "chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin".

Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.

Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay "một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống" như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính".

Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta "đấu đá nội bộ", "đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực". Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm "hệ quy chiếu" để đánh giá, phán xét Đảng.

Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là "nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít", "không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.

Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi "làm theo" một cách máy móc để cho giống hoặc thành một "Hồ Chí Minh thứ hai". Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: "Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn".

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

            Hiện nay hàng ngày, trên các trang mạng xã hội, các kênh đài, các tờ báo không mang tính chính thống… đã “sản xuất” ra hàng trăm nghìn tin bài, phóng sự có nội dung sai trái thù địch. Không gian mạng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta thông qua việc phát tán những thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân. Cụ thể:

          Về hình thức tuyên truyền chống phá, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, sử dụng hàng chục đài phát thanh, phát hình bằng Tiếng Việt qua các kênh internet, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn Website… Nội dung, bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch là tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích của chúng là chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng từ đó tạo điều kiện để chúng thực hiện các mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng; phủ định giá trị lịch sử và thành quả cách mạng của dân tộc ta. Về lâu dài, những thông tin sai trái, bịa đặt sẽ thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, các thế lực phản động đã sử dụng phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Chúng triệt để khai thác các thông tin liên quan đến mặt trái của xã hội, những thông tin tiêu cực, không chính thống rồi đưa lên trên các trang mạng xã hội và Internet để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

          Trước những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và cần xác định công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, mất cảnh giác và có hình thức xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi vi phạm trên không gian mạng góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng./.

GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975

 

GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975

 

 Chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày toàn thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như một sự kết thúc chiến lược vô song, trở thành biểu tượng cho trí tuệ và tinh thần Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ trên thế giới; giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để có thắng lợi vĩ đại ấy, nhân dân Việt Nam yêu nước chân chính phải đấu tranh kiên cường, bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ.

Tuy nhiên, vẫn có một số quan điểm, luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo về giá trị và ý nghĩa của sự kiện 30/4/1975: Có luận điệu đòi “định danh lại ngày 30/4 cho phù hợp” vì không chấp nhận 30/4 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; các thế lực thù địch gọi đó là “Ngày nói thật” để cho mọi người được nói lên sự thật. Lại có những thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Chúng đổ tội cho Chủ tịch Hồ Chí Minh là “du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam dẫn đến tình cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt 1954-1975”. Chúng hết lời ca ngợi Việt Nam cộng hòa mà không hề nhận thấy bản chất “Cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về giày mả tổ”. Tất cả những luận điệu trên đều nhằm xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta.

Trước hết phải khẳng định, sức mạnh chiến thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đưa đến ngày toàn thắng 30/4 đã trở thành niềm tự hào lớn của nhân loại tiến bộ, là ngọn lửa rực sáng thúc giục hàng triệu trái tim nhân dân thuộc địa, yêu chuộng hòa bình bảo vệ công lý, giành độc lập, tự do.

Gọi “30/4/1975 là ngày giải phóng” là hoàn toàn đúng vì đây là sự kiện đánh dấu lãnh thổ miền Nam Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược của đế quốc Mỹ cùng với các lực lượng tay sai và chính quyền Ngô Đình Diệm (ngụy quyền) cùng những người Việt đi lính cho Diệm (ngụy quân) cản lại con đường thống nhất Tổ quốc. Đây là sự kiện đánh dấu lãnh thổ đất nước Việt Nam được trả lại đúng nghĩa như nó đã có trong lịch sử về cả tư tưởng, ý chí và thực tiễn; đáp ứng nguyện vọng ngàn đời của các thế hệ người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, là sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO, XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO, XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Từ nhiều năm nay, lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhất là quan hệ của Việt Nam với một số nước lớn và vấn đề chủ quyền biển, đảo của nước ta ở Biển Đông, trên các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực thù địch và các phần tử chống đối, cơ hội đã tung nhiều thông tin sai lệch, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta, tập trung trên một số nội dung:

Một là, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đã “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, nhất là trong tình hình hiện nay. Họ lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế theo họ, nếu vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới bên ngoài, chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, và đã trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước.

Hai là, bóp méo sự thật, xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia. Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, một số thế lực cố tình xuyên tạc Việt Nam “đang ngấm ngầm “theo chân” nước này chống nước kia”, Việt Nam đã “nghiêng về bên này để chống bên kia”, đã “từ bỏ” chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của mình.

Ba là, xuyên tạc mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là trong quan hệ với Mỹ và với Trung Quốc. Các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội trắng trợn xuyên tạc rằng, Việt Nam đang phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, Việt Nam đang điều chỉnh quan hệ đối ngoại nhằm “tìm kiếm đối tác chiến lược”, “thiết lập liên minh mới” để đối phó với nước đang gây áp lực bất lợi cho mình. Họ “kiến nghị” Đảng và Nhà nước Việt Nam phải từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ; rằng muốn bảo vệ được độc lập, chủ quyền thì phải dựa vào một cường quốc, “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo”.

Nội dung và chiêu thức xuyên tạc của các thế lực thù địch trong nhiều trường hợp tưởng như mâu thuẫn nhau, nhưng thực chất là đều nhằm xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, chống phá cách mạng Việt Nam. Sự chống phá đó đặc biệt nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ với các nước trên thế giới, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng vào đời sống chính trị quốc tế. Dù chưa thể làm chệch hướng, vô hiệu hóa đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam, chưa thể hạ thấp vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế, nhưng những luận điệu này cũng có thể khiến một bộ phận cán bộ và nhân dân ta hoang mang, dao động, từ đó suy giảm niềm tin vào đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, gây khó khăn cho Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại và xử lý các mối quan hệ quốc tế.

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN MỚI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN MỚI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  Chống phá cách mạng Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động; trong đó, trọng tâm hàng đầu là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng. Điều này được thể hiện thông qua những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm đòi hỏi mỗi người cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi thành lập các đảng mới để thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn, hoàn cảnh khác nhau, chúng luôn có sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn để chống phá. Hiện nay, chống phá Đảng ta có những thủ đoạn mới hết sức nguy hiểm, cụ thể là: Một là, tiếp tục củng cố, xây dựng, phát triển các tổ chức được coi là “đảng đối lập” với Đảng Cộng sản Việt Nam ở cả trong và ngoài nước; Hai là, tán phát các tài liệu tuyên truyền, kêu gọi chia đôi Đảng ta làm hai phe hay kêu gọi các tổ chức chính trị - xã hội tự đứng ra thành lập Đảng mới, cương lĩnh mới, không lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; Ba là, đẩy mạnh chống phá từ bên trong, thổi phồng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từ đó xuyên tạc Đảng ta đã “hết giá trị lịch sử” phải nhường quyền lãnh đạo cho các tổ chức khác.

Đảng ta đã khẳng định:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện, phát huy cao nhất sức mạnh, ý chí, khát vọng của toàn thể dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng chỉ có một mục đích: xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, “ý Đảng” đã hợp “lòng dân”.

Thứ hai, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại.

  Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động

Đảng ta được nhân dân tin cậy, thừa nhận là người lãnh đạo chân chính, duy nhất, là đội tiên phong của giai cấp và cả dân tộc Việt Nam, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh không có một tổ chức nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Do đó, mọi âm mưu, luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều là biểu hiện của động cơ chính trị đen tối, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác; tích cực vạch trần và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, luận điệu nói trên để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975

Chiến thắng 30.4.1975, là một sự kiện trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX, đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực, cường quyền; là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc.

Chiến thắng 30/4 đã qua đi 48 năm, nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn trường tồn mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược thực sự là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nhân dân, quân đội Việt Nam.

Lịch sử là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vậy mà vẫn còn những tiếng nói lạc lõng cố tình phủ nhận sự thật lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến, thù địch. Tìm cách đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Chiến tranh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng cả thế giới đã ghi nhận. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia, trong đó, có cả các quốc gia từng trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam, nay cùng hợp tác, phát triển. Thế nhưng, vẫn còn một số người, một số thế lực thù địch, phản động mỗi khi đến dịp 30/ 4, họ lại tìm cách khuấy lên sự thù hận với các lý lẽ, luận điệu phi lý, ngụy biện, sống sượng xung quanh vấn đề tính chất của cuộc chiến tranh. Những người theo chân Đế quốc Mỹ phản bội Tổ quốc, tàn sát đồng bào mình lại được họ coi là một sự lựa chọn đúng, là một lý tưởng cao đẹp. Họ cố tình đặt điều, lấp liếm cho hành động xâm lược, rằng: miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến. Có người còn cho rằng: không cần phải phát động chiến tranh, không cần phải hy sinh xương máu đồng bào một cách vô nghĩa, đến một lúc nào đó thực dân đế quốc tự phải trả lại chủ quyền đất nước, v.v.. Sự ngụy biện tùy tiện, đổi trắng thay đen diễn ra ở một số người tự xưng là “có tâm với nước, với dân”, thật là đê tiện, không biết hổ thẹn. Tuy nhiên, chân lý chỉ có một, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước đo chân lý chuẩn xác, bác bỏ mọi xuyên tạc sai sự thật./.

Cần nhận thức đúng: tự do internet phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật

 Cần nhận thức đúng: tự do internet phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật

            Gần đây, có một số quan điểm cho rằng: “Việt Nam kiểm soát Internet”, “người dân không có tự do Internet”. Đây là những lời lẽ cố tình xuyên tạc về tự do Internet tại Việt Nam, thực chất là chiêu trò đánh tráo khái niệm về tự do ngôn luận, dùng tự do internet để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

          Chúng ta biết rằng, tự do Internet là một trong những quyền cơ bản của con người trong thời đại ngày nay. Đó là quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của mỗi cá nhân và tổ chức qua các phương tiện kết nối Internet. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều quyền cơ bản của con người, quyền tự do Internet phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

          Thực tế, tại nhiều quốc gia - dân tộc trên thế giới đều khẳng định, pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân nói chung và quyền tự do internet nói riêng. Luật An ninh mạng các nước yêu cầu đối với người sử dụng mạng Internet phải tuân thủ pháp luật, cấm các âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ an ninh quốc gia, cấm xúi giục hành vi phạm tội; quy định mức phạt đối với những người đăng tải những thông tin sai lên hệ thống máy tính nhằm phá hoại an ninh quốc gia, an toàn công cộng, sự ổn định kinh tế quốc dân hay hạ tầng cơ sở công cộng hoặc gây hoang mang.

          Đối với Việt Nam, là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet. Những quyền cơ bản này đều được khẳng định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Thực tiễn, nhiều đối tượng lợi dụng Internet chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ đều bị trừng trị thích đáng… Điều này cho thấy, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do con người, tự do Internet, tuy nhiên mọi hành vi chống phá, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc đều phải bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

          Từ thực tế các quốc gia - dân tộc trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, Internet đã trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi người dân, là nền tảng để phát triển kinh tế số, xã hội số trong sự phát triển của nhân loại. Luận điệu cho rằng, “Việt Nam kiểm soát Internet”, “người dân không có tự do Internet” là phiến diện, thiếu khách quan, không phản ánh đúng thực tế ở Việt Nam cần phải được lên án, đấu tranh, bác bỏ kịp thời./.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 Việt Nam là đất nước độc lập, tự cường, luôn có khát vọng và tầm nhìn phát triển, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở. Vì vậy, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, trong đó có quan hệ với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như các cường quốc trên thế giới, với mục tiêu tối thượng là đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Nhưng hiện nay, thế lực thù địch, phản động tán phát nhiều nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách hội nhập, mở cửa của Đảng, Nhà nước ta, kêu gọi Việt Nam cần "chọn bên" trong quan hệ quốc tế, đồng thời, kích động gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là mối quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ.

Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, tích lũy, nâng tầm được cả thế và lực nhất định, uy tín ngày càng gia tăng trên trường quốc tế, đã tạo ra những tiền đề quan trọng và vị thế thuận lợi để phát triển. Trong đó, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, lĩnh vực, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa; chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.

Chiến lược đối ngoại của Việt Nam đặt trong tổng thể đường lối phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; gắn kết hài hòa, chặt chẽ, có hiệu quả với đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đặt sự phát triển của đất nước vào dòng chảy của thời đại, từ đó xây dựng, triển khai các đường lối, chính sách phù hợp, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đánh giá và dự báo đúng tình hình trong nước và quốc tế, tinh thần không ngừng sáng tạo, đổi mới tư duy trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và xu thế thời đại.

Thành công trong công tác đối ngoại còn là kinh nghiệm trong việc nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước, từ phá thế bao vây cấm vận, tiến tới chủ động thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại, đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, thiết lập các khuôn khổ hợp tác bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nguyên tắc nền tảng và tư tưởng chỉ đạo của đối ngoại thời kỳ đổi mới là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cùng với đó, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; ý chí tự lực, tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Trên diễn đàn Quốc hội chiều 04/11/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng tiếp tục khẳng định trước các đại biểu và cử tri cả nước: “Đường lối đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải”.

Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc, ngày 14/12/2021, diễn ra tại Hội trường Diên Hồng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sử dụng hình ảnh cây tre Việt Nam, mềm mại, nhưng rất kiên cường như tính cách của con người, dân tộc Việt Nam linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh quan điểm về “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại và ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc và trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam”.

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, một lần nữa khẳng định quan điểm của các thế lực thù địch về đường lối đối ngoại của Việt Nam nói chung và quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ trên các trang blog phản động là hoàn toàn sai trái, bịa đặt. Khẳng định quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam với các nước lớn là ưu tiên hàng đầu trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam./.

Cần đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Cần đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

  Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

 Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

 Thực tế, những quan điểm thù địch, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam XHCN hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng. Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết.

 Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo, định hướng, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là sức mạnh tổng hợp của các “binh chủng” công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng internet, nâng cao khả năng nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng. Mỗi người khi sử dụng mạng internet cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các thế lực thù địch để không tin, không bị lôi kéo, dẫn dắt trước các thông tin xấu, độc.

 

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

                                                

Bất chấp những nỗ lực và thành quả Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được suốt nhiều năm qua, các đối tượng thù địch, chống phá cực đoan không ngừng xuyên tạc con đường mà chúng ta lựa chọn hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, âm mưu lật đổ chế độ. Thực tế này đòi hỏi chúng ta luôn cần tỉnh táo nhận diện và đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả.

Đề cập đến bản chất của Nhà nước Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền những quan điểm sai trái, phản động rằng quyền lực nhà nước thống nhất không có sự phân chia, kiểm soát, đối trọng lẫn nhau nên tất yếu dẫn đến tình trạng tha hóa quyền lực, lạm quyền, lộng quyền của những người trong bộ máy nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đem lại lợi ích cho chính họ, từ đó vi phạm quyền làm chủ và xâm hại đến lợi ích của nhân dân; Đảng đứng trên Nhà nước, thâu tóm và thao túng quyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng, lợi ích nhóm từ đó dẫn đến hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng trong quá trình vận hành đất nước, phát triển kinh tế-xã hội...

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là thống nhất bởi đó là quyền lực của nhân dân cho nên không thể có sự phân chia cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước dẫu là lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là từ nhân dân mà ra, do nhân dân ủy quyền, giao quyền cho những người trong bộ máy nhà nước. Đây là nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước.

Mặc dù quyền lực nhà nước là thống nhất không có sự phân chia, tuy nhiên do nhận thức được thực tế: quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền cho các cá nhân, con người, tổ chức cụ thể trong bộ máy nhà nước nên luôn tiềm ẩn nguy cơ có thể bị tha hóa và sử dụng sai mục đích khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người, những tổ chức được trao quyền lực, nắm quyền lực, cho nên, cùng với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, ngay từ sớm vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt ra như là một yêu cầu tất yếu, bắt buộc để giữ đúng bản chất dân chủ của Nhà nước. Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011 và khoản 3, Điều 2, Hiến pháp 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Hiến pháp 2013 còn quy định rõ, cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế kiểm soát lẫn nhau của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, theo đó: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69); “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” (Điều 94); “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Khoản 1, Điều 102), “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (Khoản 2, Điều 103). Những quy định này đồng thời được cụ thể hóa trong các luật: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân...

Như vậy, quyền lực Nhà nước Việt Nam là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuyệt đối không hề có sự mập mờ tạo điều kiện cho tình trạng lạm quyền, lộng quyền, sử dụng quyền lực sai mục đích của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước.

Mặt khác, việc Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước còn là cơ sở để nhân dân thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện giám sát mọi tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước, từ đó đánh giá được hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quyền cũng như kịp thời phát hiện, tố giác để xử lý các hành vi sai phạm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức này.

Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích vì lợi ích của dân.

Đây là yêu cầu tất yếu bởi “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.88). Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, lợi ích chung của dân tộc. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân và quay trở lại phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân.

Đảng lãnh đạo Nhà nước không có nghĩa là Đảng đứng trên Nhà nước, làm thay Nhà nước, đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp, pháp luật Nhà nước ban hành mà là để bảo đảm giữ đúng bản chất dân chủ của Nhà nước. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cán bộ, đảng viên trong Đảng vừa phải tuân thủ Điều lệ Đảng đồng thời phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật do Nhà nước ban hành trên cơ sở thể chế hóa các chủ trương, đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng vì lợi ích chung của nhân dân và sẽ bị xử phạt nghiêm minh nếu vi phạm pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực này được sử dụng đúng mục đích. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua phương thức lãnh đạo rõ ràng được ghi nhận trong Cương lĩnh và các Văn kiện Đại hội Đảng.

Kế thừa, bổ sung, phát triển quan điểm của Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011 và các Đại hội trước đó, đề cập đến phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, t.1, tr.196-197). Từ đây có thể khẳng định, chỉ có giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước thì quyền lực nhà nước mới được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm được tổ chức, thực thi vì lợi ích chung của nhân dân và cũng chỉ khi đó Nhà nước mới thật sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Thời gian tới, để sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đạt được mục tiêu giữ vững bản chất dân chủ của Nhà nước, để quyền lực nhà nước, chính quyền nhà nước thật sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì cần thiết phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng và đối với hệ thống chính trị nói chung đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới theo tinh thần Đại hội XIII và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

Thực tế, những quan điểm thù địch xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn nhằm hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng và quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay nói chung.

Do đó, mỗi người dân Việt Nam cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới.