Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

CHUYẾN RA BẮC ĐẶC BIỆT CỦA ĐOÀN TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM!

     Hẳn chúng ta còn nhớ, Hiệp định Paris được ký kết vào 27-1-1973 là cả một chiến tích oanh liệt, một chiến thắng to lớn, một mốc son lịch sử mà Cách mạng Việt Nam đã kiên cường đấu tranh bằng cả ba phương thức quân sự, chính trị và ngoại giao một cách cực kỳ khéo léo và bền bỉ suốt từ năm 1968. Chúng ta đã buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Thế nhưng cho đến tận năm 1973 thì mới đi tới thành công. Lúc đó, Cách mạng nước nhà cũng mới thực hiện được "một nửa" mong muốn, khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Có một sự kiện rất đặc biệt đối với Cách mạng Miền Nam, đó là vào tháng 4-1973, sự kiện đoàn lãnh đạo cấp cao của Trung ương Cục Miền Nam ra Bắc công tác đến nay cũng vừa tròn 50 năm thì rất ít người biết và cần được thông tin đến bạn đọc.
Khi chúng ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Bác Hồ chúc Tết đồng bào cả nước: "Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to/Vì Độc lập, vì Tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên chiến sĩ đồng bào/ Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn!".

Thế nhưng cũng phải 5 năm sau, ước mong của Bác mới được toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân thực hiện. Ðó là việc Mỹ đã chấp nhận ký kết Hiệp định Hòa bình tại Paris năm 1973, chấp nhận rút quân Mỹ về nước.

Sau sự kiện lịch sử nói trên, Bộ Chính trị Trung ương Ðảng có điện trao đổi với Trung ương Cục miền Nam. Bí thư Thứ nhất Trung ương Ðảng Lê Duẩn mời lãnh đạo chủ chốt Trung ương Cục ra Bắc để báo cáo tình hình, bàn chuyện chiến lược đầy hệ trọng để tiếp tục thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ðó cũng chính là để thực hiện trọn vẹn bài thơ Xuân của Người năm xưa cũng như Di chúc mà Người để lại cho toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta...

Trung tướng Ðặng Quân Thụy, nguyên Ủy viên Trung ương Ðảng, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội đã dành cho tôi một cuộc gặp mà tôi tha thiết đề nghị bởi tôi từng biết, vị lão tướng nay đã sang tuổi 96. Ông từng tham gia đoàn công tác ra Bắc 50 năm trước và giờ đã chắc còn được mấy vị thông tuệ như ông để kể cho nhiều người biết. Ông chính là một chứng nhân lịch sử trong chuyến công tác đặc biệt ra Bắc có một không hai đó của đoàn lãnh đạo cao cấp Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam chúng ta.

Ðoàn ra Trung ương để báo cáo công tác nói trên và đồng chí Ðặng Quân Thụy với tư cách của một sĩ quan cao cấp được tin tưởng giao tháp tùng đoàn nhằm tham mưu, giúp việc cho Trung tướng Hoàng Văn Thái ở góc độ quân sự. Khi đó, Trung tướng Hoàng Văn Thái là Ủy viên Trung ương Ðảng Lao động Việt Nam (LÐVN), Phó bí thư Trung ương Cục kiêm Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân Giải phóng Miền Nam (B2), kiêm Phó bí thư Quân uỷ Miền.

Tháng 4-1973, mãi đến ngày sát nút của chuyến công tác ra Bắc đặc biệt ấy thì Thượng tá Ðặng Quân Thụy, khi đó là Phó trưởng phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam mới nhận được nhiệm vụ lo chuẩn bị gấp phần nội dung quân sự phụ giúp Tư lệnh Hoàng Văn Thái ra Hà Nội báo cáo với Bộ Chính trị.

Cũng do nhận nhiệm vụ sát ngày cho nên mấy hôm trước khi lên đường, ông phải lo chuẩn bị vất vả. Thế nhưng vẫn cứ phải là tốt nhất để Tư lệnh Hoàng Văn Thái báo cáo. "Ðây là một chuyến đi mang tính tuyệt mật bởi không chỉ có mình Tư lệnh Hoàng Văn Thái mà còn nhiều yếu nhân khác trong Trung ương Cục tham gia. Ðó là Ủy viên Trung ương Ðảng LÐVN, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh (lúc đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh trên danh nghĩa (mang tính đối ngoại) còn gọi là Tổng Bí thư Ðảng Nhân dân Cách mạng Miền Nam Việt Nam mà thực tế cũng rất ít người biết và gọi như vậy.

Ðoàn còn có đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Trung ương Ðảng LÐVN, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, Bí thư Khu uỷ Khu 9 và đồng chí Nguyễn Minh Đường, Bí thư Khu ủy Khu 8.

Ðoàn công tác này cũng khá gọn. Từ 4 vị lãnh đạo nói trên, theo Trung tướng Đặng Quân Thụy, thì mỗi vị chỉ có một Bí thư (nay gọi là trợ lý) cùng một cán bộ tham mưu giúp việc về chuyên môn tháp tùng. Ví dụ như đồng chí Thụy thì tham mưu chuyên về quân sự. Khi nào được yêu cầu thì giúp thủ trưởng Thái trực tiếp báo cáo.

Chuyến đi đó, như đồng chí Nguyễn Văn Linh thì người đi tháp tùng chính là vị Chánh Văn phòng Trung ương Cục... Ðương nhiên là còn có một lực lượng phục vụ, bảo vệ riêng và chung của các yếu nhân cũng đi cùng đoàn. Nhưng tinh thần thì vẫn là gọn nhẹ bởi dọc đường đi chúng ta cũng đã bố trí bảo vệ ở mức an toàn nhất có thể.

"Chuyến đi đó với tôi quả một ấn tượng quá đỗi đặc biệt - Trung tướng Đặng Quân Thụy nói. Ðó là sau khi chúng ta đã ký kết Hiệp định Paris, tức là chúng ta đã giành thắng lợi một phần cực kỳ quan trọng. Cứ hình dung cái cảm giác người Mỹ phải lặng lẽ làm lễ cuốn cờ tại sân bay Tân Sơn Nhất để rời khỏi Việt Nam thì cũng sẽ thấy cái niềm vui mừng đó ra sao", Trung tướng Đặng Quân Thụy bồi hồi kể lại.

Chỉ nội việc sau gần 9 năm sống trong chiến trường như Trung tướng Đặng Quân Thụy là đủ thấy niềm vui vỡ oà. Ngay từ năm 1964, Trung tướng Đặng Quân Thụy đã từng vượt đường biển bằng "Tàu Không số". Nhưng rồi chuyến đó không thể cập bờ được bởi vì được biết có biến động. Bộ Tổng Tham mưu buộc ra lệnh đoàn phải quay trở về Bắc để bảo toàn tính mạng và vũ khí khi đó chở theo tàu. Tiếp đó, năm 1965, Trung tướng Đặng Quân Thụy lại vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu bằng đường bộ. Ông đã phải trèo đèo, lội suối, băng rừng với nhiệm vụ được trao là Trưởng phòng Hóa học của Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam, hàm Trung tá. Thế nhưng bây giờ, ông và cả đoàn công tác đã được đi bằng ô tô từ chiến lợi phẩm thu được của địch sau khi ta chiếm được. Ðoàn đi từ căn cứ Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước ngày nay) đến vùng biên giới tỉnh Stung Treng, Campuchia để tiếp tục đi bằng ô tô trên đất bạn Campuchia. Tiếp theo là Lào và ra tới tận biên giới giáp huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị của Việt Nam. Ðoàn hành quân mà không hề ngại chuyện gì bởi đã được Ðoàn 559 (BTL Binh đoàn Trường Sơn) bảo vệ đoàn cực kỳ đặc biệt và lo toan hết sức chu đáo, tình cảm...

"Qua các binh trạm dọc đường Trường Sơn trên đất bạn, chúng tôi thấy rõ một điều, về cơ sở vật chất hậu cần của quân đội ta khi đó đã khác xưa quá nhiều. Rất đàng hoàng! Ðoàn đến binh trạm nào cũng được đón tiếp chu đáo nhưng vẫn đảm bảo rất bí mật. Vui nhất là khi đang còn trên đất bạn Lào, đoàn công tác của ông đã chứng kiến một đoàn xe tăng được đưa vào miền Nam để chi viện cho chiến trường. Nhìn thấy đoàn xe tăng mà ai cũng trào dâng một cảm xúc vui sướng, tự hào đến kỳ lạ bởi càng thêm tin tưởng vào sức mạnh của lực lượng chủ lực của quân đội ta. Như vậy thì ngày toàn thắng sẽ được bảo đảm chắc chắn...".

Trung tướng Đặng Quân Thụy nhớ lại và cũng sực nhớ thêm mấy chi tiết: Ðường Trường Sơn trên đất bạn tuy cũng khá ổn nhưng thực sự đi xe vẫn còn xóc. Trong đoàn, trên đất bạn Lào có một xe bị đổ nghiêng, nhưng may là không có người bị thương. Cũng trên đường ở đất bạn Lào, đoàn được gặp đoàn đồng chí Tố Hữu, khi đó là Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương đi vào Nam công tác. Ðoàn đã dừng lại để các đồng chí lãnh đạo trao đổi tình hình và công việc của nhau rồi chúng tôi chia tay nhau...

Mừng nữa là sau vài ngày đi bằng xe ô tô thì khi ra đến Quảng Trị, đoàn đã có một chiếc máy bay quân sự chờ sẵn đón đoàn. Chúng tôi thật sự mừng vui và cảm động vô bờ. Ngồi trên máy bay nên mọi người được nhìn xuống đất mẹ thiêng liêng sau nhiều năm hoạt động bí mật trong lòng địch hoặc tại chiến khu nhưng vẫn phải bí mật, kín đáo theo quy định nên chúng tôi vui mừng đến trào nước mắt.

Ðến khi máy bay hạ cánh tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội, Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng đã đích thân đứng chờ để đón đoàn trong sự mừng vui khôn tả.

"Chúng tôi được thông báo rằng các đồng chí trong đoàn sẽ được phép tranh thủ về thăm gia đình vài hôm. Sau rồi sẽ quay trở về Hà Nội làm việc với các đồng chí lãnh đạo cấp trên... ", Trung tướng Đặng Quân Thuỵ nhớ lại.

"Cuộc làm việc diễn ra có đến bốn, năm ngày do đồng chí Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn chủ trì. Tham dự có đồng chí Ðại tướng Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác. Ngồi họp, nghe những vấn đề hết sức hệ trọng nhưng không khí thì thoải mái và ấm cúng. Sau ngày làm việc đầu tiên, rất nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị khác nữa như đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Văn Tiến Dũng (lúc này đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục bận chỉ đạo công tác nên không ra Hà Nội cùng đoàn)... cũng đã đến họp theo từng nội dung có liên quan hoặc ở lại dự một vài bữa cơm thân mật cùng đoàn chúng tôi để tranh thủ trao đổi thêm công việc. Mọi người vui mừng hỏi thăm đủ chuyện, từ tình hình trong đó đến sức khỏe của mỗi thành viên cũng như tình hình gia đình mỗi người chúng tôi. Thái độ thật ấm áp tình đồng chí. Ðích thân đồng chí Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn ngồi nghe báo cáo rất nhiều buổi với đoàn bằng một cung cách làm việc rất say xưa... ", Trung tướng Đặng Quân Thụy kể.

Sau khi nghe báo cáo và cùng trao đổi, đồng chí Lê Duẩn đã đánh giá tình hình và kết luận nhiều vấn đề rất hệ trọng. Ðồng chí chỉ rõ âm mưu của địch ra sức phá hoại Hiệp định Paris, mở nhiều cuộc hành quân lấn đất, kiểm soát dân. Do đó chúng ta phải kiên quyết đánh bại âm mưu này, củng cố vững chắc các vùng căn cứ địa. Một vấn đề đặt ra là phải phát triển các cơ sở của ta ở vùng nông thôn và đẩy mạnh các phong trào ở đấu tranh ở các đô thị lớn, đặc biệt là Sài Gòn. Bí thư Thứ nhất nhấn mạnh đến việc chúng ta cần phải bám sát lấy dân và biết dựa vào sức mạnh của dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Những điều đồng chí nói là những tiền đề giúp cơ quan tham mưu của Ðảng nghiên cứu, soạn thảo văn kiện Nghị quyết 21 của BCH Trung ương Ðảng khóa III sau này... Rồi thì cứ sau mỗi ngày làm việc, 4 đồng chí lãnh đạo trong đoàn lại tranh thủ đến từng tư gia thăm gia đình các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và lãnh đạo khác nếu có liên quan đến công tác của mỗi vị...

Khi tôi hỏi: Bác có được báo cáo gì thêm mang tính chuyên môn khi các vị lãnh đạo hỏi không? Trung tướng Đặng Quân Thụy bảo: "Các vị lãnh đạo nhà mình được cái là nắm rất chắc tình hình chứ không có chuyện phải hỏi thêm tôi. Mọi thứ thực ra anh em chúng tôi cũng đã chuẩn bị cẩn thận trước đó cả rồi.

Như tôi thì với cương vị là cán bộ đi theo, được dự là để ghi chép, lĩnh hội để hiểu tư tưởng chỉ đạo mà triển khai, làm việc sau này. Chúng tôi phải hết sức nhập tâm vì ngay cả sổ tay vừa được ghi chép đó cũng phải lưu lại cơ quan bảo mật trước khi trở lại chiến trường. Mục đích để đảm bảo độ tuyệt mật cao nhất. Tôi từng làm Bí thư cho Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nên tôi hiểu, anh Thái luôn nắm tình hình rất vững, rất sâu nên cũng ít khi anh tỏ ra lúng túng khi có thượng cấp hỏi kỹ anh ấy...

Trong cuộc họp báo cáo tình hình miền Nam này thì Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn cũng là người nắm tình hình trong đó rất sâu sát. Sâu tới mức nhiều người còn phải ngạc nhiên. Thế nên các anh lãnh đạo hiểu ngay vấn đề từ những khó khăn cũng như những thuận lợi ra sao để cùng nhau chia sẻ…”, Trung tướng Đặng Quân Thụy nhớ lại khá tỉ mỉ.

Sau chuyến công tác lịch sử đó, đồng chí Tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Hoàng Văn Thái được ở lại Hà Nội và được phân công về làm Phó tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Quân đội nhân dân Việt Nam rồi làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1980 ông được thăng hàm Ðại tướng. Còn ông Ðặng Quân Thụy thì về Bộ phận nghiên cứu của Cục Tác chiến, tham gia viết tổng kết và nghiên cứu nhiệm vụ tác chiến để chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng Miền Nam sau đó.

Tháng 10-1973, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng họp và ra Nghị quyết 21 "Về thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng Miền Nam trong giai đoạn mới”. Hội nghị phân tích thắng lợi to lớn của ta sau 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; chỉ ra một số nhược điểm, khuyết điểm của ta từ sau Hiệp định Paris. Hội nghị khẳng định: "Con đường cách mạng của Miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt, đưa cách mạng miền nam tiến lên."

Tôi nghĩ đó là những gì tất yếu đã đến để Ðảng ta có Nghị quyết trên. Ðó chính là từ sự kiện Bộ Chính trị triệu tập đoàn lãnh đạo Trung ương Cục ra Bắc họp, báo cáo tình hình và tham gia thảo luận để rồi sau đó có được Nghị quyết hết sức quan trọng nói trên.

Hiệp định Paris năm 1973 là kết quả cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn thắng lợi tại Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí đấu tranh quật cường, bền bỉ, nhằm bảo vệ chân lý, chính nghĩa, lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và người kế tục là đồng chí Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, trên cơ sở chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hiệp định Paris về Việt Nam mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, thể hiện cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá. Đó còn là cuộc đấu tranh kiên cường vì các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam, được thể hiện trong Hiệp định - văn bản pháp lý toàn diện...

Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, Hiệp định Paris còn mang tính quốc tế khi góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước của nhân dân Lào và Campuchia. Hiệp định cũng góp phần mở ra một chương mới trong cục diện Đông Nam Á: Mỹ rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và Đông Nam Á; xu thế hòa bình, trung lập phát triển mạnh trong khu vực, mở ra khả năng thiết lập một khu vực hòa bình, hữu nghị ổn định... 

 

Trung tướng Đặng Quân Thụy sinh năm 1928, từng học Trường Bảo hộ Đông Dương tại Hà Nội rồi tham gia Cách mạng năm 1944, là cán bộ lão thành Cách mạng. Năm 1946, ông tham gia Nam tiến và bị thương tại Tây Nguyên. Sau khi chữa lành vết thương, Đặng Quân Thụy được Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái tin tưởng giữ lại Bộ Tổng Tham mưu làm Tổ trưởng tổ Chiến sự thuộc Phòng Tác chiến (1947) và làm Bí thư cho Tổng Tham mưu trưởng. Ông từng làm Trưởng ban Biên tập tạp san Quân sự Bộ Quốc phòng (1948), phái viên tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu tại mặt trận Điện Biên Phủ (1953).

Trong thời gian công tác trên đất bạn Campuchia, thêm một lần ông bị trọng thương và tưởng như không thể qua khỏi.

Sau gần 9 năm lăn lộn chiến đấu, ông được cử ra Bắc trong đoàn công tác do Phó bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh dẫn đầu như trong bài viết. Một năm sau, 1974, ông nhận trọng trách Cục trưởng Cục Hóa học, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam rồi làm Tư lệnh Binh chủng Hoá học (năm 1977).

Năm 1986, ông được cử làm Phó tư lệnh Quân khu 2, có thời gian kiêm Tư lệnh Mặt trận Vị Xuyên. Năm 1987, ông được bổ nhiệm Tư lệnh Quân khu 2.

Năm 1992, Trung tướng Đặng Quân Thụy được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban An ninh Quốc phòng của Quốc hội, một Ủy ban mới được thành lập tại Quốc hội Khóa 9. Ông cũng từng làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam rồi mới nghỉ công tác.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta và nhiều Huân chương cao quý khác của nước ta và bạn bè quốc tế.
Theo Báo QĐND./.
Ảnh: Từ phải sang trái: Đồng chí Hoàng Văn Thái, đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Võ Văn Kiệt mặc áo trắng. Đồng chí Đặng Quân Thụy đi sau đồng chí Hoàng Văn Thái.
Yêu nước ST.

CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH MANG TÊN CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH VÀO THỜI ĐIỂM NÀO?

     Sau khi giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh ở miền Trung, vào đầu tháng 4-1975, các cánh quân của ta đều hướng về phía Nam chuẩn bị cho cuộc hội quân lớn để giải phóng Sài Gòn. Trước tình thế ngày càng khẩn trương, các vị tướng lĩnh chỉ huy chiến dịch cũng chuyển vào Nam Bộ và gặp nhau tại căn cứ của Miền ở khu vực Tà Thiết - Lộc Ninh.
Tại đây đã có mặt các đồng chí trong Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền gồm: Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng, Trần Nam Trung, Trần Văn Trà, Phan Văn Đảng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Xô, Lê Đức Anh, Lê Văn Tưởng, Đồng Văn Cống, Lê Ngọc Hiền, Đinh Đức Thiện, Lương Văn Nho. Chiều 7-4, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã vào tới Tà Thiết.

Ngày 8-4, trong cuộc họp đông đủ của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, có thêm cán bộ của Bộ Tổng tư lệnh tham dự, đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến nội dung Nghị quyết của Bộ Chính trị họp ngày 25-3 ở Hà Nội. Cuối cuộc họp, đồng chí phổ biến quyết định của Bộ Chính trị thành lập Bộ Tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định gồm các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Tư lệnh; Phạm Hùng, Chính ủy; các Phó tư lệnh: Trần Văn Trà, Lê Đức Anh; Đinh Đức Thiện, Phó tư lệnh phụ trách hậu cần; Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng.

Sang ngày 22-4-1975, bổ sung thêm đồng chí Lê Trọng Tấn làm Phó tư lệnh; Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.

Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng các cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần vốn có của Miền để làm việc, có tăng cường thêm một số cán bộ của Đoàn A75 vừa ở Tây Nguyên tới và từ Bộ Tổng Tham mưu phái vào.

Thời gian hết sức khẩn trương, Bộ Chính trị chỉ thị cuộc tổng công kích vào Sài Gòn càng sớm càng tốt.

Trong không khí náo nức, sôi động của chiến trường, lần lượt các Bộ tư lệnh quân chủng, binh chủng, quân đoàn đến sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ. Riêng đối với Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3, của Quân khu 5 đang chiến đấu ở cánh Đông, Bộ chỉ huy chiến dịch cử Đại tá Lương Văn Nho (sau này là Phó tư lệnh Quân khu 7) đi truyền đạt nhiệm vụ. Bản mệnh lệnh có chữ ký của đồng chí Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Mệnh lệnh nêu rõ: Tất cả các binh đoàn thuộc cánh quân phía đông đều đặt dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn, tác chiến theo kế hoạch thống nhất của Bộ Chỉ huy chiến dịch.

Sau khi thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn và điểm các cánh quân trên các hướng, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy thao thức, trăn trở nhớ đến Bác Hồ, Người đã suốt đời hy sinh tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhớ tên Bác đã được đặt cho thành phố Sài Gòn, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhất định đặt tên chiến dịch tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn với ý nghĩa và quy mô lớn nhất trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước nước, là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm và kế hoạch giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Hồi 17 giờ 50 phút ngày 14- 4-1975, bức điện số 37/TK của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi đến mặt trận Sài Gòn "đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh".

Như vậy, Sài Gòn là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Tên Bác gắn với một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, cho thấy tầm vóc to lớn của chiến dịch, tính triệt để và tất thắng của nó, đánh vào Sài Gòn như thế nào cho nhanh, chắc thắng, làm sụp đổ cả chế độ phản động, đập tan cả hệ thống tổ chức ngụy quân, ngụy quyền từ Trung ương đến tận cơ sở, phá tan bộ máy chiến tranh, với bản chất phản động hiếu chiến, ngoan cố của bè lũ tay sai, đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ (1).
Báo QĐND./.
Ảnh: Bộ đội lên máy bay vận tải vào miền Nam tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (tháng 4-1975).
Yêu nước ST.

BAO NHIÊU SẢN PHẨM LỚN CỦA VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BẤY NHIÊU SỰ H.ẸP H.ÒI N.É.M Đ Á CỦA KHÔNG ÍT CHÍNH NGƯỜI VIỆT?

         BKAV sau khi ra mắt Bphone đã bị s.oi m.ói từng chân lông kẽ tóc theo kiểu “bới lông tìm vết” để tìm cho ra những “kh. uyết t.ật” của nó, bị cư dân mạng v.ùi d. ập không thương t.iếc, ch.ê b.ai chất lượng sản phẩm đủ điều; hay thời điểm VinFast ra mắt 2 mẫu xe ô tô đầu tiên, rồi dàn xe ô tô điện xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu, có mặt ở các triển lãm xe hơi lớn nhất thế giới... không ít người dè bỉu cho rằng “chẳng ai d.ại gì đi chọn xe Việt Nam. Làm sao chọi lại được với Toyota, BMW”…

Liệu có ở một đất nước nào khác mà một sản phẩm do người nước đó làm ra lại bị chính những người dân nước mình v.ùi d. ập lên bờ xuống ruộng như vậy hay không?

Nhìn lại đất nước mình nghĩ mà b.uồn. Đặt chân tới Hàn Quốc, đâu đâu cũng thấy hình ảnh của Samsung, Huyndai; tất cả phim Hàn Quốc chúng ta xem từ nhân vật giàu có đến ngh.èo khó đều dùng sản phẩm của nước họ; Nhật Bản thì những chiếc ô tô Toyota, Honda chạy đầy đường, người dân dùng hàng điện tử Sony do chính họ sản xuất, làm ra. Hãy nhìn đất nước người ta mà xem, mỗi cá nhân chịu thiệt thòi một chút thì đã sao nào?

Muốn trở thành một dân tộc lớn thì mỗi cá nhân phải nghĩ lớn. Tài năng thì làm chủ, ít tài hơn thì ủng hộ người chủ đó bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ sản xuất ra. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm “nhem nhuốc” của thời mới khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà làm ra những sản phẩm tinh xảo sau này?

Chịu biết bao b. úa r. ìu, n. ém đ.á từ dư luận không th.ương tiếc như thế, ấy vậy mà dõi theo những hành động của vị tỷ phú Phạm Nhật Vượng mới biết ông dành tâm huyết, nhiệt huyết để thay đổi đất nước này như thế nào.

Khi người Việt ch.i bộn tiền m.ua bất động sản ở nước ngoài, làn sóng di cư báo động thì những khu đô thị quy mô, tầm cỡ của Vingroup mọc lên, đẹp chẳng kém gì Singapore hay Hong Kong; Toà nhà Landmark 81 đã sừng sững mọc lên giữa trời Sài Gòn và đã ghi dấu trở thành toà tháp cao thứ 8 trên thế giới; Nhà máy sản xuất ô tô VinFast chỉ mất 650 ngày để hoàn thành…

Hãy nhìn xem, Đặng Lê Nguyên Vũ, cuộc đời, sự nghiệp và triết lý của ông với khát vọng quốc gia, khát vọng toàn cầu rất lớn khi ông bày b.inh bố tr.ận diện rộng khởi nghiệp kiến quốc đường dài ra sao?.

Trước đây, phát biểu tại lễ khánh thành Nhà máy sản xuất ô tô VinFast Thủ tướng ch.ính phủ nhắn nhủ rằng: “Doanh nghiệp Việt Nam phải có khát vọng cùng dân tộc với niềm tự hào sâu sắc về tiềm năng con người Việt Nam. Phải dám nghĩ, dám làm, phải có tinh thần cách mạng dấn thân, nói phải đi đôi với làm, làm thì phải khẩn trương, làm đến nơi đến chốn”.

Người Việt Nam đã từng làm nên nỏ thần thời An Dương Vương hàng ngàn năm về trước; đã từng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ ch.ấn động địa cầu; đã từng xây dựng đường Trường Sơn huyền thoại để mở đường cho chiến dịch Đại thắng mùa Xuân 1975…

Và bây giờ những tỷ phú mang trọng trách gánh vác nền kinh tế như Phạm Nhật Vượng (VinGroup), Nguyễn Thị Phương Thảo (Vietjet), Lê Viết Lam (SunGroup), Trần Đình Long (Hòa Phát), Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên)… hôm nay phần nào mang hình ảnh của những ch.iến b.inh năm xưa, nếu như không có khát vọng, lý tưởng phụng sự, tinh thần, bản lĩnh đóng góp vào sự phát triển của đất nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT!

48 năm ngày đất nước giải phóng, giang sơn thu về một mối, nhân dân 3 miền được nắm tay nhau, được cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình và hạnh phúc.
Tuy nhiên đã gần nửa thế kỷ trôi qua vẫn còn nhiều kẻ tuy là người việt nhưng vẫn cay cú ôm hận trong lòng, chưa chấp nhận thua trong cuộc chiến phi nghĩa này. Họ vẫn cho rằng miền bắc Việt Nam thắng là do được TQ, Nga, và khối XHCN viện trợ nhiều. Vậy đây là câu trả lời cho họ biết một chút về trận chiến 30-4-1975.
Theo các tài liệu cả của phía Việt Nam và của CIA thì để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử này, quân giải phóng miền nam với sự hỗ trợ của miền bắc có từ 280-300 ngàn quân (trong đó có khoảng 83 ngàn du kích) còn lại là quân chủ lực. Đạn dược ước tính khoảng 25.000 tấn. 320 xe tăng, 230 xe bọc thép , 88 pháo các loại, 342 pháo cao xạ, súng cối 1561 khẩu, ngoài ra quân giải phóng còn được tăng viện 1 tiểu đoàn tên lửa sam 2 vào miền nam đề phòng các hoạt động của không quân VNCH.
Phía VNCH thời điểm này các tài liệu CIA công bố cho thấy riêng dự trữ đạn dược gấp 5 lần quân giải phóng (150.000 tấn) quân số lúc đó là 1.4 triệu quân chính quy chưa kể cảnh sát vũ trang. Xe tăng và thiết giáp có 2044 chiếc. 1683 máy bay các loại.1556 pháo các loại.14.900 súng cối, gần 600 tàu thuyền các loại. CIA tính rằng ít nhất sẽ phải để lại 5 tỷ USD làm quà cho quân giải phóng nhân ngày thống nhất đất nước. Riêng vũ khí mà Việt Nam thu được sau cuộc chiến được Việt Nam đủ dùng trong suốt 10 năm chiến tranh biên giới tây nam. Sau này nhiều tướng lĩnh Hoa kỳ ngán ngẩm mà nói rằng (chúng ta mà viện trợ nhiều như thế này cho Bắc Việt thì họ đủ vũ khí đánh với ta hết cả thế kỷ...) 
Đây là những dẫn chứng để thấy được một điều những người lính quân giải phóng họ luôn có một lý tưởng nung nấu trong lòng đó là dành độc lập tự do cho đất nước. Còn phía còn lại họ chiến đấu chỉ vì những đồng USD bẩn thỉu nhơ nhuốc, họ không khác gì lính đánh thuê cho quan thầy tận bên kia bán cầu. Chiến tranh đã lùi xa Việt Nam đã và đang nổi lên là một đất nước hoà bình và phát triển, chúng tôi kêu gọi những kẻ chống phá hãy quay đầu vì chỉ có quay đầu thì mới có thể về được bờ. Đó là quy luật, hãy chung tay xây dựng một Việt Nam hoà bình và hưng thịnh.
VINH QUANG DÀNH CHO DÂN TỘC VIỆT NAM ANH HÙNG!
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 27 THÁNG 4 NĂM 1948!

         “...Mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”!
     “Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Lời dạy trên được Bác viết trong Thư gửi Quân sự Tập san, năm 1948.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, người chiến sĩ chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người chiến sĩ quân đội mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tri thức về quân sự, trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người dám “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm Người viết trong thư gửi Quân sự Tập san (Tạp chí Quốc phòng toàn dân hiện nay): “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”. Bác cũng nhấn mạnh về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc kết kiến thức từ thực tiễn.
     Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện trong quân đội được đổi mới theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, cũng như yêu cầu tác chiến, trong điều kiện sử dụng vũ khí công nghệ cao; chú trọng diễn tập hiệp đồng quân binh chủng, diễn tập cơ động và diễn tập khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đòi hỏi phải đồng bộ cả con người và vũ khí, trang bị. Trước hết phải nâng cao chất lượng tuyển quân và chất lượng giáo dục, đào tạo, huấn luyện, để mỗi quân nhân, nhất là đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và trình độ kỹ, chiến thuật tốt, có tư duy đổi mới, nhạy bén, sáng tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học-công nghệ, ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn, phải thường xuyên học tập, học suốt đời, kiên quyết đấu tranh với bệnh tự mãn, lười học tập, rèn luyện./.
Môi trường (Yn) ST.

NHỮNG CÂU NÓI LƯU DANH MUÔN ĐỜI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM!

1. Trưng Trắc: "Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức lòng chồng. Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này"

2. Bà Triệu: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông. Chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người"

3. Lý Thường Kiệt: "Ngồi yên đợi giặc không bằng hãy đem quân ra phá thế mạnh của giặc"

4. Trần Thủ Độ: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác"

5. Trần Quốc Tuấn: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước muôn đời vậy"

6. Trần Quốc Tuấn: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã"

7. Trần Bình Trọng: "Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc"

8. Trần Quốc Toản: "Phá cường địch, báo hoàng ân"

9. Trần Nhân Tông: "Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông nghìn thuở vững âu vàng"

10. Hồ Nguyên Trừng: "Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo"

11. Đặng Dung:b"Quốc thù vị báo đầu tiên bạch. Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma"

12. Lê Lai: "Ta là chúa Lam Sơn đây"

13. Nguyễn Trãi :" Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"

14. Nguyễn Trãi:" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"

15. Nguyễn Bỉnh Khiêm:" Hoành Sơn nhất đái. Vạn đại dung thân"

16. Bùi Thị Xuân:" Con nhà tướng không được khiếp nhược trước quân thù"

17. Quang Trung:" Nơi nào Ta mang quân tới, nơi đó quân thù bị đánh tan tành"

18. Quang Trung:" Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ"

19. Nguyễn Trung Trực:" Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây"

20. Duy Tân:" Tay dơ lấy nước mà rửa, nước dơ thì lấy máu mà rửa"

21. Hồ Chí Minh:" Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

22. Hồ Chí Minh:" Không có gì quý hơn độc lập, tự do"

23. Võ Nguyên Giáp:" Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và Toàn thắng!"
24. Nguyễn Viết Xuân:" Nhằm thẳng quân thù! Bắn"./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN VỀ GIÁO SƯ TRẦN ĐẠI NGHĨA

 Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, kỹ sư quân giới, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không, cử nhân khoa học tại 5 trường đại học Pháp, Cục trưởng Quân giới,...Trần Đại Nghĩa), lại có tính tình khá là ngốc nghếch làm cả vợ con lẫn đồng nghiệp bất lực:

- Trần Đại Nghĩa khi làm Cục trưởng quân giới bị cô quân y Nguyễn Thị Khánh miêu tả là "quần áo thì lôi thôi, úi xùi, tóc chẳng bao giờ chải, cặp kính dày cộp trên mặt...", sau này về làm vợ chồng thị lại bị vợ tả là "Đầu có lúc nào cũng súng với đạn, chẳng quan tâm gì xung quanh, cả tuần không tắm, giày thì để cóc ở, quần áo thì tơi tả". Bác Hồ từng phải bất lực kêu: “Thím Nghĩa đâu mà để chú Nghĩa ra nông nỗi này?”

- Trần Đại Nghĩa lơ đễnh đề xuất cắm cọc nhọn quanh cơ quan để chống lính Pháp nhảy dù. Chưa chọc được thằng lính Pháp nào thì cụ tự va trúng cọc ngã...

- Vì lớn tuổi rồi mà chưa vợ con gì, Trần Đại Nghĩa được tổ chức mai mối cho cô Khánh. Cụ Nghĩa bèn vác sách vở đến chỗ cô Khánh làm việc 2 hôm giời mà chẳng dám nói gì. Cô Khánh tức quá đành chủ động hỏi trước, thế là cụ Nghĩa nhà ta mới có vợ.

- Ở chiến khu ai cũng sợ đi qua phòng Trần Đại Nghĩa, tại vì phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Ba-zo-ka. Đã thế ông này lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy, các cụ độ còng lưng mới còn nguyên vẹn như vậy.

- Có lần Trần Đại Nghĩa đi tắm suối nửa ngày chưa về làm cả cơ quan phải đi tìm. Ra đến suối thì thấy cụ đang ngồi trên tảng đá viết đầy công thức ngoằn ngoèo.

- Có hôm ông được vợ nhờ trông con hộ, vợ ông về đến nơi thấy đứa nào cũng mặt mũi lem nhem còn ba thì đang ngồi đọc sách. Ông gọi đó là "trông con kiểu tự do sáng tạo".

Nguồn: st

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH, ĐỈNH CAO CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975

 Ngày 26/4/1975, cách đây 48 năm, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Đây là chiến dịch quyết chiến chiến lược lớn nhất của quân và dân ta với lực lượng tương đương 5 quân đoàn, đánh vào trung tâm đầu não quan trọng nhất của chính quyền, quân đội nguỵ ở Sài Gòn-Gia Định và các vùng phụ cận. Với 5 hướng tiến công đánh vào 5 mục tiêu quan trọng: Dinh Độc Lập, Bổ Tổng Tham mưu, Tổng nha cảnh sát, Biệt khu thủ đô và sân bay Tân Sơn Nhất, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, để lại nhiều bài học kinh quý báu./. lvk

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc sai trái



Xuất phát từ việc bùng nổ thông tin với nhiều ứng dụng tiện lợi trên mạng internet, trong khi số lượng người sử dụng mạng xã hội ngày càng tăng, các thế lực thù địch, phản động, hội nhóm chống đối, các phần tử cực đoan, quá khích, “trở cờ” đã đưa nhiều thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Nếu người sử dụng mạng xã hội không tỉnh táo sẽ dễ dàng bị cuốn theo những thông tin xấu độc, sai sự thật, vô hình trung lại cổ súy, a dua trước những hoạt động sai trái, bị các đối tượng xấu “dắt mũi” chống phá.


Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là tìm mọi cách phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, cổ súy cho các giá trị “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, khuyến khích “tự do bản năng” theo kiểu “vô chính phủ”, từ đó xoay chuyển quỹ đạo phát triển của Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.


Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các tổ chức, đối tượng phản động, chống đối lập ra rất nhiều website, blog, fanpage, facebook cá nhân, kênh youtube, zalo, tiktok… để đăng tải thông tin xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế - xã hội; xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt các bộ, ngành, địa phương. Chúng cũng lợi dụng công cuộc chống tham nhũng do Đảng ta lãnh đạo được triển khai quyết liệt với nhiều kết quả tích cực để vu khống, quy chụp bản chất chế độ, xuyên tạc về cái gọi là “thanh trừng, đấu đá nội bộ” gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân.


Hoạt động lợi dụng mạng xã hội để đăng tải, tán phát thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật của các đối tượng như Đường Văn Thái mục đích cuối cùng là nhằm tạo ra sự hoài nghi trong xã hội, từ đó hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, không chia sẻ, bình luận thông tin trên những trang mạng có nội dung xấu - độc.


Nguồn: Báo Hà Tĩnh.

Báo cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam dựa trên cái nhìn phiến diện, sai lệch


Ngày 20/3 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hòa Kỳ đã công bố Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022, trong đó nêu một số quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam, đã "vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và có hệ thống".


Đáng chú ý, báo cáo này đề cập nhiều nội dung liên quan đến công tác cải tạo, giam giữ trong các trại giam ở Việt Nam với những cụm từ nặng nề như “trừng phạt dã man, vô nhân đạo”  hay “tước đoạt sinh mạng tùy tiện” vì “động cơ chính trị”.

Cụ thể, báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng: “Luật cho phép người nhà đến thăm phạm nhân mỗi tháng từ 1-3 giờ và gọi mỗi tháng 4 cuộc điện thoại, mỗi cuộc dài 10 phút. Tuy nhiên, nhà chức trách thường giới hạn mỗi phạm nhân chỉ được gặp gia đình mỗi tháng 1 lần không quá 1 giờ. Người nhà phạm nhân cho biết, nhà chức trách trại giam thường hạn chế mỗi phạm nhân chính trị chỉ được gọi 2 cuộc điện thoại mỗi tháng, mỗi cuộc dài 5 đến 7 phút”.


Đây là những thông tin hoàn toàn sai lệch về chế độ của phạm nhân ở Việt Nam. Điều 52, Luật Thi hành án hình sự 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua ghi rõ: “Phạm nhân được thăm thân 01 lần/tháng, mỗi lần không quá 01 giờ. Trường hợp kết quả chấp hành án tốt, trại giam mới quyết định kéo dài thời gian gặp không quá 03 giờ; phạm nhân lập công hoặc được khen thưởng mới được thăm gặp thêm 01 lần/tháng. Điều 54 Luật Thi hành án hình sự quy định: Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách”.


Rõ ràng, các trại giam ở Việt Nam đang thực hiện đúng những điều luật quy định và không có cụm từ nào liên quan “phạm nhân chính trị” để phân biệt đối xử.  


Đề cập việc quản lý trại giam ở Việt Nam, Báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng: “Không có hệ thống thanh tra trại giam nào hoạt động để phạm nhân có thể nộp đơn khiếu nại. Bộ Công an cho biết, các phạm nhân có thể nộp đơn khiếu nại chính thức cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đơn khiếu nại trước hết phải nộp cho các cán bộ quản trại mà những người này thường là đối tượng bị khiếu nại, nên hầu hết các quan sát viên cho rằng, quy trình này có khiếm khuyết".


Đối chiếu Điều 184, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 cho thấy, đây là những thông tin không chính xác. Luật quy định “trong thời hạn 24h kể từ khi tiếp nhận, Giám thị trại giam phải chuyển ngay khiếu nại cho Viện Kiểm sát có thẩm quyền”.


Về những trường hợp phạm  nhân cụ thể, Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc “nhà hoạt động chính trị Lê Anh Hùng bị tạm giam 4 năm trước khi xét xử” và cho rằng, thời gian tạm giam như vậy là quá dài.


Trên thực tế, đây là phạm nhân phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian tạm giam.


Theo thông tin từ cơ quan chức năng, Lê Anh Hùng sinh năm 1973. HKTT: phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ngày 05/7/2018, Cơ quan ANĐT Công an Tp. Hà Nội đã tiến hành khởi tố, bắt tạm giam, khám xét chỗ ở của Lê Anh Hùng. Quá trình tố tụng đảm bảo theo các quy định, trình tự của pháp luật. Cơ quan chức năng có đủ căn cứ để kết luận: Lê Anh Hùng đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền tự do biểu đạt ý kiến, lợi dụng công nghệ thông tin để in, treo, phát tán các biểu ngữ và bài viết có nội dung bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước.


Việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh với Lê Anh Hùng là có căn cứ. Sau khi quá trình điều tra kết thúc, do nghi ngờ năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, Cơ quan ANĐT đã ra quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Lê Anh Hùng. Ngày 24/4/2019, Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Lê Anh Hùng có bệnh rối loạn hoang tưởng dai dẳng. Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bệnh ở giai đoạn tái phát, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Áp dụng Điều 449 – BLTTHS, ngày 03/5/2019, các cơ quan chức năng áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Anh Hùng và đề nghị hủy biện pháp tạm giam.


Bộ Ngoại giao Mỹ đặc biệt quan tâm đến 6 trường hợp chết trong khi giam giữ, cho rằng, có việc “tước đoạt sinh mạng tùy tiện” hoặc “trái pháp luật”. Về những cáo buộc này, cơ quan chức năng ở Việt Nam đã có những thông tin rõ ràng, cụ thể.


Chẳng hạn như trường hợp phạm nhân Nguyễn Danh Thi ở Thái Bình. Nguyễn Danh Thi sinh năm 1978; quê quán: Xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, bị Cơ quan cản sát điều tra Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang và ra quyết định tạm giữ hình sự về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” ngày 27/3/2022. Nguyễn Danh Thi được Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng tiếp nhận, bố trí tạm giữ một mình trong buồng tạm giữ số 2. Nhà tạm giữ đã tiến hành khám sức khỏe ghi nhận Nguyễn Danh Thi tỉnh táo, tiếp xúc tốt, không có thương tích, không có biểu hiện tâm lý bất thường. Khoảng 01h14 phút ngày 29/3/2022, cán bộ Nhà tạm giữ phát hiện Nguyễn Danh Thi treo cổ, nên tiến hành sơ cứu và đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đông Hưng cấp cứu.


Tuy nhiên, kết quả cấp cứu xác định Nguyễn Danh Thi đã tử vong. Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình phối hợp cùng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, chính quyền địa phương và đại diện gia đình tiến hành khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân chết, đồng thời bàn giao thi thể cho gia đình về mai táng theo quy định. Căn cứ kết quả khám nghiệm, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã kết luận: “Việc Nguyễn Danh Thi chết là do tự sát, không có yếu tố tác động từ bên ngoài, không có dấu hiệu tội phạm xảy ra”.


Ngày 23/3 vừa qua, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam lấy làm tiếc vì Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở trên tinh thần xây dựng với Hoa Kỳ về những vấn đề còn có sự khác biệt để tăng cường hiểu biết và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ".


Nhiều năm qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liên tục đưa ra các báo cáo nhân quyền thường niên quốc gia với những nội dung không chính xác về tình hình dân chủ, nhân quyền tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong bản báo cáo năm 2022, một lần nữa Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại thể hiện cái nhìn phiến diện, sai lệch. Những thông tin đó bị ảnh hưởng bởi quan điểm, định kiến cá nhân, không dựa trên các sự kiện, dữ liệu và chứng cứ khách quan thu thập được.


Sau 10 thăm thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện, Việt Nam và Hoa Kỳ duy trì các hoạt động tiếp xúc, đối thoại, trao đổi đoàn ở các ngành, các cấp, nhất là các chuyến thăm cấp cao. Mối quan hệ giữa hai quốc gia phát triển một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, văn hoá, giao lưu nhân dân…


Việt Nam sẵn sàng đối thoại, trao đổi thẳng thắn và cởi mở trên tinh thần xây dựng với Hoa Kỳ nhằm thu hẹp những khác biệt trên một số lĩnh vực, trong đó có vấn đề nhân quyền, dân chủ, dân tộc, tôn giáo…/.


KHÔNG TỰ GIÁC SẼ BIẾN MÌNH THÀNH NGƯỜI CÓ TỘI

 KHÔNG TỰ GIÁC SẼ BIẾN MÌNH THÀNH NGƯỜI CÓ TỘI

10 năm qua (2012-2022), đã có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; đã đưa ra xét xử sơ thẩm 120 vụ án, 1.083 bị cáo, trong đó có 37 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự.

Nhiều “quan chức” cấp cao hầu tòa khiến dư luận cộm lên một câu hỏi: Lỗi ấy do đâu? Một câu hỏi nhức nhối và đó là lý do nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân tổ chức loạt bài này.

Không tự giác sẽ biến mình thành người có tội

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “Tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa ngay tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”. Nhận định ấy có nghĩa là, nơi nào có quyền lực nhà nước thì nơi ấy có nguy cơ xảy ra tham nhũng.

Nhận định ấy cũng rất đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh, khi mà từ 70 năm trước (năm 1952), Người từng viết: “Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng”.

Phát biểu trước tòa, ông Đinh La Thăng cựu Ủy viên Bộ Chính trị, người từng được Đảng, Nhà nước giao rất nhiều trọng trách, đã rơi nước mắt nhắc lại những năm tháng tuổi trẻ với sự hy sinh, cống hiến tuổi xuân trên công trường thủy điện Sông Đà. Nghe ông nói, không ai phủ nhận ông đã có một thời tuổi trẻ sôi nổi, với một lý tưởng sống rất đẹp. Nhưng khi bước lên những nấc thang của quyền lực, đứng đầu một tập đoàn kinh tế, đứng đầu một bộ, ông đã cố ý (hoặc vô tình) làm trái các quy định của pháp luật, gây ra những hậu quả to lớn, nghiêm trọng cho kinh tế đất nước.

Ông nắm rõ quy định của pháp luật về quản lý tài sản Nhà nước, nhưng vẫn cố tình thu xếp cho Công ty Yên Khánh của Đinh Ngọc Hệ trúng thầu quyền thu phí một tuyến cao tốc, gây thất thoát 725 tỷ đồng. Ông biết rõ việc góp vốn của Nhà nước vào OceanBank là trái thẩm quyền, không đúng chức năng nhưng vẫn cố tình ký kết, làm thất thoát 800 tỷ đồng... Đó chỉ là hai trong nhiều vụ án mà ông Đinh La Thăng bị khởi tố, cho thấy ông đã “tự tung, tự tác”, tự cho mình quyền coi thường kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Ông Nguyễn Bắc Son, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, người giữ vai trò quyết định trong thực hiện dự án MobiFone mua 95% cổ phần AVG bất chấp quy định của pháp luật. Hành vi của ông Son và đồng phạm gây thiệt hại tài sản Nhà nước 6.500 tỷ đồng. Riêng ông Son nhận 3 triệu USD tiền hối lộ trong vụ việc này. Một hành vi tham ô khủng khiếp, không gì bào chữa được. Ông Son từng là sĩ quan quân đội, đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, nhưng những phẩm chất cao quý mà ông tích lũy được trong quân ngũ đã bị bắn gục bởi “viên đạn bọc đường” khi đã lên đến một nấc rất cao của danh vọng.

Hàng loạt “quan chức” hầu tòa: Lỗi cơ chế hay phẩm chất?

Ông Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương là một ví dụ điển hình về sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Ông đã sử dụng quyền lực được nhân dân ủy thác để vụ lợi trong việc tiếp nhận, bổ nhiệm con trai là Vũ Quang Hải làm kiểm soát viên Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam; quyết định điều động và đề cử Vũ Quang Hải tham gia Hội đồng quản trị Tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) để bầu làm thành viên Hội đồng quản trị, Phó tổng giám đốc Sabeco. Trên cương vị Bộ trưởng, ông Vũ Huy Hoàng đã có ý kiến chỉ đạo Sabeco góp vốn bằng quyền sử dụng khu đất số 2-4-6 Hai Bà Trưng (TP Hồ Chí Minh) và tiền của Sabeco để thành lập liên doanh Sabeco Pearl, đầu tư thực hiện dự án "xây dựng khách sạn 6 sao" tại khu đất trên. Sau đó, ông lại chỉ đạo Sabeco thoái toàn bộ vốn góp tại Sabeco Pearl, dẫn tới quyền quản lý, sử dụng khu đất số 2-4-6 Hai Bà Trưng bị chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang tư nhân trái pháp luật, gây thất thoát hơn 2.700 tỷ đồng. Những hành vi của ông đã vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm và quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng, gây bức xúc trong xã hội.

Nếu nhắc tới sự tha hóa phẩm chất khi đã ngồi vào vị trí “chức trọng, quyền cao", chúng ta không khỏi đau xót khi nhắc đến ông Nguyễn Đức Chung, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Ông trưởng thành trong ngành công an, từng là người cảnh sát hình sự nổi tiếng dũng cảm, từng lập được không ít chiến công trên lĩnh vực phòng, chống tội phạm, được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, trở thành một vị tướng công an khi độ tuổi còn trẻ. Với những phẩm chất đáng quý đó, người dân từng tràn trề hy vọng ông sẽ có những đóng góp xứng đáng khi trở thành người đứng đầu chính quyền TP Hà Nội. Nhưng sự suy thoái không có “thẻ miễn trừ” với bất kỳ ai, khi ông sa vào chủ nghĩa cá nhân, khi ông bỏ quên sự tu dưỡng, rèn luyện các phẩm chất đạo đức và để chủ nghĩa danh lợi lấn át. Ông bị tòa án tuyên phạm tội "chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước"; “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” với tổng mức hình phạt trong 3 vụ án là 12 năm tù tính từ ngày bị bắt 28-8-2020. Đáng nói hơn, ông Nguyễn Đức Chung có học vị tiến sĩ luật, rất hiểu biết pháp luật nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật.

“Không thích thú gì việc kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót, nhưng buộc phải làm. Như Bác Hồ đã nói, phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây”-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 23-6-2022.

Không thể đổ lỗi cho cơ chế

Một số trường hợp “quan chức” kể trên sa ngã trên những con đường khác nhau nhưng ở họ có một điểm chung: Họ từng là những cán bộ ưu tú của Đảng, Nhà nước nhưng khi được giao những chức quyền cao cấp, họ đã trượt xuống vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, đánh mất những phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà họ đã đánh đổi cả tuổi xuân để tôi luyện. Ngự trị nơi đỉnh cao quyền lực, họ lơ là phòng bị, để “giặc trong lòng” đánh bại hoàn toàn. Sự tha hóa của những người có quyền lực hoàn toàn không phải là điều xa lạ với những người cộng sản, và không thể đổ lỗi cho bất kỳ cơ chế nào.

Cách đây ngót 180 năm, khi nghiên cứu sự tha hóa của quyền lực nhà nước ở Tây Âu, Các Mác đã đưa ra những cảnh báo: Quyền lực nhà nước càng lớn thì sự tha hóa của nó càng nguy hiểm, nó càng gần với tư cách một lực lượng tự trị thoát khỏi sự kiểm soát của con người. Các Mác coi giới quan chức tạo thành một xã hội đóng kín trong nhà nước. Nhà nước chỉ còn tồn tại dưới dạng những lực lượng quan chức cụ thể khác nhau và với mỗi quan chức cụ thể thì “mục đích nhà nước biến thành mục đích cá nhân của y, thành việc chạy theo chức tước, thành việc mưu danh, cầu lợi”.

Sự tha hóa của giới quan chức là biểu hiện của việc tha hóa quyền lực chính trị, đây dường như là căn bệnh chung của mọi kiểu nhà nước. Các Mác đặc biệt lưu ý sự tha hóa của quyền lực trong nền kinh tế thị trường, đó là hiện tượng tôn thờ đồng tiền, bất chấp đạo lý. Ông đã viết: “Sức mạnh của tiền lớn bao nhiêu thì sức mạnh của tôi cũng lớn bấy nhiêu... Tôi là người xấu, không thật thà, không có lương tâm, ngu ngốc, nhưng tiền được tôn thờ thì người có tiền cũng được tôn thờ, tiền là cái tốt cao nhất thì người có nó cũng tốt”.

 

Từ phân tích của Các Mác về nguy cơ tha hóa của những người giữ quyền lực mà những người cộng sản đặt ra yêu cầu rất cao của việc giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng. Lênin từng yêu cầu phải “lay động các tòa án nhân dân và dạy cho họ biết trừng trị một cách không thương xót, kể cả việc đem bắn những kẻ lạm dụng chính sách kinh tế mới”, “đối với người cộng sản phải trừng phạt nặng hơn gấp ba lần so với những người ngoài đảng”, “tôi rất mong chúng ta có thể đuổi ra khỏi đảng từ 10 vạn đến 20 vạn người đã len lỏi vào đảng và đã không những không biết đấu tranh chống bệnh giấy tờ cùng nạn hối lộ, mà còn cản trở cuộc đấu tranh này”.

Lênin cũng cảnh báo hai khuynh hướng sai lầm trong đấu tranh chống sự suy thoái của những người giữ quyền lực nhà nước: Một là, quan niệm giản đơn, đây là căn bệnh dễ chữa trị nên những người cộng sản có thể hạn chế, khắc phục nó chỉ trong thời gian ngắn. Hai là, cho rằng đó là thuộc tính xã hội của quyền lực nhà nước nên sự tồn tại của tham nhũng là tất yếu, con người chỉ có thể hạn chế mà không thể xóa sạch nó.

PGS, TS Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên từng trả lời phóng viên Báo Quân đội nhân dân về văn hóa liêm chính trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay: “Trước đây, trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã xây dựng nên một xã hội liêm chính với tinh thần “con cá, chột nưa”, kể cả trong thời bao cấp thì văn hóa “cho không lấy, thấy không xin, xin không cho” vẫn lan tỏa trong xã hội như một nếp sống đẹp. Đến khi mở cửa, hội nhập với thế giới, phát triển kinh tế thị trường, chúng ta đã sớm biết rõ tác hại từ mặt trái của nó, nói một cách hình ảnh là khi ta mở cửa thì cùng với những làn gió tươi mới, mát lành cũng không thể tránh khỏi có cả những làn gió độc bay vào.

“Văn hóa thực dụng” xuất hiện, dẫn tới nhiều cái xấu độc cũng bị ngộ nhận trở thành văn hóa. Đồng tiền chi phối cuộc sống khiến nhiều quan niệm văn hóa bị méo mó, lệch lạc. Ví dụ, bây giờ có những cán bộ liêm chính mà tác phong, lối sống quá giản dị thì thường bị dư luận chê là nghèo, cổ hủ, lạc hậu. Hoặc có những cán bộ trong sạch, gương mẫu nhưng không được xung quanh ủng hộ, cùng lắm là được “kính nhi viễn chi”, được an ủi, động viên riêng lẻ chứ ít được ủng hộ công khai. Hay những người đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực lại bị chính người thân phản đối, ghẻ lạnh. Đó là những vấn đề khiến văn hóa liêm chính chưa lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng”.

Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh, từ khi trở thành Đảng cầm quyền cho đến nay, những người cộng sản Việt Nam đã nêu những tấm gương sáng ngời về đạo đức khi được nhân dân giao phó giữ chức trọng, quyền cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao của dân tộc và Người đã hiến cả cuộc đời cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong lòng dân và trong trái tim nhân loại, Người là hiện thân của đạo đức mới, đạo đức cộng sản. Trong di sản mà Người để lại cho con cháu mai sau, có một kho báu vô tận đó là nền tảng đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”.

Vì thế, chẳng phải ngẫu nhiên khi phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực ngày 30-6-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại giãi bày tâm sự: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt, xuôi tay, ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời-sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự trường tồn của dân tộc, sự vẻ vang của giống nòi và hạnh phúc của nhân dân”.Bằng con đường thực hành đạo đức cách mạng trong cơ chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất định những người cộng sản Việt Nam sẽ tránh được “bẫy” suy thoái của quyền lực. Con đường đó không hề bằng phẳng, dễ dàng, thậm chí sẽ phải trả giá bằng việc loại ra khỏi đội ngũ rất nhiều cán bộ cấp cao vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Cùng với thực hành đạo đức cách mạng, Đảng, Nhà nước còn phải thực thi kiểm soát quyền lực. Vấn đề này sẽ được chúng tôi đề cập ở những bài viết tiếp theo.“Tham nhũng thường diễn ra trong nội bộ, do người có chức, có quyền thực hiện. Phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; liên quan đến lợi ích, chức vụ, danh vọng, uy tín của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, phải có thái độ thật kiên quyết, không khoan nhượng và hành động thật quyết liệt, cụ thể, hiệu quả. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những yếu kém, sai phạm về tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình”-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu ngày 30-6-2022.

DỰA HƠI, THỪA CƠ “RÚT VÁN”

 DỰA HƠI, THỪA CƠ “RÚT VÁN”

Quay lưng với lợi ích quốc gia, dân tộc, hùa theo tư tưởng thù địch, chối bỏ quê hương, đất nước... là hành vi của những kẻ vong ân bội nghĩa. Nói về hạng người này, từ xa xưa, ông bà ta đã ẩn dụ: “Qua cầu rút ván”.Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh đổi mới, hội nhập, không ít người trưởng thành từ môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã bất mãn, tìm cách “rút ván” trên chính cây cầu mình đang đi. Họ không ý thức được rằng, hành vi sai lầm ấy đã tạo ra lỗ hổng ngay dưới chân và tự gieo mình xuống vực sâu. Có nhiều bài học nhãn tiền, nhưng kiểu dựa hơi, thừa cơ “rút ván” vẫn cứ diễn ra...

Dựa hơi, thừa cơ “rút ván”

Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu vừa kết thúc thành công tốt đẹp chuyến công tác tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc. Đây là sự kiện ngoại giao có ý nghĩa quan trọng của Việt Nam, được truyền thông quốc tế rất quan tâm. Theo dõi dư luận, bằng thái độ khách quan, ai cũng thấy đại bộ phận truyền thông quốc tế đánh giá cao thông điệp, hiệu quả chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Tại những nơi Thủ tướng Việt Nam đến thăm và làm việc, đoàn luôn nhận được sự chào đón với tình cảm thân tình, quý trọng, ấm áp của đông đảo kiều bào. Vậy mà trên một số tài khoản mạng xã hội của một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài lại cố tình tạo dựng, chia sẻ những clip mang tư tưởng thù địch.

Họ lu loa rằng, người Việt Nam ở Hoa Kỳ đã biểu tình phản đối chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính. Thực chất, cái gọi là “đoàn người biểu tình” chỉ lèo tèo vài nhóm người cực đoan, mang theo cờ ba sọc, biểu ngữ, tụ tập ở một số điểm công cộng. Kiểu dàn dựng khiên cưỡng để lấy hình ảnh làm truyền thông chống đối chỉ là tiếng hét lẻ loi, lạc phách, lạc nhịp trong dòng chảy chủ lưu mang thông điệp tích cực, khách quan, toàn diện, chính xác, kịp thời của môi trường truyền thông.

Đáng tiếc, một số phần tử có thái độ cực đoan chính trị đã lấy đó làm cái cớ để thổi phồng, tuyên truyền xuyên tạc, kích động hận thù, gây chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân ta với kiều bào ở nước ngoài, bôi xấu, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế. Trong số những đối tượng có hành vi đi ngược lại lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, đáng buồn là có một số ít người từng được rèn luyện, trưởng thành từ môi trường giáo dục XHCN. Họ, hoặc sau khi nghỉ hưu, nghỉ việc, hoặc bất mãn vì một lý do nào đó, đã lên mạng “hóng hớt” những thông tin tiêu cực, sai trái để làm chất liệu phát ngôn. Bằng kiểu lập ngôn bóng gió, suy diễn, ám chỉ..., những bài viết trên các tài khoản mạng xã hội của họ thể hiện sự hằn học với lãnh đạo Chính phủ, hả hê trước những khó khăn của đất nước, gián tiếp cổ xúy những hành vi thù địch. Kiểu lập ngôn bóng gió, mỉa mai, ám chỉ... nhằm che giấu bằng chứng theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” nguy hại như loài nấm độc trên không gian mạng. Với những hành vi ấy, họ đang tự rút tấm ván trên mặt cây cầu họ đang đi. Nếu không sớm thức tỉnh, dừng lại, sớm muộn họ cũng tự đưa chân vào lỗ hổng, gieo mình xuống vực sâu.

Đừng tự rút ván dưới chân mình

Đất nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả nặng nề của đại dịch Covid-19 và những biến động bất ổn cục bộ trên thế giới. Để đưa đất nước vượt qua khó khăn, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã nỗ lực triển khai các chủ trương, giải pháp phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội. Thúc đẩy các hoạt động ngoại giao quan trọng nhằm mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường tiềm lực, vị thế và uy tín quốc gia là vấn đề mang tính chiến lược. Những kết quả đạt được trên thực tế xuất phát từ chủ trương đúng đắn ấy đã góp phần củng cố niềm tin vững chắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất định chúng ta sẽ vượt qua thách thức, hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chung đó, không ít đối tượng có tư tưởng cực đoan, bất mãn lại bám vào những thông tin tiêu cực từ hải ngoại để móc nối, cấu kết với các thế lực bên ngoài, quyết liệt thực hiện các chiến dịch chống phá Đảng, Nhà nước theo kiểu “nội công ngoại kích”. Đó chính là những hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sử dụng cờ của ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975 nhằm tôn vinh thứ “thây ma” đã chết từ lâu, vẽ ra một tương lai ảo để lừa bịp, lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin và những đối tượng có tư tưởng bất mãn.

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã cảnh báo vấn đề này: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Không khó để nhận diện kiểu dựa hơi, thừa cơ “rút ván” của những đối tượng cực đoan, bất mãn, dù họ đã cố tình ngụy trang bằng kiểu lập ngôn lấp lửng, ám chỉ, bóng gió... Bằng nhận thức, bản lĩnh và niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chiến lược hành động của Chính phủ trong giai đoạn mới, mỗi cán bộ, đảng viên, công dân yêu nước hãy cùng lan truyền năng lượng tích cực trong đời sống xã hội theo tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu.

Cảnh tỉnh, nghiêm trị và đấu tranh ngăn chặn

Nhìn lại các vụ án xét xử những đối tượng phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thời gian qua, chúng ta nhận thấy: Đa số các đối tượng trước khi sa chân vào vực thẳm đều là những công dân được nuôi dưỡng, trưởng thành trong môi trường giáo dục XHCN. Không ít đối tượng từng là trí thức, công chức trong hệ thống chính trị, có ảnh hưởng xã hội nhất định. Chỉ vì bất mãn do tham vọng cá nhân không được đáp ứng hoặc mâu thuẫn với tổ chức nên đã trở cờ, biến mình thành con rối cho các thế lực thù địch giật dây, phản bội lại lý tưởng, lẽ sống của chính bản thân và gia đình.

Thời gian gần đây, nhiều tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội chia sẻ thông tin liên quan đến đối tượng “mẹ Nấm” (còn có tên khác là “mụ Nấm”, tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh). Theo đó, nhân vật từng gây “bão” trên một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại và nhiều tài khoản mạng xã hội mấy năm trước hiện đã “vỡ mộng” ở xứ người. Sau khi mãn hạn tù, năm 2018, “mụ Nấm” sang Mỹ định cư. Thời gian đầu, “mụ Nấm” được các thế lực thù địch tung hô là “người hùng”. Nhưng rồi như một miếng chanh bị vắt hết nước, khi không còn giá trị lợi dụng, “mụ Nấm” đã bị chính những người từng tung hô mình tẩy chay, ruồng bỏ, sống ê chề, nhục nhã. Đó là cái giá tất yếu phải trả cho thái độ vô ơn, ngông cuồng, ngạo mạn, tự chối bỏ quê hương, đất nước. “Mụ Nấm” là điển hình của kiểu tự rút ván dưới chân mình, sa vào lỗ hổng để cuộc đời rơi xuống vực sâu, đến khi ân hận thì đã muộn.

Mong rằng những đối tượng trót đưa tay nhúng chàm, có tư tưởng bất mãn, đang thực hiện các hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, hãy nhìn những bài học nhãn tiền như vậy để điều chỉnh thái độ, hành vi, quay đầu là bờ...

Mấy ngày nay, dư luận xã hội quan tâm đến vụ đối tượng Trương Văn Dũng (58 tuổi, ngụ tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa, TP Hà Nội) bị Công an TP Hà Nội ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam để điều tra vì tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trương Văn Dũng là đối tượng từng có tiền án, tiền sự, trình độ văn hóa thấp. Vì những mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế trong cuộc sống nên bất mãn, Dũng được các thế lực thù địch phỉnh nịnh, tung hô dẫn đến ảo tưởng, ngày càng lấn sâu, điên cuồng thực hiện các hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước. Nếu chí thú làm ăn, chấp hành luật pháp, Trương Văn Dũng hoàn toàn có đủ điều kiện và khả năng để xây dựng cuộc sống gia đình ổn định. Thế nhưng, chỉ vì ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng do các thế lực thù địch bày ra, y đã tiếp tay, “nối giáo cho giặc”. Với những đối tượng “ngựa quen đường cũ”, không chịu ăn năn, hối cải như Trương Văn Dũng, pháp luật cần nghiêm trị để răn đe.

Chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19, khôi phục các hoạt động kinh tế-xã hội trong trạng thái bình thường mới đã và đang đặt ra nhiều thách thức, tất yếu phát sinh những bất cập trong đời sống xã hội. Những bất cập, hạn chế, điểm nghẽn trong quản lý nhà nước luôn là cái cớ để các thế lực thù địch tập trung khai thác, xuyên tạc, chống phá. Chiến dịch tung tin giả, chiêu trò xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật, bôi đen chế độ, kích động biểu tình, gây rối, bạo loạn... đã và đang được các đối tượng phản động lưu vong ráo riết thực hiện. Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước cần tỉnh táo, nhận diện rõ sự thật. Hành vi “rút ván” làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc của những đối tượng cực đoan, bất mãn cần sớm được nhận diện, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả bằng sự tỉnh táo và sức mạnh đoàn kết ngay từ mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội, nghề nghiệp...

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CŨNG LÀ MỘT MẶT TRẬN

 VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CŨNG LÀ MỘT MẶT TRẬN

Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú. Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp.Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội.Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21. Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam...VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3).Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng.Đẩy lùi những tác phẩm “núp bóng nghệ thuật” làm tha hóa tư tưởng con người. Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật".

Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được. Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng. Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội.  Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định. Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo. Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối. Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định. Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội. Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động. Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”. Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH THỰC HIỆN ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI, VỚI LUẬN ĐIỂM KÍCH ĐỘNG

 CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH THỰC HIỆN ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI, VỚI LUẬN ĐIỂM KÍCH ĐỘNG

Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.

Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".  Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!). Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.

Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

SUY DIỄN, XUYÊN TẠC LÀ CHIÊU TRÒ PHẢN ĐỘNG

 SUY DIỄN, XUYÊN TẠC LÀ CHIÊU TRÒ PHẢN ĐỘNG

Trên chuyến xe về quê, ông Thanh bất đắc dĩ phải nghe cuộc tranh luận của hai vị khách ở hàng ghế phía trước. Người trung tuổi nói với cậu thanh niên:

- Đấy chú xem, anh nói cấm có sai, huyện đã có quyết định kỷ luật rồi. Tại có đối thủ muốn giành cái ghế chủ tịch xã của ông ấy.

- Ông ấy sai phạm rõ ràng thì việc bị kỷ luật là đương nhiên mà anh.

Giọng người trung niên hơi cáu:

- Lỗi của ông ta đáng gì, thậm chí người khác còn tội to hơn. Đây là thanh trừng, đấu đá nhau chú hiểu không? Ông ta bị chơi xấu, tạo cớ cho lãnh đạo huyện đá bay ghế chủ tịch xã để đưa người thân vào. Chú tí tuổi thì làm sao hiểu chuyện đấu đá, hạ bệ để tạo thế cho phe cánh. 

Cảnh giác với suy diễn, xuyên tạc

- Em xin lỗi, nhưng chính anh mới là người không hiểu chuyện. Anh có biết quy trình kỷ luật một cán bộ, đảng viên phải chặt chẽ thế nào không? Em làm ở cơ quan nhà nước nên em hiểu rất rõ. Việc kỷ luật cán bộ, đảng viên phải trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra với đầy đủ bằng chứng vi phạm, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội chứ không thể thích kỷ luật ai cũng được. Ở đây chẳng có phe phái đấu đá hay thanh trừng gì cả!

- Chú đúng là "trẻ người non dạ", chẳng hiểu gì! Anh nghe mấy đứa bạn ở quê đều bảo thế. Mà nói cho chú biết, anh đọc trên mạng, người ta cho rằng việc kỷ luật bây giờ chủ yếu là do phe cánh đấu đá để hạ bệ nhau thôi. Chú còn trẻ trâu lắm!

Thấy tình hình có vẻ căng, ông Thanh liền "giải nguy" cho cậu thanh niên:

- Tôi thấy anh bạn trẻ này nói đúng đấy chú ạ. Chính chú mới là người nói liều, không có căn cứ. Bản thân chú đang bị những người không hiểu chuyện hoặc họ rất hiểu nhưng cố tình suy diễn, xuyên tạc với mục đích xấu. Lâu nay, ở trên các trang mạng phản động, từ việc cán bộ có vi phạm bị xử lý kỷ luật, kẻ xấu đã suy diễn, tuyên truyền nhảm là phe phái đấu đá, thanh trừng lẫn nhau nhằm bôi xấu chế độ ta, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết trong tổ chức đảng, chính quyền và nguy hiểm nhất là làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Những ai nhẹ dạ cả tin, suy nghĩ thiếu chín chắn thì dễ bị "xỏ mũi", hiểu sai sự việc theo ý đồ của chúng, tức là mắc chiêu xuyên tạc, kích động này. 

Nghe những lời phân tích của ông Thanh, người trung niên chắc đã hiểu ra nên im lặng.

Một sở thích lố bịch và phản cảm

 Báo Nhân dân lên tiếng về những "Hội yêu đồ lính":




Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện một số hội nhóm với tên gọi “yêu đồ lính” thu hút không ít thành viên. Tuy nhiên điều đáng nói là trang phục mà nhiều thành viên lựa chọn, cổ xúy lại là quần áo rằn ri của các sắc lính thuộc chế độ Việt Nam cộng hòa và lính Mỹ trước năm 1975.


Tại những diễn đàn công khai, các thành viên thường xuyên khoe những bức ảnh cá nhân trong trang phục của quân lực Việt Nam cộng hòa, đồng thời bày tỏ sự tự hào, hãnh diện khi cho biết mình đang sở hữu những bộ quần áo và những món đồ độc, lạ vốn là vật dụng đã từng được sử dụng trong chiến tranh.


Để chứng tỏ sự chuyên nghiệp, và công phu cho một “thú chơi sành điệu”, những thành viên của “hội mê đồ lính Việt Nam cộng hòa” cho biết mình phải rất mất công mới săn lùng được những vật dụng “hiếm có khó tìm”, bất chấp mọi mức giá, thậm chí là đồ liên quan tới những cá nhân có “thành tích chống cộng khét tiếng”.


Họ quan niệm rằng những vật dụng như vậy mới chứng tỏ được “đẳng cấp” của bản thân. Không chỉ đăng tải, chia sẻ sở thích cá nhân trên mạng xã hội, một số cá nhân còn thường xuyên ăn vận trang phục này ở ngoài đời, diễu hành trên xe jeep, đi lại nghênh ngang trên khắp các ngả đường, nhất là những nơi có đông người qua lại hòng gây sự chú ý của cộng đồng. Chưa dừng lại ở đó, có nhóm còn dắt nhau vào rừng, thuê đạo diễn phục dựng bối cảnh để tạo dáng chụp ảnh rồi khoe khoang trên trang cá nhân hoặc diễn đàn.


Cá biệt có người từ những hình ảnh ngụy tạo ngây ngô, nực cười đó còn bỏ công sức thời gian để tiếp tục dựng thành video clip, lồng ghép các bài hát ca ngợi “quân lực Việt Nam cộng hòa”. Điều đáng nói, các hoạt động của những hội nhóm này có chiều hướng ngày càng được tăng cường với những biểu hiện thiếu lành mạnh, lặp đi lặp lại trong các năm qua.


Dư luận vẫn chưa quên vào năm 2020, thời điểm sát ngày 30/4, trên mạng xuất hiện hàng chục video clip là các ca khúc của chế độ Sài Gòn cũ như “Giã từ vũ khí”, “Huyền sử ca một người phi công tên Quốc”, “Thiên thần mũ đỏ”, “Trên bốn vùng chiến thuật”… với hình ảnh minh họa là hàng chục người vận trên mình bộ quần áo rằn ri, vằn vện của các sắc lính thuộc chế độ Việt Nam cộng hòa và lính Mỹ trước năm 1975, diễn lại những cảnh chiến đấu với quân đội nhân dân Việt Nam tại các địa điểm được chú thích là Khe Sanh (Quảng Trị), Cao Phong (Hòa Bình), Đình Lập (Lạng Sơn), Cúc Phương (Ninh Bình)…


Ngay sau đó các đối tượng chống phá vào bình luận thiếu căn cứ, phi thực tế rằng “chế độ Việt Nam cộng hòa đã chết nhưng vẫn còn sống trong lòng dân”, từ đó kêu gọi những người “chung chí hướng” cùng làm "sống dậy" chế độ Việt Nam cộng hòa.


Vừa qua tại Quảng Ninh, công an tỉnh cho biết đã phát hiện có một số người dân tham gia các hội nhóm thích mặc áo lính trên mạng xã hội. Vào các dịp lễ, thành viên của các câu lạc bộ này kêu gọi nhau mặc trang phục lính Việt Nam cộng hòa và tổ chức các hoạt động trên địa bàn tỉnh gây phản cảm, bức xúc trong nhân dân.


Tương tự tại Đắk Nông, tình trạng mặc đồ lính Việt Nam cộng hòa cũng bắt đầu xuất hiện. Mới đây tại tiệc liên hoan mừng nhà mới của một người dân ở thành phố Gia Nghĩa, một đôi vợ chồng đã đến tham dự trong bộ đồ lính vằn vện của chế độ cũ. Cùng với việc mặc trang phục không phù hợp, đôi vợ chồng này còn lên sân khấu của buổi tiệc để hát những bài hát thường được lính Việt Nam cộng hòa hát trước năm 1975, khiến người tham dự không khỏi bất bình.


Hay năm 2021, tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, một quán cà-phê được khai trương vào dịp 30/4, tuy nhiên điều đáng nói là nhân viên phục vụ mặc quân phục của “lực lượng Bình định nông thôn” - một đội quân chuyên truy quét, cướp bóc của nhân dân trong vùng địch tạm chiếm trước đây và khung cảnh quán là hình ảnh mô phỏng các ấp chiến lược, lô cốt, khu quân sự... Trước sự phản đối gay gắt của cộng đồng, quán đã buộc phải đóng cửa để chấn chỉnh lại trang phục cũng như sửa chữa, trang trí lại cảnh quan.


Từ những sự việc, hiện tượng dù nhỏ lẻ, thậm chí theo suy nghĩ của không ít người là "vô hại" kể trên cũng đang đặt ra những vấn đề rất đáng lo ngại vì làm méo mó lịch sử, tác động xấu đến nhận thức cộng đồng để rồi một số người có thể “tự diễn biến, tự chuyển hóa” theo hướng tiêu cực. Theo khuyến cáo từ cơ quan chức năng thì mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện, phát hiện và cùng ngăn chặn, đấu tranh với những hoạt động, hành vi phản cảm của một số cá nhân trong trang phục lính ngụy, gây bức xúc dư luận.


Có thể thấy rằng đây là một biểu hiện không lành mạnh rất cần lên án. Bởi không chỉ đơn giản là một sở thích ăn mặc, một lối sống không thật sự phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay, mà với những hình ảnh, clip đầy tính bạo lực, nhóm người này đã và đang góp phần cổ xúy cho bạo lực, kích động hận thù, khoét sâu vào những vết thương chiến tranh, đi ngược lại với chủ trương hòa hợp dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện.


Một số người tham gia hội nhóm “yêu đồ lính Việt Nam cộng hòa” cho biết, họ chỉ nghĩ đơn giản là việc theo đuổi phong cách thời trang này giúp họ tạo dựng một hình ảnh khác biệt, độc lạ, “ngầu”, chất chơi, giúp nổi bật ở chỗ đông người. Tất nhiên mỗi cá nhân có quyền lựa chọn cho mình một xu hướng ăn mặc, song việc lựa chọn thế nào cũng cần phù hợp văn hóa, chuẩn mực, đạo đức xã hội.


Đó là cách tôn trọng cộng đồng cũng như tôn trọng chính bản thân mình. Hơn nữa sở thích cá nhân cũng cần trên cơ sở của sự hiểu biết để không trở lên lố bịch, kệch cỡm. Từ thực tế lịch sử đã chứng minh chính thể “Việt Nam cộng hòa” ra đời năm 1955 là một sản phẩm của đế quốc Mỹ nhằm dựng lên một chính quyền tay sai, bù nhìn phục vụ cho lợi ích của chính quyền Mỹ đó là gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á, khai thác lợi ích kinh tế từ thị trường này, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa lan rộng trên thế giới…


Trong cuốn sách “Vietnam, the ten thousand day war” (Việt Nam, cuộc chiến mười nghìn ngày) xuất bản tại London năm 1982, tác giả M.Mclear dẫn lời của ông Nguyễn Văn Thiệu-cựu Tổng thống Việt Nam cộng hòa thừa nhận rằng: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập”.


Trong bài viết có tiêu đề Chính nghĩa không thuộc về chế độ “Việt Nam Cộng hòa”, chuyên gia Trung Hiếu phân tích, làm rõ: “Trong “cuộc chiến vì tự do”, quân lực Việt Nam cộng hòa đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ - những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như hãm hiếp phụ nữ Việt Nam, thảm sát dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napalm và các loại bom chùm có sức sát thương tàn bạo…


Với những đòn nhục hình gần như chỉ để triệt hạ các tù binh cộng sản (đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục…), nhà tù Phú Quốc - địa ngục trần gian do quân đội Sài Gòn tạo ra (sau khi học hỏi kinh nghiệm của chuyên gia Mỹ) - là minh chứng hùng hồn cho những vi phạm nhân quyền và những tội ác kiểu trung cổ trời không dung đất không tha của chế độ ngụy”.


Vậy mà giờ đây lại có những cá nhân dù vô tình, thiếu hiểu biết hay cố tình tìm cách tái hiện, tôn vinh chế độ Việt Nam cộng hòa đã cáo chung từ nhiều thập kỷ trước, tự tin khoác lên mình những bộ trang phục nhuốm máu đồng bào? Có thể thấy rằng ở đây không chỉ là câu chuyện về một vài bộ trang phục độc, lạ mà việc phục dựng hình ảnh “lính Việt Nam cộng hòa” cùng với những nội dung có tính chất cổ xúy, ca ngợi là việc làm không thể chấp nhận được.


Từ hiện tượng này, nếu không tỉnh táo nhận diện và ngăn chặn rất có thể trào lưu “thời trang lính Việt Nam cộng hòa” sẽ bị các đối tượng phản động, thù địch triệt để khai thác, lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Thậm chí các hội nhóm này có thể trở thành mục tiêu hướng đến của các tổ chức phản động, trở thành các tổ chức ngoại vi, phục vụ cho hoạt động chống phá đất nước.


Thiếu tướng, nhà văn Khổng Minh Dụ chia sẻ: “Mặc cái gì tốt đẹp thì nên mặc, còn mặc đồ của đội quân đã một thời đi đến đâu là đàn áp, bắn giết, cướp bóc, đốt nhà, đánh đập, tra tấn người Việt Nam đến đó chỉ vì có liên quan đến Việt Cộng thì có nên cổ xúy không? Chủ trương hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã quá rõ ràng, được thể hiện ngay khi giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, không để xảy ra cảnh “tắm máu trả thù” như luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch.


Bởi vậy, hàng vạn người vì nhiều lý do mà đã một thời phải cộng tác với chế độ cũ đã bình an sống giữa quê nhà (kể cả người đang sinh sống ở nước ngoài) đã và đang hướng về Tổ quốc, chung tay xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Mọi việc làm gợi lại nỗi đau quá khứ, kích động hận thù, đều phải lên án. Chúng ta không thể nhận thức mơ hồ, không thể tiếp tục buông lỏng quản lý để những chiêu trò kia ngày càng ngang nhiên, lố bịch”.


Từ những diễn biến thời gian qua cho thấy hoạt động của các hội, nhóm mang danh “yêu đồ lính” đang tiếp tục có những biến tướng phức tạp và mang mầu sắc chính trị. Tìm đến trang cá nhân của một số người được coi là thủ lĩnh của các hội, nhóm “yêu đồ lính Việt Nam cộng hòa” có thể nhận thấy cái nhìn lệch lạc, cực đoan, bất mãn với chế độ.


Với quan điểm, tư tưởng hằn học như cách mà họ thể hiện lâu nay, những người này khi tham gia các hoạt động của cộng đồng nguy cơ sẽ ảnh hưởng xấu đến cảm xúc, nhận thức, hành vi của các thành viên tham gia, nhất là những người trẻ. Hiện tượng này đòi hỏi sự quan tâm, vào cuộc của các cơ quan chức năng, kịp thời ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực từ sớm, từ xa, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của đời sống xã hội.


HỒ CHÍ MINH ĐI VÀO LỊCH SỬ VỚI DẤU ẤN KHÔNG THỂ PHAI MỜ

 HỒ CHÍ MINH ĐI VÀO LỊCH SỬ VỚI DẤU ẤN KHÔNG THỂ PHAI MỜ

Thế giới hiểu Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, yêu mến, tin cậy và tự hào về Việt Nam là nhờ có Hồ Chí Minh-vĩ nhân và danh nhân ở tầm vóc tư tưởng và văn hóa, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một biểu tượng kiệt xuất của văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung.

Hồ Chí Minh đi vào lịch sử với dấu ấn không thể phai mờ, là một trong những lãnh tụ hiếm hoi đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống như đánh giá của bạn bè quốc tế.Khi Người qua đời, 53 năm về trước (ngày 2-9-1969), hàng nghìn bức điện và thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi tới Đảng và nhân dân ta, trong đó có Cuba anh em với đánh giá sâu sắc, thấm thía của đồng chí Fidel Castro Ruz: Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt...“Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”, đó không chỉ là lời ngợi ca thành kính và thiêng liêng dành cho Người mà còn là chứng thực của lịch sử, vượt thời gian và không gian, từ dân tộc tới nhân loại. Đó cũng là sự khẳng định chân giá trị Hồ Chí Minh.Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng mà Người là một tấm gương cao cả để muôn đời noi theo mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, thôi thúc và giục giã tự trái tim của mỗi người chúng ta.Cuộc sống mách bảo chúng ta, đó là điều cần thiết để phê phán và bác bỏ mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đời tư và phẩm hạnh của Người từ những kẻ chống đối, những thế lực phản động với dã tâm thâm độc, bất minh, bất chính.Mọi sự xúc phạm Hồ Chí Minh là xúc phạm tới dân tộc, nhân dân và Đảng ta, tới lương tâm, lương tri của cả loài người tiến bộ đã từng tôn vinh những cống hiến vô giá của Người đối với lịch sử. Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất, thước đo khách quan nhất của chân lý.Thời gian là sự kiểm nghiệm, sự sàng lọc khách quan nhất, chân thực nhất giúp cho sự phân biệt tốt xấu, đúng sai, thật giả. Sự xuyên tạc thâm độc, thậm chí bỉ ổi của các thế lực thù địch, phản động, kể cả những kẻ phản bội, tự bán rẻ nhân cách của mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng nhân dân và dân tộc nhằm vào Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người không thể che lấp sự thật, không thể lung lạc được niềm tin và tình cảm của chúng ta đối với Hồ Chí Minh.Đó là niềm tin khoa học bắt nguồn từ giác ngộ chân lý, là tình cảm bền chặt đã trở thành máu thịt làm nên sự sống, trong từng nhịp đập của trái tim, của tâm hồn mỗi người chúng ta.

 

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nó phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nó phản ánh cả một thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta và của thế giới”(3)...Người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, người đã sống, làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm, người thấu hiểu và thấu cảm Hồ Chí Minh đã nói hộ lòng ta về niềm tin và tình cảm đối với Người...

Trí thức là vốn liếng quý báu của Dân tộc.

 Trải qua quá trình lịch sử lâu dài của Dân tộc, trí thức Việt Nam luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Cũng chính vì vậy mà cha ông ta đã luôn luôn quý trọng hiền tài và đội ngũ trí thức.

Ngày nay, vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước nhà, được Đảng và Nhà nước đánh giá cao; thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hội thành viên với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để vận động, tập hợp trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước vì sự nghiệp của Đảng, của Nhân dân và Đất nước. Trong đội ngũ đó, có rất nhiều tấm gương sáng, có nhiều đóng góp lớn lao cho Đất nước và Dân tộc, như: Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Trần Đại Nghĩa; Giáo sư Tôn Thất Tùng; Giáo sư Tạ Quang Bửu; Giáo sư Hà Học Trạc; Giáo sư, Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng...

Tiếp tục làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tư vấn, phản biện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật với các tiêu chí cụ thể, thu hút, trọng dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, nhằm xây dựng đội ngũ trí thức nước ta không ngừng lớn mạnh, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, có cơ cấu phù hợp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập; có kế hoạch bố trí, sử dụng đội ngũ trí thức một cách hợp lý; có chính sách thu hút trí thức trẻ được đào tạo chính quy thực sự có trình độ, năng lực, có phẩm chất đạo đức tham gia hoạt động trong các viện nghiên cứu, nhà trường và doanh nghiệp; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, tập hợp trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài tích cực tham gia hiến kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới; quan tâm công tác khuyến khích, tôn vinh những trí thức có thành tích xuất sắc trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

NXV





CẢM ĐỘNG, GẶP BỐ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG

 “Bố!". Tôi cất tiếng gọi và đứng lặng đi trong niềm hạnh phúc dâng trào khi được gặp bố tôi-Thiếu tá Trần Công Tính, lúc đó là Phó chính ủy Trung đoàn 102, Sư đoàn 308, Quân đoàn 1”. Ông Trần Công Chương, tay cầm bức ảnh đen trắng kỷ niệm hai bố con gặp nhau vào tháng 12-1967, xúc động kể với chúng tôi như vậy.


Đó là lần duy nhất hai bố con ông Chương gặp nhau trên chiến trường. Khi đó, ông Chương là trinh sát viên pháo binh, thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 45, Đại đoàn Công pháo 351 đóng tại Quảng Trị. Ông Chương kể: "Một ngày giữa tháng 12-1967, khi đang làm việc trên đài quan sát của Trung đoàn 45, tôi được cấp trên thông báo "chuẩn bị hành lý đi nhận nhiệm vụ ở Trung đoàn 102, Sư đoàn 308".


Từ Trung đoàn 45 đến Trung đoàn 102 khoảng 5 giờ đi bộ, theo đường mòn băng ngang rừng. Vừa đi, ông Chương vừa hồi hộp xen lẫn lo lắng vì cấp trên không cho biết nhận nhiệm vụ gì. Đến nơi, ông Chương được vệ binh dẫn vào lán tiếp khách của đơn vị. Ngồi chờ khoảng 30 phút, ông thấy một nhóm khoảng 5 người mặc quân phục đang tiến gần về lán. “Khi họ còn cách tôi khoảng 5m, nhận ra bố tôi đang đi hàng đầu tiên, tôi bật dậy gọi: “Bố!”. Bố đến gần rồi vòng hai tay ôm chầm lấy tôi với hai hàng nước mắt hạnh phúc chảy dài trên gò má”, ông Chương nhớ lại.


Đến lúc đó, ông Chương mới hiểu "nhiệm vụ" mà Trung đoàn 45 giao là tạo điều kiện để hai bố con ông được gặp nhau. Và cũng để tạo sự bất ngờ nên chỉ huy đơn vị không nói rõ điều này. Qua trò chuyện với bố mình, ông Chương được biết, khi nghe tin ông nhận nhiệm vụ ở một đơn vị chiến đấu trên địa bàn Trung đoàn 102 đóng quân, bố của ông có tâm sự với chỉ huy các cấp và được thủ trưởng quan tâm, giúp đỡ tìm được địa chỉ của con trai, đồng thời trao đổi với chỉ huy Trung đoàn 45 để hai bố con ông Chương được gặp nhau. Trong thời chiến tranh, gặp được người thân là món quà vô giá đối với bất kỳ cán bộ, chiến sĩ nào. Những ngày được sống bên bố, ông Chương được bố dạy bảo nhiều điều, đặc biệt là phải khắc ghi hai từ "dũng cảm"-dũng cảm trong chiến đấu, dũng cảm trong cuộc sống. 

   

Ngày chia tay, hai bố con ông Chương được cán bộ tuyên huấn của Sư đoàn 308 chụp ảnh kỷ niệm. Năm 1970, ông Chương được đơn vị cử đi học tại Trường Sĩ quan Pháo binh, sau đó chuyển công tác vào Quân đoàn 3, tham gia chiến trường Tây Nguyên, rồi tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Năm 1989, ông Chương nghỉ chế độ với quân hàm đại úy. Còn bố của ông, Thiếu tá Trần  Công Tính ở lại Sư đoàn 308 chiến đấu; năm 1973 bị thương phải đi chữa trị và về hưu năm 1975.


Trở về địa phương, hai bố con ông Chương cùng tham gia công tác thôn, xã. Đến năm 2020, bố của ông bị bạo bệnh qua đời. Những tấm ảnh và kỷ niệm về người bố luôn được ông Chương cất giữ và kể cho con, cháu nghe.

     


Bố con ông Trần Công Chương (bên trái) hội ngộ tại chiến trường tháng 12-1967. Ảnh do nhân vật cung cấp